RSS

Lưu trữ theo thẻ: Đức Đạt-Lai Lạt-Ma

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ CHÚA GIÊSU

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ CHÚA GIÊSU
Nguyên tác: LE DALAI LAMA PARLE DE JÉSUS Éditions Brepols, Paris. 1996
Người dịch : VĨNH AN nhà XUẤT BẢN: THIỆN TRI THỨC, 2003

Một Viễn Cảnh Phật Giáo
Về Những Lời Dạy của Đức Giêsu

MỤC LỤC
Phần Mở Đầu
Phần 1: ƯỚC MUỐN HÒA HỢP
Phần 2: NGƯƠI HÃY YÊU KẺ THÙ NGƯƠI
Phần 3: BÀI GIẢNG TRÊN NÚI: CÁC MỐI PHÚC THẬT
Phần 4: TÍNH BÌNH ĐẲNG
Phần 5:  VƯƠNG QUỐC CỦA THIÊN CHÚA
Phần 6: SỰ BIẾN HÌNH
Phần 7: SỰ TRUYỀN GIÁO
Phần 8 : ĐỨC TIN
Phần 9: SỰ SỐNG LẠI
Phụ Lục 1: PHẬT GIÁO TÂY TẠNG VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN
Phụ Lục 2: CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN VÀ CÁC MỐI LIÊN HỆ GIỮA  PHẬT TỬ VÀ KITÔ HỮU

 

LỜI TỰA

Một người đàn ông đang nói. Đó là một tiếng nói của một truyền thống tâm linh của hơn hai ngàn năm, chánh pháp mà Đức Phật đã giảng dạy.

Các môn đồ của Đức Ki Tô tụ họp chung quanh ông. Họ đã mời ông đọc và chú giải “Tin Mừng”, Phúc Âm mà Đức Giêsu đã loan báo.

Một cuộc đối thoại hình thành giữa hai bên và hơn thế nữa, đây là một thời điểm thuận lợi để cho sự thống nhất nền tảng của nhân loại được khẳng định và cảm nhận bằng lời cũng như bằng sự im lặng.

Vấn đề không phải là xóa bỏ hoặc che dấu những điểm khác nhau nhưng là nêu rõ chúng bởi lẽ xuyên qua các điểm dị biệt, những điểm đồng quy mới kể cả bổ túc cho nhau sẽ được phác họa.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dẫn một tục ngữ Tây Tạng : “Trâu vẫn phải là trâu và cừu vẫn phải là cừu”. Nhưng phải chăng là điên rồ khi muốn phong phú hóa sự đa dạng, tìm kiếm cái đơn nhất giữa sự đa tạp, phác thảo một “kỷ nguyên của Thánh Thần” bên ngoài mảnh đất chung của các giáo phái hay của thời thượng cầu kỳ, hoặc khi cùng nhau vạch ra những con đường cổ xưa của cuộc hành trình nội tâm và không vì thế mà từ bỏ thế giới hiện đại trong hiện trạng ? Đã hẳn, đó không phải là sự điên rồ. Nhưng phép lạ của lòng đơn sơ, chân thật đã chiến thắng mọi trở ngại cho dù sự nể nang của người này hay sự ngại ngùng của người khác bắt đầu biểu lộ. Cuốn sách này là sản phẩm của điều đó. Nó chứng tỏ với chúng ta sự tồn tại của một đối cực với lục điạ thống nhất của những người mới tòng giáo ; một đất nước ở đó tính phổ quát từ chối sự đồng phục hóa và những tính cách dù bị đe dọa nặng nề, cũng khước từ sử dụng bạo lực như phương tiện để sống còn.

Trước tiên, lời này gửi đến cho các Kitô hữu và các Phật tử. Tinh thần của cuộc gặp gỡ tại Assise năm 1986 đã đem lại một sắc thái và đấy là phương pháp được áp dụng.

