RSS

Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

07 Jun

Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

 

Charlie Nguyễn

 

PHẦN MỘT:

NGÀY TẬN THẾ CỦA GIÁO HỘI SATAN

 

1. DÒNG TU ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG

 

Dòng tu Công Giáo đầu tiên do người Việt Nam sáng lập là dòng tu mang danh hiệu của Đức Mẹ Đồng-Công Cứu Chuộc (The Co-Redemptrix) gọi tắt là Dòng Đồng Công. Ngày nay dòng tu này đã phát triển thành một cơ sở kinh doanh lớn chuyên khai thác lòng sùng kính của giáo dân đối với Đức Mẹ Maria. Trụ sở chính đặt tại Canthage, Missouri, Hoa Kỳ.

 

Vào cuối thập niên 1940, Linh Mục Trần Đình Thủ sáng lập dòng Đồng Công đã đặt cơ sở đầu tiên tại nhà xứ Liên Thủy Bùi Chu. Khu vực nhà thờ Liên Thủy kế cận khu vực của Tòa Giám Mục Bùi Chu, chỉ cách nhau một cái lạch nhỏ và một dậu tre.

 

Tháng 7.1950, một đám học sinh tuổi từ 10 đến 13 tuổi, trong đó có tôi và cô em gái, đã được thầy giáo dẫn đến thăm nhà dòng tân lập này và được Cha Thủ tiếp đãi ân cần. Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất là chúng tôi được phép gọi Cha Thủ bằng “anh cả”. Chuyến viếng thăm này là một kỷ niệm khó quên vì từ xưa đến nay, bổn đạo đâu có dám gọi các linh mục bằng “anh”. Thường thường mỗi lần gặp các cha, bổn đạo có thói quen khoanh tay cúi đầu và thưa: “Con xin phép lạy cha ạ!”.

 

Có lẽ vì thấy sinh hoạt của nhà dòng tân lập này có nhiều điều mới lạ hấp dẫn nên hai người bạn của tôi đã xin Cha Thủ cho ở lại để bắt đầu cuộc đời tu hành tại đây. Vì được Cha chấp nhận nên hai bạn tôi đi tu theo dòng này từ đó.

 

Bẵng đi một thời gian khá dài tới 15 năm sau, tức vào khoảng cuối năm 1965, tôi đi cùng mẹ tôi đến thăm dòng Đồng Công tại Thủ Đức. Bố mẹ tôi vốn là những con chiên ngoan đạo, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giáo dục của các trường Công Giáo nên đã gửi hai em trai tôi là học sinh trung học vào nội trú tại ký túc xá của nhà dòng. Trong dịp này tôi gặp lại hai người bạn cũ lúc đó đều đã trở thành linh mục. Hai bạn tôi, súng sính trong chiếc áo chùng đen với hàng cúc đen chạy dài từ cổ xuống chân và với cổ tràng hạt lớn trước ngực, chạy ra phòng khách tiếp tôi trong tình thân mật anh em. Một trong hai bạn tôi tên là Chương với nét mặt thành khẩn cảm động nói: “Em phải cám ơn anh vì chính nhờ ảnh hưởng của anh, em mới có lòng sùng kính Đức Mẹ và vào tu dòng này đấy!”. Tôi ngạc nhiên về điều đó và nói đùa: “Dù đi tu hay ở ngoài đời, chúng ta vẫn sùng kính Đức Mẹ và sống thánh thiện như nhau. Anh đi tu làm cha, còn tôi lấy vợ cũng làm cha như ai, có sao đâu!” Chúng tôi cười đùa vui vẻ. Sau đó, cuộc đời lính của tôi đã đưa tôi đi xa. Một phần bận công vụ, phần khác bận chuyện gia đình, tiếp theo là 10 năm tù cải tạo… chúng tôi đến nay vẫn chưa có dịp gặp lại nhau. Tôi đã nhiều lần tìm cách liên lạc với Dòng Đồng Công ở Missouri, nhưng có lẽ các bạn tôi đã đổi tên hoặc còn ở lại Việt Nam nên tôi vẫn chưa liên lạc được.

 

Năm 1997, nhân dịp đọc tờ Newsweek số đặc biệt ra ngày 16.8.1997 nói về Tín Điều Đức Mẹ Đồng Công (The dogma of Co-Redemptrix) tôi có ý định viết một bài về dòng tu này. Nhưng rồi lần lữa chưa có cảm hứng để viết.

 

Tới Mùa Chay năm nay, báo chí Mỹ rầm rộ loan tin về các cuộc vận động của các ứng viên tổng thống và cuộc hành hương dài ngày tại vùng Thánh Địa của Giáo Hoàng Jean Paul II. Tôi chú ý đến việc giáo hoàng thay mặt giáo hội chọn ngày chủ nhật đầu mùa chay 12.3.2000 làm ngày xin tha thứ tập thể cho những tội ác của giáo hội trong hơn một ngàn năm qua. Bên cạnh đó, tôi chú ý đến hai mẩu tin ngắn. Mẩu tin thứ nhất cho biết: vào ngày 2.2.2000, trong cuộc vận động bầu cử tại trường Đại Học South Carolina, ứng cử viên tổng thống George W. Bush đã chỉ trích giáo hoàng và gọi giáo hội Công Giáo là “giáo hội Satan”.

 

Mẫu tin thứ hai đăng trên Washington Post ngày 26.3.2000 cho biết: trong cuộc vận động tại Los Angeles, ứng cử viên tổng thống Mc. Cain đã gọi hai lãnh tụ Tin Lành Pat Robertson và Jerry Falwell là “evil” (quỉ). Lời tuyên bố của hai ứng cử viên tổng thống này làm tôi liên tưởng đến thi sĩ Anh gốc Ấn Độ Salmon Rushdie đã gọi Kinh Thánh Hồi Giáo là “những vần thơ quỉ” (Satanic verses). Vì cái tội xúc phạm tôn giáo này, giáo chủ kiêm tổng thống của Iran là Khomeni đã treo giải thưởng cái đầu của Rushdie với giá 1 triệu đô la vào năm 1988.

 

Ngày nay, các lời xúc phạm tôn giáo hầu như đã trở nên chuyện thường vì lương tâm nhân loại đã thức tỉnh và lương tri con người đã nhận ra bộ mặt thật xấu xa ác độc của các tôn giáo, đặc biệt là Công Giáo La Mã và Hồi Giáo. Có nhiều dấu hiệu cho thấy cả hai cái đạo thờ Chúa này không thể tránh khỏi một cuộc tàn sát thật thảm khốc trong thế kỷ 21, trước khi mở đầu cho một trật tự thế giới mới. Nếu sự việc này có xảy ra nay mai thì những người Công Giáo chính là những người không ngạc nhiên chút nào vì họ đã được nghe những lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Mẹ Fatima từ năm 1917.

 

Vốn là người có lòng sùng kính Đức Mẹ, rất sốt sắng và rất chú trọng các huấn thị của Đức Mẹ nên cha tôi đã viết một cuốn sách nhỏ tựa đề “Sự Mới Lạ Đời Nay” xuất bản tại Nam Định vào năm 1952 kể chuyện Fatima. Ngày nay, đọc lại các sách cũ về phép lạ Fatima, tôi cảm thấy những lời Đức Mẹ phán cách đây trên 80 năm không mất đi tính cách thời sự và vẫn văng vẳng bên tai: “Vì lòng phản trắc, những người lãnh đạo giáo hội đã đóng đinh Con Của Mẹ thêm nhiều lần nữa trên thập giá. Tội lỗi của họ đang kêu thấu trời đòi hỏi sự trả thù, và kìa, sự trả thù đang chờ sẵn trước cửa nhà họ. Không còn ai mủi lòng van nài lòng thương xót và ơn tha thứ cho họ. Không còn ai muốn tỏ ra lòng đại lượng thêm nữa. Cũng không còn ai muốn cầu xin Chúa Hằng Sống phù hộ cho giáo hội nữa. Chúa sẽ ra tay đánh phạt thật tàn khốc chưa từng thấy. Chúa sẽ trút cơn thịnh nộ của Người lên đầu họ và họ không thể tránh khỏi những tai ương sẽ dồn dập đổ tới. Các nhà thờ sẽ bị đóng cửa và bị xử dụng vào các việc ô uế. Các linh mục, các tu sĩ sẽ bị săn đuổi và bị chính những giáo dân của mình đập chết như người ta đập chết những con chó dại trên đường phố…”

 

Mặc dầu tôi không còn niềm tin Công Giáo nhưng tôi vẫn yêu thương Đức Mẹ như xưa. Tôi tin lời Đức Mẹ phán sẽ phải trở thành sự thật trong một ngày không xa. Tôi khẩn cầu Đức Mẹ cho sự việc đó xảy đến càng sớm càng tốt để cứu loài người nói chung và cứu dân tộc Việt Nam nói riêng. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy cho thành lập một đạo quân chuyên săn lùng và trừng trị bọn tu sĩ Công Giáo lưu manh. Con xin tình nguyện đi hàng đầu, làm việc full time và hoàn toàn free (miễn phí). Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy nhớ đến mấy chục năm tuổi trẻ của con đã dâng hiến cho tình yêu Mẹ và xin Mẹ hãy chấp nhận lời con cầu nguyện: Ave Maria, gratia plena… Salve Regina, Mater Misericodiae…

 

Mẹ ơi, Mẹ vẫn muôn đời là một khuôn mặt nữ nổi bật nhất trong sinh hoạt văn hóa của loài người chúng con. Mẹ đã từng là nguồn cảm hứng dạt dào của biết bao thi sĩ lừng danh: Francois Villon, Dante, Gerard Hopkins, Eliot, Hàn Mặc Tử… Mẹ là hồn nhạc bất hủ của Franz Schubert, Hải Linh… Hình ảnh của người mẹ trẻ 17 tuổi ôm đứa con huyền thoại cứu thế là hình ảnh được khắc họa nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Với tài hoa kiệt xuất của Michel Angleo, Mẹ vừa là nữ thần của Sự Sống Madona và Mẹ cũng là nữ thần của sự chết La Pieta. Xin Mẹ hãy là Madona của những người ngay lành vô tội và xin mẹ hãy là Pieta của những kẻ gian manh.

 

Những kẻ gian manh độc ác nhất chính là những kẻ mặc áo thầy dòng đội lốt thánh thiện. Những kẻ lớn tiếng ca tụng Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, lớn tiếng hô hào xây dựng đền thờ Khiết Tâm Mẹ không phải là những kẻ yêu Mẹ thật đâu. Những kẻ tổ chức lễ hội La Vang với hình ảnh Mẹ mặc áo dài và đội khăn hoàng hậu Việt Nam chỉ nhằm mục đích đánh lừa đồng bào chúng con để chạy tội bán nước và che đậy lòng tham lam ích kỷ vô độ của chúng. Mẹ ơi, con biết cách đây 20 thế kỷ, Mẹ chỉ là một phụ nữ nông dân chất phát ở xứ nghèo Galilee, chẳng khác gì bà mẹ nông dân chất phát đã sinh ra con ở miền quê Bắc Việt.

 

Con yêu Mẹ cũng như yêu Mẹ của con vì Mẹ phải mang nặng đẻ đau mới sinh ra được mấy đứa con mình. Con yêu Mẹ vì Mẹ là Mẹ thật chứ không phải vì Mẹ là Mẹ Đồng Trinh! Mẹ ơi, những mỹ từ giả tạo của bọn lưu manh đã gán cho mẹ, nào là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc… Tất cả đều là những chuyện láo khoét và hoàn toàn vô nghĩa đối với con.

 

Quê hương Galilee ở miền Bắc Do Thái của Mẹ đã bị đế quốc La Mã dày xéo cũng như đất nước của con đã bị thực dân Pháp dày xéo có khác gì nhau! Nước Pháp thường tự xưng là trưởng nữ của Giáo Hội Công Giáo La Mã và là mẹ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, gọi tắt là Giáo Hội Việt Gian. Con yêu Mẹ vì Mẹ là một người Mẹ bình thường sống bên cạnh ông chồng Joseph của mẹ làm thợ mộc cần cù nhẫn nại như những người lao động Việt Nam chúng con. Con trai của Mẹ là một người yêu nước đã dám chống lại bọn tu sĩ Do Thái và đế quốc La Mã. Bọn chúng đều cấu kết với nhau giết hại con của Mẹ. Con trai Mẹ không hề biết mình là giáo chủ lập đạo Kitô và đã không chết với danh nghĩa là giáo chủ của cái đạo quái gở này. Con trai của Mẹ là một thanh niên yêu nước đã chết với danh nghĩa là một công dân Do Thái chống đế quốc. Bọn đế quốc căm thù con của Mẹ, chúng đã gán cho Do Thái cái tội giết Chúa của chúng để có cớ tiêu diệt dân tộc của Mẹ trong hơn một ngàn năm qua. Vatican là hậu thân của đế quốc La Mã. Bản chất của chúng vẫn là đế quốc, nhưng chúng quỉ quyệt núp dưới chiêu bài tôn giáo thờ Con của Mẹ và thờ chính Mẹ để lừa gạt những người khờ dại. Chính nhờ cái thủ đoạn vô cùng xảo trá này nên chúng đã gieo rắc tội ác khủng khiếp cho loài người chúng con trong gần 2000 năm qua. Chúng đã là nguyên nhân gây ra cái chết của 200 triệu người vô tội kể từ ngày Constantine đổi tên Kitô Giáo thành “Katholikos”, tiếng Hy lạp có nghĩa là toàn cầu (universal) vào năm 340, tiếng Việt gọi là “Công Giáo La Mã”.

 

Bây giờ Vatican lên tiếng ăn năn hối hận và xin cả thế giới tha thứ cái gánh nặng của 16 thế kỷ gây tội ác để chúng dễ dàng đổ cái gánh nặng lịch sử ấy xuống biển. Chúng chỉ giả vờ tự đánh đòn mình để tránh những đòn thù khủng khiếp của nhân loại sắp đổ lên đầu chúng.

 

Tu sĩ Công Giáo ngoan cố nhất thế giới chắc chắn phải là tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Đầu não của họ là Hội Đồng Giám Mục, văn phòng tại số 40 Phố Nhà Chung Hà nội, từ trước đến nay, vẫn cứ hoàn toàn ngậm tăm im re, không hề lên tiếng xin lỗi về tội nhục mạ Phật Giáo là “đang ở nơi tối tăm thờ lạy bụt thần ma quỉ” (Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sài Gòn – trang 130), tội nhục mạ các nước phương Đông là “dân mọi rợ” (kinh cầu ông Thánh Phan xi cô Xavie. Nhựt khóa tr. 782), Kinh Bổn đầu độc tuổi trẻ của các tín đồ với định kiến võ đoán: “Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo” (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu – tr. 325). Nếu tuyệt đại đa số dân Việt đều là kẻ dữ như Kinh Bổn dạy thì 8% dân Việt là Công Giáo làm sao sống sót được đến ngày nay? Làm sao 8% dân số ấy lại chiếm được 2/3 số ghế các dân biểu nghị sĩ Quốc Hội thời đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa trước 1975? Trải qua 25 năm dưới chế độ Cộng Sản, tại sao các thiểu số Công Giáo ấy vẫn phát triển như thường? Chúng cứ làm như cái giáo hội vọng ngoại cao độ của chúng chẳng có tội lỗi gì với dân tộc Việt Nam! Chúng có quyền gì mà dám tự ý dâng nước Việt Nam và dâng toàn cõi Đông Dương, nói là “dâng cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria”, nhưng thực chất là dâng cho Vatican (sách Kinh Nhựt Khóa 170-172). Hội đồng Giám Mục Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung phản văn hóa, phản dân tộc của các sách kinh nguyện (prayer-books). Các sách kinh này sặc mùi văn hóa du mục Babylon, biến tập thể giáo dân thành một bầy cừu non ngu dại để cho ngoại bang tha hồ thao túng. Chẳng hạn như “Xin Chúa ràn lùa tôi một đoàn cùng các con chiên Chúa” (Nhựt Khóa 170-172), “Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được” (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu tr. 126). Các sách kinh nguyện là công cụ chiến tranh tâm lý vô cùng xảo quyệt của Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân để biến tập thể giáo dân thành một lực lượng chính trị nằm vùng phá hoại ngay trong lòng dân tộc Việt Nam. Các sách kinh nguyện biến tim óc giáo dân thành những tim óc bán khai để loại lưu manh quốc tế ở Vatican tha hồ thao túng theo ý chúng qua công cụ nằm vùng của chúng tại Việt Nam gọi là Hội Đồng Giám Mục.

 

Tại Hải ngoại, tập thể giáo dân càng giàu bao nhiêu thì lực lượng chính trị Công Giáo sẽ càng lớn mạnh bấy nhiêu. Mọi người Việt Nam yêu nước, tại hải ngoại cũng như tại quốc nội, cần phải lưu tâm đến sức phá hoại của các sách kinh nguyện này vì thảm họa của dân tộc nằm sẵn trong đó. Tập thể giáo dân vốn quen thói lười biếng suy xét, chỉ biết nhắm mắt vâng lời các tu sĩ chủ chăn. Kẻ lưu manh chính trị chỉ cần bỏ ra chút tiền của mua chuộc, là cha cố hám lợi hám quyền sẽ trổ tài thuyết giảng ở nhà thờ ủng hộ chúng. Chính vì vậy mà Công Giáo Miền Nam Việt Nam trước đây chỉ có 8% mà chiếm được 2/3 số ghế quốc hội! Vận mạng của quốc gia dân tộc không thể trao phó cho trò chơi dân chủ giả tạo vì thực chất là trao cho bọn chính trị lưu manh tiếm quyền đoạt chức bằng cách bợ đỡ cha cố quen thói lộng hành dưới thời Pháp thuộc và trong thời của các tổng thống Công Giáo. Xin mọi người hãy ôn lại và học cho thuộc bài học lịch sử của dân tộc, nếu không tai họa lịch sử sẽ tái diễn.

 

Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy soi sáng cho các con cái của Mẹ được nhìn thấy bộ mặt thật của bọn tu sĩ vì bọn chúng là những kẻ phản bội giáo dân, chống lại Thiên Chúa và chống lại cả Mẹ.

 

Viết tới đây, tôi có cảm tưởng như mình không viết mà là đang cầu nguyện cùng Đức Mẹ. Quả thật tôi đã bỏ đạo nhưng tôi đã không bỏ Đức Mẹ. Những kỷ niệm về Mẹ vẫn in sâu trong lòng tôi. Những bài thánh ca về Mẹ vẫn luôn luôn có sự lôi cuốn mãnh liệt mỗi khi tôi bất chợt nghe ở đâu đó vang lên. Hoămỗi khi gặp chuyện buồn tôi vẫn thường tìm đến nguồn an ủi ở nơi Mẹ bằng cách hát thầm trong lòng những bài thánh ca vinh danh Mẹ: “Lạy Mẹ xin an ủi chúng con luôn luôn. Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn…” “Trên con đường về quê mà vắng bóng Mẹ, con biết cậy vào ai, biết trông nhờ ai…” hoặc “lạy Mẹ là Ngôi Sao Sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian”. Những bài thánh ca đó vẫn là những nguồn suối mát của linh hồn tôi. Tôi yêu Mẹ Maria như yêu người mẹ quê chất phát của thân xác tôi. Tôi cảm thấy dường như cả hai người Mẹ là một và đều ở cùng một chỗ trong trái tim mình.

 

Mẹ Maria ơi, con vẫn yêu Mẹ như ngày nào. Con chưa bao giờ bỏ Mẹ mà chỉ từ bỏ cái giáo hội hư nát phản bội Mẹ mà thôi. Mẹ ơi, chỉ có Mẹ hiểu thấu lòng con. Con chỉ cần Mẹ hiểu con và thương con thôi, con chẳng cần ai khác hiểu con. Càng yêu mẹ bao nhiêu, con càng thù bọn phản Mẹ bấy nhiêu. Tôi lục tìm chồng sách cũ để đọc lại những lời Mẹ đã phán dạy cùng 3 em nhỏ chăn cừu ở Fatima năm 1917. Tôi gặp những dòng chữ này: “Khốn cho những người lãnh đạo giáo hội vì họ chỉ còn biết vơ vét của cải và bảo vệ quyền lợi vật chất của riêng mình. Họ chỉ biết cai trị một cách láo xược kiêu ngạo. Đã đến lúc giáo hội bị bách hại nặng nề. Đó là thời kỳ của bóng tối che phủ toàn thể giáo hội Công Giáo trên khắp thế giới. Hỡi những người dâng mình cho Chúa hãy biết run sợ vì trong thâm tâm các người chỉ biết tôn thờ chính mình. Chúa đã trao các người vào tay quân thù vì các thánh đường đã trở thành nơi ô uế. Nhà thờ cũng như nhà dòng không còn là nhà Chúa nữa vì đã trở thành những tiệm buôn bán trá hình từ lâu rồi…”

 

Ôi, lạy mẹ Maria, xin Mẹ hãy hiện ra nơi tâm hồn của những tu sĩ con buôn trá hình để thức tỉnh họ. Đa số giáo dân đã biết họ là ai còn chính họ cứ tưởng giáo dân vẫn ngu khờ chẳng biết gì về họ. Kinh Bổn dạy rằng: “Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo”. Không phải vậy, dân tộc Việt Nam có tới 92% là ngoại đạo và tôi thấy họ quá hiền, chẳng dữ chút nào. Kẻ dữ hơn ai hết chính là những người Công Giáo tỉnh ngộ. Một khi họ nỗi giận vì hết chịu đựng nổi, họ chỉ muốn, phá sạch, đốt sạch cái giáo hội đã phỉnh gạt họ.

 

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc tạp chí National Geographic Vol. 182 No. 5 ra ngày 18.11.1992 nói về “Portugal’s sea road to the East” (trang 56-93) thuật chuyện diệt đạo Công Giáo ở Nhật năm 1638: Vị tướng Nhật tên là Iemitsu mang đại quân đến dẹp tan cuộc nổi loạn của dân Công Giáo tại Nagasaki. Ông đã ra lệnh đóng đinh tất cả các giáo sĩ thừa sai và thẳng tay giết sạch 37.000 giáo dân một lúc. Toàn bộ quân xâm lược Bồ Đào Nha bị đánh bật ra khỏi Nagasaki. Từ đó, đạo Công Giáo hoàn toàn bị tiêu diệt trên nước Nhật trong hơn hai thế kỷ. Do biến cố này, nước Nhật đã bảo toàn độc lập quốc gia và giữ vững tinh thần dân tộc với truyền thống Thần Đạo và Hiệp Sĩ Đạo. Biến cố này đã là một yếu tố quan trọng đưa nước Nhật lên địa vị cường quốc ngày nay.

 

Đọc bài báo trên, tôi vui sướng phát run lên và hướng về nước Nhật với niềm ngưỡng mộ vô hạn. Nghĩ về lịch sử Việt Nam, tôi ngao ngán oán trách các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội lịch sử vì đã không thực hiện được công cuộc tiêu diệt tà đạo đến nơi đến chốn để phải chịu cái hậu quả tàn khốc cho dân tộc trong hơn thế kỷ qua. Máu tử đạo giống như bông cỏ dại, muốn diệt phải diệt có phương pháp và diệt trọn, diệt nửa vời thì chẳng khác gì như quạt gió cho bông cỏ dại lan rộng ra thêm. Đó là sự khác biệt giữa hai cách diệt đạo của ta và của Nhật.

 

Tôi tưởng tượng về một giấc mơ. Giấc mơ đẹp nhất trong đời chắc chắn phải là giấc mơ mà trong đó và thời đó tôi biến thành Iemitsu. Tôi sẽ bắt hết toàn bộ Hội Đồng Giám mục, toàn bộ tu sĩ dòng Đồng Công và tu sĩ lưu manh. Tôi sẽ tịch thu nhà thờ Phát Diệm và nhà thờ Huyện Sĩ để biến chúng thành viện bảo tàng triển lãm tội ác của cả cái giáo hội Công Giáo đã chống nhân loại trong hơn ngàn năm qua.

 

Nhưng đó chỉ là ước mơ thôi. Tôi chẳng cần phải là Iemitsu Nhật Bản. Nhân loại đã có sẵn những kế hoạch tinh vi và cao siêu để tiêu diệt mọi thứ tà đạo chống lại con người. Con mắt của Thượng Đế đã và đang soi sáng cho lương tri và lương tâm của nhân loại kiến tạo kim tự tháp của Trật Tự Mới (Novus Ordo Seclorum). Kim tự tháp vừa là biểu tượng của nền trật tự vững bền muôn đời và đồng thời nó cũng là biểu tượng của một nấm mồ vĩ đại chôn xác chết của các thế lực tội ác. Tất nhiên trong đó phải có cái xác của con khủng long tội ác là giáo hội Công Giáo La Mã.

 

Chúng ta đang sống trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, chúng ta sẽ được chứng kiến sự sụp đổ ngoạn mục của lâu đài Vatican đã được xây dựng trên hòn đá Phêrô. Mọi người trước đây cứ tưởng Chúa Jesus đã chúc phúc cho Phêrô và giáo hội. Sự thật không phải như vậy. Chúa Jesus đã cảnh cáo Phêrô rằng: “Quỉ Satan muốn có nhà ngươi, nó sẽ “sàng ngươi” như sàng gạo”. (And the Lord said: Simon, Simon, Satan hath desired to have you that he may sift you as wheat – Luke 22:31) Sau đó, Chúa gọi Phêrô là quỉ Satan, đuổi hắn ra phía sau và trách hắn về tội xúc phạm Ngài: (But He turned and said unto Peter: “Get thee behind me, Satan, thou art an offence unto me” – Matt. 16:23). Theo nguyên ngữ Hebrew, Satan có nghĩa là vật chất. Phêrô là Đá: Đá và Vật Chất là một. Giáo Hội Công Giáo của Phêrô là Giáo Hội của Satan, chỉ lo vơ vét tiền của vật chất thế gian cho nên từ hơn ngàn năm qua nó lao mình vào con đường tội lỗi chống lại con người và chống lại Thiên Chúa.

 

Công Giáo thường kết tội Cộng Sản là tam vô. Sự thật Công Giáo còn hơn tam vô. Vì bọn lãnh đạo Công Giáo không hề tin Chúa, thờ Chúa, chúng chỉ tin và thờ vật chất mà thôi. Chúng khinh miệt phụ nữ và coi rẻ giá trị gia đình. Augustine coi sự giao hợp của vợ chồng để sinh con là tội lỗi. Chúng bịa đặt ra giáo điều Thiên Chúa Ba Ngôi loạn luân để nhục mạ Thiên Chúa và Mẹ Maria. Tu sĩ Công Giáo Việt Nam không biết tổ quốc là gì. Tổ quốc của chúng là Vatican, thủ đô tổng hợp của Mafia và chủ nghĩa đế quốc La Mã. Chúng xấu hổ làm người Việt Nam nên không nhận mình là người Dân Việt mà thường tự xưng là Dân Chúa, thực chất chỉ là công dân loại dỏm của Vatican. Các cha cố không hề lo xây dựng tâm hồn con người mà chỉ lo xây cất nhà thờ để phô trương uy thế quyền hành của họ. Nhà thờ thực chất là những cửa tiệm buôn thần bán thánh của họ. Họ hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Chúa Jesus. Chúa dạy: “Thánh linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ được xây dựng bởi bàn tay con người”. (The Holy Spririt of God no longer dwells in temples made with men’s hands – Act 17:24). Chúa cũng như Đức Phật đều dạy Phật tính hay Thiên Chúa tính đều sẵn có trong lòng mọi người chứ không nằm trong chùa hay nhà thờ. Lời Phật dạy là “Phật tại tâm” chẳng khác gì lời Chúa: “Anh em là đền thờ của Chúa. Thánh linh của Thiên Chúa ngụ trong anh em”. (Ye are the temple of God, the Spririt of God dwelleth in you – Corinth 3:16). Chúa dạy “Kẻ hạ mình xuống sẽ được đưa lên và kẻ đưa mình lên sẽ bị hạ xuống”. Chúa cũng dạy về tinh thần bình đẵng: “Mỗi người trong anh em đều là thầy của nhau, tất cả đều là anh em” (for one is your Master and all ye are brethen – Matt 23: 4-10).

 

Các cha cố luôn luôn tránh né, không bao giờ dám phổ biến những lời dạy chí lý và chí tình của Chúa. Bởi vì nếu nói ra thì chúng phải phá bỏ hoặc đóng hết các cửa tiệm buôn trá hình của chúng. Chúng dấu nhẹm các lời dạy của Chúa về sự khiêm tốn và tinh thần bình đẵng giữa các anh chị em có chung một Cha là Thiên Chúa. Có như vậy thì các tu sĩ mới có thể tâng bốc nhau lên tận mây xanh. Thực chất chúng chỉ là một bọn cướp đội lốt thánh thiện. Chúng không xứng đáng được giáo dân gọi là Cha, các đức Cha, đức Ông, đức Thánh Cha hoặc Đức giáo tông v.v…

 

Công Giáo La Mã là tôn giáo kỳ quái nhất trong các tôn giáo vì kẻ đứng đầu là giáo hoàng tự xưng có đặc quyền “không thể sai lầm”. Giáo hoàng cũng giống như con rùa có cái đầu luôn luôn thập thò ở cửa sổ tòa lâu đài Apostolic để ban phép lành cho khách du lịch giàu có đến hành hương hoặc để tuyên phán tín điều này tín điều nọ. Giáo hoàng tự coi mình là kẻ duy nhất có quyền tuyệt đối xác định hay phủ nhận mọi giá trị cao nhất về luân lý và đạo đức của toàn thể nhân loại! Giáo hoàng độc quyền nắm chìa khóa mở cửa thiên đàng cho ai biết tuân phục và sẽ thẳng tay loại trừ bất cứ ai dám chống lại hắn ta, ngay trong đời này và cả trong kiếp sau đời đời!

 

2. CÔNG GIÁO VÀ THÁNH TỬ ĐẠO

 Năm 340, đế quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của hội nghị Nicaea do hoàng đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho giáo hội Kitô mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La tinh: Cattolica, tiếng Hy Lạp: Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu). Saint Cyril of Jerusalem đã viết trong năm 340 định nghĩa giáo hội Công Giáo như sau: “Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra khỏi đời sau”. (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and more important, out of next). Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3000 người.

 

Trong các năm 1512-1517, Công Đồng Lateran tái xác định giáo hội Công Giáo là giáo hội duy nhất nắm Ơn Cứu Chuộc của Chúa với khẩu hiệu: “Nulla Salus extra Ecclessian” (không thuộc giáo hội sẽ không được cứu chuộc – có nghĩa là phải sa hỏa ngục). Năm 1703, thánh De La Salle viết sách “Les Devoirs d’un Chretien” tái định nghĩa danh từ Công Giáo như sau: “Công Giáo là xã hội của đức tin được thâu tóm thành một và thuộc một thực thể được cai trị bởi các đấng chăn chiên hợp pháp mà Chúa Jesus là thủ lãnh vô hình và Đức Giáo Hoàng là thủ lãnh hữu hình trên trái đất này”. (In 1703, Saint De La Salle wrote “Les Devoirs d’un Chretien” defined: “Catholicism is the society of the faithful collected into one and the same body governed by its legitime pastors of whom Jesus Christ is the invisible head and the Pope being his representative on earth”.) Xin đọc các phần trích dẫn trên trong tác phẩm “A World lit only by fire” của William Manchester, do Little Brown and Co. USA. Xuất bản 1992, các trang 8-20.

 

Sau khi đọc các điều trên từ một cuốn sách ở thư viện, về nhà đọc Báo Đại Chúng Xuân Canh Thìn phát hành tại vùng Washington DC tháng 2.2000, trong đó có bài “Bên trong và đằng sau thư ngõ của các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn” của tác giả Trần Ngọc Vân với nội dung chống lại ý kiến của 10 vị nhân sĩ đã ký tên trong “Bức Thư Ngõ Gửi Giáo Hoàng Jean Paul II” đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỷ Mão (1999). Tôi rất tiếc không có số báo Vận Hội Mới nói trên nên không có dịp đọc Bức thư Ngõ của 10 vị nhân sĩ. Cho nên tôi chỉ được biết vài điểm của bức thư ngõ này qua sự trích dẫn của tác giả Trần Ngọc Vân thôi.

 

Tôi đồng ý với ông Trần Ngọc Vân là chúng ta không nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia Tô (hoặc Ca Tô Rôma) vì trên thế giới này không có đạo nào là đạo Gia Tô cả! Chỉ có đạo Kitô hoặc Cơ-đốc. Ta phải thừa nhận một điều là các đạo thờ Chúa đều xuất phát từ Tây Phương – bao gồm Âu Mỹ và các nước Do Thái-Ả Rập. Vì vậy chúng ta cần hiểu các tôn giáo này theo định nghĩa của họ.