Nói rõ hơn : sau hai mươi thế kỷ thiếu thông tin, chúng ta hãy nhớ lại các sai lầm và nghịch nghĩa mà chúng ta nghĩ về Phật giáo với lòng tự phụ từ Rubrouck cho tới các thời kỳ gần đây nhất. Người ta sẽ ngừng mọi phán đoán tiên nghiệm, mọi ý tưởng đã nhận lãnh để thực hiện việc đọc chung một bản văn căn bản : Kinh Thánh. Người ta sẽ không dừng lại ở sử tính của các sứ điệp để gắn bó hoàn toàn với sứ điệp. Không phải là vô ích khi ta đi tìm lại trong lịch sử những dấu vết và âm hưởng các lời giảng dạy của Đức Như Lai (Tathagata) vang dội đến vùng đất Palestine nơi Đức Giêsu sẽ giáng thế, và rộng lớn hơn trong vùng Điạ Trung Hải La-Hy. Các nhà nghiên cứu trẻ tuổi về lịch sử và triết học đang làm việc ấy. Ở đây, có một sự cấp bách khác. Hơi giống câu chuyện mà Đức Phật đã sử dụng, nói về một người đàn ông bị một mũi tên bắn trúng và ngã lăn dưới chân chúng ta. Có phải chúng ta sẽ đi tìm lai lịch của người bắn ? Lai lịch của người buôn bán cung ? Loại gỗ mà mũi tên được làm ra ? Không. Chúng ta cần phải lập tức tìm ra loại thuốc để chữa lành và cứu sống người bị nạn.

Vậy là chúng ta có thể nói rằng Ki tô hữu và Phật tử đã gặp nhau.

Giữa Đấng Cứu thế đã đến để làm nhẹ gánh nặng trên vai nhân loại bằng việc tha thứ tội lỗi thế gian với Đức Như Lai giảng dạy Tứ diệu đế và Bát chánh đạo để đưa người ta ra khỏi vòng luân hồi của sự khổ, người ta sẽ nhận ra ít nhất là một định hướng chung nào đó.

Một cách chính xác hơn khi Đức Giêsu hay làm phép lạ làm cho người ta què đi được, người cùi được lành lặn, Ngài chẳng nói với họ rằng : “Hãy đi đi, tội lỗi của ngươi đã được tha thứ !” hay sao ?

Bằng những ngôn từ khác : “Này đây, ngươi lại được ban cho một tinh thần vô cùng thanh tịnh, thân thể ngươi sẽ chứng minh điều đó”. Niềm tin ấy vào sự thanh tịnh và tự tại của tinh thần là nền tảng của mọi tư duy Phật giáo. Nhiều Kitô hữu cũng chia sẻ điều đó.

Thomas Merton, một tu sĩ dòng Trappes, khẳng định : “Ở trung tâm của hữu thể chúng ta, có một vùng ánh sáng thuần khiết, một vùng mà tội lỗi và ảo tưởng không thể xâm phạm.” 

Đã hẳn, độc giả sẽ nhận thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh và các người đối thoại với Ngài quan tâm so sánh mà không hề lẫn lộn “tia sáng linh thiêng” hiện diện trong mỗi tạo vật, ít ra đối với những người tự nhận mình là con cái của Thiên Chúa Tạo hóa, và “tia sáng giác ngộ”, bồ đề, hiện diện trong mỗi chúng sinh, đối với người Phật tử.

Thật vậy, nếu cần phải đồng hành đi tìm Thần Khí, thì cả việc đọc lẫn việc chú giải các bản văn, như chúng ta biết, sẽ không đủ.

Dấu ấn của tinh thần nằm ở nội tâm, trong chiều sâu thinh lặng của mỗi người. Người ta chỉ có thể đạt đến bằng sự trầm tư chiêm niệm.