 

Gia Tô là tiếng phiên âm chữ Hán tên của Giêxu. Trong kinh cầu hồn bằng chữ Hán có câu: “Thiên Chúa Da-tô thục tội thi ân chi đại”, có nghĩa là “Đức Chúa Giê xu chuộc tội ban ơn rất lớn”. Người Tây phương dùng thần thoại Kitô (Cơ-đốc) chứ không lấy tên của Jesus (Datô) đặt tên cho đạo này. Vì vậy ta không nên gọi Công Giáo là đạo Gia Tô (hay Da Tô). Hơn nữa, nếu hiểu Công Giáo là đạo Gia Tô, tức đạo duy nhất thờ Jesus, thì lại là một lầm lẫn lớn. Chính Thống Giáo (Anh Giáo), hàng trăm giáo phái Tin Lành, thậm chí Hồi Giáo và Cao Đài cũng có thờ Jesus nhưng không phải là Công Giáo. Sở dĩ ta phải gọi là “Công Giáo La Mã” vì có mấy thứ Công Giáo khác nhau với hệ thống giáo quyền và giáo đô khác nhau, trong đó có Công Giáo Anh, Công Giáo Hy Lạp, Công Giáo Ai Cập (Egyptian Coptic), Công Giáo Nam Phi, Công Giáo Trung Nam Mỹ với Thần Học Giải Phóng tách rời Vatican…

 

Tôi xin đề nghị chúng ta nên xử dụng danh từ “Công Giáo La Mã” là danh từ chính xác nhất để tránh lầm lẫn với các tôn giáo thờ chúa khác. Danh từ Thiên Chúa Giáo nên được hiểu là Độc Thần Giáo (Monotheism) bao gồm 3 tôn giáo lớn là Do Thái Giáo (Judaism), Hồi Giáo (Islam) và Kitô Giáo hoặc Cơ Đốc Giáo. Danh từ Christianity do nguyên ngữ Hy Lạp Christos mà ra. Christos (tiếng Anh và Pháp là Christ, tiếng Tây Ban Nha Cristo) được người Hoa phiên âm thành “Cơ Đốc”. Người Việt xưa kia phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Cristo thành “Chúa Ki-ri-xi-tô” trong các sách kinh nguyện xuất bản trước Công Đồng Vaticano 1962. Sau 1962, danh từ “Ki ri xi tô” được thu gọn lại thành Kitô. Tín đồ Kitô (Christians) được dịch là Ki-tô-hữu. Đạo Kitô được gọi là Kitô Giáo bao gồm Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo vì tất cả đều tin Jesus là Chúa Kitô. Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là “Catô Rôma” vì phiên âm như vậy sẽ làm mất cái ý nghĩa “Công Giáo” là đạo chung của toàn cầu qua âm mưu thâm độc của Constantine và đế quốc La Mã trong mưu đồ dùng đạo này làm lợi khí chinh phục toàn cầu. Nếu chỉ hiểu Công Giáo là “public religion” hoặc “state religion” là quốc giáo của một quốc gia tức là đã đánh giá quá thấp tham vọng ban đầu của bọn đế quốc khi chúng diệt đạo Kitô nguyên thủy và lập ra đạo Công Giáo để dùng làm chiêu bài xâm lược toàn cầu.

 

Tôi xin đề nghị nên xử dụng danh từ “Công Giáo La Mã” để làm nổi bật cái dã tâm xâm lược toàn cầu của đế quốc La Mã núp dưới chiêu bài tôn giáo bịp bợm và ác độc của nó.

 

Theo ông Trần Ngọc Vân, tác giả bài báo đăng trên Đại Chúng Xuân Canh Thìn vào tháng 2.2000, thì 10 nhân sĩ tác giả bức thư ngỏ gửi giáo hoàng (trong đó có các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn…) đều là những người “đã xếp hàng chung với tập đoàn Cộng Sản” (Đại Chúng tr. 191). Có lẽ ông Vân ngụ ý cho rằng những nhân sĩ này đều là những cây bút tay sai Cộng Sản chỉ viết để xuyên tạc nhằm bôi lọ Công Giáo và làm lợi cho Cộng Sản. Theo tôi, dù cho nhận định của ông Trần Ngọc Vân là đúng chăng nữa thì những cây bút chống Công Giáo này không thể nào làm lợi cho Cộng Sản bằng Gioan XXIII và Paul VI trong thời chiến tranh Việt Nam.

 

Bài báo của ông Trần Ngọc Vân là động lực chính yếu đã thúc đẩy tôi viết bài này để trình bày những nhận định của một người trong cuộc (an insider) nhìn về giáo hội lâu đời của gia tộc mình. Ngoài ra, tôi là một quân nhân phục vụ 10 năm trong QLVNCH và ở tù 10 năm trong trại cải tạo sau 30.4.1975. Tất cả những nhận định của tôi trình bày trong bài này đều là những điều tôi thấy sao nói vậy, nghĩ sao viết vậy. Tôi không oán thù riêng một ai và cũng không sợ hãi bất cứ một thế lực nào. Tôi chỉ yêu sự thật và dám chết cho sự thật với niềm tự hào của một người chân thực. Mọi người thân yêu nhất của đời tôi trong quá khứ cũng như trong hiện tại, tất cả đều là người Công Giáo.

 

Tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường Công Giáo, đã chứng kiến những thảm trạng do giáo hội Công Giáo gây ra chung quanh tôi và cũng do sự học hỏi tìm tòi những sự thật lịch sử qua các sách nghiên cứu hết sức đầy đủ và có giá trị cao trong các thư viện Mỹ. Tôi đã tỉnh ngộ để có đủ tinh thần khách quan đánh giá lại niềm tin và giáo hội của mình. Tôi đã chọn cho mình một hướng đi là phải tham gia công tác giáo dục ngõ hầu giúp đồng bào đồng đạo của mình thức tỉnh để nhận cho đúng chân tướng gian ác của giáo hội Công Giáo La Mã, để không còn bị bọn tu sĩ lưu manh bóc lột và dẫn đi vào con đường tội ác chống loài người và chống dân tộc mình. Tôi cố gắng làm việc hết mình để góp phần vào công việc “Enlightenment” này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và tôi sẵn sàng chấp nhận mọi điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân, tất cả chỉ vì lòng khát khao yêu mến sự thật. Ý nguyện này có thể được tóm tắt trong khẩu hiệu:

 

“CHRISTIAN BY BIRTH ANTI-CHRISTIAN BY CHOICE”.

 Trải qua gần 500 năm theo đạo, các tiền nhân của tôi đã có nhiều vị tử đạo. Tuy nhiên, tôi không lấy điều này làm niềm vinh dự. Trái lại, tôi coi đó là niềm đau xót lớn lao vì các tiền nhân đã phải đổ máu vô ích cho một thứ tà đạo mà cả loài người ngày nay đang lớn tiếng nguyền rủa nó. Ông Trần Ngọc Vân viết: “Trong một đoạn ở đầu trang 3 thư ngõ, các ông Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Nguyễn Kha còn dùng những lời lẽ hạ cấp nhất để miệt thị 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam, đồng thời mạt sát Đức Gioan Phaolồ II khi Ngài quyết định tuyên thánh cho các vị này hơn 10 năm trước”. Tôi không biết các tác giả thư ngỏ đã viết ra sao mà bị ông Vân gọi là “dùng những lời lẽ hạ cấp nhất”. Ở đây tôi chỉ xin bày tỏ cảm nghĩ của tôi đối với vụ phong thánh cho các tử đạo Việt Nam với tư cách là một người Công Giáo tỉnh ngộ.

 

Trong buổi lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam tại Vatican năm 1988, giáo hoàng đã đọc các lời vinh danh sau đây:

 

“Các người vinh quang của Jerusalem

Là nỗi vui mừng của Israel

Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!”

Tôi không hề thấy các người tử đạo đã đem lại một vinh dự nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại họ chỉ nhắc cho mọi người về một nguyên nhân chính yếu làm cho dân tộc Việt Nam rơi vào vòng nô lệ nhục nhã của thực dân Pháp hơn 80 năm. Họ là nguyên nhân gây mặc cảm hận thù chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng vũ trang cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm Bùi Chu Thái Bình và Lực Lượng Công Giáo Miền Nam, gọi tắt là UMDC (Unités Mobiles de Défense des Chrétiens) của đại tá Le Roy trong các năm 1946-1954. Người Công Giáo luôn luôn phản bội dân tộc, chỉ lo phục vụ Vatican và ngoại bang. Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi cũng như Le Roy ra mặt phục vụ thực dân Pháp cho đến 1954. Sau 1954, Le Roy chạy sang Pháp, còn Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh móc nối với Bình Xuyên chống chính phủ Diệm. Trong chiến tranh Pháp-Việt và Đệ Nhất Cộng Hòa, người Công Giáo chống Cộng điên cuồng không phải vì yêu nước mà để phục vụ chủ trương chống Cộng cực đoan của Giáo hoàng Piô XII. Khi Giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI trở mặt thân Cộng chống VNCH, họ cũng thay đổi theo. Năm 1966, LM Hoàng Quỳnh xua hàng chục ngàn giáo dân biểu tình phá rối trị an của VNCH. GH Paul VI tiếp thủ tướng Nga tại Vatican ngày 30.1.1967. Ngay từ đầu thập niên 60, GH Gioan XXIII đã móc nối với Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại VN đã đưa đến cuộc lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963 và rút phép thông công TGM Ngô Đình Thục. Ngày 12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh và gián điệp Vũ Ngọc Nhạ đến Củ Chi họp mật với MTGPMN để lập thành phần thứ ba trong chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản. Tất cả chỉ để thi hành mệnh lệnh của Vatican. Sau 30.4.1975, Giáo Hoàng Paul VI đã ban thưởng huy chương cho Vũ Ngọc Nhạ trong khi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đi tù cải tạo thì Tòa Thánh hoàn toàn lặng thinh không hề can thiệp!

 

Tập thể Công Giáo Việt Nam đã tự biến mình thành một giáo hội hèn hạ, hoàn toàn nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán, và nhiều khi rất nham hiểm của các giáo hoàng La Mã. Do sự việc này, chúng ta sẽ nhận ra sự độc hại của các sách kinh… “mọi nơi thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn” (Kinh Nhựt khóa 170-172) “Ai chẳng vâng lời Hội Thánh trong mọi việc là chẳng vâng lời Chúa tôi”, “Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức giáo hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được” (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu N-127 do Cơ Sở Dân Chúa xuất bản). Cả cái tập thể Công Giáo VN, người sống cũng như người tử đạo, đều chỉ làm nhục dân tộc Việt Nam do những lời cầu kinh thiếu trí tuệ đó.

 

Tôi đau xót tự hỏi: Tại sao những người tử đạo VN đã phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem? Cái thành phố Jerusalem xa xôi kia có liên quan gì đến dân tộc VN? Báo Washington Post loan tin: Ngày 25.3.2000, Giáo Hoàng Jean Paul II đến nhà thờ The Holy Sepuleher tại Jerusalem làm lễ kêu gọi 7 chi phái Kitô Giáo tại đây hãy hợp nhất lại để xóa bỏ hận thù với nhau. Trong khi giáo hoàng làm lễ thì các nhà thờ thuộc các giáo phái khác khua chuông ầm ĩ để phá đám. Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng tuyên bố với báo chí gồm 2000 phóng viên quốc tế rằng: “Phương cách này là một cuộc chiến” (this process is a battle) và tuyên bố tiếp: “Đó là thực tế, mọi người dồn vào khu đất thiêng này nhưng chẳng ai chịu ai, chẳng ai muốn mất đi một cái gì cả” (It’s the reality, everybody is packed into sacred space and unwillingly to lose something). Cuối cùng, giáo hoàng xác nhận ngay tại Jerusalem: “Tôn giáo vẫn được dùng làm một phương tiện cho sự chia rẻ và chiến tranh” (Religion has been used as a means for division and war – Washington Post 19.3.2000 p. A30). Giáo hoàng đã công khai phủ nhận giá trị của các tôn giáo nói chung và Công Giáo nói riêng ngay tại đất thánh Jerusalem. Vậy Jerusalem chỉ là một chứng tích cụ thể về sự thất bại hoàn toàn của cái gọi là “Công Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô”. Bản thân đất thánh Jerusalem còn không tạo nổi vinh quang cho mình trong mấy ngàn năm qua, hà cớ gì người Việt Nam lại phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem?

 

Tại sao người tử đạo Việt Nam phải đổ máu mình vì nỗi vui mừng của Israel? Cách đây 4000 năm, cháu nội của Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để tôn vinh thiên chúa của dân tộc Do Thái thời đó là con bò El. Do Thái thờ con bò El từ khoảng năm 4000 trước Công Nguyên, đến thế kỷ 12 trước Công Nguyên, đạo thờ bò được cải tổ thành đạo Do Thái của Môi-se (Mosaic Judaism). Môi-Se (Moses) đổi tên Thiên Chúa El hoặc Elohim thành Jehovah. Đây không phải là tên mới của Thiên Chúa mà chỉ có nghĩa là “Thiên Chúa của các tổ phụ” (Jehovah means God of Fathers) tức vẫn là Elohim, vẫn là con bò thần El. Tại sao các tử đạo VN phải chết vì nỗi vui mừng của dân tộc thờ bò là Isra-El?

 

Tôi nghĩ đến câu tục ngữ Việt Nam: “Đồ ngu như bò” và nhận thấy không có một trường hợp nào áp dụng câu tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp tử đạo Việt Nam được phong thánh với những lời vinh danh như trên của Giáo Hoàng Jean Paul II.

 

Nhân dịp này tôi xin kính gửi đến 10 vị nhân sĩ ký tên chung trong bức thư ngỏ gửi Giáo Hoàng Jean Paul II đã đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỹ Mão (1999) cũng như kính gửi đến toàn thể quí vị hằng quan tâm đến nền văn hóa và tiền đồ dân tộc một số kinh nghiệm bản thân của tôi về vấn đề Công Giáo và Dân tộc như sau:

 

1) Chúng ta nên phân biệt hai loại người đối tượng. Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi gây rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giàu như dòng tu Đồng Công ở Missouri chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp sĩ đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của LM Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mãi lo làm ăn, vô tư chất phát, họ chỉ vì thiếu hiểu biết đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết. Họ cũng như hầu hết các người tử đạo xưa kia chỉ là những nạn nhân bị lừa gạt mà thôi. Đối với những người này, chúng ta cần phải đối xử với lòng thương yêu chân thành trong tình nghĩa đồng bào. Chúng ta chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng của sự thật để xua đuổi bóng tối trong tinh thần của họ mà thôi. Họ đã và đang là nạn nhân bị các tu sĩ bòn rút tiền của. Đối với bọn tu sĩ lưu manh, họ chỉ là một bầy bò sữa để cho chúng vắt hầu vỗ béo thân xác và thỏa mãn các thứ dục vọng của chúng. Họ cũng là những nạn nhân của bọn chính trị lưu manh, lúc nào cũng lăm le biến họ thành những công cụ hoặc những vật hy sinh cho những mưu đồ đen tối của chúng. Trong thâm tâm của mỗi người chúng ta luôn luôn phải phân biệt rõ rệt bạn và thù, nạn nhân và thủ phạm. Mục đích tối hậu là diệt trừ mọi thứ kẻ ác để bảo vệ những người thiện lành. Nhất định đồng bào sẽ ủng hộ chúng ta và Ơn Trên sẽ phù hộ chúng ta.

 

2) Với nhận định như trên, chúng ta cần đem lại sự giáo dục tới tận các giáo dân bằng những bằng chứng sự thật được trình bày đơn giản, cụ thể và dễ hiểu. Không nên quá chú trọng đến các lý thuyết cao xa như thuyết Tạo Dựng, Thuyết Cứu Rỗi mà cần chú trọng đến các vấn đề thông thường được nêu trong các sách kinh nguyện (prayer books) mà nhà giáo dân nào cũng có và họ thường tụng niệm hằng ngày.

 

Thánh kinh thường được coi như những cuốn sách làm căn bản của đạo thì rất ít giáo dân đọc. Họ chỉ biết thánh kinh qua một số trích đoạn mà bọn cha cố đã lựa chọn kỹ càng để đem ra giảng thuyết mà thôi. Các cuốn sách dày như Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi chắc chắn chẳng có giáo dân bình thường nào đọc cả. Vậy nên cần xuất bản nhiều cuốn sách nhỏ đề cập đến những vấn đề thiết thực để khai sáng hơn là viết các sách đồ sộ khô khan hầu như không có tác dụng nào đối với đa số giáo dân.

 

3) Có những điều mà các trí thức ngoại giáo ít ai biết tới là:

 

a) Mỗi khi có một cuốn sách hay bài báo chống đạo xuất hiện, bọn cha cố công khai ngăn cấm giáo dân không được đọc. Nếu đọc là phải tội v.v… nên bọn chúng đã vô hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của các sách báo này.

 

b) Dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm và vô cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn những lối giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công Giáo lý hay giáo hội. Vì thế Công Giáo đã vượt qua mọi cuộc tấn công của khoa học và mọi cuộc chống phá của các phong trào soi sáng (Enlightenment) hay các phong trào giải trừ Kitô Giáo (Dischristianization) như hiện nay. Muốn biết các lập luận lươn lẹo này ra sao xin hãy đọc “Giáo Lý Mới –Thời Đại Mới” 157 trang do Đất Mẹ xuất bản và phát hành tại Houston năm 1996. Đọc cuốn sách Giáo Lý Mới này, quí vị sẽ phải khâm phục tài nghệ giải thích lươn lẹo của bộ tham mưu thần học của Vatican. Thí dụ: Thiên Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày cần được hiểu là 7 thời đại, [ Nếu nói 7 thời đại thì cây cỏ thảo mộc Chúa tạo ra trước mặt trời làm sao sống được vì không có diệp lục tố!]

 

mỗi thời đại kéo dài nhiều triệu năm! Giáo dân được mời gọi để bắt chước lòng trung thành tuyệt đối của Abraham đối với Thiên Chúa chứ không phải được mời gọi để bắt chước hành động của Ngài (loạn luân, giết con để tế Thiên Chúa). Kinh Tin Kính là bản liệt kê các giáo điều căn bản của đạo Công Giáo đã được Hội Nghị Nicaea chấp thuận năm 325 vẫn có thể được sửa đổi cho phù hợp với thời đại ngày nay (sách trích dẫn trang 160). Do đó, việc bài trừ hệ thống tu sĩ Công Giáo là một vấn đề ưu tiên cần thực hiện trước khi bắt tay vào việc giáo dục quần chúng.

 

Mọi người chúng ta đều biết rằng Chúa Jesus chỉ có một người mẹ duy nhất là đức Mẹ Maria. Nhưng chúng ta thấy người Công Giáo đã gọi Mẹ Maria bằng rất nhiều danh hiệu khác nhau. Nào là Đức Mẹ Đồng Trinh, Đức Mẹ Chúa Trời, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Mông Triệu, Đức Mẹ Mân Côi và Đức Mẹ sắp mang thêm một danh hiệu chính thức nữa là “Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc”. Ngoài ra, chúng ta cũng nghe nói tới những vụ Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới như Lộ Đức (Pháp) Fatima (Bồ Đào Nha) La Vang (Việt Nam) và hàng trăm địa danh khác nữa không xiết. Mỗi một danh hiệu nói trên của Đức Mẹ đều có lịch sử của nó và đều đã gây ra nhiều hậu quả cho đời sống nhân loại và đời sống của giáo hội Kitô. Mỗi lần Vatican đưa ra một phép lạ của Đức Mẹ ở một nơi nào đó đều có dụng đích chính trị của họ. Vấn đề tôn thờ Đức Mẹ có cả một ngành nghiên cứu riêng gọi là Mariology hết sức phức tạp và hoàn toàn xa lạ đối với đại đa số đồng bào ta là những người ngoại giáo.

 

Đây là lý do thứ hai thúc đẩy tôi viết bài này nhằm trình bày khái lược về những vấn đề trên để quí vị độc giả ngoại giáo hiểu thêm về thực chất của giáo hội Công Giáo La Mã và cũng để từ đó có thể đoán biết được tương lai của giáo hội này sẽ đi về đâu. Sự mất còn của giáo hội Công Giáo với trên một tỷ tín đồ có liên hệ mật thiết với vận mệnh của nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam.

 

3. TÍN ĐIỀU, HUYỀN THOẠI, ĐỨC MẸ, VƯỜN ĐỊA ĐÀNG, THÁNH TÍCH.

 Trước hết, tôi xin trình bày sơ lược một số tín điều quan trọng về Đức Mẹ:

 

Tín Điều Đức Mẹ Đồng Trinh. Trong 300 năm đầu của kỷ nguyên, chúng ta chưa có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo Kitô nguyên thủy (Early Christianity). Tín đồ Kitô Giáo nguyên thủy không xây nhà thờ, không có ảnh tượng, không có hệ thống tu sĩ, không tin Đức Mẹ đồng trinh. Họ tụ họp nhau trong các phòng hội (sinagogues) để đọc Thánh Kinh và noi gương cuộc sống của Chúa Jesus mà họ tin là Đấng Cứu Thế (Messiah/Christ). Kinh Thánh nói rõ Chúa Jesus là con trai đầu của Đức Mẹ chứ không phải là con trai duy nhất của Người. Trưởng nam Jesus có 4 em trai và 3 em gái. Em trai đầu của Chúa Jesus tên James làm giáo chủ đạo Kitô tại Jerusalem vào giữa thế kỷ I. Đức Mẹ có tới 8 người con làm sao còn đồng trinh được? Vì vậy tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh là một điều vừa phản tự nhiên vừa khôi hài quái đản. Mọi vấn đề về đức tin Kitô trở nên phức tạp và gây ra các vụ tranh cãi, thậm chí gây ra chiến tranh đẩm máu là do tham vọng của Đế Quốc La Mã. Đứng đầu bởi Hoàng Đế Constantine The Great.

 

Sau hơn 300 năm, các hoàng đế La Mã ra sức diệt đạo Kitô nhưng đạo này vẫn bành trướng ra khắp đế quốc. Điều nguy hiểm là những đoàn quân Hung Nô (Mông Cổ) rất đông đảo và hùng mạnh đang đe dọa tràn ngập toàn đế quốc. Dân chúng đa số theo đạo Kitô chẳng những không chịu đi lính cho đế quốc La Mã mà còn sẵn sàng hợp tác với địch. Do đó, năm 313, Constantine ra lệnh bãi bỏ việc cấm đạo và chính thức công nhận đạo Kitô là đạo của toàn đế quốc. Ngày 20.5.325, Constantine ra lệnh triệu tập hội nghị các giám mục họp tại Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) để thống nhất các giáo phái Kitô bằng cách buộc mọi người phải chấp nhận một bản tóm tắt các tín điều được gọi là “Niềm Tin của các Tông Đồ” (The Creed of Apostles), sau gọi tắt là Kinh Tin Kính. Trong đó có tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ Đồng Trinh. Các Giám mục và tín đồ Kitô nguyên thủy chống lại Công Đồng Nicaea đều bị giết hoặc bị đưa đi đày. Riêng giáo phái Arius bị giết tới 3000 người. Năm 340, đạo Kitô của Constantine được đổi tên thành Công Giáo (Cattolica) nghĩa là Đạo Toàn Cầu (Universal Religion). Nhờ quyết định cực kỳ khôn ngoan của Constantine, đế quốc La Mã đã tạo lập được những đoàn quân thập tự (Crusaders) vừa đông đảo vừa cuồng tín để bảo vệ đế quốc La Mã và có thể xử dụng để chinh phục toàn cầu dưới khẩu hiệu “IN HOC SIGNO VINCES” (Dưới dấu hiệu thánh giá ta sẽ chiến thắng toàn cầu!) Tự Điển Bách Khoa Công Giáo (The Catholic Encyclopedia vol.4, p.300) đã viết rõ như sau: “Constantine ưu đãi Kitô Giáo hoàn toàn vì lý do chính trị và ông ta đã được xem như là một bạo chúa được ơn soi sáng để xử dụng tôn giáo vào mục tiêu thực hiện chính sách của mình”. (Constantine favored Christianity merely from political motives and he has been regarded as an enlightened despot who made use of religion only to advance his policy). Như vậy rõ ràng một điều là các vua La Mã đã ra sức diệt đạo Kitô nguyên thủy để lập ra đạo Công Giáo. Đạo Công Giáo là Đạo của đế quốc La Mã nên danh từ Công Giáo La Mã thật là chính xác (Roman Catholic). Đạo Công Giáo đã được lập nên trên nấm mồ của Kitô Giáo nguyên thủy và hoàn toàn đi ngược lại giáo lý đạo Kitô lúc ban đầu. Kitô giáo nguyên thủy là Độc Thần Giáo đúng nghĩa vì chỉ thờ Một Thiên Chúa. Công Giáo La Mã thực sự là Đa Thần Giáo vì thờ cả Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Maria và rất nhiều Thánh. Đây là một nhận định hết sức quan trọng về lịch sử, nếu không chú ý đến những điều trình bày trên đây, ta sẽ dễ dàng bị các sử gia Công Giáo lừa bịp.

 

Trong bài tựa cuốn Việt Nam Giáo Sử (trang 20), Linh Mục Phan Phát Huồn viết: “Máu – của các thánh tử đạo – đã nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì nhiêu tốt tươi. Lấy võ lực đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng những Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc thêm…Các Hoàng đế La Mã muốn tiêu diệt đạo Công Giáo thì ngày nay trên thủ đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ Vatican tượng trưng cho quyền bính của giáo hội”.

 

Sử gia Công Giáo Linh Mục Phan Phát Huồn đã cao hứng ca ngợi những người cuồng tín tử đạo Việt Nam quá trớn mà quên rằng các hoàng đế La Mã không thể nào tiêu diệt đạo Công Giáo! Các hoàng đế La Mã chỉ tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy để lập đạo Công Giáo mà thôi. Từ năm 313 trở đi, các hoàng đế La Mã chỉ lo củng cố chứ không bao giờ diệt đạo Công Giáo cả. Xin đề nghị Linh Mục sử gia Phan Phát Huồn hãy đọc kỹ lịch sử trước khi viết sách sử, dù là giáo sử thế giới hay giáo sử Việt Nam!

 

Về việc “máu tử đạo làm cho đất phì nhiêu tốt tươi” và làm cho “Công Giáo càng sinh sản đông đúc thêm” là do chính sách diệt đạo của các vua chúa Việt Nam thiếu cương quyết và do thực dân Pháp làm cho Công Giáo phát triển mạnh chứ chẳng phải máu tử đạo có sức mạnh thiêng liêng nào. Nếu các vua chúa Việt Nam biết noi gương như người Nhật đã làm vào năm 1638 thì liệu Công Giáo Việt Nam có ngóc đầu lên nổi không? Nếu thực hiện được một chính sách diệt đạo đúng đắn và khoa học thì máu tử đạo có “thiêng” đến mấy cũng không cứu được sự tuyệt chủng nhục nhã của đạo Công Giáo!

 

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là con đẻ của thực dân Pháp. Các cố đạo thừa sai thường nói: “Nước Pháp là trưởng nữ của Hội thánh và là Mẹ của giáo hội Việt Nam”. (France, fille ainée de L’Eglise et Mère du Vietnam).

 

Đám trí thức Công Giáo mất gốc làm bộ yêu thương tổ quốc Việt Nam ra tờ báo lấy tên là “Đất Mẹ”, nhưng ai cũng hiểu đó chẳng phải là đất Mẹ Việt Nam mà là đất “mẹ Tây” và của “bà ngoại Vatican”.

 

Công Giáo La Mã không còn là Kitô giáo đúng nghĩa vì nó đã trở thành đa thần giáo. Việc thờ kính Đức Mẹ Maria và việc bịa đặt các tín điều về Đức Mẹ hoàn toàn do Công Giáo La Mã sáng tạo sau khi các hoàng đế La Mã đã diệt gọn đạo Kitô nguyên thủy và xóa bỏ hầu hết các dấu vết của đạo này vào đầu thế kỷ thứ tư. Các tín điều về Đức Mẹ đều không có nền tảng thánh kinh, trái lại tất cả đều trắng trợn đi ngược lại với chính các sách kinh Tân Ước là nền tảng của Kitô Giáo. Suốt 16 thế kỷ, Công Giáo La Mã thống trị Âu Châu đã đưa lên dàn hỏa tới 10 triệu người, đa số là giới trí thức, vì đã dám chỉ trích các tín điều vô lý ấy. Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) sáng lập ra hệ thống tòa án tôn giáo (Inquisition) để xử tội mọi người chống đạo, bị ghép vào tội rối đạo (heretic) đều bị đưa lên dàn hỏa thiêu sống. Trong lịch sử giáo hội Công Giáo có rất nhiều giáo hoàng giết người, nhưng Giáo Hoàng Innocent III vượt trên tất cả các giáo hoàng sát nhân khác vì tòa án dị giáo hiện diện khắp Âu Châu trên 500 năm và sau này được đoàn quân xâm lược Tây Ban Nha đưa sang áp dụng tại các quốc gia Trung Nam Mỹ thuộc địa của họ.

 

Sách Babylon Mystery Religion của Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow Evanlistic Association, P.O. Box 124 Riverside, CA 92502) trang 86 viết: “Một số giáo hoàng can tội sát nhân nhưng Innocent III vượt trên mọi giáo hoàng tiền nhiệm về tội giết người… Trong hơn 500 năm, các giáo hoàng dùng tòa án tôn giáo để duy trì quyền lực chống lại bất cứ ai tỏ ra không đồng ý với các giáo điều của giáo hội La Mã” (A number of the popes had committed murders, but Innocent III surpassed all of his predecessors in killing… For over five hundred years, popes used the Inquisition to maintain power against those who did not agree with the teachings of the Roman Church). Cũng chính Innocent III xúi giục vua Pháp xâm lược nước Anh vì tại nước này đang có mầm mống chống giáo hoàng. Điều này do sử gia Loyd M. Graham viết trong tác phẩm Deceptions and Myths of the Bible như sau: Innocent III even urged the king of France to invade England because something had happened there that threaten the divine right of popes”. Graham viết tiếp: “Đế quốc Công Giáo luôn luôn là mục tiêu của giáo hội Công Giáo, một đế quốc bao gồm toàn Âu Châu và Bắc Phi. Sự kiện này khởi đầu từ Constantine” (Ever and always a Catholic Empire was the objective of the Catholic Church, an empire with all Europe and Northern Africa for its domain. It began under Constantine – page 469). Nhân tiện cũng xin nói thêm về một điều mỉa mai của lịch sử là giáo dân Ái Nhĩ Lan đã mấy thế kỷ chống nước Anh và Tin Lành để khôi phục lãnh thổ và cũng để giữ vững lòng trung thành với Tòa Thánh La Mã. Họ đâu có ngờ kẻ bán đứng nước họ cho Anh quốc chính là Giáo Hoàng Adrian IV. Ngày nay các sử gia đã tìm được thư của Giáo Hoàng Adrian IV viết cho vua Anh, Henry II như sau: “Ái Nhĩ Lan và các đảo thuộc về nó nay đã trở lại đạo, như vậy đã thuộc về giáo hội La Mã. Nếu nhà vua muốn vào Ái Nhĩ Lan thiết lập luật pháp để buộc mọi người tuân phục và bắt mọi người đóng thuế cho Tòa Thánh thì ta sẵn sàng chuyển nhượng nước đó cho nhà vua” (Ireland and all those Islands which have received the faith belong to the Church of Rome. If you wish to enter that island to cause law to be obeyed and Saint Peter Pence to be paid by every house, it will be pleased to us to assign it to you – page 470).

 

Lịch sử thế giới đã có đầy đủ mọi tài liệu chứng tích thống kê tội ác giết người thật khủng khiếp của giáo hội La Mã do Constantine lập ra từ thế kỷ thứ tư. Trong 16 thế kỷ, số người bị giết dưới bàn tay của những người nhân danh Chúa như sau: 3 triệu tín đồ Hồi Giáo, 10 triệu tín đồ Công Giáo bị giết do tòa án tôn giáo, 14 triệu tín đồ Kitô ngoài Công Giáo (Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo v.v…) 30 triệu chết trong các cuộc chiến tranh giữa các vua chúa Công Giáo Âu Châu tranh chấp quyền lợi với nhau hoặc với giáo hoàng (page 463).

 

Điều đáng đau buồn là các cuộc tranh chấp đẫm máu trên phần lớn là do sự bất đồng với nhau giữa các giáo phái Kitô về các tín điều có liên quan đến Đức Mẹ Maria. Đức Mẹ là hiện thân của tình mẫu tử đã bị giáo hội Công Giáo biến thành một nguyên nhân của biết bao vụ thảm sát đẫm máu giữa những người anh em cùng thờ một Chúa và cùng yêu một Mẹ. Thật không có gì đau xót và vô lý cho bằng!

 

NGUỒN GỐC VỀ THẦN THOẠI ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH

 Một trong những điều dị biệt nhất giữa Công Giáo và Tin Lành là vấn đề đồng trinh của Đức Mẹ. Sách Babylon Mystery Religion dành ra 2 chương để nói về điều này p. 7-22), tôi xin tóm lược như sau:

 

Việc tôn thờ ảnh tượng Mẹ Bồng Con xuất phát từ Babylon cách đây 6000 năm. Dân Babylon đã có huyền thoại Chúa Cứu Thế (Kitô/Messiah/Savior) từ thời đó. Chúa Cứu Thế của họ là Tammuz và mẹ là nữ thần Semiramis. Cho đến nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều tượng Mẹ bồng con ở Babylon (phía Iraq) cũng như tại Ai Cập. Hiện ở Ai Cập còn tồn tại nhiều đền thờ cổ với tượng Mẹ bồng con. Đó là tượng thần nhi đồng Horus ngồi trên đùi của mẹ là nữ thần Isis. Người Ai Cập đã nhập cảng tục lệ này từ Babylon và họ sáng tác ra thần thoại về tượng mẹ bồng con như sau: Bà Isis thụ thai do phép của Thần Mặt Trời (Sun God) sinh ra một người con thần thánh (a divine son) đặt tên là Horus. Lúc Horus còn là hài nhi, bị thần Bão Tố Typhoon rượt bắt nên bà Isis phải mang con chạy trốn và bị thất lạc con mình. Về sau bà gặp lại đứa con mới biết chính con mình là Thần Mặt Trời!

 

Vào thế kỷ đầu Công Nguyên, các tu sĩ lập đạo Kitô đã ăn cắp thần thoại Ai Cập này để phóng tác ra chuyện Bà Maria thụ thai do phép Đức Chúa Thánh Thần sinh ra con trai của Thiên Chúa (Son of God) được ít ngày thì bị vua Herod rượt đuổi nên phải chạy trốn sang Ai Cập. Đến khi Jesus lên 12 tuổi thì bị lạc tại Đền Thánh. Nhưng bà Maria vẫn tin tưởng con mình là Đức Chúa Trời và đồng thời cũng là chồng của mình, còn ông Joseph chỉ là chồng hờ để che mặt thế gian. Các tu sĩ lập đạo Kitô cũng như tu sĩ Ai Cập đều là những kẻ bệnh hoạn mang mặc cảm loạn luân với mẹ như chuyệp Odipus của Hy Lạp loạn luân với mẹ là Jocasta. Kinh Thánh Tân Ước của Luca viết: “Thiên Thần nói với bà Maria là Chúa Thánh Thần sẽ đến cùng Người và Thiên Chúa Tối Cao sẽ “phủ” người, cho nên vật thánh thiện sẽ được sinh ra bởi Người được gọi là Thiên Chúa”. (And the Angel answered and said to her: The Holy Spirit shall come upon thee and the power of the Highest shall overshadow thee, therefore also that holy thing which shall be born of thee shall be called the Son of God – Luke I:35).

 

Thiên Chúa Ba Ngôi nhưng thực ra là một ngôi, Jesus cũng chính là Đức Chúa Thánh Thần. Nếu Đức Chúa Thánh Thần “phủ” bà Maria thì cũng chính là Jesus đã “phủ” mẹ mình chẳng khác gì chuyện thần thoại Ai Cập: Bà Isis được thần Mặt Trời “phủ” sinh ra Horus và chính Horus là Thần Mặt Trời! Xin đọc thêm Deceptions and Myths of The Bible, p. 377).

 

Những tín đồ Kitô Giáo nguyên thủy không để ý đến chuyện loạn luân nói trên vì họ không tin bà Maria đồng trinh.

 

Kinh thánh Tân Ước kể rõ tên 4 em trai của Jesus là James, Joses, Simon và Judas (không phải Judas Escariot) và 3 cô em gái nhưng không nêu tên (Matt 13:55-56). Kinh Thánh cũng ghi rõ Jesus là con trưởng của bà Maria chứ không phải con duy nhất (first born son – Matt 1:25). Kẻ duy nhất viết Tân Ước đã xuyên tạc nữ tính của bà Maria thành “đồng trinh” là ông Matthew [ Matthew là tên tác giả viết cuốn Tân Ước, vì vậy người ta đặt tên cuốn kinh nầy là Matthew.]

 

và y đã trích dẫn kinh Cựu Ước nói tiên tri: “Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi người mẹ Đồng Trinh”. Sự gian trá của Matthew đã bị các học giả nghiên cứu thánh kinh vạch mặt. Các học giả đã tìm khắp Thánh Kinh Cựu Ước không hề có một chữ “Đồng Trinh” nào cả vì dân tộc Do Thái từ xưa đến nay không có ý niệm này. Họ chỉ phân biệt người đàn bà có chồng (married) và chưa chồng (unwed) mà thôi. Chỉ có một câu duy nhất của tiên tri Isaiah nói rằng: “Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi một người mẹ trẻ”. Nguyên văn tiếng Hebrew là ALMAH nghĩa là trẻ (young) chứ không phải là đồng trinh (virgin)!

 

Sau khi tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy, các tu sĩ ở Vatican triệu tập công đồng Ephesus năm 431 để thiết lập giáo lý về Đức Mẹ. Tại Ephesus có đền thờ nữ thần Diana của La Mã vốn được mệnh danh là nữ thần Đồng Trinh (Goddess of Virginity). Tại cuộc họp này, các lãnh đạo giáo hội chủ trương biến Đức Mẹ Maria thành nữ thần Diana đồng trinh, mục đích là để thu hút các tín đồ của Đa Thần Giáo La Mã. (Babylon Mystery Religion – p.11).

 

Tín điều Đức Mẹ Chúa Trời (Master Dei/Mother of God). Danh hiệu “Đức Mẹ Chúa Trời” bắt nguồn từ Babylon. Dân Babylon tôn thờ thần Nimrod và tin rằng chính Nimrod là đức Chúa Trời (Baal) và mẹ của Nimrod được tuyên xưng là “mẹ Chúa Trời”, tiếng Babylon là “Mea Domina”. Theo sử gia Ý Hislop thì danh hiệu này được chuyển sang tiếng Ý là “Madonna”. Các lãnh đạo giáo hội Công Giáo đồng hóa La Mã không ngoài mục đích thu hút tín đồ đông đảo vì họ đễ dàng cải đạo sang niềm tin tương tự. Hơn nữa, mục tiêu của chúng là biến Jesus thành Thiên Chúa cho nên một khi đọc kinh, tuyên xưng bà Maria là Mẹ Chúa Trời, đương nhiên tín đồ sẽ tự kỷ ám thị để tin rằng Jesus là Thiên Chúa.

 

Danh hiệu Đức Mẹ Mân Côi. Tháng năm là tháng hoa hồng, còn được gọi là tháng Mân Côi dâng hoa kính Đức Mẹ. Chuổi hạt dùng để đếm số lần đọc kinh Kính Mừng được gọi là Chuỗi hạt Mân Côi. Đức Mẹ Mân Côi là Đức Mẹ chuyên việc lắng nghe những lời cầu kinh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Việc lần hạt Mân Côi dựa trên giáo lý Công Giáo cho rằng Đức Mẹ là trung gian (Mediator) giữa Thiên Chúa và loài người. Thiên Chúa được mô tả là một vị thần khó tính, dễ nỗi giận, rất hung dữ và hình phạt của Ngài rất khủng khiếp. Các tu sĩ lập đạo cố tạo ra một Thiên Chúa ghê gớm buộc mọi người phải sợ. Tín đồ đồng nghĩa với “kẻ biết kính sợ Chúa” (God fearer). Tín đồ muốn được ơn cứu chuộc và được bênh vực cần phải chạy đến cầu cứu các tu sĩ.

 

Bên cạnh Thiên Chúa hung dữ, các tu sĩ lập đạo tạo ra một bà mẹ nhân từ biết lắng nghe và sẵn sàng làm trung gian can thiệp để Thiên Chúa bớt giận và chấp thuận ban cho kẻ cầu nguyện những ơn này ơn nọ. Các tu sĩ lãnh đạo Công Giáo đã chọn Mẹ Maria làm đấng trung gian thần thánh đó. Linh Mục Greeley, Giáo sư Đại học Dublin mới đây tuyên bố: “Bởi sống trong một thế giới bị đòi hỏi phải sợ Chúa, nhân loại cần phải có ai đó giúp đỡ chúng ta chống lại sự sợ hãi” (Because in a world asked to be God-fearing, humankind requires someone to help us fight the fear). Đức Mẹ trở thành một trung gian đắc lực của Vatican: Trong thời chiến, Vatican biến Đức Mẹ thành vị tướng quân sự thúc quân ra trận. Trong những đoàn thập tự quân thường có những lá cờ về hình Đức Mẹ với dòng chữ “Hãy tiến lên, những người lính của Chúa Kitô” (onward Christian soldiers!). Trong thời bình, Đức Mẹ biến thành Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis), các tu sĩ vẫn hốt bạc bằng những thùng tiền đặt bên cạnh các tượng ảnh của “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”, bằng “Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ” với những bản liệt kê in sẵn chỉ cần đánh dấu (X) vào những ô vuông bên cạnh: Xin được khỏi bệnh, xin được khỏe mạnh, xin được thành công trong việc làm ăn, xin cho tìm thấy người yêu lý tưởng… gửi về “Đền Thánh” bằng “Bussiness Reply Mail” [Thư hồi báo. Tem sẽ được trả bởi ngươi nhận.] với ghi chú “Postage will be paid by addressee”, tất nhiên trong thư phải kèm theo chi phiếu vô hạn định!

 

Tuy được tuyên xưng là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người, trong thực tế, Đức Mẹ đã trở thành một món hàng hấp dẫn hốt bạc cho các dòng tu và cha cố. Giáo lý dạy Đức Mẹ là Đấng Trung Gian hoàn toàn đi ngược với Thánh Kinh vì Thánh kinh đã xác định chỉ có một mình Chúa Jesus là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. (There is one mediator between God and men, the man Christ Jesus – I Thimothy 2:5). Giáo Hội Công Giáo khuyến khích giáo dân lần chuỗi Mân Côi và được giáo dân ngoan ngoãn hưởng ứng. Người ta tính ra có tới 46.296 lời kinh Kính Mừng được đọc trong một giây. Đến Thiên Chúa cũng không nghe kịp chứ đừng nói tới Đức Mẹ. (Babylon Mystery Religion P.18). Việc lần hạt cầu kinh là một thói quen trong tôn giáo của Ai Cập từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên. Người Do Thái cũng bắt chước làm theo. Trong thời gian giảng đạo tại Jerusalem, Chúa Jesus đã công khai ngăn cấm việc đọc kinh nhắc lại bằng cách lần hạt. Ngài nói: “Khi cầu nguyện, anh em đừng nhắc đi nhắc lại vô ích như những người ngoại giáo vì họ tưởng rằng lời cầu nguyện của họ sẽ được lắng nghe chỉ vì nói nhiều. (When ye pray, use not vain repetitions as the heathen do: for they think that they shall be heard do: for they think that they shall be heard for their much speaking – Matthew 6:7). Những kẻ cầu nguyện Chúa qua trung gian Đức Mẹ bằng những chuỗi hạt Mân Côi chỉ có thể làm cho Chúa nổi giận. Chúa không thể chấp nhận các lời cầu nguyện được vì chính họ đã làm những điều Chúa ngăn cấm!

 

Tín điều Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. (The dogma of Immaculate Conception). Tín điều này bắt đầu từ chuyện Vườn Địa Đàng (Garden of Eden) do các tu sĩ lập đạo Do Thái viết Cựu Ước sao chép từ chuyện thần thoại Babylon là chuyện “Gan Eden”, tiếng Babylon có nghĩa là “Khu Vườn Phương Đông”.

 

Babylon là xứ sở văn minh nhất ở vùng Cận Đông từ 5500 năm trước Công Nguyên. Đến thế kỷ 4 trước Công Nguyên, do sự đổi dòng bất ngờ của con sông Euphrate gây trận lụt lớn chưa từng thấy, chôn vùi toàn vùng Babylon xuống dưới những lớp cát sa mạc. Từ đó, loài người ít ai biết tới Babylon và kho thần thoại của nó. Mãi đến giữa thế kỷ 19, các nhà khảo cổ mới tìm thấy Babylon (cách thủ đô Baghdad cuả Iraq 80 dặm về phía Nam đến biên giới Kuweit ngày nay). Sau hơn một thế kỷ đào xới, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng trăm ngàn tấm đất sét nung khô với chữ viết giống như những cái nêm cối (cuneiform) và người ta đã đọc được những chuyện thần thoại giống như những chuyện kể trong kinh Thánh Cựu Ước Do Thái với những tên nhân vật hao hao giống nhau. Những chuyện thần thoại của Babylon đã lan tràn ra khắp các vùng Cận Đông. Đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên, Alexander The Great (A-lịch-sơn Đại đế) chiếm Cận Đông thì ngôn ngữ Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính của vùng này. Các chuyện thần thoại đó được dịch sang Hy Lạp và truyền sang Âu Châu. Có nhiều danh từ của Babylon trở thành căn ngữ trong nhiều ngôn ngữ ở Âu Châu, nhưng vì Công Giáo La Mã tiêu diệt Kitô Giáo nguyên thủy, tiêu diệt luôn văn hóa Hy Lạp và các dấu vết thật về Chúa Jesus trong thế kỷ 4 nên sau này người ta đã không biết nguồn gốc của các chuyện kể trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước. Các công trình lớn lao của ngành khảo cổ đã là chiếc chìa khóa vạn năng mở toang cánh cửa bí mật của quá khứ đen tối do Công Giáo La Mã đã tạo ra để che dấu sự lừa dối. Trước đây, ai cũng tưởng nhân vật Abraham là có thật trong lịch sử lập quốc Do Thái, nhưng nhờ khoa khảo cổ, người ta mới biết Abraham chỉ là nhân vật thần thoại của Babylon.

 

THẦN THOẠI JESUS CHÚA CỨU THẾ

 Thần thoại Babylon kể rằng: Thần Đất Terah sinh ra một “vị thần con” tại thành phố UR (có nghĩa là Ánh Sáng) tên là Abarama (a god) và thần Abarama lấy em gái mình là Sarai làm vợ.

 

Các tu sĩ lập đạo Do Thái vớ lấy chuyện này để viết Cựu Ước Sáng Thế Ký (Genesis) phịa chuyện lập quốc Do Thái: Cha của Abraham (hoặc Abrama), là Terah vốn sinh sống tại thành phố UR. Sau này Abraham lớn lên đã lấy em gái mình là Sarah làm vợ và được các tộc trưởng Do Thái tại Babylon bầu làm lãnh tụ dẫn dân Do Thái rời Babylon về vùng đất hứa là Canaan [Nước Palestine bây giờ.] để lập quốc. Chuyện thần Đất Terah truyền tới Âu Châu vào thế kỷ 3 trước Công Nguyên và trở thành căn ngữ của tiếng La Tinh “Terra” và tiếng Pháp “Terre” nghĩa là Đất.

 

Thần thoại Kitô cũng xuất phát từ Babylon từ nhiều ngàn năm trước khi có đạo Do Thái. Ta có thể tìm thấy dấu vết của thần thoại này ngay trong sách Sáng Thế Ký (Genesis) của Cựu Ước.

 

Sách Sáng Thế Ký kể rằng: ” Những đoàn người du mục đến định cư tại Shinar và lập nên thành phố Babylon (có nghĩa là Cổng Trời: Gate of God). Babylon về sau trở thành đế quốc (Gen 11:2). Tại đây có hai con sông lớn là Euphrate và Tigris. Vùng đồng bằng của hai sông này rất phì nhiêu nhưng có rất nhiều thú dữ ăn thịt người (Exodus 23:29-30). Một người thợ săn rất hùng mạnh tên là Nimrod (the mighty hunter before God – Gen 10:8-9) diệt thú dữ cứu dân. Về sau lên làm vua cai trị rất anh minh. Vương quốc của Người gồm có Erech, Accad và Calneh (Gen 10:10). Khi Nimrod chết, dân Babylon vì quá yêu thương đã khóc lóc thảm thiết. Bà vợ của Nimrod là Semeramis chặt xác Nimrod thành những miếng nhỏ đem nướng chín gửi đi khắp nơi cho dân chúng ăn cho bớt đau khổ (Judges 19:29, Sam 11:17). Bà Semeramis lúc đó đang mang thai đã hứa với dân chúng rằng bà sẽ sinh một con trai đặt tên là Tamuz. Con trai này sẽ là Chúa Cứu Thế và là Nimrod tái sinh. Từ đó, Tamuz được dân chúng mong mỏi ra đời cứu thế. Đó là ý niệm đầu tiên về Chúa Cứu Thế (Savior) mà người Do Thái dịch ra là Messiah. Đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên, do đế quốc Hy Lạp chiếm toàn Cận Đông và Âu Châu nên thần thoại Babylon về Chúa Cứu Thế được dịch sang tiếng Hy Lạp là CHRISTOS (Savior) người Hán phiên âm là Cơ Đốc. Babylon nằm giữa hai dòng sông Euphrate và Tigris được người Hy Lạp đặt tên là Meso-Potamia (Meso: Middle, Potamia: Rivers). Người Hán dịch thành Lưỡng Hà Châu.

 

Từ huyền thoại Chúa Cứu Thế Nimrod và Talmuz, người Babylon lập ra đạo thờ Thiên Chúa mà họ gọi là BAAL hoặc BAL vì họ tin rằng Nimrod chính là Bal. Cũng tương tự như người Công Giáo thờ Jesus vì tin rằng Jesus là Chúa Kitô và Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa, cũng chính là Thiên Chúa Toàn Năng!

 

Đạo thờ Thiên Chúa BAL thường bắt con nít hoặc các thiếu nữ làm vật hy sinh tế thần. Tượng thần rất lớn, cao cỡ 10 mét, hai bàn tay thần to bằng hai cái chảo lớn được đun nóng từ cái lò trong tượng thần. Các tu sĩ tế thần (được gọi là CAHNA) ném các nạn nhân trần truồng vào hai bàn tay của thần. Trong lúc đó các tu sĩ nhảy múa, đánh trống và phèng la inh ỏi để khỏa lấp tiếng thét ghê hồn của các nạn nhân đang bị nướng sống và tiếng khóc thảm thiết của thân nhân các nạn nhân. Từ đó phát sinh ra danh từ CAHNA-BAL (Priest of Bal) có nghĩa là “Những kẻ ăn thịt đồng loại” vì sau khi tế thần, các tu sĩ đạo thờ thần Bal chặt nhỏ xác các nạn nhân lúc đó đã chín để chia nhau ăn.

 

Tục lệ dã man này của Babylon du nhập vào đạo Công Giáo La Mã thành “Phép Mình Thánh Chúa” mà ta thấy trong các lễ Mi-sa ở nhà thờ hiện nay. Giáo dân lên rước lễ tưởng tượng được ăn thịt uống máu thật của Jesus. Họ đã trở thành một lũ mọi ăn thịt người mà Tây Phương gọi là CANNIBAL (Anh Ngữ) hoặc CANNIBALE (Pháp Ngữ) là danh từ có xuất xứ từ CAHNA-BAL của Babylon mà ra.

 

Việt Nam là một dân tộc có tinh thần nhân bản, ai cũng phải rùng mình ghê sợ khi nghe chuyện tế thần bằng người sống như đạo thờ thần Bal của Babylon. Chúng ta chưa từng nghe thấy những chuyện dã man tương tự trong lịch sử dân tộc. Tổ tiên chúng ta chỉ cúng Trời bằng bông hoa, trái cây hoặc bánh chưng bánh dầy được làm ra từ các sản phẩm nông nghiệp.

 

Cách thờ cúng của dân tộc ta và cách thờ cúng của Babylon (hoặc Công Giáo) phản ảnh hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Một bên là nền văn hóa nông nghiệp nhân bản, còn bên kia là nền văn hóa du mục phi nhân bản.

 

Người Việt Nam từ bỏ đạo của ông bà tổ tiên đi theo đạo Công Giáo là đã từ bỏ cái nguồn gốc nhân bản của mình để trở thành kẻ mọi ăn thịt người (cannibal) của nền văn hóa du mục phi nhân bản. Họ cứ tưởng đi theo đạo của Tây Phương là đã trở thành kẻ văn minh, rồi lên mặt khinh rẻ dân tộc và nền văn hóa nhân bản của tổ tiên. Họ đâu có ngờ họ đã trở thành những kẻ mọi rợ ăn thịt người, dù chỉ là tưởng tượng. Từ tâm linh văn minh biến thành tâm linh bán khai mọi rợ mà vẫn không biết mình đã biến thành bán khai mọi rợ từ lúc nào và do đâu!

 

Cũng từ cái thần thoại Chúa Cứu Thế Nimrod mới phát sinh danh từ MESSIAH của Do Thái có nghĩa là Chúa Cứu Thế (Savior) ngụ ý “Vua Nimrod mới hoặc “vua David mới” (Messiah means a new King David). Người Do Thái định nghĩa MESSIAH (tiếng hy Lạp là Christos – Anh Pháp Christ) phải là “đấng giải thoát mọi kẻ bị áp bức” (to let the oppressed go free – Isaiah 58:6). Họ không tin Jesus là Messiah/Christ vì Jesus chẳng cứu được ai.

 

Người Công Giáo đã lầm lẫn đồng hóa Jesus với Kitô. Jesus là người thật, sinh khoảng năm thứ 4 trước Công Nguyên, bị đóng đinh năm 29 lúc 33 tuổi, cao 1m82 và cân nặng 79 kí. Kitô là huyền thoại xuất phát từ Babylon và được nhập cảng từ đạo Do Thái. Các tu sĩ lưu manh lập đạo Kitô đã viết Tân Ước bằng cách dẫn chứng bậy bạ những điều nói trong Cựu Ước liên quan đến Messiah để biến Jesus thành Kitô. Sự việc Jesus được Kitô hóa (Jesus was Christed) đã được các nhà khoa học, các học giả và nhất là các nhà khảo cổ vạch mặt. Kẻ viết Tân Ước cố ý gán ghép mọi dẫn chứng giả tạo để người đọc nghĩ rằng Jesus thuộc dòng dõi vua David vì người Do Thái định nghĩa Messiah (Kitô) là vua David Mới sẽ được sinh ra để cứu dân tộc Do Thái. Về sau, các tu sĩ đạo Kitô đã biến ý nghĩa Messiah lúc ban đầu chỉ có nghĩa là anh hùng dân tộc (Savior of the People) trở thành Đấng Cứu Chuộc toàn thể loài người (The Redeemer). Nền văn hóa du mục phi nhân bản Babylon là linh hồn của đạo Công Giáo đã làm cho người Công Giáo Việt Nam mất hết dân tộc tính. Nước rửa tội là một thứ a-xít đã hủy diệt cái ánh hào quang dân tộc trên đầu của mọi người Công Giáo Việt Nam! Vào năm 40, hai bà Trưng đã cứu dân tộc ta chống quân xâm lược phương Bắc để dành độc lập cho tổ quốc. Hai Bà Trưng là hai Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Hai Bà Trưng xấp xỉ bằng tuổi Jesus, là những vị anh hùng đích thực của dân tộc thì người Công Giáo Việt Nam lại coi thường và khinh rẻ. Trái lại, cũng vào thời điểm của Jesus thì dân tộc ta bị Tàu đô hộ, một phần vì Jesus thất học chẳng biết nước Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên thế giới, phần khác Jesus còn mãi đi giảng đạo ở Jerusalem, đâu có giúp ích gì cho đất nước Việt Nam? Và giả sử có muốn cứu Việt Nam cũng chẳng cứu nỗi vì chính Jesus cũng không cứu nỗi bản thân và dân tộc Do Thái. Vậy hà cớ gì mà Công Giáo Việt Nam phải tôn thờ Jesus làm Chúa Cứu Thế của mình? Sự ngu dốt chứ không phải Đức tin đã là nguyên nhân chính yếu dẫn đến cái chết của những người tử đạo Việt Nam. Vinh danh tử đạo Việt Nam là vinh danh sự ngu dốt và tôn vinh tinh thần phản dân tộc. Người Công Giáo Việt nam hãy tỉnh ngộ để sớm rũ bỏ cái độc chất văn hóa Babylon trong người ngõ hầu sớm biết từ bỏ kiếp sống con chiên (con lừa) để làm người đứng thẳng (homo-erectus) trước khi trở lại làm người Việt Nam. Tổ quốc Việt Nam có những người công dân đích thực Việt Nam anh hùng bất khuất dám hiên ngang tiêu diệt mọi kẻ thù xâm lược, bảo tồn lãnh thổ và danh dự làm người với truyền thống văn hóa cao không kém gì ai trên trái đất này.

 

Không phải đến bây giờ người ta mới nhận ra cái độc hại của nền văn hóa du mục Babylon, mà ngay trong sách Mặc Khải (Tân Ước của Gioan) cũng đã nguyền rủa cái nền văn hóa này “Huyền thoại, Babylon vĩ đại, là mẹ của các con điếm và các chuyện kinh khủng trên trái đất này”. (Mystery, Babylon the great, the mother of harlots and abdominations of the earth – Rev. 17:1-6). Sách Mặc Khải Tân Ước muốn ám chỉ “mẹ của các con điếm” đó là ai; nếu không phải là cái giáo hội thối nát hư hỏng được xây dựng trên những huyền thoại của Babylon?

 

HUYỀN THOẠI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Lịch sử nhân loại đã nhận ra cái hậu quả ghê gớm của huyền thoại “Gan Eden” kể chuyện Adam và Eva phạm tội. Chỉ vì dám ăn trái táo trị giá mấy chục cents (xu) mà cả loài người phải chết, đàn ông phải vất vả cực khổ mới kiếm được miếng ăn và đàn bà phải mang nặng đẻ đau mới sinh được đứa con của mình! Cái lỗi nhẹ đó của Adam đã đưa đến hậu quả là Con một của Thiên Chúa phải mất công xuống thế gian đầu thai làm người, phải chịu đánh đòn nhục nhã và chết trần truồng trên thập giá chỉ để “Chuộc tội tổ tông”? Nhưng cái chết thảm của Jesus cũng hóa thành vô ích vì tất cả cái hậu quả của tội tổ tông trên số phận của loài người vẫn còn nguyên vẹn: Con người vẫn phải chết, đàn ông vẫn phải vất vả kiếm ăn và đàn bà vẫn mang nặng đẻ đau như lúc Jesus chưa “cứu chuộc”. Thật là xảo trá bịp bợm, Jesus chẳng cứu được ai, vậy tại sao lại cứ tôn vinh y là “Chúa Cứu Thế”? Khoa học khảo cổ đã chứng minh chuyện Vườn Địa Đàng chỉ là chuyện thần thoại bịa đặt, vậy làm gì có tội tổ tông thật đâu mà phải cứu chuộc? Ngay cả trường hợp chuyện Vườn Địa Đàng là thật chăng nữa thì hành vi của Adam cũng không phải là tội. Triết gia Baruch Spinoza (1632-1677) bậc thầy tư tưởng Tây Phương được xếp ngang hàng với Lão Tử của Đông Phương đã viết: “Ý muốn hay quyết định của Adam chẳng phải là xấu và cũng chẳng chống lại ý muốn của Chúa vì Chúa là nguyên nhân của điều đó… Chúa muốn kẻ ác hối hận tại sao Ngài cấm Adam ăn trái táo khi Ngài Phú cho ông ta ý muốn trái ngược?” (Adam’s will or decision was neither evil, properly speaking, contrary to God’s will, it follows that God can be its cause… God wants the wicked to repent, why did he forbid Adam to eat of the tree when he ordained the opposite – The Enlighten Minds by Stephen, p.142-143).

 

Một phần lớn cái trách nhiệm về tội ác của Kitô Giáo nói chung, của giáo hội Công Giáo nói riêng, có thể qui vào cho St. Augustine. Y là cha đẻ ra thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi với tác phẩm “De Trinitate”, Cha đẻ ra thuyết “Tội Tổ Tông” và thuyết “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Y xác lập thuyết thần quyền cho giáo hội để buộc mọi chính phủ thế quyền phải thần phục giáo hội bằng tác phẩm “De Civitas Dei”. Augustine sinh tại Algeria năm 354 (chết năm 430, 76 tuổi). Y được coi là người sáng lập đạo Kitô đứng hàng thứ hai sau Saint Paul (Phao lồ) và là tác giả của toàn bộ hệ thống tư tưởng Tây Phương thời Trung Cổ. Năm 396, y làm giám mục địa phận Hippo tại Algeria. [Trong suốt 6 thế kỷ đầu Công Nguyên, toàn vùng Bắc Phi, Cận Đông và Âu Châu đều là các nước theo Kitô Giáo. Sự xuất hiện và bành trướng mau chóng của Hồi Giáo thời Trung Cổ đã biến toàn Bắc Phi, Cận Đông và Nam Âu Châu kéo tới Ấn Độ trở thành các nước Hồi Giáo. Sự kiện này đã chặn đứng âm mưu xâm lược toàn cầu bằng chiêu bài Công Giáo của Đế quốc La Mã.]

 

Augustine say mê nghiên cứu và viết sách suốt trong 34 năm. Công trình của Augustine thật khá vĩ đại, chỉ tiếc cái vĩ đại đó là ông ta đã xây dựng cả một tòa lâu đài đồ sộ trên nền tảng thần thoại Vườn Địa Đàng của Babylon!

 

Augustine giải thích mọi đau khổ của loài người đều do tội lỗi nguyên thủy của Adam-Eva, gọi là tội tổ tông (the Origin Sin). Tội này di truyền cho con cháu muôn đời do sự giao cấu của cha mẹ. Giao cấu là tội lỗi. (God had condemned humanity to an eternal damnation simply because of Adam’s sin. The inherited guilt was passed on to all his descendants through the sexual act which was polluted by what is called concupiscence). Dựa vào lý luận này, Augustine viết thêm cuốn On Female Dress nhục mạ phụ nữ và tạo ra hệ thống nam tu sĩ của giáo hội Công Giáo và việc phụ nữ bị từ chối phong chức linh mục.

 

Augustin gọi mỗi phụ nữ là một Eva, đồng lõa với ma quỉ, xúi giục đàn ông chống lại Thiên Chúa. Vì tội lỗi xấu xa của phụ nữ mà Con Thiên Chúa phải chết. Đàn bà là kẻ đào ngũ khỏi luật của Chúa. Đàn bà phá hoại đàn ông là hình ảnh của Thiên Chúa… (You are each an Eve. You are the devil’s gateway. You are the unsealer of that forbidden tree. You are the first deserter of the divine law. You so carelessly destroyed man, God’s image. On account of your desertion, even the Son of God had to die). Tuy nhiên, chỉ có một phụ nữ duy nhất trên thế gian không bị Augustine nguyền rủa là Đức Mẹ Maria. Augustine lý luận: Đức Mẹ không giao cấu với Joseph. Đức Mẹ sinh ra Chúa Jesus vẫn còn đồng trinh nên Mẹ là đấng Vô Nhiễm Nguyên tội (The Immaculate Conception).

 

Những lý luận trên của Augustine thống trị linh hồn Âu Châu suốt trong hơn 1000 năm! Mãi đến giữa thế kỷ 16, bỗng nhiên xảy ra một cuộc bút chiến giữa hai phe thần học Công Giáo. Phe cấp tiến cho rằng Chúa Jesus cũng mắc tội tổ tông vì bà Maria sinh ra do sự giao cấu của cha mẹ, Jesus chỉ được miễn 50% vì cha là Đức Chúa Tinh Thần. Cuộc bút chiến kéo dài lai rai trong 30 năm và bị tòa án Dị Giáo đàn áp dữ dội nên không thể bùng lên được. Biết bao sinh mạng đã phải lên dàn hỏa vì cái chuyện lẩm cẩm này! Đó là cái gọi là “nền văn minh Kitô Giáo” (The Christian civilization).

 

Đến giữa thế kỷ 19, khi nền dân chủ Tây Phương đã khá lớn mạnh và uy quyền của Vatican đã bị giảm sút, cuộc bút chiến về cái trinh của Đức Mẹ lại bùng lên. Giáo Hoàng Piô IX dùng mọi biện pháp dập tắt cuộc bút chiến. Đến năm 1854, y công bố tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Để cho giáo dân thêm tin tưởng vào tín điều này, giáo hoàng âm mưu với giáo hội Pháp phịa ra vụ Đức Mẹ hiện ra ở hang núi hẻo lánh Massabielle thuộc tỉnh Lourdes (Tây Nam nước Pháp). Đức Mẹ tiếp xúc với một cô gái quê tên Bernadette và Mẹ tự xưng là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội (I am The Immaculate Conception). Nhiều giáo dân tiến bộ không tin phép lạ ở Lourdes (Lộ Đức) và đặt vấn đề về thẩm quyền tuyên bố tín điều của giáo hoàng. Do đó, giáo hoàng Pio IX phải triệu tập Công Đồng Vatican I vào năm 1869. Kết quả Công Đồng I chấp thuận tín điều “Giáo Hoàng Bất Khả Ngộ” [Không thể sai lầm.]

 

(The dogma of Papal Infallibility). Nhờ có tín điều này, năm 1950, Giáo Hoàng Pio XII công bố thêm một điều nữa về Đức Mẹ. Đó là Tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” còn gọi là “Đức Mẹ Mông Triệu (The Assumption).