Ai cũng dễ dàng nhận thấy rằng cả Đức Phật và Đức Kitô không viết sách ; các Ngài đã để cho những môn đệ lo việc chuyển giao sứ điệp như họ đã nhận thức, với tất cả nhân tính của họ. Như thế, đến lượt chúng ta, chúng ta phải tìm lại sứ điệp trong chính chúng ta : bên ngoài và bên trên chữ viết. Giới hạn ấy của Lý (logos) mà các Kitô hữu vẫn thường chấp nhận bởi vì Ngôi Lời đã trở thành xác thịt, người ta gọi đó là mầu nhiệm, ngoại lý hoặc đơn giản hơn sự thiết yếu của kinh nghiệm, đối với tôi đó là một trong những bài học chủ yếu của sự gặp gỡ. Khả năng đánh thức “một cái gì bên ngoài chữ nghĩa” rõ ràng là một phần của sự tỏa sáng tâm linh nơi các vị tôn sư đắc đạo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thường khiêm tốn khẳng định rằng do ít nghiên cứu, ngài hiểu không đúng về Kitô giáo, cho dù các cuộc gặp gỡ giữa ngài với Kitô hữu đã tăng lên nhiều trong vòng mười năm nay. Tuy nhiên chúng ta thấy Ngài đi vào lý luận của Phúc Âm không thua kém ai không ngượng ngùng giả tạo, như thể lời nói của Đức Giêsu rất thân thuộc với ngài và ngôn ngữ của các dụ ngôn không có gì là bí hiểm. Và sự dễ dàng ấy tác động mạnh mẽ đến cử tọa hiện diện và có sức khai thị vô cùng đến định hướng chung khả dĩ động viên người hành đạo bước vào con đường tâm linh đích thực. Rõ ràng là ở đây sự đồng cảm mang lại điều mà lý tính được nêu ra ở trên đôi khi còn để lại trong bóng tối.

Đối với tôi, một người đã không tham gia hội thảo đó, nhưng nhớ lại những giờ phút trôi qua ngồi lắng nghe vị tôn sư Tây Tạng thì cuốn sách này quả là một cảm hứng cho hành động tâm linh. Một cách tiên thiên, người ta thường có xu hướng đối lập hai từ đó. Không. Trầm tư hoặc tham thiền chính là hành động, và đôi khi hành động, chính là trầm tư hoặc tham thiền. Đối với tôi, chưa bao giờ điều đó rõ ràng hơn. Y như rằng sự rời bỏ thế gian đôi khi là con đường nhanh nhất và thiết yếu để tìm lại thế gian trong thực tại của nó với đầy đủ ý nghĩa, sự quân bình và lợi lạc.

Ý tưởng về một cuộc hành hương chung đến với các truyền thống lớn, hoàn toàn gây hứng khởi từ người con của xứ sở du mục, đất nước Tây Tạng mà các người hành đạo đi qua, đôi lúc bái quỳ để cho trán mình chạm đất.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Bên ngoài sự vận dụng một bút pháp đầy ấn tượng mà Đức Đạt Lai Lạt Ma cống hiến cho chúng ta, chính là sự đóng góp hoan hỷ và từ bi của chúng ta vào việc thực hành đời sống mà cuốn sách này giúp ta đối diện.

Jean-Paul Ribes
Chủ tịch Ủy ban trợ giúp Tây Tạng ở Pháp.

 
Để lại phản hồi

Posted by on Tháng Mười Một 5, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ: , ,

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma: Các vụ tự thiêu gần đây là do chính sách đàn áp của TQ

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cầu nguyện cho các tăng ni tự thiêu

Hình: 美国之音藏语
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cầu nguyện cho các tăng ni tự thiêu
Nhà lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng đã đổ lỗi cho lãnh đạo Trung Quốc về các vụ tự thiêu ngày càng nhiều của các tu sĩ Tây Tạng tại Trung Quốc.

Vào lúc đến Nhật Bản hôm thứ Bảy, Đức Đạt Lai Lạt Ma được hỏi về cuộc tự thiêu của 9 tu sĩ, gồm 8 nam và 1 nữ, để phản đối chính sách tôn giáo của Bắc Kinh. Ngài đổ lỗi cho các chính sách của Trung Quốc.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói: “Thực ra, chính quyền địa phương phải nhìn vào những căn nguyên của các cái chết này. Đó là chính sách sai trái của chính họ, một chính sách độc ác và phi l‎ý.”

Ngài kêu gọi lãnh đạo Trung Quốc thay đổi chính sách đàn áp, đó cũng vì lợi ích của chính Trung Quốc.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Nhật 10 ngày để chủ trì một số buổi tu tập và rao giảng.

Lịch làm việc của Ngài cũng có nói đến chuyện gặp gỡ lãnh đạo tôn giáo, giáo dục và thăm khu vực Fukushima bị động đất và sóng thần.