 

Tổng giáo phận Sài Gòn sáng tác một bài kinh để mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Nhựt khóa trang 499) nghe rất cải lương như sau: “Thung thăng chân bước thang mây, tay chắp mặt vui áo tỏa. Hớn hở gót nương cung nguyệt. Khí thanh gió mát trời quang. Xuân Thu bà đã quá sáu tuần về chầu Chúa bởi lòng kính mến. Môn đệ Chúa họp gần đủ mặt Ba Ngôi thảy yêu đương, xưa đời giữ phận khiêm nhường xưng mình là tôi tớ Chúa. Nay rời khỏi thế gian nên vì cao trọng. Bà đáng chức Nữ Vương. Xưa, Ngôi Hai ngự trong lòng Bà dư chín tháng ơn thiêng gồm đủ. Rày Chúa Cả thưởng công Mẹ quyền cai trị chín trời, chức đặt chủ bầu bốn biển. Sang quá đỗi sang. Nay xin Ơn Thánh hằng giúp con, sau nguyện đặng lên trời với Mẹ. Amen”.

 

Để củng cố và nhắc nhở các tín đồ Công Giáo về các tín điều mới này về Đức Mẹ cũng như tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm.”, Vatican ra lệnh cho các giáo hội phải xây thêm trong khuôn viên nhà thờ một hang đá Lộ Đức. Lệnh của Tòa Thánh ban ra chỉ được vài nước Âu Châu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha thi hành còn toàn Bắc Mỹ đa số theo phe cấp tiến không chịu tuân lệnh. Do đó, ta thấy ở Mỹ và Canada gần như không có nhà thờ nào xây hang đá Lộ Đức. Ở Việt Nam thì ngược lại, nhà thờ nào cũng xây thêm hang đá Lộ Đức. Đó là một bằng chứng cụ thể về tinh thần nô lệ của giáo hội Công Giáo Việt Nam. Bất cứ một lệnh nào được ban ra từ Vatican cũng đều được các tu sĩ Việt Nam tuân hành răm rắp!

 

Tuyệt đại đa số giáo dân trình độ tâm linh quá thấp đâu ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội, chính họ còn ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau tòa giải tội.

 

Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời . [Một số tu sĩ của tôn giáo khác cũng thế.]

 

Mái nhà thờ của họ càng lớn rộng bao nhiêu, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.

 

Trong giáo lý Công Giáo có rất nhiều điều sơ hở của những kẻ sáng lập đạo có thể khiến cho những người có óc tò mò tìm hiểu dễ dàng phát giác ra sự lừa bịp dối trá của giáo hội. Nhưng vì trình độ thấp kém của giáo dân, giáo hội vẫn tìm cách che lấp các sơ hở đó của giáo lý và qua mặt giáo dân dễ dàng. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi thường được cô tôi là một dì phước dạy giáo lý. Bài giáo lý đầu tiên trong đời tôi được cô tôi hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần. Bà biết tôi đã thuộc như cháo nhưng bà vẫn hỏi để có cớ cho tôi quà. Mỗi lần có dịp đến thăm gia đình tôi, bà thường ôm tôi vào lòng âu yếm hỏi và tôi đáp như máy:

 

– Cháu con ai?

– Con Đức Chúa Giời.

– Cháu ai?

– Cháu ông Adong.

– Dòng dõi ai?

– Dòng dõi vua David.

Cả tới nửa thế kỷ sau, tôi không hề thắc mắc về những điều đó, nhưng rồi sau đó, tôi mới thấy cái vai trò quan trọng của vua David trong giáo lý Công Giáo. Đó là vì dân Do Thái quan niệm Chúa Cứu Thế (Christ-Messiah) là “vua David mới” phải là người thuộc dòng dõi của vua David, cũng tương tự như người Babylon quan niệm Chúa Cứu Thế (Savior of People) phải là con của vua Nimrod. Do đó, kẻ lập đạo Kitô phải viết sách làm sao để người đọc tin rằng Jesus là người thuộc dòng dõi của David thì Jesus mới có thể là Messiah (Kitô) đã được Cựu Ước Do Thái tiên tri. Tân Ước kể tiểu sử Jesus được viết trong thế kỷ I đã chứng minh mối tình tội lỗi của David với bà Bathseba đã sinh ra tổ tiên nhiều đời của Joseph là cha của Jesus. Do đó, Jesus đã thuộc dòng dõi vua David bởi cha mình là Joseph và đích thị là Chúa Kitô theo đúng Cựu Ước. Đến thế kỷ 3 và 4, lý thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi mới thành hình. Bọn lập đạo Công Giáo (Hoàng đế Constantine, Irenacuss, giám mục địa phận Lyon ở Pháp và Augustine là tác giả Kinh Tin Kính) chủ trương biến Joseph thành cha nuôi và Đức Mẹ phải là đồng trinh, cha của Jesus phải là đức Chúa Thánh Thần. Nhưng họ đã quên khuấy một điều là Tân Ước và Cựu Ước không có một điều nào nói về Đức Mẹ Maria thuộc dòng dõi của vua David. Thành ra, nếu Jesus là con của Đức Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh thì Jesus không thể là Kitô vì không thuộc dòng dõi vua David! Ngược lại, nếu chấp nhận Jesus thuộc dòng dõi vua David do cha mình là Joseph thì Đức Mẹ không còn đồng trinh! Để gỡ thế bí này, Vatican đã phịa ra những bài kinh cầu Đức Bà, kinh cầu Ông Thánh Gioakim và kinh cầu bà thánh Anna (là cha mẹ của bà Maria) để che lấp sơ hở nói trên của kẻ lập đạo Công Giáo.

 

– Kinh cầu Đức Bà có câu “Đức Bà là lâu đài David”.

 

– Kinh cầu Ông Thánh Gioakim (Toàn niên Kinh Nguyện Bùi Chu do cơ sở Dân Chúa xuất bản. P.O Box 1419 Gretna LA 70053. Đại diện là LM Việt Châu – trang 189): “Lạy ông Thánh Gioakim là đấng rất sang trọng về dòng dõi vua David. Đức Chúa Trời đã chọn mà ban mọi sự lành cho cả và loài người ta vì đã dùng Người cho được làm nên những sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời truyền ở thế gian này…”

 

– Kinh cầu Bà Thánh Anna (Toàn niên kinh Nguyện tr. 212): “Lạy bà Thánh Anna là mẹ Nữ Vương, Bà làm sáng thiên hạ vì sinh được con thanh sạch, sáng láng hơn mặt trời mặt trăng. Bà là đấng sang trọng bởi dòng vua David…”

 

Từ nhỏ đi nhà thờ đọc kinh cầu Đức Bà, tôi vẫn tưởng tượng cái “Lâu Đài David” chắc phải là cái gì thánh thiện cao cả. Nay tôi Lấy Sách Cựu Ước ra đọc để tìm hiểu cái lâu đài này như thế nào. Té ra Lâu Đài David là Harems chứa cả ngàn cung nữ để phụng sự cái tật dâm dật vô độ của David. Khi David về già, vẫn ham chơi với các thiếu nữ trẻ măng. Tôi ngạc nhiên thấy cái gọi là Kinh Thánh Cựu Ước mô tả các cuộc truy hoan của nhà vua thật chi tiết như một dâm thư: “Bây giờ vua David đã già và bị bệnh nhiều năm, đắp mền cho Người bao nhiêu cũng không ấm. Các đầy tớ mang đến cho Người một cô gái trẻ đứng trước mặt Người và hãy để cho cô ta kích thích làm cho Người khoái, sau đó đặt cô ta nằm trong lòng Người thì Người mới ấm…” (Now king David was old and stricken in many years. They covered him with clothes but he got no heat. Wherefore, the servants sought for the king a young girl and let her stand before the king and let her cherish him and let her lie in his bosom that the king may get heat – The Third Book of the King I:1-12).

 

MỘT SỐ CÂU CHUYỆN NGỤY TẠO ĐỂ LỪA BỊP CỦA CÔNG GIÁO LA MÃ

 Tất cả các bài kinh nói trên đều không có căn bản Thánh Kinh. Các học giả Âu Mỹ gọi là “Un-Scriptural Prayers”. Đó chỉ là những sản phẩm ngụy tạo để lừa bịp. Nói đến các chuyện bịp của Công Giáo La Mã thì nhiều không kể xiết. Chỉ xin kể vài chuyện tiêu biểu:

 

Vatican rêu rao đã lưu giữ cái ghế ngồi của Thánh Phêrô trong nhiều thế kỷ. Vào tháng 7.1968, các nhà khoa học quốc tế đã đến làm cuộc giảo nghiệm và đồng xác nhận chiếc ghế này được ngụy tạo vào thế kỷ 9.

 

Các nhà khảo cổ xác nhận: Bức tượng Thánh Phêrô rất lớn bằng đồng đen đặt tại Đền Thánh La Mã được khoác áo giáo hoàng và đội nón cao tầng để đóng vai “giáo hoàng đầu tiên” của giáo hội là tượng thần Jupiter của Cổ La Mã trước Công Nguyên (Babylon Mystery Religion p.18-79). Cựu Linh Mục dòng Tên Pete de Rosa, tác giả cuốn sách best-seller “Vicars of Christ” đã phải kết luận: “Vatican là xưởng chế tạo đồ giả lớn nhất thế giới”.

 

Các sử gia chuyên nghiên cứu lịch sử giáo hội Công Giáo xác nhận Phêrô không phải là giáo hoàng vì ông ta hoàn toàn thất học, có vợ con (Matt 8:14) nên Phêrô không chấp nhận cho người khác quì lạy mình để hôn tay.

 

(Stand up! I am a man – Act 10: 25-26). Phêrô chưa từng đến Rome vì không có điều nào trong Tân Ước nói về việc này. Trong 3 thế kỷ đầu của Kitô giáo nguyên thủy không có giáo hoàng mà chỉ có giám mục (bishop). Giáo Hoàng là sản phẩm của Công Giáo La Mã. Bắt đầu từ năm 378 mới có chức Giáo Hoàng. Giáo hoàng đầu tiên là Demasus được tôn xưng Pontifex Maximus: Đấng Đứng Đầu giáo hội (head of Church) tức là Giáo Hoàng.

 

Giáo hoàng đầu tiên tuyên bố ngôi vị giáo hoàng là “thừa kế của Thánh Phêrô”. (Successor of Peter) là một nữ giáo hoàng (popess). Tên thật của nữ giáo hoàng là Catherine de Sierra. Từ thuở nhỏ, Catherine thích mặc đồ con trai và sau đó giả làm con trai đi tu dòng nam vào đầu thế kỷ thư 9. Bà là một phụ nữ thông minh, ham mê hoạt động và có tham vọng khuynh đảo cả thế giới. Bà có tài hùng biện và đã để lại nhiều bài diễn văn rất nổi tiếng hiện còn được lưu trữ tại văn khố Tòa Thánh. Nhiều sử gia Ý như Petrarch và Boccacio đã viết sách ca ngợi tài năng học giả uyên bác của bà. Vào năm 855, giáo hoàng Leo IV qua đời. Hội Thánh lúc đó nhận thấy chỉ có tu sĩ Gioan (tên giả) là xứng đáng kế vị giáo hoàng. Kết quả, tu sĩ Gioan được bầu làm giáo hoàng và là người tuyên bố: “The pope is the successor of Saint Peter”. Giáo Hoàng Gioan cai trị giáo hội được 3 năm thì chẳng may một tai biến xảy ra. Trong năm 858, Tòa Thánh tổ chức một cuộc rước kiệu lớn tại Rome. Giáo hoàng đi theo đoàn kiệu bỗng nhiên té xỉu, máu me chảy lênh láng vì bị sẩy thai! Cả giáo hội lúc đó mới phát giác giáo hoàng là phụ nữ. Ngay sau đó, giáo hoàng Gioan bị lột trần truồng và bị đám tu sĩ cuồng nộ lôi ra công trường Colossium để cho dân chúng ném đá chết tại chỗ. (The Pope Encyclopedia. Matthew Bunson. Crown Trade Paperbacks NY. 1995). Truyền thống của Công Giáo khinh rẻ phụ nữ do triết thuyết của Augustine. Giáo hội coi phụ nữ không xứng đáng chịu chức thấp nhất là linh mục huống hồ là chức giáo hoàng! Mặc dầu Giáo Hoàng Gioan rất giỏi và không có tội gì khác ngoài tội chỉ là một phụ nữ nên phải chết thảm.

 

Truyền thống khinh rẻ phụ nữ đó ngày nay đã trở thành một mối nguy hiểm có thể đưa đến sự sụp đổ của giáo hội. Tại Hoa Kỳ và Âu Châu, phụ nữ Công Giáo bỏ đạo đã biến thành phong trào lớn. Năm 1995, nữ giáo sư Joan Meehl là bổn đạo gốc lâu đời tại Mỹ đã mở một cuộc phỏng vấn qua nhiều tờ báo toàn quốc để thu thập ý kiến của phụ nữ Công Giáo Hoa Kỳ thuộc mọi thành phần và thuộc mọi lứa tuổi. Bà Joan Meehl đúc kết lại để viết tác phẩm Người Công Giáo Tỉnh Ngộ hay Cuộc Hành Trình Của Phụ Nữ Bỏ Đạo (The Recovering Catholics. Personal Journeys of Women Who Left The Church, 228 trang. Prometheus USA 1995). Phụ nữ Mỹ đồng loạt kết tội St. Augustine và coi y là một tên bệnh hoạn về giới tính. Hệ thống triết học và thần học của Augustine là Xương Sống của Công Giáo La Mã hoàn toàn dựa trên thần thoại Vườn Địa Đàng, sản phẩm bịa đặt của Do Thái ăn cắp từ thần thoại Babylon. Sự nhục mạ phụ nữ của Augustine và giáo hội La Mã làm cho phụ nữ cảm thấy tủi hổ về thân phận đàn bà của họ. Bà Joan cũng như các phụ nữ Công Giáo tiến bộ phẫn nộ gọi Thiên Chúa là “Đấng Toàn năng Đực Rựa” (The Male Almighty) gọi giáo hội Công Giáo là giáo hội “đàn ông trị” (man-dominated church). Họ cho rằng “Thiên Chúa chỉ là tấm màn che quyền lực của Đàn Ông chứ không phải quyền lực của Chúa tồn tại trên trái đất này” (The power of man, not God, still exist on earth. God is merely a backdrop to man’s ruling). Bà Joan phát biểu: “Công Giáo La Mã đang trở thành đồ phế thải của các nước phát triển và đang có khuynh hướng chuyển đồ phế thải đó sang các nước chậm tiến! Đặc tính của Công Giáo là chỉ có thể phát triển được tại nơi có kẻ ngu dốt và nghèo khổ. (Catholicism only thrives and grows among the poor and ignorant). Giáo hội Công Giáo là một chế độ độc tài ngụy trang tôn giáo, một đường dây Mafia và là những con buôn đội lốt tôn giáo (A dictatorship claiming to be a religion, a Mafia Connection, a business masquering a religion).

 

Song song với phong trào chống Công Giáo của phụ nữ trên thế giới, giáo hội La Mã còn bị tấn công tới tấp bởi các phong trào đòi quyền sống của người da đen, phong trào Cộng Sản quốc tế… Vatican tìm cách làm giảm bớt tính chất đàn ông của Thiên Chúa bằng cách đề cao vai trò Đức Mẹ Maria.

 

Ba Ngôi Thiên Chúa, theo giáo lý Công Giáo, là một bộ ba gồm có một ông già rậm râu xuất thân từ Jehovah (tức là con bò El của Do Thái) một thanh niên đóng khố máu me đầy mình và một con chim bồ câu đực. Rõ ràng giáo hội Công Giáo là một tà giáo đa thần (paganism) vì nó không thờ Thiên Chúa mà là thờ người (Jesus) và cầm thú (bò, chim). Bà Karen Amstrong, nguyên là nữ tu Công Giáo, hiện là một sử gia hàng đầu thế giới về tôn giáo và là tác giả nhiều tác phẩm Bestsellers. Trong tác phẩm nổi tiếng A History of God, bà gọi Thiên Chúa của Công Giáo là một ông thần lắm điều (a talkative God). Giáo Lý Thiên Chúa Ba Ngôi là giáo lý rắc rối và phỉ báng Thiên Chúa (puzzling and blasphemous).

 

Giáo hội Công Giáo biết tâm lý phụ nữ không ưa Thiên Chúa Ba Ngôi vì đều là giống đực nên đã lôi Đức Mẹ vào để biến chế thành “Thiên Chúa Bốn Ngôi”. Nhưng giáo hội lại lâm vào tình trạng… kẻ gian mắc nạn! Lý do là: Càng làm nổi bật vai trò của Đức Mẹ bên cạnh Thiên Chúa Ba Ngôi bao nhiêu lại càng làm nổi bật cái tính loạn luân mất dạy của giáo lý Thiên Chúa Ba Ngôi bấy nhiêu.

 

Tờ Newsweek số ra ngày 25.8.1997 (trang 19) viết “Thay vì Thiên Chúa Ba Ngôi, ngày nay xuất hiện một loại Thiên Chúa Bốn Ngôi với vai trò phức tạp của bà Maria: Con gái của Chúa Cha, Mẹ của Chúa Con và vợ của Chúa Thánh Thần”. (In place of the Holy Trinity, there would be a kind of Holy Quartet with Mary playing the multiple roles: daughter of the Father, mother of the Son and spouse of the Holy Spirit). Vì chỉ có một Thiên Chúa, nên cùng một lúc Bà Maria vừa là con, vừa là mẹ và vừa là vợ của Jesus. Ngược lại, Jesus cùng lúc là cha, là con và là chồng của chính mẹ mình! Giáo hội Công Giáo tôn thờ Thiên Chúa lắm điều, ác độc và loạn luân. Vua “thánh” David dâm dật vô độ, tổ phụ Abraham cũng loạn luân. Do đó Giáo Hội Công Giáo đã hiện ra nguyên hình là một giáo hội vô luân vô địch. Toàn bộ hàng giáo phẩm Công Giáo Việt nam kém cỏi, tới nay vẫn cứ cắm đầu cắm cổ tụng niệm đề cao Thiên Chúa Các Đạo Binh (Thần Bạo Lực) trong các buổi lễ. Giáo dân vẫn rỉ rả cầu xin: “Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David” (Nhựt khóa 707), và cầu cho linh hồn người chết: “Xin các Thánh thiên thần đem linh hồn … (Maria, Giêsu, Phanxicô Gioan Baotixita…) lên nơi vui vẻ cùng ông Thánh Abraham” (Nhựt khóa 330), hoặc “Xin Chúa đoái thương dân nước Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm ngoại giáo… Chúa đã phán rằng ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi Đông Tây đến nghỉ ngơi cùng Thánh Abraham trên nước Thiên Đàng”. (Nhựt khóa 144-145). Giáo Hội Công Giáo tỏ ra thương xót dân tộc Việt nam không phải vì hay bị bão lụt hạn hán, chiến tranh liên miên chống xâm lược… mà thương dân nước Việt còn ngồi chồm hổm trong bóng tối tăm ngoại giáo vì chưa biết ăn thịt người, và chưa biết Thiên Chúa Ba Ngôi mất dạy và loại luân đến cở nào? Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã lộ nguyên hình là một đám cỏ dại phá hoại cánh đồng mang hình chữ S của tổ quốc Việt Nam chúng ta.

 

Công Giáo La Mã luôn luôn tự xưng là giáo hội chính thống của Thánh Phêrô (Peter) nhưng chính Jesus đã gọi Phêrô là Satan nên Công Giáo La Mã là đạo chính thống của Satan gian ác. Đó là điều đã được xác nhận trong Thánh Kinh Tân Ước chứ không phải tôi dùng chữ thiếu văn hóa. (But he turned and said unto Peter: Get thee behind me, thou art an offence unto me – Matt 16:23). Trong năm 1917, Đức Mẹ Maria đã hiện ra tại Fatima liên tục mỗi tháng một lần vào ngày 13, từ tháng 5 đến tháng 10.1917. Đức mẹ đã phán: “Vatican đã biến thành kinh đô của quỉ Satan. Khói của Satan nồng nặc trong giáo hội. Vatican đã phá hoại trên nền tảng Công Ơn Cứu Chuộc của Chúa Jesus”. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, Satan được mô tả là một con rắn, là vật chất và là ông hoàng của thế giới (the Prince of this world). Người Ai Cập coi con rắn là biểu tượng của sự khôn ngoan hiểu biết (an exemplar of the wisdom – knowledge). Chúa Jesus khuyên mọi người hãy trở nên khôn ngoan như con rắn (Be ye wise as serpents). Vatican đã trở nên ông hoàng của thế giới trong nhiều thế kỷ. Nó đã trở nên trung tâm quyền lực của quỉ (Satanic power). Vatican khôn như rắn và gắn bó với vật chất (clinging to matter). Chính nó là Satan, là vật chất (Satan means Matter).

 

Giáo Hội Công Giáo là giáo hội của quỉ đã quấy phá nhân loại trong gần 2000 năm qua và nó đang đi tới rất gần đến ngày tận thế của nó!

 

Ngày 13.5.1982, người đứng đầu giáo hội của Satan là Jean Paul II đã đến làm lễ tại Vương Cung thánh đường Fatima và cầu xin cho cái giáo hội đó khỏi bị hủy diệt. Giáo hoàng cầu xin như sau: “Xin Chúa cứu chúng con khỏi trận chiến tranh nguyên tử và tránh khỏi sự hủy diệt không thể lường được”. Linh Mục Alonso Fatima, người có nhiệm vụ giữ hồ sơ về các bí mật cho biết: “Bí mật Fatima có liên quan đến một cuộc khủng hoảng ghê gớm trong nội bộ giáo hội Công Giáo gây nên bởi sự tranh giành thế lực giữa những phẩm trật cao nhất trong giáo hội”. (Công Giáo Thời Luận, số 4 tháng 8.1986). Linh Mục Alonso cho biết thêm: Kẻ giết giáo hội Công Giáo không phải là Cộng Sản, cũng chẳng phải là Judas tái sinh mà là các tu sĩ hư hỏng. Ngày nay, rất nhiều linh mục đã mất đức tin nhưng vẫn giả vờ đạo đức để đóng vai lãnh đạo tinh thần của giáo hội, không có mục đích nào khác hơn là để bòn rút tiền bạc của giáo dân để ăn, để sống và thỏa mãn những dục vọng thấp hèn của họ. Nhiều linh mục giả vờ nghiêm trang làm lễ ở nhà thờ, nhưng sau đó họ gian dâm với vợ con của đám giáo dân khờ khạo của mình.

 

Số báo Thời Luận nói trên, nơi trang 10-11, có thuật chuyện “Đức Mẹ khóc tại La Salette”. Đức Mẹ đã nghiêm khắc lên án các linh mục Công Giáo hư hỏng như sau: “Vì đời sống xấu xa tội lỗi của họ, và vì lòng vô nhân đạo của họ khi cử hành các phép bí tích mầu nhiệm, vì lòng ham mê tiền bạc thế gian và ham mê danh vọng hão huyền, nhất là vì lòng ham mê những thú vui xác thịt tội lỗi… các linh mục đã trở thành những hố phân chứa đầy dòi bọ dơ bẩn. Cuộc sống xấu xa tội lỗi của họ đòi hỏi sự trả thù của Thiên Chúa và sự trả thù đang lơ lửng trên đầu họ…”

 

Theo báo Newsweek ra ngày 26.8.1997 thì trong 19 thế kỷ qua, Vatican loan báo Đức Mẹ hiện ra chỉ có vài lần. Nhưng trong thế kỷ 20, Vatican cho biết có tới 400 lần Đức Mẹ hiện ra hầu như tại khắp nơi trên thế giới. Những vụ Đức Mẹ hiện ra dồn dập cho loài người thấy tình hình rất là khẩn trương và là điềm báo cho thấy ngày tận thế của giáo hội Satan đang trong tầm tay (The Doomsday is at hand). Năm 1917 là năm giáo hội bị đe dọa nặng nề bởi hiểm họa Cộng Sản. Nhưng hiện nay giáo hội Công Giáo mới thực sự đang trên miệng hố diệt vong.

 

Trong cuộc hiện ra tại Fatima năm 1917, Đức Mẹ hứa Trái Tim Mẹ sẽ chiến thắng Cộng Sản và nước Nga sẽ ăn năn trở lại với mẹ. Quả thật, chủ nghĩa Cộng Sản đã sụp đổ, nhưng người Nga đã trở lại với Mẹ trong Chính Thống Giáo chứ không trở lại với giáo hội Satan là Vatican.

 

Trong tháng 8.1997, quốc hội Nga đã biểu quyết đạo luật và Tổng Thống Yelsin ban hành xác nhận quyền tự do tôn giáo trên nước Nga. Mọi tôn giáo, kể cả đạo Phật và đạo Hồi, đều được tự do truyền giáo và hành đạo tại Nga, ngoại trừ Công Giáo La Mã và Tin Lành. Người Nga coi Công Giáo La Mã là một giáo hội thù địch vì Công Giáo là kẻ phản bội Chúa và Đức Mẹ. Tại Fatima năm 1917, Đức Mẹ đã cho 3 em nhỏ được thấy cảnh hỏa ngục. Trong hỏa ngục đầy dẫy các giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục và linh mục Công Giáo. Các tu sĩ Công Giáo trong hỏa ngục nhiều lúc nhúc như dòi trong các hố phân lộ thiên! Chắc chắn không thể thiếu mặt Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Đình Thục, Nguyễn Văn Bình… Toàn bộ Hội đồng Giám Mục Việt Nam cũng đều đang ở trong thế chờ để nhào xuống hố phân Địa Ngục. Còn các linh mục gian ác như Hoàng Quỳnh, Thanh Lãng, Lương Kim Định, Cao Văn Luận thì khỏi phải bàn tới.

 

Chúa đã phán: “Kẻ giầu vào nước thiên đàng, còn khó hơn lạc đà chui qua lổ kim”. Toàn bộ giáo hội Vatican giầu tới hàng trăm ngàn tỷ đô la còn to hơn khổng long làm sao chui qua lỗ kim cho nổi! Cho nên, nếu lời Chúa là chân lý thì toàn bộ cái giáo hội Công Giáo phải xuống hỏa ngục. Nếu cả cái giáo hội ấy vì một lý do nào đó mà không phải xuống hỏa ngục thì lời Chúa chỉ là lời nói tào lao.

 

Năm 1917, tại Fatima, Đức Mẹ nói khá nhiều về Cộng Sản, nhất là nói về Cộng Sản Nga. Còn tại La Vang (Quảng Trị) thì Đức Mẹ hoàn toàn không đề cập đến Cộng Sản Việt Nam nên ngày nay chúng ta khó có thể đoán biết được quan điểm của Đức Mẹ về vấn đề này. Trong thế kỷ 20, Đức Mẹ hiện ra tới 400 lần tại nhiều quốc gia. Như vậy Đức Mẹ biết đủ các thứ tiếng trên thế giới! Tại La Vang năm 1798, dưới thời vua Cảnh Thịnh, hàng trăm giáo dân Huế và Quảng Trị đã vào đây lánh nạn cấm đạo trong khu rừng “Lá Vằng” này. Đức Mẹ chỉ hiện ra để nói vài điều chứ không có một chương trình nào cụ thể để cứu trợ cả. Đức Mẹ hứa: “Từ nay về sau, bất cứ ai đến khẩn cầu Mẹ tại nơi đây sẽ được Mẹ ban ơn phù trợ” Chắc ý của Mẹ là muốn La Vang sẽ trở thành một trung tâm hành hương lớn tương tự như Trung Tâm hành Hương của Dòng Tu Đồng Công tại Missouri? Tôi tin rằng Đức Mẹ đã nói với giáo dân tại La Vang năm 1798 bằng tiếng Việt, không cần thông dịch viên từ tiếng Aramic sang Việt Ngữ. Có lẽ tiếng nói của Người hơi nặng theo giọng Huế hoặc Quảng Trị!

 

VATICAN, XƯỞNG SẢN XUẤT PHÉP LẠ

Sự lạm phát phép lạ của Vatican đi kèm theo tín điều “Giáo hoàng không thể sai lầm” làm cho các giáo phái Kitô khác như Anh Giáo, Tin Lành, Chính Thống Giáo đâm ra lo sợ vì nó có thể tạo ra sự sụp đổ của Công Giáo La Mã và kéo theo sự sụp đổ của toàn thể Kitô Giáo! Các giáo phái Kitô chú ý theo dõi các hành động của Vatican và giáo hoàng. Dưới con mắt của họ, cái tín điều “Giáo hoàng bất khả ngộ” có thể là một con dao hai lưỡi. Họ nghi ngờ giáo hoàng có thể là một Judas. Chúa Jesus có 12 tông đồ, trong đó có một Judas. Chẳng lẽ trong số 263 tông đồ giầu có là các giáo hoàng lại chẳng có một “Judas tân thời?”. Judas Escariot phản Chúa thì Chúa chỉ chết có mấy giờ rồi tỉnh lại khỏe ra. Còn nếu “Judas tân thời” phản Chúa thì Chúa sẽ đi luôn không bao giờ trở lại!

 

Sau khi đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt vào năm 1945, Vatican thấy các quốc gia rục rịch lập tổ chức Liên hiệp quốc nên phịa ra vụ Đức Mẹ hiện ra tại Amsterdam (Hòa Lan) với cô gái tên Ida Peerderman. Đức Mẹ tự xưng với cô gái danh hiệu “Đức Mẹ của Mọi Quốc Gia” (Lady of All Nations). Điều đáng chú ý nhất là trong lần hiện ra này, Đức Mẹ chỉ thị cho cô Ida Peederman phải thỉnh cầu với Giáo Hoàng Pio XII công bố một số tín điều cuối cùng về Đức Mẹ là Tín Điều Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc (The dogma of Co-Redemptrix). Vào năm 1950, Giáo Hoàng Pio XII đã công bố tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” để xác nhận việc Đức Mẹ hiện ra là NGƯỜI THẬT nguyên vẹn hồn xác như cách đây 2000 năm. Từ đó đến nay, chỉ trong vòng 50 năm, số lần Đức Mẹ hiện ra gấp nhiều lần tổng số lần từ 1950 trở về trước cộng lại. Nổi tiếng nhất là những lần Đức Mẹ hiện ra ở Rwanda năm 1981 và 1989.

 

Vụ Đức Mẹ hiện ra cùng 6 em nhỏ ở Medjugoje (Bosnia) năm 1981. Đức Mẹ xưng danh là “Nữ Vương Hòa Bình” (Queen of Peace). Từ 1981 đến nay (1997) có tới 20 triệu tín đồ đến đây hành hương. Cũng từ 1950 đến nay, trong thế giới Công Giáo phát sinh ra hàng trăm tờ báo lá cải chuyên viết đủ thứ chuyện về Đức Mẹ, tương tự như tờ “Trái Tim Đức Mẹ” và hàng ngàn bản tin như “Bản Tin Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ” của Dòng Đồng Công Missouri.

 

Chưa có thế kỷ nào việc tôn thờ Đức Mẹ Maria ồn ào náo nhiệt cho bằng thế kỷ 20! Mọi nơi trên thế giới đều có cha cố hay giáo dân báo cáo là có thấy Đức Mẹ hiện ra. Mấy năm trước đây, tại Phoenix và Cleveland (Hoa Kỳ) cũng ồn lên về việc Đức Mẹ hiện ra ở vùng này. Việc hành hương thăm viếng các nơi có tin đồn Đức Mẹ hiện ra đã biến thành một kỹ nghệ hốt bạc của các tu sĩ và nhà thờ Công Giáo. Việc phát hành các băng video về hình ảnh Đức Mẹ khóc, tượng Đức Mẹ chảy máu, hình Đức Mẹ chiếu trên mây hoặc trên các tấm kiếng của Building (cao ốc), trên nóc nhà thờ v.v… Tất cả đều đựơc tung ra thị trường nhằm thỏa mãn tính hiếu kỳ và lòng say mê phép lạ của tín đồ Công Giáo. Theo nhận xét của nhiều ký giả theo dõi sự kiện này thì Đức Mẹ hiện nay càng ngày càng trở thành một bà vợ hấp dẫn hơn xưa của Đức Chúa Thánh Thần. (The Holy Spirit’s more interesting spouse). Sau năm 1945, Pio XII muốn công bố tín điều cuối cùng về Đức Mẹ nên đã tung tin Đức Mẹ hiện ra với cô Ida Peederman ở Amsterdam và ra lệnh phải thỉnh cầu giáo hoàng công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc”. Và đây cũng là lý do tại sao có việc Linh Mục Trần Đình Thủ lập dòng Đồng Công tại Bùi Chu cuối thập niên 1940. Cũng cần nhắc lại Pio XII [Pio XII cũng vận động Hoa Kỳ dội từ 1-6 quả bom nguyên tử xuống Bắc Việt.]

 

là tên tội phạm trong đệ nhị thế chiến vì y đã giúp Đức Quốc Xã tiêu diệt người Do Thái. Hiện nay, tại bảo tàng viện Bronx ở New York có phòng triễn lãm tội ác của Pio XII dưới bảng hiệu “THE NAZI BUTCHER AT ROME” (Tên đồ tể Đức Quốc Xã tại Rome) không riêng gì giáo dân Việt Nam mà từ khắp nơi trên thế giới trong 10 năm qua đang ráo riết vận động Giáo Hoàng Jean Paul II công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công. Điều đó cho thấy Vatican dưới thời Pio XII đã vận động Công Giáo khắp nơi thỉnh cầu y ban hành tín điều này.

 

Vatican biết rõ Công Giáo Việt Nam là giáo hội cuồng tín nhất nên đã chọn Bùi Chu làm nơi lập dòng Đồng Công để quảng bá tín điều này trước khi Tòa Thánh chính thức công bố. Công Giáo Việt Nam đã ngoan ngoãn vâng theo chỉ thị của Pio XII chứ không phải là một sáng kiến của tu sĩ Việt Nam trong việc lập dòng tu mới này.

 

Hậu quả của “tín điều Đức Mẹ Đồng Công” sẽ buộc mọi giáo dân phải tin 3 điều:

 

Đức Mẹ là người tích cực góp công với Chúa Jesus hoàn thành cuộc thí mạng để chuộc tội tổ tông. Tội tổ tông là tội tổ tiên loài người cách đây khoảng 6000 năm (theo giáo lý Công Giáo) đã dám ăn trái táo (trị giá khảng 25 xu ngày nay) nên Chúa phạt mọi người phải chết, làm việc vất vả mới kiếm được miếng ăn và phụ nữ phải mang nặng đẻ đau…

 

Mọi ân sủng của Chúa ban cho loài người không bao giờ đi trực tiếp mà phải qua người trung gian là Đức Mẹ.

 

Mọi giáo dân từ nay không được cầu nguyện trực tiếp với Thiên Chúa mà phải qua người trung gian Đức Mẹ để sau đó Đức Mẹ sẽ chuyển lời cầu nguyện của mọi người lên chúa Jesus, con của Mẹ.

 

Với những nhiệm vụ kể trên, từ nay Đức Mẹ sẽ phải đóng 3 vai trò một lúc:

 

1. Đấng Đồng Công Cứu Chuộc (Co-Redemptrix).

2. Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người (Mediatrix).

3. Luật sư biện hộ cho loài người vì loài người không thể tự biện hộ trước mặt Chúa (Advocate).

Với tín điều Đức Mẹ Đồng Công, từ nay Đức Mẹ không còn đóng vai “tôi tớ của Chúa” (The servant of God) mà được vinh thăng lên thành NGÔI THỨ TƯ CỦA THIÊN CHÚA. Như vậy phong trào đấu tranh của phụ nữ thế giới sẽ không còn lý do gì để gọi Thiên Chúa của Công Giáo là Đấng Toàn năng Đực (Male Almighty God) được nữa!

 

Từ ngày Vatican đưa ra thuyết Đức Mẹ Đồng Công (sau đệ nhị Thế Chiến) đã bị các lãnh đạo tôn giáo khác chỉ trích nặng nề:

 

Giáo phụ George Passias, lãnh tụ Chính Thống Giáo Hoa Kỳ, gọi tín điều Đồng Công là dị giáo (heretic) và kẻ chủ trương tín điều ấy cần được đưa lên dàn hỏa của thời trung cổ.

 

Nhà thần học nổi tiếng hiện nay của Anh Giáo William Pranklin tuyên bố: “Tín điều Đồng Công là cái đinh cuối cùng đóng nắp quan tài của sự hiệp thông hòa giải giữa Anh Giáo và Công Giáo La Mã”.

 

Các giáo phái Tin Lành khắp thế giới đưa ra nhận xét chung là: Vatican lợi dụng tín điều Đồng Công để làm giảm giá trị của Chúa Jesus và làm tăng uy quyền của giáo hoàng. Điều này hoàn toàn không có căn bản Thánh Kinh và chống lại Kitô Giáo. Thánh Kinh đã xác nhận chỉ có một trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Jesus vì Chúa Jesus mang hai bản tính Thiên Chúa và con người (Thimothy 2:5).

 

Lên tiếng chỉ trích tín điều Đồng Công một cách mạnh mẽ nhất là nhà thần học Công Giáo người Pháp Laurentic. Ông tuyên bố: Sự chết của Chúa Jesus là đầy đủ trọn vẹn để cứu chuộc loài người. Chúa Jesus là người duy nhất cứu chuộc và không cần một ai khác phải cộng tác để hoàn thành việc này.

 

Một số người ngoại giáo nhìn vào cuộc tranh luận của các nhà thần học cũng muốn xía vô góp ý: Judas Escariot mới là người tích cực đồng công cứu chuộc vì nếu không có Judas thì Chúa Jesus không thể bị đóng đinh trên thập tự giá để thực hiện sứ mạng “cứu thế” được. Chẳng lẽ Chúa tự ý lăn đùng ra chết để cứu thế sao?

 

Tuy nhiên, Giáo Hoàng La Mã đâu có cần để ý tới các ý kiến của bất cứ ai, vì giáo hoàng là người duy nhất trên thế gian có khả năng tự nhận “không thể sai lầm” nên Ngài có toàn quyền quyết định về chân lý. Giáo hoàng xuất thân từ Ba Lan, vốn là quốc gia toàn tòng Công Giáo và rất tôn sùng Đức Mẹ Maria. Bất cứ điều gì Ngài cũng qui cho Đức Mẹ, chẳng hạn như vụ Ngài thoát chết trong vụ ám sát hụt năm 1981, Ngài tin là Đức Mẹ Fatima đã cứu Ngài. Khẩu hiệu của Ngài là “TOTUS TUUS” có nghĩa là “Tất cả do Mẹ”. Hàng năm, giáo hoàng thuyết giảng cả trăm lần về Đức Mẹ và Ngài luôn luôn tôn xưng Đức Mẹ là “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc”. Trong tháng 4.1997, giáo hoàng tuyên bố một câu rất độc đáo về Đức Mẹ: “Sau khi đã dựng nên Adong Evà, nay Thiên Chúa muốn đặt Đức Mẹ Maria làm bà Evà mới bên một ông Adong mới là Chúa Jesus trong công cuộc cứu chuộc tội lỗi loài người. Như vậy, Đức Mẹ trong vai trò là bà Evà mới sẽ trở thành thần tượng hoàn hảo nhất của giáo hội. Đó là Đức Mẹ trong vai trò Đồng Công Cứu Chuộc.”

 

Người đứng đầu công cuộc vận động cho tín điều mới này tại Hoa Kỳ là giáo sư thần học Mark Miravalle thuộc trường đại học Francisco ở Ohio. Ông được coi là chuyên gia về môn học nghiên cứu Đức Mẹ (Mariologist) trước đây đã quả quyết là Giáo Hoàng Jean Paul II sẽ công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công trước năm 2000. Nay đã qua năm 2000 nhưng vẫn chưa thấy Vatican có quyết định về vấn đề này.

 

Vào tháng 7.1997, Vatican đã triệu tập một hội nghị gồm có 23 Mariologists bỏ phiếu để lấy biểu quyết. Kết quả là: 0-23, một tỷ số tuyệt đối chống tín điều Đức Mẹ Đồng Công. Do vậy, đến nay Vatican vẫn tỏ ra dè dặt chưa vội công bố chính thức tín điều này.

 

Điều khó khăn lớn là giáo hội Công Giáo đang phải đối phó với phong trào phụ nữ bỏ đạo đang diễn ra mạnh mẽ tại các nước phát triển có nền văn hóa cao khiến cho số tín đồ giảm sút mau lẹ. Chúng ta đã biết điều này như đã trình bày sơ qua ở đoạn trên khi đề cập đến tác phẩm The Recovering Catholic – Personal Journeys of Women Who left the Church của bà Joanne H. Meehl. Giáo lý Công Giáo dựa vào học thuyết của St. Augustine miệt thị phụ nữ quá đáng. Họ coi phụ nữ là “cửa hỏa ngục”, là “đồng minh của quỉ Satan”. Trước Công Đồng Vatican II (1958-1962), mọi phụ nữ, kể cả nữ tu, đều bị cấm không được tới gần cung thánh (sanctuary) tức khu vực gần bàn thờ nơi linh mục làm lễ. Công Giáo và Hồi Giáo là hai tôn giáo thù nghịch đã từng giết nhau làm thiệt mạng nhiều chục triệu người trong thời trung cổ, nhưng cả hai tôn giáo này lại đoàn kết khắng khít với nhau tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong tinh thần thù hận đàn bà (they united in their misogyny). Các tu sĩ Công Giáo đều đã được giáo dục từ tấm bé cái óc coi khinh phụ nữ và cái định kiến bệnh hoạn về các vấn đề giới tính của phụ nữ: Coi bản năng sinh 1ý nhân bản là không trong sạch (Human sexuality is impure). Coi sự biểu lộ nữ tính của phụ nữ là khoe khoang (feminity is sinful vanity). Tác giả Joanne H. Meehl kết luận (tóm tắt như sau): Công Giáo La Mã là kẻ đạo đức giả. Họ chống ngừa thai và kế hoạch hạn chế sinh đẻ để kềm giữ các nước nghèo tiếp tục chìm đắm trong sự nghèo đói ngu dốt để có môi trường truyền đạo và giữ đạo. Bản chất của Công Giáo là gian trá và lừa dối , chỉ có thể phát triển ở những nước nghèo đói về kinh tế và ngu dốt về tinh thần mà thôi.

 

Cứ nhìn vào các nước Công Giáo như Philippine, các nước Công Giáo thuộc Trung Nam Mỹ Châu và Phi Châu, ta sẽ phải ngạc nhiên thấy các nhà thờ Công Giáo hết sức giàu có ở giữa đám tín đồ nghèo khổ cùng cực. Tòa Thánh có ngân hàng riêng, có chân trong nhiều tổ chức kinh doanh quốc tế và nhất là các thị trường chứng khoán. Tòa Thánh nắm nhiều cổ phần trong nhiều công ty sản xuất vũ khí và sản xuất thuốc ngừa thai trong khi vẫn lớn tiếng cổ vũ hòa bình và chống kế hoạch gia đình! Tòa Thánh là một con buôn khổng lồ đội lốt tôn giáo (Big business masquering a religion). Họ luôn luôn nói tới bác ái nhưng chẳng bao giờ họ chịu bỏ tiền giúp các gia đình nghèo không có điều kiện và khuyến khích các phụ nữ nghèo đẻ thật nhiều để bị chết đói và bệnh tật. Vấn đề bác ái thật sự không phải là cứ sinh nhiều con mà là liệu có đủ khả năng nuôi nấng chăm sóc và dạy dỗ chúng hay không. Sự bỏ đạo của phụ nữ kéo theo sự bỏ đạo của những đứa con và thân nhân của họ. Tác dụng dây chuyền này sẽ mau chóng đưa đến sự tan rã của giáo hội Công Giáo tại Tây Phương.

 

Lịch sử giáo hội Công Giáo xưa nay đã có truyền thống xử dụng Đức Mẹ Maria như một thứ vũ khí của chiến tranh tâm lý:

 

Để đối phó với chủ nghĩa siêu nhân (superman) của Nietzch hoặc chủ nghĩa Cộng Sản của Marx, Công Giáo La Mã xử dụng Đức Mẹ như một khuôn mặt nữ phản chứng (the figure of a feminin anti-type). Do đó, họ đã phát minh ra các tín điều Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, hồn xác lên trời, đồng công cứu chuộc không ngoài mục đích gián tiếp đề cao phụ nữ. Như đã nói ở phần trước, họ đã lỡ dựng nên ba ngôi Thiên Chúa đều thuộc giống đực, nay họ vớt vát đôi chút cái lầm lỡ này bằng cách đặt thêm Đức Mẹ vào; thành bộ tư Thiên Chúa và đức Mẹ chính là đại diện cho phụ nữ toàn thế giới bên cạnh Thiên Chúa Nam giới tối cao.

 

Từ xưa đến nay, đức Mẹ Maria chỉ được giáo hội Công Giáo cho đóng vai nữ tỳ bên cạnh Thiên Chúa Ba Ngôi. Nay, không phải vì thương tình đối với Đức Mẹ, giáo hội Công Giáo buộc lòng phải thăng chức cho Đức Mẹ để đối phó với phong trào đấu tranh nhân quyền của phụ nữ và nhất là phong trào phụ nữ Tây phương bỏ đạo hàng loạt.

 

Tuy nhiên, âm mưu đen tối của Vatican không dễ gì có thể thực hiện được vì đã đang bị các giáo phái Kitô khác chống đối mạnh mẽ. Vatican cũng gặp phải sự chống đối ngay trong nội bộ giáo hội. Nói chung, giáo hội Kitô được coi là hiện thân của Chúa Jesus đáng lẽ ra phải là một cơ thể duy nhất. Nhưng cơ thể Kitô đã bị chia năm xẻ bảy càng ngày càng phân hóa. Ước mơ thống nhất Kitô Giáo của Vatican được nêu lên rầm rộ trong Công Đồng Vatican II (1962-1965) đã hoàn toàn bị thất bại. Nay, nếu Giáo Hoàng Jean Paul II cả gan công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công thì sự tan vỡ của Kitô giáo sẽ thành vĩnh viễn. Sẽ không còn một giáo phái Kitô nào có thể tin được ý muốn hòa giải thật lòng của Công Giáo La Mã. Thế giới cũng không thể tin được sự thành khẩn xin lỗi của giáo hoàng về các lỗi lầm của giáo hội Công Giáo trong hơn ngàn năm qua. Bởi vì khi xin lỗi, giáo hoàng đã nại cớ “Sai lầm là bản tính con người” (To err is human). Một khi công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công là tái xác nhận tín điều không thuộc bản tính con người là “Giáo hoàng không thể sai lầm”! Theo Thánh Kinh Tân Ước thì Chúa Jesus lập giáo hội Kitô (không phải giáo hội Công Giáo La Mã) trên hòn đá Phêrô (Simon, Peter, Saint Pierre means Rocks) và Chúa phán: Quỉ hỏa ngục sẽ không phá nổi giáo hội Kitô của Ngài. Từ xưa đến nay chẳng có quỉ nào dám đến phá giáo hội, vậy mà giáo hội đã tự phân hủy rã ra từng mảnh. Mảnh lớn nhất là Tin Lành 523 triệu tín đồ, mảnh thứ nhì là Chính Thống Giáo 167 triệu và Anh Giáo 67 triệu.

 

Căn cứ theo lịch sử thì giáo hội Kitô Nguyên Thủy chỉ tồn tại được 3 thế kỷ đầu Công Nguyên. Kẻ đầu tiên tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy là Constantine The Great, đóng đô tại Constantinople, tức Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) ngày nay. Đạo Công Giáo La Mã không xuất phát từ Jesus mà xuất phát từ tham vọng của đế quốc La Mã. Tội ác của đế quốc La Mã là xóa bỏ mọi dấu vết của Kitô Giáo Nguyên Thủy và xóa bỏ nền văn minh khoa học của Hy Lạp. Kết quả là nhân loại đã bỏ phí đi nhiều thế kỷ sống trong sự tối tăm ngu đốt. Công Giáo La Mã là thủ phạm gây ra thời đại đen tối kéo dài trên ngàn năm trong tâm hồn người Tây Phương và do đó người Tây Phương đã gieo rắc biết bao tai ương cho nhân loại. Công Giáo La Mã là tên tội phạm lớn nhất chưa từng thấy trong lịch sử loại người. Ngày nay, giới trí thức Công Giáo Tây Phương đã có rất nhiều người tỉnh ngộ. Họ đã đem tâm hồn và trí óc viết nên những tác phẩm có giá trị cao và đạt hiệu quả khai sáng tâm linh hữu hiệu. Nhờ đó, chúng ta mới có tài liệu quí báu khai sáng tâm linh của đồng bào mình.

 

Mọi người trí thức ngoại giáo cũng như những người trí thức Công Giáo tỉnh ngộ cần hợp tác với nhau để đẩy mạnh cuộc khai sáng tâm linh của những tín đồ cuồng tín. Đó là việc làm hết sức cao cả và cần thiết để tránh cho dân tộc ta khỏi lâm vào tình trạng bi thảm như đã diễn ra tại Bosnia, Kosovo, Rwanda hoặc đang còn tiếp diễn tại Ái Nhĩ Lan, thủ phạm chính yếu của các cuộc chiến tranh tôn giáo là các tu sĩ tham quyền hám lợi. Ngoài miệng, họ nhân danh Thiên Chúa để làm chuyện này chuyện nọ, thực chất, họ chỉ nhân danh lòng tham lam ích kỷ của họ mà thôi.

 

Hòn đá Phêrô mà trên đó Jesus hoặc Constantine xâydựng giáo hội thực chất chỉ là đá vôi hoặc đất sét đang rã ra thành bùn. Nó tự tan rã do bản chất gian ác lừa dối của nó chứ sự thật khó ai phá nỗi nó vì nó là trung tâm quyền lực của quỉ (satanic power). Có thể nói Công Giáo La Mã thực chất là một tên khủng bố vĩ đại nhất trong li sử loài người. Các cuộc thánh chiến, tòa án dị giáo, các ghetto, holocausts đều là sản phẩm phát sinh từ chính sách khủng bố của Vatican. Gần hai ngàn năm qua, các lương tâm sáng suốt và thiện lành của nhân loại đã bị chính sách khủng bố của Vatican bịt miệng. Lòng căm thù Vatican của nhân loại đã ngất cao như núi. Do đó, cái chết của Vatican rồi đây sẽ phải là cái chết tức tưởi ô nhục trước nỗi vui mừng của toàn thể nhân loại. Vatican biết nó sắp chết. Công cuộc vận động rầm rộ hiện nay trong thế giới Công Giáo do tín điều Đức Mẹ Đồng Công thực chất chỉ là một tiếng kêu chới với của một kẻ sắp chết. Hình ảnh Đức Mẹ Nhân Từ là cái phao cuối cùng mà Vatican bám víu với hy vọng cứu sống giáo hội Công Giáo thêm một thời gian nữa. Trong những thế kỷ qua, giáo hội Công Giáo đã sống còn không phải do “ơn” của Thiên Chúa Ba Ngôi mà thật sự do “ơn” của Đức Mẹ. Cái thế giới Công Giáo trong những thế kỷ qua là cái thế giới ngột ngạt của hạng nam tu sĩ bệnh hoạn mà đa số đều mắc bệnh bạo dâm (sadism). Đa số họ chỉ có thể đã khoái cảm tột độ khi được chứng kiến cảnh đổ máu giống như Tây Ban Nha thích những trận đấu bò.

 

Barbara Harrison, tác giả bài viết My Eve, My Mary đăng trong Newsweek ngày 25.8.1997 đã viết rất chí lý: “Thân xác Đức Mẹ Maria gắn liền với giáo hội Công Giáo trong thế giới vật chất. Nếu không có Đức Mẹ thì cái giáo hội Công Giáo đã chết ngộp từ lâu vì cái bầu không khí ngột ngạt thiếu dưỡng khí của các tu sĩ đàn ông”. (Her flesh anchors the church in the material world. Without her, the church would be suffocating male airless abstracts).

 

Chắc chắn vong linh của Đức Mẹ Maria đã phải khóc nhiều lần về các tội ác tầy đình của giáo hội Công Giáo , thực chất là giáo hội của ác quỉ núp bóng của Người. Sự kiên nhẫn của Đức Mẹ dù có lớn lao đến đâu cũng phải tới một giới hạn là vứt cái giáo hội của tội ác đó vào lửa hỏa ngục. Mọi tổ chức chính trị hay tôn giáo được xây dựng trên nền tảng phi nhân và dối trá cuối cùng đều phải lãnh nhận cái số phận thảm khốc ô nhục. Sự chiến thắng vinh quang cuối cùng phải là sự chiến thắng vinh quang của Lẽ Thật.

 

4. GIÁO HỘI GIAN ÁC

 

Trên đời này chẳng có tôn giáo nào cao hơn Lẽ Thật vì Lẽ Thật là chân lý hằng cửu. Cũng chẳng có tình nào cao đẹp hơn tình người với người, chứ không phải chỉ yêu Thiên Chúa, chà đạp con người như các tu sĩ của Vatican. Cả cái hệ thống tu sĩ của Vatcian là một tổ chức vĩ đại của những kẻ đạo đức giả. Chúng dựng lên thần linh quái đản là Thiên Chúa Ba Ngôi rồi nhân danh Thần Linh để khủng bố loài người và giết hại trên 200.000.000 sinh mạng vô tội trong 16 thế kỷ qua. Họ là cha đẻ ra các tai họa khủng khiếp cho loài người qua các chế độ nô lệ, chủ nghĩa diệt chủng Do Thái, chủ nghĩa phát Xít, chủ nghĩa Quốc Xã, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa kỳ thị phụ nữ, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chủng tộc và thậm chí cả chủ nghĩa Cộng Sản.

 

Năm 1917, Vatican đã viện trợ cho đảng Bolshervik của Lenin 660 triệu đô la (trị giá bằng nhiều tỷ đô la ngày nay) để Cộng Sản lật Nga Hoàng và diệt Chính Thống Giáo cho Vatican. Người Tây Phương có quá nhiều kinh nghiệm về Vatican nên đã gọi nó bằng một danh từ rất tượng hình và nhiều ý nghĩa, đó là Con Bạch Tuộc của Đức Chúa Trời (Octopus Dei). Sở dĩ mọi tổ chức tội ác còn tồn tại trên thế giới ngày nay là vì cái đầu của con bạch tuộc là Vatican vẫn còn tồn tại. Chỉ khi nào cái đầu của con bạch tuộc chết đi thì các cái vòi của nó là các thứ chủ nghĩa tội ác mới thật sự bị tiêu diệt.

 

Tất cả các cuộc chiến đấu của nhân loại ngày nay chỉ qui vào một cuộc chiến đấu duy nhất, đó là cuộc chiến đấu của những người thiện lành chống lại những thế lực tội ác do Vatican ngấm ngầm lãnh đạo. Con bạch tuộc khổng lồ Công Giáo La Mã cũng là đầu não của mọi hình thức khủng bố: Tòa án dị giáo với các dàn hỏa thiêu sống con người, bắt cóc ban đêm và đủ kiểu tra tấn hết sức dã man không kể xiết. Muốn hiểu tòa án dị giáo của Vatican kinh khủng như thế nào xin hãy đọc The Inquisition, Hammer of Heresy của Edward Burman, 254 trang. Dorset Press NY. 1992. Ngay trang đầu của cuốn sách, tác giả viết: “Tòa án dị giáo đồng nghĩa với khủng bố, bắt người ban đêm và đủ thứ tra tấn”. Nó cũng được mô tả trong The Pit and The Pendulum của Edgar Poe, trong kịch Opera của Don Alhambra, trong những chuyện kinh dị của Gilber, Sullivan, Verdi và cả trong thơ của Tennyson…” The (Inquisition is synonymous with terror, noctural arrest and torture…)

 

Qua 16 thế kỷ gieo rắc khủng bố cho loài người, tội ác chồng chất của Công Giáo La Mã đã cao ngất như núi. Đã đến lúc cái giáo hội của tội ác này phải đền tội và phải chết. Mới đây, nữ tu sĩ Angelica là người đứng đầu hệ thống truyền hình Công Gíao Mỹ “Eternal World Television Network” có 55 triệu khán giả tại 38 quốc gia có hệ thống tiếp vận của nó, đã tuyên bố trong một talk-show rằng: Thế giới Công Giáo không thể tránh khỏi đại thảm họa. Ngày tận thế của nó chỉ trong tầm tay. (Its end times are at hand). Mọi người Công Giáo đều tin rằng thế giới này sẽ có ngày tận thế, nhưng họ đã lầm. Thế giới này vẫn muôn đời tồn tại, chỉ có cái giáo hội khốn nạn của họ phải đến ngày tận số mà thôi!

 

Hòn đá tảng Phêrô đang biến thành bùn và cả tòa lâu đài Vatican đang lún xuống bùn dưới sức nặng của tội ác cao như núi đang đè lên đầu nó. Cái chết vô cùng nhục nhã của nó đang đến và phải đến trong những năm của thế kỷ 21. Cả thế giới còn lại sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã vứt đi được cái ung nhọt cương mủ trên cơ thể nhân loại ròng rã trong hơn 16 thế kỷ qua (tính từ ngày Constantine đẻ ra nó vào đầu thế kỷ thứ tư). Cả loài người thiện lành sẽ từ đây ung dung bước đi chững chạc vào một trật tự thế giới mới trong ánh bình mình đẹp vô cùng của thiên niên kỷ thứ ba. Khi “con bạch tuộc của Chúa Trời” không còn nữa, tất cả loài người sẽ dành lại vườn địa đàng của mình là trái đất này để kiến tạo cuộc sống thanh bình hạnh phúc cho các thế hệ con cháu đến muôn đời. Hallelujah! Hallelujah!

 

Thượng đế [Chữ Thượng Đế nói đây không cùng nghĩa với tín đồ Kitô giáo gọi.]

 

chứ không phải Jehovah (con bò El) đã đang và mãi mãi tiếp tục kiến tạo vũ trụ hoàn toàn trong thinh lặng. Ngài đã mặc nhiên trao trái đất này cho toàn thể loài người chúng ta với lòng yêu thương vô hạn của Ngài. Thượng đế yêu thương loài người nên chẳng bao giờ Ngài muốn làm khổ con người. Chỉ có quỉ mới muốn làm khổ con người nên đã xúi bậy con cái của nó là Công Giáo gieo rắc đủ thứ tai họa cho loài người mà thôi. Chẳng có tôn giáo nào do Thượng Đế tạo ra mà tất cả đều là sản phẩm của con người. Tôn giáo chỉ có thể là chính đáng khi nó thật sự phục vụ con người. Mọi thứ tôn giáo nhân danh Thượng Đế chà đạp con người đều là tà đạo của sa tăng rồi phải bị tiêu diệt. Thánh linh của Thượng Đế cũng như Phật tính đều có sẵn trong tâm linh của mọi người chúng ta, đúng như lời Phật dạy: “Phật tại tâm”. Các thứ Phật hay Chúa trong các chùa và nhà thờ đều là đồ giả [Vì thế nên một hôm trời lạnh, một vị thiền sư bảo đệ tử đem cái tượng Phật bằng gổ chẻ làm củi.] do các tu sĩ của các tôn giáo tạo ra để lừa bịp con người. Đỉnh cao của mọi thứ đạo đức thật sự là lòng yêu thương Sự Thật. Tình yêu thương dàn trải giữa mọi người với nhau là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu trên cõi đời này. Đó là thiên đàng duy nhất có thật chứ chẳng có một thiên đàng nào khác. Loài người làm khổ nhau do lòng tham lam ích kỷ là địa ngục duy nhất có thật chứ cũng chẳng có một địa ngục nào khác ở ngoài thế gian này.

 

Các tổ chức giáo hội là nguyên nhân gây ra thảm họa cho loài người chúng ta. Giáo hội tạo ra những ốc đảo tôn giáo chia rẽ con người. Các ốc đảo tôn giáo đó tranh chấp nhau để dành tín đồ nhằm tụ bè kết đảng không ngoài mục đích củng cố quyền lực cho các tu sĩ lưu manh của nhiều tôn giáo chứ cũng chẳng riêng gì của Công Giáo La Mã.

 

Cả ba tôn giáo Phật Khổng Lão đều đã du nhập vào nước ta gần 2000 năm qua mà dân tộc Việt nam không hề coi ba tôn giáo đó là ngoại lai. Cả ba tôn giáo, với các chủ trương đối nghịch nhau, đã hòa làm một trong lòng dân tộc mà ta thường gọi là “TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN”. Sở dĩ cả ba tôn giáo Phật Khổng Lão đã hòa đồng một cách tốt đẹp như vậy là nhờ ở yếu tố của ba tôn giáo đều không có giáo hội. Sau 1.11.1963, các tăng sĩ Phật Giáo bắt chước Công Giáo thành lập “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Như Vậy, Phật Giáo hình như đã chủ trương đi vào con đường thế tục như Vatican từ đây? [Ban biên tập xin phép tác giả bỏ một trang vì thấy thiếu sử liệu.]

 

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam luôn luôn phục vụ quyền lợi ngoại bang và đàn áp tôn giáo là một động lực thúc đẩy nhiều người Phật Giáo tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để chống lại Công Giáo. Đối với nhiều người Phật Tử thì Công Giáo nguy hiểm hơn gấp trăm lần các tổ chức Cộng Sản, Công Giáo là yếu tố khiến cho chiến tranh Việt Nam kéo dài và càng ngày càng thêm thảm khốc.

 

Giáo Hoàng Gioan XXIII ủng hộ việc lật đổ và tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm vì cho rằng chế độ Diệm đã đe dọa phá hoại chính sách hiệp thông của Vatican. Giáo Hoàng Gioan XXII đã chính thức gửi văn thư mắng nhiết Ngô Đình Diệm năm 63 về tội đàn áp Phật Giáo. Báo chí Hoa Kỳ xác nhận: “Giáo Hoàng Gioan XXIII bí mật hợp tác với Cộng Sản để chuẩn bị cho một nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ Mác-xít của Hồ Chí Minh”. (Pope John XXIII secretly cooperated with the Communists in preparing a future united Marxist Việt Nam under Ho Chi Minh).

 

Ngày 30.1.1967, báo chí thế giới loan tin về cuộc tiếp tân của Giáo Hoàng Paul VI tại Vatican long trọng chào đón thủ tướng Liên Xô Podgorny để củng cố sự hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước Chư hầu của Cộng Sản tại Đông Âu (The new policy of Paul VI of full cooperation with Soviet Russia and the Communist satellites of Eastern Europe). Báo chí thế giới cũng xác nhận Paul VI là cha đẻ ra liên minh Vatican-Moscow. Liên minh này đã phá tan chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ ở cả hai lục địa Âu châu và Á Châu. Liên minh Công Giáo với Cộng Sản đã trở nên một yếu tố quan trọng cho cuộc thất trận của Hoa Kỳ tại Việt Nam. (Paul VI fathered the Vatican-Moscow Alliance which undermined the Anti-Russian strategy of the US in Europe and Asia. This alliance became an important factor in the final defeat of the US is Viet Nam).

 

Paul VI dư biết Vũ Ngọc Nhạ là gián điệp Cộng Sản qua hai đời tổng thống Công Giáo đã góp phần quan trọng trong việc làm sụp đổ VNCH ngày 30.4.1975 nhưng y vẫn ban thưởng cho tên gián điệp Cộng Sản này huy chương cao quí của Tòa Thánh là “Huy Chương Hòa Bình” có in hình của giáo hoàng . Vì thế, Việt Nam Cộng Hòa rất cay đắng không bao giờ quên mối hận này đối với hai giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI.

 

Giáo Hoàng Jean Paul II hiện nay đang lên tiếng kêu gọi nhân dân toàn thế giới tha tội cho các tội các của Công Giáo La Mã trong 16 thế kỷ qua nhưng chưa đả động gì tới các tội ác của Công Giáo đối với dân Việt Nam.

 

Trong chiến tranh, các cha cố đã bòn rút viện trợ Mỹ che chở cho kẻ buôn lậu, đào binh, trốn quân dịch. Nhiều giáo xứ Công Giáo là những khu an toàn lý tưởng của Việt Cộng và các tội phạm đủ loại.

 

Công Giáo Bùi Chu Phát Diệm do Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi lãnh đạo chỉ tôn thờ thực dân Pháp, trước cũng như sau 1954. Trước 1954, họ chống Cộng điên cuồng, lợi dụng vũ khí của Pháp đi cướp phá các làng Phật Giáo, chiếm chùa làm nhà thờ, giết hại dân lành để cưỡng bức người ngoại đạo phải “trở lại đạo Công Giáo”. Chúng chống Cộng sản do lệnh của Giáo Hoàng Pius XII, một tên đồ tể của Đức Quốc Xã tại Rome.

 

Sau 1954, họ trở cờ hòa hợp với Cộng Sản, các khu đông giáo dân như Hố Nai, Gia Kiệm là các trung tâm khai thác gỗ bất hợp pháp. Họ phá rừng lấy gỗ kiếm tiền lo làm giàu và đóng thuế nuôi Việt Cộng. Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ liên kết với bọn Mafia Bảy Viễn chống VNCH để làm lợi cho thực dân Pháp và Vatican của John XXIII và Paul VI. Ngày 12.11.1974, tập đoàn Hoàng Quỳnh Vũ Ngọc Nhạ và các nghị sĩ Công Giáo trong liên minh Nguyễn Gia Hiến đã đến xã trung lập Củ Chi gặp gở các đại diện của MTGPMN và Cộng Sản Bắc Việt để lập chính phủ ba thành phần thân Cộng Sản (Sách Ông Cố Vấn tập 3, trang 32-33).

 

Tất cả các Việt gian trong thành phần thứ ba gồm các cường hào ác bá của Bảo Hoàng trong chính quyền và quân lực VNCH, cũng như các tu sĩ làm chính trị đã là các thủ phạm chính yếu dẫn đến sự sụp đổ của VNCH ngày 30.4.75.

 

Tất cả chúng đều bỏ chạy sau 30.4.75 và hiện đang chiếm lãnh các tổ chức cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Họ liên tục chống phá tại hải ngoại dưới các hình thức chống Cọng giả vờ như đòi Nhân quyền Dân chủ cho Việt Nam… chúng đang lớn tiếng hô hào Tự do Tôn Giáo, thực chất là để biến tôn giáo thành nơi trú ẩn an toàn cho bọn Việt gian đủ loại ngõ hầu sau này chúng sẽ xuất phát từ các giáo hội trở ra chống phá chính quyền mới của Việt Nam.