Source: VOA
 
Để lại phản hồi

Posted by on Tháng Mười 30, 2011 in Chính trị, Xã hội

 

Thẻ:

Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Pháp thuyết giảng về Thiền

13 tháng 8 2011

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma

Hình: ASSOCIATED PRESS
Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Pháp để thuyết giảng về thiền
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến Pháp hôm thứ Bảy, bắt đầu chuyến đi 3 ngày để dự đại hội về tu tập và giảng về nghệ thuật tìm hạnh phúc.

Hàng vạn người từ Pháp và các nước khác đã đổ về nhà hát Zenith ở thành phố Toulouse miền nam để nghe giảng.

Hồi đầu tuần nhà lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng đã từ bỏ vai trò lãnh đạo chính phủ lưu vong, và giao lại cho ông Lobsang Sangay, 42 tuổi, tốt nghiệp đại học Harvard.

Tân lãnh đạo chính phủ lưu vong hứa sẽ tiếp tục phong trào tranh đấu cho tới khi Tây Tạng được tự do.

Nhưng dù đưa ra các lời lẽ cứng rắn, ông Sangay cũng có nói ông sẽ tiếp tục đường lối dung hòa của Đức Đạt Lai Lạt Ma là đi tìm một Tây Tạng tự trị, thay vì một Tây Tạng độc lập hẳn với Trung Quốc.

Ông cho biết ông không chống lại Trung Quốc hoặc nhân dân Trung Quốc mà chỉ chống phe cứng rắn trong chính quyền Trung Quốc không chịu chấp nhận công lý, tự do, và phẩm giá của nhân dân Tây Tạng. Ông cam kết với phương pháp bất bạo động.

 
 

Thẻ: ,

Người Tây Tạng lưu vong có ‘tân thủ tướng’

http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2011/08/08/110808102625_lobsang_sangay_304x171_ap.jpg

Ông Lobsang Sangay đứng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma trong buổi lễ nhậm chức

Ông Lobsang Sangay, học giả Harvard, đã tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Tây Tạng lưu vong và hứa chống lại “chủ nghĩa thực dân” Trung Quốc.

Với tư cách là người đứng đầu chính phủ lưu vong, ông tiếp quản vai trò chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người năm nay 76 tuổi và vẫn là lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng lưu vong.

Đức Lạt Ma chủ trì buổi lễ nhậm chức tại Dharamsala, Ấn Độ.

Ông Sangay gây ngạc nhiên cho nhiều người khi ông được bầu vào vị trí thủ tướng, được người Tây Tạng gọi là Kalon Tripa, hồi tháng Tư.

Một số người lo rằng ông sẽ có những chính sách cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, nước xa lánh chính phủ lưu vong này.

Các nhiệm vụ mới của ông Sangay bao gồm vai trò dẫn đầu phong trào toàn cầu đòi nhân quyền và tự do cho người Tây Tạng đang nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc và điều hành chính phủ lưu vong.

Ông gặp nhiều vấn đề khó khăn từ chỗ chính phủ lưu vong Tây Tạng không được bất cứ nước nào trên thế giới công nhận trong khi bản thân ông gần như không có kinh nghiệm sống ở Tây Tạng và kinh nghiệm quản lý.

“Ở Tây Tạng không có chủ nghĩa xã hội mà chỉ có chủ nghĩa thực dân Trung Quốc”

‘Bất công và vô phương bào chữa’

Trong bài diễn văn nhậm chức, ông Sangay cố gắng bác bỏ những lo ngại rằng tuổi già của Đức Đạt Lai Lạt Ma và cái chết của ông trong tương lai sẽ chấm dứt phong trào Tây Tạng mà ông lãnh đạo từ khi rời đi sống lưu vong năm 1959.

Ông nói chính việc ông được bầu lên gửi ra “thông điệp rõ ràng cho những người cứng rắn trong chính phủ Trung Quốc rằng lực lượng lãnh đạo Tây Tạng sẽ không biến mất.”

Cuộc đấu tranh, ông nói, ông phải là chống người dân Trung Quốc hay đất nước Trung Quốc.

“Cuộc đấu tranh của chúng ta là chống lại những chính sách hà khắc của chính quyền Trung Quốc ở Tây Tạng…chống lại những ai tước bỏ tự do, công lý, phẩm giá và bản ngã của người Tây Tạng.