 

Một số ít tu sĩ Phật Giáo cũng đi vào con đường hủ hóa với lối sống xa hoa và hưởng thụ chẳng khác gì các tu sĩ Công Giáo.

 

Với tổ chức giáo hội, Phật Giáo Việt nam có lẽ đang đi vào vết bánh xe đỗ của Công Giáo La Mã.

 

Tự do tín ngưỡng (Freedom of beliefs) là một hình thức của tự do tư tưởng không có nghĩa là tự do thành lập giáo hội. Mọi người đều có thể có tín ngưỡng (niềm tin) của riêng mình nhưng không nhất thiết phải có giáo hội. Tín ngưỡng là niềm tin trong lòng, còn giáo hội là một tổ chức có hệ thống tu sĩ chỉ huy và với những đoàn thể được đoàn ngũ hóa để theo đuổi những mục tiêu nặng về thế tục hơn là tâm linh tôn giáo. Giáo hội là định chế chính trị lũng đoạn quốc gia và chia rẽ dân tộc. Muốn bảo toàn sự thống nhất quốc gia và hạnh phúc dân tộc, việc cần thiết là phải xóa bỏ mọi tổ chức giáo hội, không phân biệt là của tôn giáo nào.

 

Sở dĩ Công Giáo La Mã đã biến thành một tổ chức tội ác lớn nhất lịch sử loài người chính vì nó đã tiêu diệt các chi phái Kitô để thành lập một giáo hội duy nhất do đế quốc lãnh đạo. Trước thế kỷ thứ 4, Kitô Giáo đã có nhiều chi phái chủ trương không thành lập giáo hội, không xây nhà thờ mà chỉ có phòng hội, không thờ ảnh tượng và không có giáo lý cứng nhắc.

 

Giáo phái Macionism gọi Jehovah của đạo Do Thái là quỉ. Họ tin rằng Thiên Chúa thật phải là Thiên Chúa của Tình Thương (Real God: God of Love).

 

Giáo phái Gnosticism thịnh hành tại Ai Cập và Tiểu Á, phân biệt Tinh Thần là Thiện, Vật Chất là Ác. Thiên Chúa là Tinh Thần cao thượng còn Vật Chất (matter) là Satan, biểu tượng của lòng tham vật dục thấp hèn. Họ cho rằng con rắn cám dỗ Adong Evà không phải là Satan mà là vị thần của sự khôn ngoan và tinh thần cao thượng. Con rắn đó thật tâm muốn giúp tổ tiên loài người ăn trái cây hiểu biết (The Tree of Knowledge) để trở nên khôn ngoan sáng suốt ngõ hầu thoát khỏi sự thống trị độc đoán của Jehovah. Con rắn không phải là quỉ mà là một đại ân nhân của loài người. Chỉ vì lòng sợ hãi hèn yếu mà Adong Evà đã không dám ăn trái cây hiểu biết nên đã không thoát ra được kiếp sống đau khổ triền miên do sự áp chế của ác thần Jehovah. Jesus là thần Logos, hiện thân của sự khôn ngoan, dạy loài người thoát khỏi trầm luân của thế giới vật chất. Jehovah không khôn ngoan bằng Logos. Danh từ Hy Lạp Gnostic có nghĩa là sự hiểu biết (knowledge), muốn ám chỉ Jesus là sự hiểu biết đích thực.

 

Giáo phái thứ ba là giáo phái thịnh hành tại Pháp do Irenaeus, giám mục tại Lyon, chủ trương. Năm 185, Irenaeus viết sách Against the Heretics” để chống lại hai giáo phái Macionism và Gnostic. Iranaeus chủ trương công nhận Jehovah của đạo Do Thái là Chúa Cha. Jesus là con duy nhất của Jehovah. Ý niệm về Đức Chúa Thánh Thần rất mơ hồ. Irenaeus xác quyết Chúa Jesus thực hiện cuộc cứu thế bằng cái chết đau khổ và 3 ngày sau sống lại hiển vinh. Cuốn sách Against the Heretics đã dọn đường cho sự hình thành bản tóm lược giáo lý gọi là “Đức Tin của các tông đồ” The Creed of Apostles) được Công Đồng Nicaea do Constantine triệu tập thông qua. Đó là sự xuất hiện của bài kinh đầu tiên của Đạo Công Giáo La Mã gọi là Kinh Tin Kính. Công Giáo La Mã là tôn giáo được cấu tạo bởi quyền lực của Constantine, dựa trên giáo lý của giám mục Pháp Irenaeus và được hoàn chỉnh bởi Augustine (như có trình bày ở đoạn trước).

 

Tất cả mọi giáo phái Kitô khác đi ngược lại với giáo lý của Irenaeus và Augustine đều bị Constantine và đế quốc La Mã tiêu diệt bằng bạo lực khủng bố. Có thể nói Công Giáo La Mã là tôn giáo của Chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Cuộc chiến đấu của nhân loại ngày nay là cuộc chiến đấu của những người thiện lành chống lại các thế lực tội ác đã gieo rắc đau khổ cho con người từ xưa đến nay. Thế giới chỉ có thể xây dựng được một trật tự mới khi nào các thế lực tội ác, dẫn đầu là Công Giáo La Mã, phải bị tiêu tan hoàn toàn và triệt để. Lương tâm và lương tri của nhân loại nhất quyết không thể cho phép nó tồn tại lâu hơn để kéo dài thêm nữa những chuổi ngày bi thảm của nhân loại.

 

Mọi người Việt Nam chúng ta phải góp công sức cùng toàn thể những người thiện lành trên thế giới mau chóng đẩy con quỉ Công Giáo La Mã xuống đáy địa ngục để chấm dứt hoàn toàn cái lịch sử tội ác gần 2000 năm của nó. Cần từ bỏ ác thần Jehovah và đám con cái của ác quỉ để dành lại vườn địa đàng của chúng ta là trái đất này. Chỉ có ác quỉ chứ không phải Thiên Chúa mới xua đuổi con người ra khỏi vườn địa đàng mà thôi.

 

Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh vọng do cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế… Tất cả các thế lực tội ác đồng lõa với Vatican đã gần như đang bị dồn vào thế cô lập. Ngày tận thế của nó không bao xa. Xưa kia Jesus thường hăm dọa mọi người là ngày tận thế đã đến gần trong tầm tay (Doomsday is at hand). Nhưng 2000 năm qua vẫn không có tận thế và sẽ chẳng bao giờ có. Cái mà Jesus không biết tới là cái giáo hội Công Giáo La Mã đang bên bờ “tận thế”. Cái câu nói của Jesus “Doomsday is at hand” chỉ đúng cho tình trạng hiện nay của Công Giáo La Mã mà thôi. Lịch sử tội ác của Công Giáo La Mã chống loài người là một hồ sơ dầy cộm đã đến lúc phải kết thúc. Các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Chúa Cứu Thế (Vicars of Christ) chính là một danh hiệu làm nhục Chúa Cứu Thế hơn bất cứ cái gì khác.

 

– Đại diện Chúa Kitô như Giáo Hoàng Innocent (but not innocent) chỉ trong một buổi chiều giết 12.000 giáo dân tại Rome vì những người này đã dám chống lại y. Giáo hoàng này vượt xa hơn bất cứ một bạo chúa nào trên thế gian về tội giết người. Y là kẻ đã phát minh ra tòa án dị giáo (the Inquisition) gieo kinh hoàng tại Âu Châu liên tiếp trong 3 thế kỷ (13-16) và tiếp tục gây tội ác cho đến giữa thế kỷ 19 mới chấm dứt. Nỗi ám ảnh của dân Âu Mỹ về tòa án dị giáo được phản ảnh trong sử sách và trong cả những chuyện ghê rợn của Allan Edgar Poe. Sullivan, Verdi, Tennyson. Muốn tìm hiểu về tội ác của Giáo Hoàng Innocent này xin hãy đọc The Inquisition Hammer of Heresy, 253 trang của Edward Burman Dorset Press NY. 1992. Tội ác của Innocent kéo dài hơn 6 thế kỷ,10 triệu sinh mạng hầu hết bị thiêu sống trên dàn hỏa. Tòa án dị giáo là hiện tượng có tầm quan trọng căn bản trong lịch sử Âu Châu. Đó là một định chế xuất hiện từ thế kỷ 13 nhưng ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến ngày nay. (Phenonmenon of fundamental importance in the history of Western Europe. As an institution, it came into being in the thirteenth century. Its effect are still felt today).

 

Tuy nhiên, đề cập đến tên vô địch dâm tặc phải kể đến đấng đại diện Chúa Kitô là Rodrigo Borgia tức “Đức Thánh Cha” Alexander VI (The Bad Popes, by E.R. Chamberlin. Dorset Press NY. 1969 pages 159-205).

 

– Giáo Hoàng Alexander VI cai trị Hội Thánh 11 năm (1492-1503). Lên ngôi giáo hoàng không do ai bầu mà do cậu ruột là Giáo Hoàng Calistus III truyền ngôi cho. Trước khi lên ngôi giáo hoàng thì y đã có vợ và 4 con đã lớn và thêm một đứa con hoang ngoài hôn thú. Việc đầu tiên là giáo hoàng phong chức cho đứa con trai tên Ceasare 18 tuổi và đứa con hoang chức vụ hồng y giáo chủ. Năm 1497, Alexander VI định đưa con thứ tên Juan lên ngôi giáo hoàng thì bỗng nhiên Juan bị giết bằng nhiều nhát dao và bị ném xác xuống sông Tiber. Người ta vớt xác Juan đem về cho giáo hoàng coi. Giáo hoàng xúc động quá đến phát điên. Y cho rằng giới quí tộc ở Rome đã hãm hại con trai yêu quí của y. Do đó, y bèn khởi động một cuộc khủng bố đẫm máu chống giới quí tộc La Mã.

 

Tuy là một bạo chúa, nhưng Alexander lại là một kẻ yêu chuộng nghệ thuật. Y đã để lại một kho tàng nghệ thuật là Đền Thánh Phêrô với các bức họa và tượng điêu khắc của hai vô địch kỳ tài là Michael Angelo và Leonardo Vinci. Chỉ vì muốn tạo cảm hứng cho Leonardo Vinci có thể mô tả sự đau khổ một cách linh động, y có sáng kiến đem các nạn nhân của tòa án dị giáo ra tra tấn trước mặt nhà nghệ sĩ tài danh này. Alexander VI có cô con gái rất xinh đẹp tên là Lucrezia. Mặc dù Lucrezia đã được gã chồng nhưng hai anh của nàng đều yêu nàng nên đã sát hại chồng nàng. Lucrezia trở về sống tại Tòa Thánh với cha ruột và hai anh mình. Lucrezia làm tình với cả cha và hai anh mình. Chỉ vì quá ghen, Ceasar đã giết em là Juan chứ chẳng phải là ai khác trong giới quí tộc La Mã. Mấy cha con của Giáo Hoàng Alexander VI thích ngồi xem những người khác làm tình tập thể. Do đó, Vatican thường xuyên diễn ra các cuộc dạ tiệc hết sức sang trọng tốn kém. Mỗi buổi dạ tiệc thường được triệu tập 50 gái điếm tuyển lựa tại Rome để vũ thoát y ngay tại phòng hội của Tòa Thánh. Các tu sĩ và nhân viên Tòa Thánh sau đó làm tình tập thể tại chỗ. Giáo hoàng cho người đi hứng các tinh dịch của đàn ông làm tình để phát thưởng. Ai có khả năng làm tình nhiều lần và xuất tinh nhiều lần đều được giáo hoàng và con gái phát thưởng! Sau đó, Lucrezia sinh ra một đứa con trai, không biết là con ai. Tuy nhiên, lúc đứa bé được 6 tháng tuổi, Giáo Hoàng Alexander đã công khai cho Lucrezia bế đứa nhỏ 6 tháng ngồi bên cạnh y khi dự các buổi tiếp tân công cộng. Từ đó, dân La Mã truyền tụng nhau một câu thơ “Giáo Hoàng Alexander là cha, là chồng, là cha chồng và là cha của cô dâu xinh đẹp Lucrezia”. Alexander không chỉ loạn luân với con gái của y mà còn loạn luân với hai cô em ruột. Một trong những vợ bé của giáo hoàng nầy là Vanozza del Cantanel có con gái riêng tên Rosa. Rosa sinh cho giáo hoàng tới 5 đứa con! (Babylon Mystery Religion, page 89). Với quá nhiều oán thù, ngày 18.8.1503, Alexander VI bị đầu độc chết bằng chất bột trắng (white poison powder).

 

Kể chuyện tội ác và các tật dâm ô vô đạo của các Giáo Hoàng La Mã thì thật vô tận. Xin quí độc giả tự tìm kiếm lấy tài liệu để đọc thêm. Ở đây tôi chỉ muốn bày tỏ một nỗi đau buồn là đồng bào Công Giáo Việt Nam hoàn toàn bị đám tu sĩ bưng bít nên họ cứ tưởng giáo hoàng là các bậc thánh sống để họ tôn thờ. Gia đình Công Giáo nào cũng thường có hình giáo hoàng được gia chủ đóng khung kiếng và treo ở nơi trang trọng gần như ảnh thờ. Các sách kinh nguyện Việt Nam có rất nhiều bài kinh cầu cho giáo hoàng. Giáo hoàng được giáo dân tôn kính và cầu nguyện cho nhiều lần gấp bội số lần cầu nguyện cho những người thân nhất của mình. Tại Rome, thỉnh thoảng cũng có các đám rước giáo hoàng ngồi trên kiệu do nhiều người khiêng. Năm 1951, chính kẻ viết bài này cũng đi dự một đám rước kiệu tấm hình lớn của đồ tể Pio XII tại Bùi Chu! Thật là một điều mỉa mai đau xót mà tôi khó có thể diễn tả bằng lời…

 

Cả thế giới ngày nay người ta đã biết nhiều về bộ mặt xấu xa tội lỗi đáng ghê tởm cùng cực của cái gọi là Tòa Thánh và những kẻ được tôn xưng làm “Đại Diện của Chúa Kitô” (Vicars of Christ). Nhưng tôi vô cùng ngao ngán và phải nói rằng tuyệt đại số đồng bào đồng đạo của tôi không biết tí gì về các điều đó. Mặc dầu tôi đã kể chuyện một số giáo hoàng tội lỗi tiêu biểu ở những đoạn trên, nhưng tôi tin rằng những chuyện đó chưa đủ để làm thay đổi cái não trạng đen tối của những người đồng đạo. Đây là lý do khiến tôi phải cố gắng viết thêm nữa về Vatican và giáo hoàng. Những điều tôi kể sau đây cũng chỉ là một số rất ít trong cả một rừng tài liệu hiện có trong các thư viện. Các tài liệu hết sức phong phú lên án Vatican và giáo hội Công Giáo sẽ không có tác dụng gì nếu không có người đem nó ra trình bày bằng Việt Ngữ để giáo dân Việt Nam có phương tiện tìm hiểu. Chính sự thiếu hiểu biết của giáo dân đã làm cho các tu sĩ lộng hành và khuyến khích họ tìm mọi cách ngăn cản giáo dân tìm hiểu sự thật về giáo hội. Chính sách ngu dân luôn luôn là một phương tiện hữu hiệu nhất của kẻ thống trị xử dụng để bảo vệ thế quyền cũng như thần quyền của họ. Giáo dân có mê tín mới đem tiền đến nhà thờ xin lễ hoặc dâng cúng, các cha cố mới có nhiều tiền để xây nhà thờ to đẹp hầu phô trương uy thế của mình. Giáo dân càng ngu dốt bao nhiêu, càng khúm núm ngoan ngoãn cha cố bấy nhiêu. Giáo dân khúm núm quị lụy với cha cố bao nhiêu, càng làm cho họ lên mặt bấy nhiêu. Nếu để cho cha cố tiếp tục lộng hành lũng đoạn cả khối giáo dân, chúng có thể sẽ tạo thêm nhiều Ngô Đình Diệm cai trị đất nước. Với cương vị là tổng thống đứng đầu một quốc gia, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn lấy tư cách giáo dân trung thành của Vatican để cúi đầu khom lưng hôn nhẫn, hôn tay các hồng y đại diện Tòa Thánh. Cử chỉ đó của Ngô Đình Diệm đã nói lên tinh thần nô lệ của Công Giáo Việt Nam và đã làm nhục quốc thể không ít.

 

Sự ngu đốt là nguyên nhân đầu cùng của mọi hành vi sai trái. Tất cả những hành vi sai trái nói trên của tập thể giáo dân đều xuất phát từ sự tối tăm không biết gì về thánh kinh, giáo hội và tu sĩ: Thánh kinh là sản phẩm bịa đặt tạo ra một giáo hội gian dối. Giáo hội gian dối tạo ra một hệ thống tu sĩ gian manh. Sự ngu dốt là nền tảng của tất cả những thứ đó.

 

Hệ thống tu sĩ Công Giáo thế giới là hệ thống tu sĩ thiếu lương thiện, đứng đầu là giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng chẳng phải do Chúa trao cho mà thường do cướp đoạt bằng đủ mọi thủ đoạn: hối lộ, mua chuộc, vận động chính trị và rất nhiều trường hợp là do mưu sát lẫn nhau. Chỉ trong vòng 12 năm (891-903), có 10 giáo hoàng liên tục giết lẫn nhau để đoạt ngôi giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng là mục tiêu quyền lực mà kẻ lãnh đạo cao cấp trong giáo hội luôn luôn nhắm tới để tranh đoạt. Chẳng cần nói đâu xa, đương kim giáo hoàng Jean Paul II lên ngôi giáo hoàng năm 1978 là do y đã can dự vào việc mưu sát giáo hoàng tiền nhiệm là Jean Paul I bằng chất độc vào đêm 5.9.1978. Việc sản xuất chất độc giết người là nghề của Jean Paul II. Trong thời đệ nhị thế chiến, Jean Paul II lúc đó là thanh niên Ba Lan mang tên Karol Wojtila, giữ chức vụ Saleman cho công ty Đức Farben Chemical chuyên sản xuất độc khí thủy ngân (Cyanicgas) cung cấp cho Đức Quốc Xã dùng chế tạo hơi ngạt giết 6 triệu Do Thái trong các trại tập trung. Việc xử dụng chất độc được gọi là “Lentulo”, một thứ bột trắng chết người (the lethal white powder), là một truyền thống lâu đời của triều đình Vatican. Có lẽ khởi đầu từ thế kỷ II. Sử sách giáo hội La Mã ghi nhận con gái giáo hoàng Alexander VI là Lucrezia là một chuyên viên xử dụng chất độc giết hại nhiều người. Chính giáo hoàng Alexander VI cũng chết vì bị đầu độc năm 1503. Sách “The Pope Encyclopedia” liệt kê danh sách nhiều giáo hoàng bị mưu sát bằng chất độc bột trắng: Giáo hoàng duy nhất tại Vatican có gốc Đức quốc là Utrech bị mưu sát bằng thuốc độc năm 1073. Từ đó, người Ý dành độc quyền làm giáo hoàng cho đến ngày Jean Paul II lên ngôi năm 1978 không phải là người gốc Ý. Các giáo hoàng sau đây đều đã bị người kế nhiệm đầu độc để cướp ngôi: Pio VIII (1830), Leo XIII (1903). Pio X (1914) và Pio XI (1939).

 

Sách Babylone Mystery Religion liệt kê các vụ giáo hoàng kế nhiệm trả thù giáo hoàng tiền nhiệm. Điển hình là vụ Giáo Hoàng Stephen VI (896-897) trả thù giáo hoàng tiền nhiệm là Formosus (891-896). Sau khi giáo hoàng Formosus chết được 8 tháng, giáo hoàng Stephen VI vẫn ra lệnh quật mồ lấy bộ xương của giáo hoàng này đặt lên ghế giáo hoàng. Stephen VI đứng phía trước bộ xương tra hỏi và chửi rủa. Stephen VI kết án bộ xương của Formosus rồi truyền vứt bộ xương ra đường phố, cuối cùng được vứt xuống sông Tiber. Stephen VI kết tội Formosus rối đạo và sai lầm.

 

Giáo Hoàng Honorius I, sau khi chết cũng bị Tòa Thánh họp hội nghị đem hồ sơ ra xét xử năm 680. Giáo hoàng Honorius bị kết án là sai lầm và rối đạo! Vậy mà giáo dân Việt Nam vẫn đọc kinh “Đức Chúa Trời đã đặt Đức Giáo Hoàng lên quyền rất trọng, là cai trị các giáo hữu đời này, cho nên khi Đức Giáo Hoàng truyền sự nào chung cho các giáo hữu, cùng phán dạy phải tin cùng điều nọ chẳng nên tin thì Đức Chúa Trời hằng soi sáng cùng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được.” (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu, trang 326).

 

CÁCH LÀM TIỀN CỦA VATICAN

 

Tiếp sau quyền lực là Tiền. Tiền là mối quan tâm hàng đầu của Vatican vì dành quyền là để chiếm độc quyền làm tiền. Các bộ óc siêu đẳng về tài chánh được xử dụng tìm mọi cách để làm giàu: ban các chức thánh, bán ơn đại xá Tòa Thánh, ơn tha tội (indulgence) cho người chết trong lễ cầu hồn, tổ chức hành hương, tổ chức năm thánh (jubilee) bán thánh tích v.v…

 

Trong năm thánh 1300 (the jubilee year of 1300) tiền bán ơn tha tội cho người chết gồm cả tiền mặt và vàng bạc nữ trang nhiều đến nỗi Tòa Thánh phải cho các tu sĩ dùng cào để cào thành đống tại Đền Thánh Phêrô. Thế kỷ 13 được coi là thế kỷ sáng chói của Tòa Thánh về phương diện tài chánh. Tòa Thánh sản xuất nhiều thánh tích giả để đem bán đấu giá. Thậm chí có cả chiếc răng sữa và miếng da qui đầu của Chúa Jesus! Có cả tã lót và bình sữa Đức Mẹ dùng nuôi Chúa lúc nhỏ. Tổng số đinh và gỗ thu lượm tại Jerusalem được gán cho là gỗ của thập giá và đinh đóng vào tay chân Chúa nhiều đến nỗi có thể dùng đóng chiến hạm! Chúa chỉ bị đâm cạnh sườn bằng một cây giáo, vậy mà Tòa Thánh chính thức bán đấu giá tới 3 cái! Các sử gia đã phải gọi Giáo Hội Công Giáo là giáo hội đói tiền (A money-hungry church). Giáo hội đã biến Núi Sọ của Chúa thành NÚI VÀNG: Church turn Golgotha (mountain of Skulls) into Golconda (mountain of gold). Nguyên nhân thúc đẩy các thập tự quân đi đánh các nước Hồi Giáo là lòng ham muốn chiếm đoạt tài sản của họ. Sử gia Lloyld Graham viết trong The Deceptions and Myths of the Bible, trang 472: “Núi vàng biến thành chiến trường của thập tự quân. Động cơ chính yếu là lòng thèm muốn của dân Âu Châu đối với sự giàu có huy hoàng của người Ả Rập” (Golcond was turned into battleground of the Crusades. The real motivation was hungry Europe’s envy of the wealth and splendor of Araby). Sử gia Lloyld kết luận: “Sử gia sau tôi sẽ viết một cuốn sử khác tựa đề là: Sự suy đồi và sụp đổ của giáo hội Công Giáo”. (Another historian will write another book and he will call it: The Decline and Fall of the Roman Church).

 

Từ ngày Constantine lập ra đạo Công Giáo, giáo hội đã mau chóng trở thành giàu có ngoài sức tưởng tượng. Thời Trung cổ, giáo hội là sở hữu chủ các thành phố tại Âu châu. Tất cả các quốc gia Công Giáo đều buộc dân chúng phải nộp thuế cho Tòa Thánh. Năm 1170, Giáo Hoàng Alexander II ra đạo luật buộc mọi khế ước, di chúc phải được tu sĩ thị thực và thu lệ phí mới có giá trị.

 

Việc bán ơn đại xá (tha tội cho linh hồn người chết) là một nguồn thu nhập khổng lồ của Vatican. Dân Ái Nhĩ Lan có câu tục ngữ: “Tiền nhiều lễ lớn, tiền ít lễ nhỏ, không tiền không lễ” (High money high mass, low money low mass, no money no mass). Đến thế kỷ 19, dư luận Âu Châu cho rằng có rất nhiều linh hồn đã bị lãng quên (forgotten souls in Purgatory) cần phải được Tòa Thánh cầu nguyện tập thể cho họ. Do đó, Tòa Thánh lập ra Lễ Các Thánh vào ngày 2 tháng 11 hằng năm để cầu cho các vong hồn không có thân nhân nộp tiền xin lễ ở các nhà thờ! Lễ Các Thánh bắt đầu có từ 1856.

 

Để các đồng đạo Việt Nam của tôi có một cái nhìn khái quát về guồng máy đầu não điều khiển giáo hội, về các biến cố lịch sử cận đại của thế giới có liên hệ đến Tòa Thánh và nhất là các giáo hoàng có liên hệ đến chiến tranh Việt Nam như Pio XII, Gioan XXIII, Paul VI, Jean Paul II, tôi xin tóm lược tác phẩm Vicars of Christ – The Dark Side of The Papacy [Tác phẩm này có dành một chương viết về các giáo hoàng dâm loạn đăng trong cuốn “Tại sao không theo đạo Chúa” tập 1.]

 

của cựu Linh Mục dòng Tên Peter de Rosa do Crown Book Editions xuất bản năm 1988. Đây là một tác phẩm best-seller (bán chạy nhất) trong nhiều năm của một tác giả được báo chí gọi là siêu điệp viên quốc tế về thâm cung bí sử của Vatican.

 

TÁC PHẨM KIỆT XUẤT “KẺ ĐẠI DIỆN CHÚA”

 

Mở đầu cho tác phẩm kiệt xuất này, tác giả viết bài The Great Cover-up để thay lời tựa. Tôi đã mô phỏng ý của tác giả để viết bài Cái khố của Jesus trên thập giá đăng trên Đông Dương Thời Báo, xuất bản tại Houston Texas ngày 30.7.1998. Tác giả dùng chứng cớ lịch sử chứng minh cái khố của Jesus trên thập giá là hoàn toàn giả mạo vì mọi kẻ bị đóng đinh đều bị lột trần truồng. Cái khố đó nhỏ xíu nhưng là biểu tượng cho sự bịp bợm dối trá của đạo Kitô. Vatican là tổng hành dinh của tội ác chống nhân loại và đồng thời cũng là cái xưởng chế tạo đồ giả lớn nhất thế giới. Sau đây là những nét chính yếu của nội dung tác phẩm:

 

Tác phẩm Vicars of Christ chú trọng tới việc vạch trần tội ác diệt chủng Do Thái của Giáo Hội Công Giáo trong suốt 16 thế kỷ qua. Nguyên nhân dẫn đến tội ác diệt chủng này và hành vi tội ác của các kẻ tự xưng là “Đại Diện của Chúa Kitô” đã diễn ra như thế nào.

 

Chúng ta đã biết, vào đầu thế kỷ 4, đa số dân chúng trong Đế Quốc La Mã đều theo đạo Kitô với nhiều giáo phái khác nhau. Tuy các giáo phái có khác nhau về giáo lý nhưng đều đồng nhất ở điểm cùng tôn thờ Jesus là Chúa Cứu Thế (Messiah/Christ Savior, Redeemer). Constantine có sáng kiến thống nhất các giáo phái này thành một đạo Kitô thống nhất được gọi là “Công Giáo” để làm lợi khí xâm lược toàn cầu, vì Công Giáo có nghĩa là “toàn cầu”. Sau khi thống nhất Kitô Giáo hoàn toàn vài năm 340, Constantine ra lệnh hủy diệt hết mọi dấu vết của các giáo phái Kitô khác, bao gồm các cuốn kinh thánh Tân Ước không phù hợp với đạo Công Giáo, xóa bỏ mọi dấu vết thật của Chúa Jesus tại Jerusalem, thiêu hủy mọi sách triết học khoa học của Hy Lạp. Muốn thống nhất đạo Kitô, đế quốc La Mã không thể làm điều gì khác hơn là phải tôn Jesus lên làm Thiên Chúa Toàn Năng. Nhưng vì không thể tôn thờ một người do chính mình đã giết hại nên Đế quốc La Mã tìm mọi cách đổ tội giết Jesus cho Do Thái là nước thuộc địa đã dám chống lại mẫu quốc. Một công hai việc, một mặt vừa đạt mục tiêu thống nhất đạo Kitô, mặt khác vừa trả thù Do Thái một cách ghê gớm chưa từng thấy. Đó là nguyên nhân đã đưa đến chủ trương diệt chủng Do Thái của Đế Quốc La Mã mà kẻ thừa kế là Vatican.

 

Về mặt giáo lý, La Mã bịa chuyện Pilate rửa tay để phủi trách nhiệm kết tội tử hình Jesus. Các kinh sách cầu nguyện luôn luôn nói là dân Do Thái đòi phải giết Chúa. La Mã đã thành công trong việc biến máu cứu chuộc của Chúa Jesus thành máu hận thù dân tộc Do Thái đến muôn đời. Chúa Jesus dạy mọi người phải thương yêu và tha thứ cho nhau, nhưng La Mã dạy giáo dân không thể tha thứ cho dân tộc Do Thái về tội đã giết Chúa. Sự thật lịch sử là dân Do Thái dưới sự thống trị của La Mã không có quyền xử tử bất cứ ai. Xưa kia, lúc Do Thái còn độc lập tự trị, luật pháp của họ chỉ dự liệu phương cách xử tử tội nhân bằng cách ném đá chứ không hề xử tử tội nhân bằng thập tự giá bao giờ. Mọi việc xét xử tội nhân dưới thời lệ thuộc hoàn toàn do Đế Quốc La Mã quyết định. Phương cách xử tử tội nhân bằng thập tự giá là phương cách đặc biệt của La Mã và Hy Lạp dùng để khủng bố trấn áp nô lệ và dân thuộc địa. Họ không áp dụng lối xử tử nhục nhã và rất đau đớn này đối với công dân của họ. La Mã đã thành công nhồi sọ giáo dân phân biệt hai thứ máu Do Thái. Máu cứu chuộc của Chúa là máu của Abraham, David, Solomon và các thánh. Máu của dân Do Thái là máu tội lỗi của Herod, Caipha, Judas Escariot.

 

Tội của tổ tiên Do Thái là tội trực tiếp giết Chúa, tội của dân tộc Do Thái từ đó đến nay là tội phủ nhận chúa Jesus là Thiên Chúa Toàn Năng, đấng tạo thành vạn vật và tạo thành cả tổ tiên đã sinh ra mình!

 

Về mặt tuyên truyền, đế quốc La Mã phao tin vu cáo người Do Thái hay bỏ thuốc độc để giết hại người Kitô Giáo và hay bắt cóc con nít cắt tiết để uống máu. Do đó, từ giữa thế kỷ 4 trở đi, bất cứ nơi nào có người Kitô Giáo là ở đó có sự hận thù Do Thái cùng cực.

 

Hình ảnh 14 “đàng thánh giá” trong các nhà thờ đều mô tả quân lính La Mã đánh đập và giết Chúa, nhưng mọi giáo dân đều không nghĩ đó là lính La Mã mà chỉ gọi là “quân dữ” hoặc “quân Giu-dêu”. Họ căm thù Do Thái và quên khuấy một điều là cả Chúa, Đức Mẹ, các thánh tổ tông, các thánh tông đồ tất cả đều là Do Thái!

 

Suốt thế kỷ 12 và 13, tại khắp Âu Châu, người Do Thái bị cấm không được tiếp xúc với người Kitô Giáo. Họ bị tước đoạt hết nhà cửa và tài sản. Ban đêm, tất cả mọi người Do Thái không phân biệt già trẻ, đàn ông, đàn bà, con nít, đều bị lùa vào các khu tập trung có cổng khóa chặt, tiếng Ý gọi là GHETTOS – Đây là một phát minh độc đáo của giáo hội Công Giáo La Mã. Các sử gia đã phải than rằng: Ghettos là một chế độ apartheid tàn bạo chưa từng thấy.

 

Mỗi lần La Mã tổ chức các cuộc thập tự chinh đến các nước xa xôi, việc đầu tiên của thập tự quân là đi lùng bắt những người Do Thái cư trú tại địa phương đó đem đi chém giết tập thể.

 

Tại các quốc gia có vua chúa Công Giáo cai trị, mọi người Do Thái đều bị cấm xuất đầu lộ diện vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Bất cứ người Do Thái nào bị bắt gặp trên đường phố đều bị xử tử tại chỗ!

 

Vào thế kỷ 16, giáo dân tôn sùng giáo hoàng và tin rằng giáo hoàng không bao giờ sai lầm. Giáo hoàng ra lệnh gì, giáo dân thi hành triệt để. Do vậy, tai họa đến với người Do Thái càng trầm trọng hơn.

 

Năm 1581, Giáo Hoàng Gregory XIII ban tông huấn: “Tội ác của Do Thái trong việc chối Chúa và đóng đinh Chúa Jesus chỉ càng ngày càng ăn sâu vào các thế hệ kế tiếp, do đó Do Thái phải bị nô lệ muôn đời”. (The guilt of Jews in rejecting and crucifying Jesus only grows deeper with successive generation, entailing perpetual slavery). (page 191).

 

Cuối thế kỷ 18 tại Rome, 2030 người Do Thái bị buộc phải “trở lại” đạo Công Giáo. Khi họ đi nhà thờ nếu lỡ ngủ gật, có thể bị các người cai quản nhà thờ đập chết hay đánh trọng thương. Nhiều người Do Thái muốn tránh cho con cái của họ sau này khỏi bị hành hạ, đã đem con đến nhà thờ cho cha cố rửa tội. Sau đó họ chẳng bao giờ được gặp lại con của họ nữa. Nhà thờ đem chúng đi biệt tích vì sợ sau này chúng lớn lên sẽ trở lại đạo Do Thái!

 

Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã mở đầu cho phong trào bài trừ mê tín tại Âu Châu. Các nhà đại tư tưởng có khuynh hướng nhân đạo và cấp tiến như Voltaire , J.J. Rousseau Montesquieu, Diderot và ở Anh có Thomas Paine, đã cố gắng soi rọi ánh sáng để xóa tan bóng tối đã bao phủ Âu Châu nhiều thế kỷ. Nhưng ánh sáng đó chẳng bao giờ soi tới Vatican! Các giáo hoàng là các bạo Chúa vô địch về tính thủ cựu. Tất cả các giáo hoàng vẫn tiếp tục giữ nguyên thành kiến căm thù Do Thái và vẫn tiếp tục duy trì chế độ Ghettos tại Ý, trong khi hầu hết các nước Âu Châu đã bãi bỏ chế độ này đối với người Do Thái.

 

Sau khi thuốc chủng ngừa các bệnh được Pasteur phát minh, mọi người trên thế giới đều được quyền hưởng lợi ích của sự chích ngừa, Giáo Hoàng Leo XII lại ra lệnh cấm chích ngừa cho người Do Thái. Sự hành hạ người Do Thái tại Ý càng trở nên tàn bạo khiến cho vua Áo Franz Joseph và vua Pháp Napoleon III phải gửi văn thư cảnh cáo giáo hoàng: “Ngài đang trở nên thù địch với công tâm của toàn thế giới” (You are antagonizing the world opinion). Nhà quí tộc Anh đích thân đến Vatican khuyên Giáo Hoàng Pius IX phải bớt cứng rắn với Do Thái. Sau khi thấy các lãnh đạo thế giới đã khuyên bảo Tòa Thánh phải thay đổi chính sách đối với Do Thái mà không có hiệu quả, vua Ý không thể kiên nhẫn được, đã dùng hỏa lực quân sự chiếm Vatican ngày 2.10.1870. Vua Ý đã dùng thế quyền tước bỏ thần quyền của giáo hoàng, hủy bỏ các sắc luật đối xử bất công với Do Thái của Tòa Thánh từ xưa đến nay. Nhà vua ban hành đạo luật của hoàng gia Ý (Royal decree) công bố người Do Thái được hưởng toàn quyền tự do bình đẳng như các người công dân Ý khác. Chính sách ngược đãi Do Thái tại Ý trong 15 thế kỷ của Vatican bị hoàn toàn chấm dứt. Thành lũy Ghettos cuối cùng ở Âu Châu đã bị bỏ bằng sức mạnh quân sự của thế quyền nước Ý!

 

Mọi người trên thế giới tưởng rằng người Do Thái đã thoát nạn diệt chủng, nhưng giáo hội Công Giáo vẫn chưa chịu thua. Tội ác của họ tiếp tục dưới hình thức khác.

 

Năm 1926, Giáo Hoàng Pius XI (1922-1939) ra lệnh cho Đảng Công Giáo (The Catholic Party) giải tán để nhập vào đảng của Mussolini. Năm 1929, đảng của Mussolini ký hiệp ước với Vatican tại Lateran chia xẻ quyền hành tại Ý, tiêu diệt các phong trào tiến bộ và tiếp tục chính sách chống Do Thái.

 

Trong khi đó, Hồng Y Pacelli là nhà ngoại giao của Vatican tại Đức đã ra sức vận động Đảng Công Giáo Đức và các lãnh tụ chính trị Công Giáo Đức ủng hộ cho Hitler để đưa y lên cầm quyền. Hồng Y Pacelli về sau trở thành Giáo Hoàng Pius XII [Ông giáo hoàng này đã vận động chính phủ Mỹ dội từ 1-6 quả bom nguyên tử xuống Bắc Việt năm 1954 để giải vây cho quân đội Pháp nhằm kèo dài sự đô hộ của thực dân trên đất nước Việt Nam.] khét tiếng chống Cộng và ủng hộ Pháp.

 

Từ giữa thập niên 1930, trước cửa nhà của những người Do Thái thường bị những kẻ bí mật vẽ dấu hiệu ngôi sao David (sao 6 cạnh) bằng sơn. Trên cây thánh giá ở nhà thờ, chữ JNRJ được thay thế bằng chữ Đức, có nghĩa là “Jews are not welcome here”. Năm 1936, giáo hội Công Giáo Đức cử giám mục Osmabruch đến gặp Hitler. Hai người đàm đạo với nhau trong hơn một giờ. Hitler đã xác quyết với Giám Mục Osmabruch là có cùng một quan điểm với giáo hội trong mục tiêu diệt Do Thái. Hitler nói: “Chẳng phải là giáo hội đã coi bọn Do Thái là ký sinh trùng và nhốt chúng vào Ghettos đó sao? Tôi chỉ đang làm những gì giáo hội đã làm trong 15 thế kỷ qua, và làm cho hữu hiệu hơn… với tư cách là một người Công Giáo, tôi ngưỡng mộ và muốn chấn hưng đức tin Kitô” (Had not the church looked on the Jews as parasites and shut them in ghettos? I am only doing what the church has done for fifteen hundred years more effectively… Being a catholic, I admired and wanted to promote Christianity).

 

Đức Quốc Xã và Giáo Hội Công Giáo giống nhau ở mục tiêu là diệt chủng Do Thái. Chỉ khác nhau ở chỗ Đức Quốc Xã ngược đãi Do Thái vì kỳ thị chủng tộc còn giáo hội Công Giáo thù ghét Do Thái vì Do Thái không chịu công nhận Jesus là Kitô như ý của Đế Quốc La Mã mong muốn. Điều kỳ quặc là Công Giáo bắt chước Do Thái tôn thờ Đức Chúa Trời (tức Jehovah) nhưng lại kết tội Do Thái thờ lầm Chúa Jesus vốn là tín đồ đạo Do Thái, chính Vatican đã buộc Jesus phải bỏ Do Thái Giáo để “trở lại” đạo Công Giáo La Mã!

 

Xét kỹ ra thì cái tội của Do Thái là chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (The Unity God) chứ không thờ Thiên Chúa của Công Giáo La Mã là Thiên Chúa Ba Ngôi (The Trinity God). Công Giáo Hy Lạp (tức Chính Thống Giáo) cũng thờ Thiên Chúa Ba Ngôi như Công Giáo La Mã, chỉ khác ở chỗ Chính Thống Giáo cho rằng: Chúa Cha lớn nhất, Chúa Thánh Thần thứ nhì và Jesus thứ ba. Vatican chủ trương ba ngôi Thiên Chúa bằng nhau (như ba ông đầu râu trong bếp ở nhà quê ta). Khác nhau chỉ có mấy điểm nhỏ nhặt mà hai giáo phái Kitô này đã giết nhau trong 10 thế kỷ qua, huống hồ dân Do Thái khác với Vatican như mặt trời mặt trăng!

 

Pio XII lên ngôi 1939, là thời điểm khởi sự Đệ nhị Thế chiến. Tên thật là Pacelli, sinh tại Ý năm 1876, sống tại Đức 25 năm, nói tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ và thông thạo lịch sử phong tục văn hóa Đức còn hơn người Đức. Năm 1929, lên chức Bộ trưởng ngoại giao của Vatican. Được bầu giáo hòang lúc 63 tuổi. Pio XII thừa biết Đức Quốc Xã tung đòn khốc liệt tiêu diệt Do Thái, nhưng vốn có dòng máu lạnh bẩm sinh của Mafia và có khuôn mặt diều hâu, y luôn luôn câm miệng hến như chẳng có gì xảy ra.

 

Ngày 4.6.1940, Vatican đưa Mussolini lên cầm quyền tại Ý. Chưa đầy một năm sau, 3/4 dân Do Thái tại Ý về chầu Chúa Jehovah hết, trong số đó không thiếu gì người Do Thái có đức tin Công Giáo thờ cả ba ngôi Thiên Chúa mà cũng không thoát chết!

 

Ba Lan là xứ Công Giáo toàn tòng, là đạo quân thứ 5 của Đức Quốc Xã, chỉ trong mấy tháng năm 1942 đã giết 700.000 người Do Thái. Riêng tháng 7 đến tháng 9 năm 1942, 5000 trẻ em Do Thái được đưa từ Ba Lan và Pháp qua Drancy (Đức) để làm vật thí nghiệm y khoa, trong số đó có 1000 em dưới 6 tuổi. George Wellers, tác giả cuốn sách Drancy viết: “Từng đoàn chiên kinh hoàng (ám chỉ các em nhỏ Do Thái) bị giết mà cái môi của Rome vẫn cứ ngậm chặt và nó đã được hàn lại vĩnh viễn” (A frightened flocks of lambs were slaughtered… Rome’s lips were firmed closed and it turned out permanently sealed).

 

Một bác sĩ Đức Quốc Xã làm việc tại Drancy sau Đệ nhị Thế chiến đã thú nhận tại nhà giam: “hỏa ngục của Hitler đã tiêu thụ một triệu trẻ em. (Hitler’s hell consumed one million children!).

 

Giữa lúc chiến tranh khốc liệt vào tháng 1.1943, nước Pháp bị Đức chiếm đóng và Đức vẫn tiếp tục giết người Do Thái, giáo hội Pháp cử Hồng Y Laval sang Rome trao cho Giáo Hoàng Pio XII ngân khoản rất lớn của chính phủ Pétain tặng Tòa Thánh. Hai người đàm luận rất vui vẻ và không hề nói gì tới số phận của người Do Thái.

 

Tháng 12.1943, Phát-xít Ý ra lệnh tước bỏ quyền công dân Ý của mọi người Do Thái. Kết quả mọi người Do Thái thoát chết trước đây đều bị tàn sát. Thảm cảnh của họ được mô tả trong tác phẩm Death in Rome của Robert Katz.

 

Tác giả viết: “Có một người có thể cứu sống mọi người Do Thái tại Rome, nhưng người đó đã không muốn cứu. Người đó là Pio XII”. Tướng Đức cầm đầu cơ quan SS tại Rome còn biết thương Do Thái đã nhờ một linh mục Đức là Pancrazzio mật báo cho Pio XII biết sẽ có tắm máu Do Thái tại Rome. Vậy mà “Đức Thánh Cha” Pio XII vẫn lờ đi. Chẳng những thế, Pio XII còn ra lệnh cho đài phát thanh Vatican không được loan tin gì về Do Thái. Cả thế giới ít ai biết: Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hitler không biết sợ một ai, ngoại trừ giáo hoàng! Lý do: Công Giáo Đức khá ngoan đạo và chiếm đa số trong quân đội, trong cảnh sát đặc biệt SS và các đoàn thể tại Đức. Chỉ một câu nói của giáo hoàng cũng có thể làm tinh thần của quân đội, cảnh sát và quần chúng Đức suy yếu. Pio XII rất thông minh và dư biết điều đó. Pio XII là “Hitler trong tâm” hoàn toàn giữ im lặng để khích lệ “Hitler trong hành động” mặc sức tung hoành tiêu diệt Do Thái.

 

Khoảng năm 1960, giáo hội Công Giáo muốn vận động phong thánh cho Pio XII. Kẹt một điều là nếu phong cho Pio XII làm á thánh thì phải phong cho Hitler làm hiển thánh! Giáo dân Đức cuồng tín đã có người khấn vái Pio XII: “Lạy đức Pio XII là đấng đã yêu nước Đức hết mình, xin hãy cầu cho chúng con!”.

 

Dân Do Thái vẫn tự hào là dân Chúa chọn (The Chosen People) nhưng lại không biết thánh ý của Chúa chọn để làm gì. Nay nhiều người đã hiểu thánh ý của Chúa là thế! Ngày 5.6.1944, quân đồng minh tiến vào Rome. Số người Do Thái “đã được Chúa chọn” nhưng chưa diệt kịp còn sót lại rất ít. Tất cả đều được quân đồng minh giải thoát.

 

Sau đệ nhị thế chiến, các người Do Thái truy tầm bọn Đức Quốc Xã để trừng trị. Họ rất thù ghét Pio XII nhưng vì giáo hòang là thủ lãnh của một tôn giáo lớn có ảnh hưởng chính trị toàn cầu nên Pio XII đã được giới chính trị quốc tế tha mạng.

 

Dư luận thế giới nguyền rủa Pio XII vang lên từ mọi phía. New York Times gọi Pio XII là “biểu tượng của sự vô trách nhiệm luân lý”. Vì thế, Viện Bảo Tàng lịch sử Bronx ở New York có cả một gian hàng triển lãm tội ác của Pio XII với bảng hiệu “Tên Đồ Tể Quốc Xã tại Rome” [Trong lúc đó, giáo hội Công Giáo Việt Nam trước 1975 lấy tên ông giáo hoàng nầy đặt tên cho một chủng viện ở Đà Lạt gọi là Giáo Hoàng Chủng Viện PIO XII.]

 

(The Nazi Butcher at Rome). Linh Mục dòng Tên Fontana phát biểu: “Kẻ làm đại diện của Chúa mà thản nhiên nhìn tội ác diễn ra trước mặt là một tội ác ghê gớm”. Văn hào Pháp Fanncois Mauriac tuyên bố: “Đấng kế vị Thánh Phêrô không hề lên tiếng về sự hành hạ đối với các anh em của Chúa Jesus, cũng không hề có một biện pháp nhỏ nhoi nào xứng hợp với trách nhiệm của một vị lãnh đạo tinh thần lớn nhất hoàn cầu. Dù cho biện minh bằng cách nào chăng nữa thì sự im lặng đó hiển nhiên đã là một tội ác”.

 

Mười lăm năm sau khi các trại tập trung Do Thái ở Auschwitz, Burgen, Dachau, Ravensbrunch bị đóng cửa do sự thắng trận của đồng minh, năm 1960, giáo hoàng kế nhiệm Pio XII là John XXIII đã đến những địa điểm tội ác đó để làm lễ và cầu nguyện” “Lạy Chúa, dấu ấn của Cain đã đóng trên trán của chúng con. Qua bao nhiêu thế kỷ, máu người anh em Abel của chúng con do chúng con làm đổ ra cùng với nước mắt vì chúng con đã quên mất tình yêu của Chúa. Lạy Chúa, xin tha tội chúng con vì chúng con đã nguyền rủa sai lầm. Xin Chúa tha tội chúng con đã đóng đinh Chúa lần thứ hai trên thân xác của những người anh em Do Thái. VÌ CHÚNG CON CHẲNG BIẾT VIỆC CHÚNG CON LÀM” (The mark of Cain is stamped on our foreheads. Across the centuries, our brother Abel has lain in blood which we drew and shed tears we caused by forgetting thy love. Forgive us, Lord for the curse we falsely attributed to their name as Jews. Forgive us for crucifying Thee a second time in their flesh. FOR WE NOT KNEW WHAT WE DID).

 

Giáo hoàng Gioan XXIII đã thú nhận toàn bộ giáo hội Công Giáo trong những thế kỷ qua đã sai lầm và hành động trong sự ngu dốt vì “không biết việc mình làm”. (We knew not what we did). Vậy mà giáo dân Công Giáo vẫn cứ tin “giáo hoàng không thể sai lầm!”.

 

Trong một buổi chiếu phim tại Vatican, khi chiếu đến cảnh quân đồng minh đến giải thoát những người Do Thái còn sống sót tại trại tù Belsen, John XXIII xúc động thấy những thân xác gầy trơ xương, mắt họ sâu hoắm như sọ người chết, John XXIII bật khóc rồi kêu rú lên: “Lạy Chúa, đây mới là mầu nhiệm Thánh Thể của Chúa Kitô” (Oh my Lord, this is The Mystical Body of Christ). Cái làm cho John XXIII xúc động là tất cả các tù nhân sống sót đều trần truồng, và đó mới là hình ảnh thật của Jesus trên thập giá!

 

Trong đệ nhị thế chiến, dư luận thế giới có ác cảm với giáo hội Công Giáo do các hành động của Pio XII. Giáo hội muốn coi cái chết của Pio XII năm 1958 như một dấu chấm của một thời đại sai lầm. John XXIII muốn gỡ lại danh dự cho giáo hội bằng một chính sách đối ngoại mới được gọi là hiệp thông (ecumenism). Từ đầu thập niên 1960, John XXIII theo đuổi chính sách sống chung hòa bình với Cộng Sản và đối thoại thân hữu với các giáo phái Kitô và các tôn giáo khác. John XXIII chủ xướng công đồng Vatican cải cách giáo hội.

 

Để sống còn trong thời đại mới, Vatican chấp nhận cho các giáo dân tuân theo các tập tục cổ truyền của các dân tộc, lấy vợ lấy chồng ngoại đạo và làm lễ bằng ngôn ngữ địa phương thay vì xử dụng tiếng La Tinh.

 

Trong 5 năm cai trị giáo hội (1958-1963), John XXIII canh cải nhiều mặt của giáo hội chỉ nhằm cứu vãn danh dự cho giáo hội bề ngoài mà thôi. Kỳ dư, mọi sai lầm căn bản của giáo hội vẫn còn y nguyên. John XXIII cũng có lòng thương xót dân tộc Do Thái nhưng quyền lực và tham vọng của Vatican vẫn luôn luôn là ưu tiên tối thượng. Các hành vi đóng kịch của y chỉ làm cho lương tâm nhân loại bớt giận. Thực chất, theo tác giả Peter de Rosa, John XXIII chỉ là “một luật sư của quỉ” (The Devil’s Advocate).

 

Sau cái chết của John XXIII, Paul VI kế nhiệm lại dẫn giáo hội Công Giáo trở lại thời trung cổ. Năm 1965, trong ngày Chủ Nhật lễ tưởng niệm Chúa bị đóng đinh (Passion Sunday), Paul VI giảng tại Đền Thánh Phêrô với luận điệu cũ rích: “Do Thái đã được Kinh Thánh báo trước về Chúa Jesus là đấng Kitô cả ngàn năm. Vậy mà khi Chúa đến, họ chẳng những không nhận Ngài là đấng Kitô mà còn sỉ nhục Chúa và cuối cùng họ đã đóng đinh Chúa trên thập giá!”.

 

Lời thuyết giảng của Paul VI năm 1965 không khác gì với lời thuyết giảng của Gregory XIII năm 1581: “Tội ác chối Chúa (không phải là Kitô) và đóng đinh Chúa của Do Thái càng ngày càng ăn sâu vào các thế hệ kế tiếp, do đó họ phải bị nô lệ vĩnh viễn!” (The guilt of Jews in rejecting and crucifying Jesus only grows deeper with successive generations, entailing perpetual slavery. Page 191-201 Vicars of Christ).

 

Giáo hội Công Giáo vẫn tiếp tục đi theo con đường mòn cố hữu của lịch sử tội lỗi của mình.

 

Năm 1978, Hồng y Ba Lan Karol Wojtyla lên làm giáo hòang lấy hiệu là Jean Paul II. Bề ngoài Giáo Hoàng Jean Paul II tỏ ra là một người xông xáo hoạt bát đầy uy quyền, trong thực tế ông ta cũng như các giáo hoàng khác đều chỉ là những “người tù trong cung điện”. Văn phòng của Jean Paul II ở lầu 3 của tòa lâu đài Phêrô. Một toán lính Thụy Sĩ mặc y phục cổ xưa sặc sở như cầu vồng, chỉ làm nhiệm vụ nghi lễ chứ không có tính cách quân sự. Cơ quan quân sự bảo vệ giáo hoàng thật sự là Ufficio Central di Vigilanza mặc đồng phục xanh, võ trang những vũ khí cá nhân cực kỳ hiện đại và luôn luôn sẵn sàng nhả đạn bắn chết bất cứ ai khả nghi đến gần giáo hoàng mà không được phép. Toán võ trang có vô tuyến liên lạc thường xuyên với tổng hành dinh cảnh sát Ý và lực lượng bí mật mang ngụy danh Digos. Giáo hoàng là đầu não của cả một hệ thống giáo sĩ đông đảo gồm 4000 hồng y và giám mục. Đội ngũ managers là các linh mục lên tới tổng số 400.000!

 

Jean Paul II là một trong số rất hiếm hoi các giáo hoàng không phải gốc Ý:

 

Adrian VI (1522-1523) người Phần lan (Flemish)

Alexander VI (1492-1503) người Pháp

Sylvester II (999-1003) người Tây Ban nha.

Trong thời gian nước Pháp hùng mạnh đã áp lực đưa Tòa Thánh dời Vatican về Avignon. Các vua Pháp đã phong chức cho 7 đời giáo hoàng cai trị hội thánh. Các giáo hoàng này đã không được chọn do sự soi sáng của “Đức Chúa Thánh Thần” mà hoàn toàn do Đức Vua Pháp, nhưng cũng vẫn cai trị giáo hội như thường”.

 

Năm 1978, Karol Wojtyla lên làm giáo hoàng do sự sắp đặt quốc tế để thay thế giáo hoàng Jean Paul I bị đầu độc chết bí mật sau 33 ngày cai trị ngắn ngủi. Đế Quốc La Mã xưa kia gọi dân Ba Lan là dân nô lệ (Slaves), nên bây giờ giáo hoàng tự nhận là dân gốc Slavonic. Chắc Wojtyla đã không thể ngờ được một tên nô lệ lại đứng đầu cả một giáo hội to lớn của La Mã!

 

Jean Paul II là một giáo hoàng trẻ nhất trong lịch sử cận đại của Vatican. Từ thuở nhỏ, Jean Paul II đã từng sinh sống bằng nghề làm lao công trong xưởng máy, thích leo núi và đã từng là diễn viên tài tử đóng kịch mấy năm, đôi khi cũng mơ mộng làm thơ tình. Jean Paul II là giáo hoàng duy nhất mặc sì-líp tại hồ bơi của Tòa Thánh.

 

Năm 1981, Jean Paul II rất lấy làm lo lắng cho tương lai của giáo hội vì bưu điện ùn ùn gửi tới Tòa Thánh 8000 lá đơn của linh mục đòi lấy vợ. Ngoài ra còn có 3000 linh mục khác không thèm hỏi ý kiến của “Đức Thánh Cha” đã tự ý cởi áo dòng chạy theo người yêu. Buồn nhất là có tới 20.000 linh mục thuộc diện tiến bộ đã bỏ đạo luôn và không bao giờ trở lại. Tại các nước Âu Mỹ, hàng ngũ linh mục già nua không có người thay thế. Món hàng cứu chuộc của Chúa hiện đang thiếu người rao bán rất trầm trọng. [Hiện nay, dân Anamites Công Giáo tị nạn cố điền bớt chỗ trống.] Lời Chúa phán xưa kia chưa bao giờ thê thảm như bây giờ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Trong khi đó, giáo phái Tin Lành càng ngày càng hung hãn cạnh tranh nghề nghiệp. Họ chiếm lãnh thị trường trên TV để độc quyền chương trình “Salvation on sale!” (Sự cứu rỗi đang bán hạ giá). Tháng 8.1987, tờ Time mở cuộc thăm dò (poll) đã phát giác ra một sự thật: 97% giáo dân Mỹ không còn để ý đến giáo hoàng nữa! Giáo dân Mỹ có trình độ học thức cao nên đã sớm tỉnh ngộ. Hơn ai hết, người Công Giáo Mỹ biết giáo hoàng ngày nay chẳng còn quyền lực gì trên thực tế. Những kẻ nắm quyền điều khiển giáo hoàng và giáo hội là những kẻ dấu mặt (faceless men). Họ là những chuyên viên tráo bài tráo bút ở trong và ngoài Tòa Thánh (paper-shuffers, pen shuffers in dark offices in and around the Vatican). Đám người dấu mặt đó mới thực sự nhào nặn ra quan điểm của giáo hoàng về mọi vấn đề của giáo hội và thế giới sao cho phù hợp với quan điểm của họ. Họ chỉ cho phép giáo hoàng được biết các tin tức sau khi đã chọn lựa kỹ càng. Mọi tin tức đi ngược lại chính kiến của họ đều được dấu nhẹm. Họ đích thực là các ông chủ và là các cai ngục của giáo hoàng. Tín điều “giáo hoàng không thể sai lầm” thực chất là sự không sai lầm của nhóm thơ lại trong Tòa Thánh (Curial Officals). Giáo Hoàng chỉ là kẻ thừa hành và là cái máy ký tên trên những văn kiện đã được soạn sẵn.

 

Peter de Rosa kết luận: “Giáo hoàng có cả một lô những kẻ canh chừng y không rời con mắt. Giáo hoàng không bao giờ được nói những gì mà các vị tiền nhiệm đã nói về các vấn đề tương tự hoặc có liên quan đến vấn đề đó. Mọi giáo hòang đều là các tài xế lái xe theo kính chiếu hậu. Giáo hoàng chỉ là tù nhân của quá khứ, cái quá khứ chết tiệt đã rất lâu đời rồi mà người ta vẫn thường gọi là truyền thống. Từ cái quá khứ chết tiệt đó, giáo hoàng vạch đường cho giáo hội đi vào tương lai”. (The pope himself has a host of watchers who keep an eye on him. The pontiff can never speak of what his predecessors have said on the same or a related topic. All pontiffs drive by the rear-view mirror. He is the prisoner of the past, a long dead past often called tradition, dictates the road into the future).

 

Tôi xin kết thúc phần lược dịch tác phẩm Vicars of Christ tại đây. Tôi tự hỏi không biết các đồng bào đồng đạo của tôi theo dõi bài viết này tới đây có thể đạt được một nhận thức mới về Vatican và các giáo hoàng hay không. Nếu chưa đủ để có một nhận thức mới về họ thì tôi xin quí vị hãy suy nghĩ thêm về điều này: Sau khi Đế Quốc La Mã lập đạo Công Giáo, Tòa Thánh hoàn toàn lệ thuộc vào các hoàng đế La Mã. Các giáo hoàng sau khi được bầu lên đều phải được hoàng đế La Mã phê chuẩn. Từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 11, có nhiều giáo hoàng làm trái ý nhà vua đều bị nhà vua cách chức hoặc giết chết:

 

Giáo Hoàng St. Silverius bị bắt cóc mất tích năm 537.

Giáo Hoàng St. Martini I bị Hoàng Đế La Mã cách chức năm 655.

Giáo Hoàng Leo V bị treo cổ năm 903.

Giáo Hoàng John X bị xiết cổ năm 928.

Giáo Hoàng Gregory bị cách chức năm 1046 vì bị sưu tra ra có tổ tiên xa xưa là Do Thái.

Ngoài ra còn rất nhiều giáo hoàng bị đầu độc hoặc bị giết do những cuộc đảo chánh trong nội bộ tòa thánh để cướp quyền hoặc để thanh toán vì tư thù. (Xin đọc Bách Khoa Tự Điển về Giáo Hoàng – The Pope Encyclopedia by Matthew Bunson, Crown Trade Paperbacks. NY. 1995) có đầy đủ nhiều bảng liệt kê các giáo hoàng bị ám sát, các giáo hoàng giả, các giáo hoàng được phong thánh v.v…

 

Các giáo hoàng đều chỉ có cái vỏ về ngoài thánh thiện để lừa bịp giáo dân và thế giới. Hầu hết họ đều vô thần và chẳng bao giờ tin tưởng vào sự gìn giữ của Chúa như câu kinh Bổn đã dạy “Chúa hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng nên chẳng có lẽ nào sai lầm được”. Cụ thể nhất là Jean Paul II, nếu ông ta tin vào ơn Chúa che chở thì ông ta đã chẳng cần đến sự che chở của chiếc xe bọc kiến chắn đạn. Cả thế giới đều đã thấy hình ảnh của chiếc xe độc đáo đó, được gọi là “the pope mobile”, mang nhãn hiệu Mercedes-Benz 230, kiểu Station Wagon, tốc độ 80 MPH, mang bảng số đặc biệt của Vatican SCV, chữ tắt của Stato Citta del Vaticano. Người Pháp chế diễu đọc SCV thành “Sile Christ Voyait 禣224;” (Ước gì chúa Kitô thấy cái xe quái đảng đó!).

 

Sự thật thì chẳng có Chúa nào che chở gìn giữ giáo hoàng, cũng chẳng có cái xe chắn đạn nào che chở gìn giữ giáo hoàng tốt cho bằng sự ngu dốt [Linh Mục Trần Tam Tỉnh thường dùng cụm từ “ốc đảo ngu dốt” để chỉ tình trạng các giáo dân. (Thập giá và lưỡi gươm).]

 

của đông đảo giáo dân. Sự ngu đốt đần độn của tập thể giáo dân là thành đồng lũy thép bảo vệ chẳng những giáo hoàng mà là cả cái Tòa Thánh Công Giáo La Mã, thực chất là sào huyệt lâu đời nhất của bọn khủng bố quốc tế. Chỉ khi nào đông đảo giáo dân nhận ra chân tướng thật sự của bọn khủng bố quốc tế cáo già này thì cái sào huyệt của nó là Vatican mới bị hủy diệt. Nhờ vào cái lòng mê muội cuồng tín của tín đồ mà giáo hoàng đã trở thành một nhân vật “độc đáo” nhất thế giới.

 

Đầu năm 2000, Tạp Chí Life cho ra đời một cuốn sách khổ lớn với đầy đủ hình ảnh từ nhỏ tới lớn của Jean Paul II (giáo hoàng hiện tại) mang tựa đề Pope John Paul II, a tribute. Cuốn sách này liệt kê thành tích của Jean Paul II từ năm nhận chức giáo hòang 1978 đến 31.12.1999 như sau:

 

– Giáo hoàng du lịch tổng cộng 670.878 dặm Anh (hơn 1 triệu 80 ngàn km).

– Hành hương nước ngoài 84 lần, trong nước Ý 134 địa điểm.

– Viết hoặc nhờ người khác viết 600 diễn văn, 877 bài thuyết giảng trước số thính giả tổng cộng là 14 triệu.

– Tiếp tân tại Vatican 15.000 thượng khách.

– Phong chức cho 2650 giám mục và tổng giám mục, chiếm trên phân nửa số giám mục hiện có trên thế giới.

– Đặc biệt nhất là một mình Jean Paul II đã sản xuất ra 280 ông thánh mới cho giáo hội Công Giáo.

Muốn được làm thánh [Mấy giáo dân Việt Nam bị giết vì tội bán nước cũng được phong thánh vì lý do chính trị, thánh là miếng mồi để xúi giáo dân nỗi loạn. ] Công Giáo phải hội đủ ba điều kiện: phải là người đã chết và phải được giáo hoàng tấn phong. Vinh dự của các thánh là được giáo dân tôn kính và cầu nguyện như thần linh. Cả ba điều này đều trái với Thánh Kinh vì theo Thánh Kinh, giáo dân không được cầu ai ngoài cầu Chúa. Thánh Kinh ngăn cấm việc liên lạc với người chết (All attempts to commune with the dead are condemned-Isaiah 8:19). Các thánh chỉ được Chúa là đấng duy nhất công nhận mà thôi và không cần một người nào ở thế gian công nhận. Danh từ “thánh thiện” được tự điển định nghĩa là “có tính vị tha trọn vẹn” (Saint: completely unselfish) chẳng có liên quan gì đến tôn giáo. Sống ngoài tôn giáo, con người vẫn có thể trở nên thánh thiện. Đứng đầu giáo hội vẫn có thể là một đứa mất dạy như thường.

 

Công Giáo có rất nhiều thánh bổn mạng cho từng nhóm người, chẳng hạn như: thánh Nicholas quan thầy những kẻ nghiện rượu, Thánh Gerard quan thầy các bà mang bầu, Thánh Anthony quan thầy các kẻ bị mất trộm. Thánh Hilary quan thầy các kẻ bị rắn cắn. Hiện nay người ta đang vận động Tòa Thánh tôn vinh Saint Clare làm quan thầy cho các nhà sản xuất máy TV!

 

Nói chung, các thánh Công Giáo đều là các người thiên cổ. Chỉ có một loại “thánh” sống ngoại lệ gọi là “Đức Thánh Cha”, tức giáo hoàng mà thôi.