“Không có ‘chủ nghĩa xã hội’ ở Tây Tạng. Chỉ có chủ nghĩa thực dân. Sự cai trị của Trung Quốc ở Tây Tạng là bất công và vô phương bào chữa.”

Sinh năm 1968 ra trong một gia đình người Tây Tạng lưu vong, ông Sangay chưa từng được về thăm Tây Tạng, nay thuộc Trung Quốc.

Từng học trường cho con em các gia đình tỵ nạn Tây Tạng ở Ấn Độ và tốt nghiệp đại học Dehli, sau ông trở thành một chuyên gia về luật và cũng là nhà hoạt động nhân quyền.

Được học bổng Fulbright để nghiên cứu tại Đại học Harvard, ông làm việc tại Hoa Kỳ lâu năm trước khi được mời về phục vụ cho chính phủ Tây Tạng lưu vong, đóng tại Ấn Độ.

Ông cũng từng tổ chức hội thảo về Tây Tạng với sự tham gia của các học giả Trung Quốc nhưng quan điểm cứng rắn về ‘chủ nghĩa thực dân Trung Quốc’ ông nêu ra khi nhậm chức chắc chắn sẽ không làm quan hệ của ông với Bắc Kinh tốt lên.

Source: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/08/110808_tibet_premier.shtml

 

Thẻ: ,

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: CẢI ĐẠO LÀ ĐI NGƯỢC THÔNG ĐIỆP CỦA CHÚA

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:
CẢI ĐẠO LÀ ĐI NGƯỢC THÔNG ĐIỆP CỦA CHÚA 

Hoang Phong (dịch)

Trả lời phỏng vấn của Tuần báo Pháp Le Point, đức Dalai Lama thứ 14 nghiêm khắc phê phán chủ trương cải đạo của người theo đạo Thiên chúa. Theo ngài đó một việc hoàn toàn lỗi thời và quá xa xưa.

Ngài phê phán rằng : Đó là một hình thức chiến tranh chống lại các dân tộc khác và các nền văn hóa khác không giống với văn hóa và dân tộc của các nước Thiên chúa giáo, và như thế là đi ngược lại với thông điệp của đức Chúa Trời.

Ngài cũng đã không đồng ý với đức Giáo hoàng (Vatican) về cách gọi : “Á châu là mảnh đất truyền bá Phúc âm trong thiên niên kỷ thứ III“.

Ngài còn cho rằng: Sự kiện người Tây Phương hôm nay bỏ đạo, hoặc có thiên hướng giảm súc trong việc đi nhà thờ không phải là lý do để (Vatican) tìm cách cải đạo những người nghèo khổ ở Đông phương.

Ngài khuyên đức Giáo hoàng (Vatican) rằng: Tốt hơn hết là Giáo hoàng nên chăm lo sự an lạc tâm linh cho những người Thiên chúa giáo ngay trên quê hương của quý vị…

Dưới đây là trích đoạn liên quan đến vấn đề cải đạo trong bài báo của Tuần san Le Point do Hoang Phong chuyển ngữ:

Le Point : Ngài cũng chống cả việc cải đạo?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định là chống! Quý vị là những người Thiên chúa giáo, quý vị đang làm một việc hoàn toàn lỗi thời và quá xa xưa, đấy là việc nhiệt tình lôi kéo người khác theo tôn giáo của mình (prosélytisme – proseletysm).

Tại Mông cổ chẳng hạn, các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo cải đạo cho hàng nghìn người trước kia theo Phật giáo Tây tạng. Đồng thời người Trung quốc tại Tây tạng khuyến khích các vị cố đạo của quý vị cải đạo những người đồng hương của chúng tôi.

Tại các vùng miền đông Ấn độ các nhà truyền giáo người Mỹ sử dụng các phương tiện tài chính để cải đạo các bộ tộc miền núi nghèo đói, cô lập họ với cội nguồn, văn hóa và lối sống lâu đời của tổ tiên họ để lại.

Như thế thật không hợp lý: thế giới phải ngày càng cởi mở hơn. Quý vị thi hành việc cải đạo, đấy là một hình thức chiến tranh chống lại các dân tộc khác và các nền văn hóa khác không giống với dân tộc và văn hóa của quý vị. Như thế không đúng với thông điệp của đức Chúa Trời (Christ) !

Le Point: Thưa Ngài, Ngài có biết là một triệu người Pháp đến gần với Phật giáo hay chăng?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Thế à ? Người ta bảo với tôi là con số này lên đến 5 triệu kia mà [Ngài cười] ! Tôi xin trả lời câu hỏi này bằng hai cách khác nhau : trên khía cạnh tích cực người Pháp rất thích tìm hiểu và học hỏi – thật vậy tôi còn nhớ lần đầu tiên đến Pháp vào khoảng năm 1973 thì phải, tôi vô cùng ngạc nhiên vì các ký giả đã đặt các câu hỏi rất cao siêu gần với lãnh vực triết học ; trái lại ngày nay tôi nhận thấy Phật giáo Tây tạng trên đất Pháp tương tự như là một phong trào và người Pháp có vẻ dễ thay đổi quan điểm – đấy là gì mà tôi không tán thành – điều đó chứng tỏ nền móng tín ngưỡng lâu đời không hề ăn sâu vào văn hóa của quý vị, sự bành trướng dễ dàng của Phật giáo đã chứng minh điều ấy.

Le Point: Vậy có thể xem đấy là một phong trào Phật giáo?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có vẻ như thế! Và tôi không tán thành một “phong trào” Phật giáo. Hơn nữa tôi nghĩ rằng người Pháp theo Thiên chúa giáo đã lâu đời vì thế cứ giữ lấy tín ngưỡng của mình. Tốt nhất cứ bảo tồn giá trị truyền thống của mình.

Chỉ khi nào đã suy nghĩ thật cẩn thận và cân nhắc kỹ lưỡng và thấy Phật giáo có thể mang lại một cái gì đó nhiều hơn so với Thiên chúa giáo thì khi đó mới nên theo Phật giáo.

Le Point: Có đúng là Đức Giáo hoàng đang cố gắng tìm cách ngăn chận sự suy tàn của Thiên chúa giáo hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Đúng, hành động như thế rất tốt ; hơn nữa tôi còn nhận thấy Giáo hoàng thật tuyệt vời, là một vị thầy tâm linh thành thực quan tâm đến các vấn đề đang chi phối thế giới ngày nay.

Ngược lại, hơn một lần, tôi không đồng ý với cách Ngài gọi “Á châu là mảnh đất truyền bá Phúc âm trong niên kỷ thứ III“. Sự kiện ngày nay tại Tây phương không mấy khi có người đến nhà thờ và thiên hướng giảm sút không phải là một lý do để tìm cách cải đạo những người nghèo khổ ở Đông phương và để đào tạo các tu sĩ, các bà xơ (soeur) ở Ấn độ [rất nhiều nhà truyền giáo và các bà xơ Thiên chúa giáo hoạt động tại Phi châu chẳng hạn, là người Ấn gốc Kérala hay Tamil Nadu].

Tốt hơn hết là Giáo hoàng nên chăm lo sự an lạc tâm linh cho những người Thiên chúa giáo ngay trên quê hương của quý vị : hiện nay sự khủng hoảng tâm linh đang thật sự xảy ra tại Tây phương, sự khủng hoảng đó đòi hỏi những phương thuốc hữu hiệu.

Le Point: Thế nhưng Thiên chúa giáo và Phật giáo cùng chia sẻ một số giá trị nào đó, có đúng thế không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Hoàn toàn đúng như thế: cùng nêu cao tình yêu thương đồng loại, chủ trương lòng từ bi, sự tha thứ và giúp con người vượt lên các thói hư tật xấu…

Tất cả các tôn giáo lớn đều mang mục đích giống nhau. Tuy nhiên phải nói Phật giáo có đôi chút khác biệt với Thiên chúa giáo: chúng tôi tin có vô lượng kiếp – và quý vị chỉ tin có một kiếp.

Quý vị tin có một Vị Sáng Tạo – và chúng tôi thì không. Quý vị tin có sự tự do ý chí (libre arbitre – free will) – và chúng tôi thì nhất quyết đấy là do nơi nghiệp…

Nguồn: Trích từ bài: TÍNH DỤC, LUÂN LÝ, BÒ ĐIÊN – Tạp chí LE POINT phỏng vấn Đức Đạt-Lai Lạt-Ma Hoang Phong chuyển ngữ

 

Thẻ: ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.