 

5. Cha con GIÁO HOÀNG ALEXANDER VI và Chủ Nghĩa Bá Đạo

 

Vị thánh sống Công Giáo đứng đầu giáo hội trong các năm 1492-1503 là Đức Thánh Cha Borgia Alexander VI chiếm kỷ lục quốc tế về các môn dâm tặc và loạn luân. Y hoàn toàn bỏ ngoài tai mọi lời đàm tiếu. Linh Mục Jérome Savonarole xúi dân Florence nổi loạn chống giáo hoàng năm 1497 đã bị giáo hoàng đem quân đến dẹp tan. Linh Mục Jérome và 3 đồ đệ bị bắt trói vào cọc thiêu sống ngày 23.5.1498. Con trai của “Đức Thánh Cha Borgia” là ông hoàng Caesar được Machiavel coi là người mẫu lý tưởng cho tác phẩm Le Prince (Quân Vương). Machiavel gọi ông hoàng Cesar là “một thú dữ lớn hoàn hảo”, “một quái vật duyên dáng”. Đó là một mẫu người phạm tội ác đến mức mọi người phải… ngưỡng mộ! Caesar và Giáo Hoàng Alexander VI đã là nguồn cảm hứng khiến cho Machiavel phải bỏ ra 15 năm tự giam mình trong căn phòng cô đơn để đọc sách nghiên cứu viết ra tác phẩm Il Principe, tiếng Ý có nghĩa là “Quân Vương”. Machiavel quan niệm giáo hội Công Giáo là một vương quốc. Kẻ đứng đầu giáo hội hay đứng đầu quốc gia đều là quân vương.

 

Cả giáo hoàng lẫn hoàng tử Caesar đều là những kẻ vô thần, bất cần sự cứu rỗi đời đời. Quan tâm hàng đầu là làm sao chiếm giữ vương quốc trên thế gian để được hưởng mọi loại thú vui: thú vui xác thịt phải được thỏa mãn tối đa dù với bất cứ một người đàn bà nào mà cha con ông ta muốn, bất kể là ai. Thú vui thẩm mỹ với các tượng điêu khắc, tranh nghệ thuật xây cất cung điện nguy nga và các đền thờ vĩ đại như đền Thánh Phêrô chẳng hạn, cốt để lưu danh muôn thuở. Không loại trừ cả thú vui trí thức: tìm một triết lý sống, một nghệ thuật thống trị và bành trướng quyền lực. Alexander có sáng kiến xâm lược vùng đất mới tại Châu Mỹ để vơ vét vàng và tài nguyên làm giàu…

 

Cả hai cha con Giáo Hoàng Alexander VI đã đưa tội ác lên cao tới mức nghệ thuật khiến thiên hạ phải khâm phục vì người ta thấy dường như có cả một sự thẩm mỹ trong tội ác.

 

Nghiên cứu trường hợp của hai cha con giáo Hoàng Alexander VI, Machiavel tự hỏi: Bản chất vương quốc là gì? Làm thế nào để chiếm nó? Làm thế nào để giữ nó? Và tại sao người ta đã mất nó?

 

Machiavel đọc các sách cổ kim có thể có được để nghiền ngẫm tìm ra các câu trả lời cho những vấn đề trên. Theo ông, vương quốc là sản phẩm của sức mạnh. (Nền văn minh Kitô Giáo là nền văn minh dựa trên chủ thuyết sức mạnh). Dùng mọi biện pháp của sức mạnh để chiếm đoạt cho được vương quốc. Mọi sự giả vờ, lường gạt, tàn bạo, nhất là chiến tranh là những đối tượng mà quân vương phải luôn luôn để tâm suy nghĩ. Đó là nghề nghiệp của quân vương. Am tường mọi nghệ thuật về chiến tranh là phương cách tốt nhất để tiếm chiếm quyền hành. Người ta chỉ có thể thủ đắc vương quốc (đế quốc lãnh thổ hoặc đế quốc tinh thần như Vatican cũng vậy) là do sự quyết tâm, tài năng, sự kiên trì và sự bạo tợn dám làm. Quân vương phải là người biết xử dụng vũ khí của mình và vũ khí của kẻ khác, phải có âm mưu để thủ đắc vương quốc với sự đồng ý hoặc cả với sự không đồng ý của nhân dân. Machiavel phủ nhận số phận. Ông cho rằng “số phận” chỉ có ở nơi nào người ta không dự liệu các biện pháp để chống lại nó mà thôi. Với tài năng, người ta có thể chiến thắng để xóa bỏ số phận. Machiavel quan niệm “nhân dân” là một tập thể luôn luôn thay đổi lập trường vì rất dễ bị thuyết phục và không có ai duy trì được lâu dài sự tin tưởng của nhân dân đối với quân vương, vì vậy phải dùng bạo lực với nhân dân. Các quân vương đều đã duy trì được luật pháp của mình bằng vũ khí, không có phương tiện bạo lực thì không ép buộc được ai. Dùng sức mạnh , để duy trì niềm tin của quần chúng và nhờ sức mạnh, quân vương sẽ dành được lợi thế để có quyền hành, được hạnh phúc và được kính trọng lâu dài, dù cho quân vương là một kẻ vô đạo đức.

 

Qua tác phẩm Quân Vương (The Prince), Machiavel đã hết lời ca tụng Caesar Borgia. Trong thực tế, Caesar Borgia đã bị mất ngôi một cách buồn thảm. Cha của Caesar Borgia là Giáo Hoàng Alexander VI bị đầu độc chết, mọi người lảng tránh để xác của ông sình thối nhiều ngày mới được đem chôn. Hai cha con Giáo Hoàng Alexander trở thành biểu tượng của sự vô luân, sự tàn bạo và sự gian xảo cùng cực chưa từng thấy.

 

Tuy nhiên, giới quí tộc bảo hoàng rút ra từ đó một bài học: “Hãy tạo ra một quân vương từ uy thế của một người trong hoàng tộc để rồi núp sau lưng quân vương mà thỏa mãn mọi cao vọng”. Trong trường hợp vương quốc của giáo hội thì giới quí tộc bảo hoàng này chính là tập đoàn tu sĩ..

 

Giáo Hoàng Alexander VI chết năm 1503 nên đã không có cơ hội đọc tác phẩm “The Prince” của Machiavel ca ngợi: Alenxander VI đã nới rộng lãnh thổ nhờ sức mạnh. Người ta phải hy vọng rằng ông có thể làm cho lãnh thổ này lớn hơn nhiều và đáng kính hơn nhiều”. Cuối chương XI của tác phẩm). Nghiên cứu về hoàng tộc nước pháp, Machiavel viết: “Quân vương được vây quanh bởi những nhà quí tộc. Giới quí tộc nắm quyền không phải do đặc ân của quân vương mà do sự lâu đời của dòng dõi mình”. Machiavel chỉ cho các người muốn làm chính trị phải biết “Không có cái gì lúc nào cũng tốt và không có cái gì lúc nào cũng xấu mà tốt hay xấu là tùy lúc”. Quân vương có thể là vô thần nhưng cần phải tỏ ra sùng đạo. Quân vương có thể là nham hiểm ác độc nhưng phải tỏ ra rộng lượng, thương người, giữ lời hứa, cứng rắn, can đảm, vui vẻ, liêm khiết… Nói tóm lại, quân vương phải cùng một lúc vừa là một con cáo, vừa là một con sư tử. Làm cáo để biết mọi cạm bẫy giăng ra hại mình và làm sư tử để mọi con cáo khác phải biết sợ mình. Quân vương cần phải biết làm cho mọi người phải sợ mình hơn là thương mình. Muốn duy trì quốc gia, phải đi ngược lại với đức bác ái và chống lại tôn giáo khi không còn lợi dụng được nó. Khi có thể được thì đi theo con đường thiện. Khi cần, phải biết dấn thân vào con đường ác.

 

Tác phẩm The Prince của Machiavel chỉ là một cuốn sách mỏng nhưng là kết quả của 15 năm làm việc miệt mài khổ công của tác giả. Ngày 22.6.1527, Machiavel qua đời, thọ 58 tuổi. Khi ông chết, chẳng một ai biết tới tác phẩm của ông. Bốn năm sau khi ông chết, Giáo Hoàng Clement VII (1531) cho xuất bản “Quân Vương”. Từ đó, sách này được in ra và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Cả thế giới bình luận ồn ào, có kẻ ca ngợi là tuyệt tác phẩm chính trị, kẻ khác lại kết tội “Quân Vương” là cuốn sách dơ dáy tội lỗi được viết bởi ác quỉ. Có lẽ J. J. Rousseau là người đưa ra nhận xét đúng nhất: “Quân Vương là con dao hai lưỡi, một mặt nó giúp cho quân vương chiếm quyền hành nhưng mặt khác nó giúp cho quần chúng thấy được các thủ đoạn của quân vương!”

 

Từ đầu thế kỷ 17, tại Âu châu, cuốn sách “Quân Vương” trở thành một quái vật huyền thoại. Hầu như mọi vua chúa và cận thần đều say mê đọc và nghiền ngẫm cuốn sách mỏng này. Không ai có thể ngờ ảnh hưởng của nó đã làm thay đổi cả lịch sử loài người với nhiều chuyện buồn hơn là vui.

 

Năm 1614, Richelieu là hồng y giáo chủ kiêm thủ tướng nước Pháp ra lệnh cho tu sĩ Machon viết sách ca ngợi Machiavel. Năm 1787, chính phủ Ý cải mộ của Machiavel đem về an táng tại nghĩa trang quốc gia để nắm xương của ông được nằm bên cạnh các vĩ nhân Dante, Galilee, Michel Ange, Rossini và trên mộ của Machiavel được khắc dòng chữ “Không có lời ca ngợi nào xứng đáng với tên ông”.

 

Quả vậy, tên của ông đã tạo ra một lô danh từ trong các tự điển của mọi nước Âu Mỹ: Machiavelism, Machiavelic, Machiavelian… có nghĩa là chính sách xảo quyệt, xảo trá, nham hiểm, ác độc. Có một điều không ai phủ nhận, tác phẩm “Quân Vương” đã là sách gối đầu giường của các bạo chúa từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Từ Richelieu đến Napoléon đều dùng sách của Machiavel để hoạch định chiến lược. Thậm chí khi Napoléon bị thất trận tại Waterloo, người ta đã phát giác ra trên xe của Napoléon có dán nhiều mảnh giấy chép lại nhiều đoạn trong sách Quân Vương.

 

Năm 1924, Mussolini dựa vào sách Quân Vương để phát minh ra Chủ nghĩa Phát Xít. Moussolini tuyên bố: “tôi xác nhận rằng lý thuyết của Machiavel ngày nay còn sống mạnh hơn 4 thế kỷ qua”. Hitler cũng là đệ tử của Machiavel. Sau thế chiến thứ hai, người ta mới nhận rõ hơn khuôn mặt ghê tởm của chủ nghĩa Machiavel qua tham vọng nô lệ hóa thế giới của Hitler. Qua cuốn sách của Arthur Koesler, người ta mới biết cả Stalin cũng luôn luôn giữ ở đầu giường một cuốn Quân Vương.

 

Tóm lại, Machiavel đã đào tạo ra một loạt các bạo chúa nham hiểm ác độc trong 4 thế kỷ qua mà khuôn mẫu của nó là cha con Giáo Hoàng Alexander VI thuộc thế kỷ 16. Đó là một quan niệm về đạo đức chính trị dựa trên căn bản của nền văn hóa du mục phi nhân bản phát xuất từ Babylon. Nền văn hóa du mục Babylon thấm qua đạo Do Thái của Abraham, Moses, xâm nhập vào Kitô Giáo và phát triển cao độ nơi đạo Công Giáo mà trung tâm quyền lực của giáo hội này nằm tại Vatican. Từ cái đầu của con bạch tuộc tại Vatican, các chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa Phát xít Đức Quốc Xã, quân chủ chuyên chế, thậm chí chủ nghĩa Cộng Sản của Lenin hay Stalin chỉ là những cái vòi của con bạch tuộc Vatican. Rồi từ cái vòi Cộng Sản Nga Phát sinh ra những cái ống hút nhỏ như Mao Trạch Đông, Pol Pot…. Tất cả các bạo chúa này thực chất là những đệ tử hạng bét của Vatican mà họ không biết.

 

Chủ nghĩa Cộng Sản ghê như vậy cũng chỉ tồn tại được hơn 70 năm. Vậy mà giáo hội của Constantine đã tồn tại và tác oai tác quái ròng rã trên 16 thế kỷ, mà tới nay, đa số nhân loại còn chưa nhận ra được chân tướng của nó, đủ thấy Vatican siêu đẳng cỡ nào? Vatican thực sự là đỉnh cao trí tuệ loài người về phương diện triết học và văn hóa phi nhân bản. Nền văn hóa phi nhân bản xuất phát từ Babylon đã được ghi nhận là hết sức độc hại trong sách kinh Tân Ước viết: “Huyền thoại Babylon vĩ đại là mẹ của các con điếm và mọi chuyện ghê gớm của trái đất này” (MYSTERY BABYLON THE GREAT, THE MOTHER OF HARLOTS AND ABOMINATIONS OF THE EARTH – Rev. 17: 1-16).

 

6. LỜI KẾT

 

Cả thế giới ngày nay đã đau khổ quá nhiều do hậu quả của nền văn hóa phi nhân bản. Lương tâm và lương tri nhân loại cần phải đi tìm một nền văn hóa nhân bản phục vụ hạnh phúc con người. Thật ra, từ trước Công Nguyên, Hy Lạp đã có một nền văn minh khoa học rất cao và một triết học nhân bản rất tốt đẹp nhưng đã bị đế quốc La Mã thiêu hủy hết các sách của Hy Lạp làm cho cả Âu Châu phải chìm đắm trong thời đại đen tối (The Dark Age) nhiều thế kỷ. Sự mê tín hoành hành khắp lục địa Âu Châu, Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên giữa các lãnh chúa trong thời Trung cổ làm cho các thành phố phần lớn bị đổ nát, các đường sá mọc đầy cỏ dại. Các ngành thương mại bị tê liệt. Toàn dân Châu Âu phải qui tụ lại với nhau để tự bảo vệ trong các làng mạc hẻo lánh hay các tỉnh nhỏ ở thôn quê. Họ sống bằng nghề nông với thu nhập nhỏ khiến đời sống vô cùng chật vật. Đời sống càng thêm khốn khổ do luôn luôn phải đối đầu chiến tranh, bệnh tật và nạn đói.

 

Từ thế kỷ 8, Âu Châu được chia thành nhiều nước nhỏ, mỗi nước chia thành nhiều thái ấp (fiefs) hoặc chư hầu (vassals). Hệ thống xã hội này được gọi là phong kiến (Feudalism) kéo dài từ thế kỷ 8 đến 13. Dân chúng trở thành các nông nô làm việc cơ cực ở đồng ruộng để nộp hoa lợi cho lãnh chúa. Trong khi đó các lãnh chúa thường xuyên gây chiến tranh với nhau để duy trì quyền lực và quyền lợi riêng. Suốt trong các thế kỷ này của thời Đại Đen Tối, giáo hội Công Giáo La Mã là “lực lượng tinh thần” tối cao vượt trên mọi lãnh chúa. Toàn thể dân chúng cực khổ hướng về giáo hội để tìm đường giải thoát đau khổ bằng cách cầu nguyện Chúa và vâng lời Tòa Thánh. Dân chúng không còn ai lưu tâm gì đến các vấn đề thế giới bên ngoài hoặc để ý tìm hiểu vũ trụ. Vả lại, vào thời đó dân chúng không có thể kiếm ra sách để đọc vì các cổ thư đều được chép bằng tay công phu và rất hiếm. Tuyệt đại đa số dân chúng đều mù chữ, chỉ có giới quí tộc và tu sĩ biết đọc biết viết mà thôi. Mọi ngành văn học và nghệ thuật đều hướng vào việc ca ngợi Chúa và các “thánh” của giáo hội. Các sách đều được giấu trong các tu viện, dấu nhẹm mọi kiến thức khoa học, đàn áp mọi sáng kiến hoặc khám phá vũ trụ đi ngược lại Thánh Kinh. Toàn dân Âu Châu thời đó đều được giáo dục bằng những kiến thức lệch lạc. Mọi người đều tin trái đất phẳng và mặt trời xoay quanh trái đất. Ai sinh ra đời cũng mắc tội tổ tông, cần phải có ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và cần có tu sĩ coi sóc phần linh hồn. Mọi vật trong vũ trụ được cấu tạo bằng 4 yếu tố: đất, nước, không khí và lửa! Các học giả trí thức chỉ thích bàn về thần học và đoán mò về thánh ý của Đức Chúa Trời.

 

Đầu thế kỷ 14, bắt đầu có phong trào xét duyệt lại các giá trị của văn minh Kitô giáo. Học giả và trí thức Tây phương cố gắng moi tìm lại trong quá khứ cổ xưa của Hy Lạp cái kho tàng nghệ thuật, khoa học và triết học đã bị thất lạc. Thời kỳ này kéo dài từ thế kỷ 14 đến 17, được gọi là Thời Kỳ Phục Hưng (The Renaissance) có nghĩa là Sự Tái Sinh của nền văn hóa cổ. Người đầu tiên khai sáng Phong Trào Phục Hưng ở Âu Châu là học giả Ý tên Petrarch (1304-1374). Ông rất thông thạo tiếng Hy Lạp và đã nhờ bạn bè đi khắp nơi mua về cho ông các cổ thư Hy Lạp còn sót lại. Cuối cùng ông lập được một thư viện và kêu gọi mọi học giả đến nghiên cứu. Ông quan niệm: Sách là kho tàng ghi tiếng nói của các bậc khôn ngoan, các bài kinh nghiệm của lịch sử, các tư tưởng về luân lý, tôn giáo, luật pháp và toàn bộ nền văn minh của con người. Sách là ký ức của quá khứ. Không có sách, không có chỗ đứng để đi lên, không có gương sáng để theo và gương xấu để tránh…. Dần dần, Petrarch và các bạn học giả của ông khám phá ra rằng: Hầu hết các bản dịch của các tu sĩ đều sai lầm và bịa đặt. Họ càng nghiên cứu càng thán phục nền văn minh cổ Hy Lạp. Do đó, tư tưởng của các trí thức Âu Châu bắt đầu thay đổi. Thay vì cúi đầu vào Thánh Kinh, họ ngẩng đầu lên quan sát vũ trụ và thế giới. Họ bắt đầu đưa ra các giả thuyết, sau đó trắc nghiệm để dần dần đi tới kết luận. Sự thay đổi não trạng của trí thức Âu Châu đã sản xuất ra nhiều triết nhân có khuynh hướng nhân bản. Họ coi ý kiến của mọi cá nhân là quan trọng và họ đòi hỏi mọi người phải có quyền tự do phát biểu tư tưởng. Họ vạch ra cho mọi người thấy rằng sự tranh luận tự do giữa mọi người sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Cái thói quen ngoan ngoãn tuyệt đối vâng lời các giáo sĩ và giáo hội mà không thắc mắc gì cả là đầu mối của sự mê muội và dìm xã hội trong bóng tối tâm linh.

 

Họ chủ trương luật pháp là sản phẩm của con người nên con người có quyền thay đổi. Chẳng có luật nào là luật của Chúa mà con người không có quyền thay đổi cả. Lập luận này nhắm vào việc đả phá giáo hội Công Giáo vốn có truyền thống cho rằng mọi giáo điều là luật của Chúa có giá trị bất di bất dịch. Chống lại giáo điều và giáo luật không thể bị lên án là chống lại Thiên Chúa vì đó chỉ là cái cớ giả tạo để giáo hội đưa các kẻ chống đối lên dàn hỏa mà thôi. (The Renaissance, by Tim Wood Pinguin Book. 1993).

 

Các học giả Tây phương tiếp tục đào sâu khám phá kho tàng kiến thức của cổ Hy Lạp đều đã nhận ra các tội ác lớn lao của đế quốc La Mã chỉ vì muốn dấu tung tích ngụy tạo của đạo Công Giáo mà ra tay hủy diệt mọi kho sách cổ Hy Lạp khiến cho nền văn minh nhân loại bị chậm lại trên 10 thế kỷ. Đặc tính của La Mã là nhiều tham vọng và tàn bạo. Đặc tính của người Hy Lạp là yêu sự học hỏi (the Hellenic love of learning).

 

Từ thế kỷ 6 trước Công Nguyên, Pythagore đã dạy cho biết trái đất tròn và quay chung quanh mặt trời. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, Aristarchus đã vẽ hệ thống thái dương hệ với mặt trời ở trung tâm (heliocentric theory) như Copernicus của thế kỷ 19! Cũng trong thế kỷ 3 trước Công Nguyên, Erathosthenes đã ước tính gần đúng chu vi trái đất. Trong thế kỷ thứ 5 sau Công Nguyên, Democritus và Leucippus đưa ra thuyết nguyên tử của vật chất (the atomic theory of matter) và tiến hóa của sự sống (the evolutionary theory of life) tương tự như Einstein và Darwin!

 

Sử gia Lloyd M. Graham viết: “Thế giới Kitô Giáo từ chối khoa học và triết học Hy Lạp, tất cả kho học vấn cổ này bị đốt ở nơi công cộng. Điều đó còn tệ hại hơn cả tội ác. Đó là tội của các tổ phụ của đạo Kitô di hại đến ngày nay. Vì cái tội ác này mà ánh sáng của Hy Lạp đã phải tắt đi từ Arisarchus đến Copernicus, từ Aristotle đến Bacon, từ Dimocritus đến Darwin…” (The Christian world renounced Greek Science and philosophy for this all ancient learning was burned in the marketplace. It is worse than a crime. Thus are the sins of the Christian Fathers visited to the present time. But for this crime the light of Greek might have burned on from Aristarchus to Copernicus, from Aristotle to Bacon and from Democritus to Darwin – Deceptions and Myths of the Bible, page 450).

 

Tội ác của Đế Quốc La Mã, tổ phụ đích thực của đạo Công Giáo, là hủy diệt nền văn hóa nhân bản Hy Lạp để phát triển văn hóa du mục phi nhân bản của Babylon – Do Thái, tràn ra khắp Âu Châu và thế giới. Văn hóa du mục phi nhân bản của “Babylon – Do Thái” chú trọng đến việc phụng sự thần linh và sẵn sàng hy sinh con người (như Abraham giết con trai duy nhất của mình là Issaac) để tế thần. Đạo thờ thần Bal của Babylon tế thần bằng người sống rồi chia nhau ăn thịt. Cũng tương tự như Công Giáo lên rước lễ ăn bánh thánh (thịt Chúa) hay rượu (máu Chúa). Các tôn giáo xuất phát từ huyền thoại Babylon như Do Thái Giáo, Kitô Giáo (gồm cả Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống) và Hồi Giáo đều lấy Cựu Ước Do Thái làm căn bản và đều có đặc tính hiếu thắng và hiếu sát. Gọi chung các đạo này là đạo Thiên Chúa hay Độc Thần Giáo (Monotheism) và có lẽ chính xác nhất là nên gọi chung là Đạo Uống Máu Ăn Thịt Người.

 

Ngày nay, người Tây Phương đã nhận ra điều đó và họ đã tăng cường công tác giáo dục đồng bào họ bằng cách viết ra rất nhiều sách báo để soi sáng tâm linh. Nhờ vậy chúng ta hiện sẵn có rất nhiều tài liệu học hỏi để soi sáng tâm linh của mình và tôi ước mong những gì tôi đã viết sẽ mang lại đôi điều ích lợi cho đồng bào đồng đạo của tôi, trong đó có những người thân yêu nhất của tôi là vợ con, anh em, chị em tôi. Tôi không mong điều gì khác hơn là mọi người Công Giáo hãy bắt đầu sự nghi ngờ để rồi từ đó rà xét lại niềm tin của mình. Hãy biết nghi ngờ về sự thánh thiện của Tòa Thánh Vatican và giáo hoàng. Vì thật sự tất cả chỉ là giả tạo. Bên trong tòa thánh và bản thân giáo hoàng đầy dẫy những chuyện thối tha bẩn thỉu còn ghê tởm hơn các triều đình thế gian. Những màn giáo hoàng ban phép lành tại Tòa Thánh cho các đám đông ở Vatican chỉ là những màn giả tạo để quay phim chụp ảnh. Các ký giả chuyên săn tin Vatican gọi đó là các màn “Shows tailor-made for video”. Các hồng y da đen chẳng có chức vụ gì thật ở Vatican ngoài cái nhiệm vụ chính yếu là đi qua đi lại ở công trường Thánh Phêrô cho thiên hạ chụp ảnh quay phim để chứng tỏ giáo hội không kỳ thị chủng tộc. Sự thật, Vatican là cái gốc xua đẩy bọn thực dân da trắng Âu Châu đi bắt dân da đen ở Phi Châu về làm nô lệ trong những thế kỷ qua. Cựu Linh Mục dòng Tên Peter de Rosa, tác giả Vicars of Christ, đã phải thốt lên “Vatican là cái xưởng sản xuất đồ giả lớn nhất thế giới”. (Vatican is the largest document – forgery – factory of the world).

 

Tổ tiên của chúng ta đã dạy: chỉ có cái thật mới phát sinh ra sự tốt lành, sự thật và sự lành sinh ra cái đẹp: chân, thiện, mỹ.

 

Vatican là trung tâm của sự gian trá không thể nào có được sự thiện lành. Sự gian trá chỉ có thể sinh ra tội ác xấu xa. Trên đời này chỉ có sự “gian ác” đối nghịch với sự “ngay lành” mà thôi. Cuối cùng sự thiện lành sẽ chiến thắng sự gian ác, dù cho kẻ gian ác khôn ngoan và quỉ quyệt đêᮍ đâu!

 

Từ cổ chí kim, các bậc minh triết của nhân loại đã băn khoăn rất nhiều về sự thật. Họ đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm để chúng ta học hỏi. Tất cả đều chỉ cho chúng ta thấy rằng: muốn có cuộc sống hòa bình hạnh phúc tốt đẹp, chúng ta phải bắt đầu bằng lòng yêu sự thật, bởi lẽ phải có CHÂN trước hết rồi mới có thể có THIỆN và MỸ. Nhà tư tưởng nổi tiếng vào thế kỷ 17 gốc Do Thái là Spinoza (1632-1677) được coi là một trong những triết gia vĩ đại nhất của Tây Phương và được xếp ngang hàng với Lão Tử của triết học Đông phương, đã viết: “Không có gì có giá trị hơn tình bạn với những người chân thành yêu sự thật vì không có gì ngoài sự thật có khả năng đoàn kết được mọi ý kiến dị biệt và mọi tính tình khác nhau”. (I value nothing more than friendship with people who sincerely love the truth… since nothing but truth can unite different opinions and temperaments – The Enlightened Mind – Harper-Collins Pub. 1991, page 142).

 

Dù cho chúng ta hiện đang ở trong một nhóm thiểu số giữa một tập thể đông đảo đang hùa theo một tà thuyết hay một tà đạo, chúng ta hãy can đảm chiến đấu cho “cái lý của sự thật”. Cổ nhân thường nói “Vạn sự nhất lý”. Dù chúng ta chỉ là một nhóm rất nhỏ nhưng một khi đã nắm được cái lý do, chúng ta sẽ trở nên những người có sức mạnh vô địch. Cái lý của sự thật sẽ giúp chúng ta vượt thắng mọi trở ngại khó khăn để đạt tới thắng lợi vẻ vang cuối cùng. Trong lịch sử nhân loại, nhiều thế lực gian ác đã có một thời hùng mạnh, nhưng cuối cùng “không có thế lực nào có thể mạnh hơn sự thật”. (There is nothing powerful than truth – Daniel Webster 1930). Dù cho sự thật có bị các thế lực gian ác đè bẹp tới sát mặt đất chăng nữa, cuối cùng sự thật sẽ lại vươn lên (Truth crushed to earth shall raise again – William Cullen Bryant 1839). Nhiều triết gia yêu sự thật còn hơn cả ái tình tiền tài danh vọng (Rather than love, than money, than fame, give me truth (Henry Thoreau, 1817-1862). Tất cả chỉ vì một nguyên do: Sự thật là quyền năng và sẽ chiến thắng tất cả (Truth is mighty and will prevail – Đại văn hào Mark Twain).

 

Tuy nhiên, trong khi chiến đấu cho sự thật, chúng ta cũng phải trả giá cho lòng yêu sự thật. Người chiến đấu cho sự thật luôn luôn bị những kẻ gian ác rắp tâm hãm hại và đe dọa sự an toàn thân mạng. Nhưng các chiến sĩ chiến đấu cho sự thật hãy bền gan vì những người chân thật luôn luôn là những người có lòng nhân ái lớn lao. Đó chính là đức từ bi mà Đức Phật đã dạy. Một khi đã có đức BI tất sẽ có TRÍ và DŨNG. Những người thiện lành yêu mến sự thật sẽ được “Thượng Đế” [Không nên hiểu chữ Thượng Đế như người Kitô giáo.] soi sáng và ban sức mạnh tinh thần hết sức dồi dào để chiến thắng mọi loại quỉ vương.

 

Vào thế kỷ 18, văn hào chống Công Giáo số một tại Pháp là Voltaire đã nói lên kinh nghiệm của mình: “Hãy nói lên sự thật rồi chạy trốn để có an toàn” (Tell the truth and run). Voltaire đã trở nên người lãnh đạo hàng đầu của Phong Trào Soi Sáng tại Âu Châu vào thế kỷ 18 (The enlightenment). Tư tưởng của ông là một trong những nguyên nhân dẫn đến hai cuộc cách mạng lớn giải phóng con người là cuộc cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 và Cách Mạng Pháp 1789. Cựu Tổng Thống Mỹ Truman cũng cho chúng ta một kinh nghiệm là những thế lực tội ác có thể sẽ kết án chúng ta đã đẩy họ vào hỏa ngục. Nhưng thật ra, “chúng ta chẳng có ý đẩy ai xuống địa ngục cả, chúng ta chỉ muốn nói lên sự thật mà thôi”. (I never give them hell, I just tell the truth and they think it is hell!)

 

Đến đây, xin quí độc giả cho phép tôi được mở dấu ngoặc để nói lên một kinh nghiệm bản thân. Tôi vốn được giáo dục trong nền văn hóa Công Giáo từ nhỏ đến lớn nhưng cuối cùng tôi đã phải giã từ cái tôn giáo lâu đời của gia tộc mình.

 

Cuộc hành trình đi đến chỗ bỏ đạo này khởi đầu từ sự nghi ngờ về cái giá trị chân thực của các tín lý và giáo điều của đạo Công Giáo. Tôi cố gắng vận dụng lý trí và đồng thời tìm đến các tài liệu khách quan có giá trị cao để soi rọi vào niềm tin cố hữu của mình. Tôi như một con bệnh tâm trí dần dần được phục hồi để tìm đường về với sự thật. Động cơ thúc đẩy tôi mạnh mẽ nhất là lòng thiết tha yêu mến sự thật và sẵn sàng chết cho sự thật. Sở dĩ tôi cố gắng viết ra những điều này không nhằm mục tiêu nào khác hơn là giúp những người cùng cảnh ngộ có một tài liệu để tự suy nghiệm về niềm tin của mình. Tôi thành khẩn mong những người đó không phải phí thì giờ và công sức đi tìm các tài liệu này.

 

Mới đây, tôi đọc được lời Phật dạy rất hợp với hoàn cảnh của tôi đã khiến tôi vui sướng vô cùng. Phật dạy rằng: “Sự nghi ngờ là chính đáng. Đừng để cho các sách thánh dẫn dắt bởi uy quyền của các vị thầy của các tôn giáo. Khi nhận ra điều gì xấu xa và không xứng hợp với mình thì hãy dứt bỏ nó. Và khi nhận ra điều gì là tốt và xứng hợp thì hãy làm điều đó. Hãy là ngọn đèn tự soi sáng mình. Hãy duy trì sự thật trong mình và chỉ vì sự thật mà thôi”. (It is proper to doubt. Do not be led by Holy Scriptures… But when you realize that something is unwholesome and bad for you, give it up. And when you realize that something is wholesome and good for you do it… Be a lamp to yourself. Be your own confidence. Hold to the truth within yourself, as to the only truth – The Buddha – The enlightenment Mind by Stephen Mitchell, Harper Perennial 1991, page 10-11).

 

Tôi rất yêu những lời sau đây của vị Phật Sống Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Một người có đức tin tôn giáo hay không cũng không quan trọng cho lắm. Điều quan trọng hơn nữa chính là họ phải là người thiện lành… Không có một tôn giáo nào thỏa mãn được toàn thể nhân loại. Chúng ta có thể kết luận rằng: Loài người có thể sống khá tốt đẹp mà không cần phải cần đến tín ngưỡng. Điều đó có vẻ như một xác nhận bất thường khi sự xác nhận đó đến từ một nhân vật tôn giáo… Là một con người, tôi có trách nhiệm lớn lao hơn nữa đối với toàn thể “gia đình nhân loại” – mà thật sự chúng ta đều có. Và bởi vì đa số không thực hành tôn giáo cho nên tôi cố gắng tìm ra một con đường phục vụ toàn nhân loại mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng”. (Đạo Lý Cho Thiên Niên Kỷ Mới – Linh Thụy chuyển ngữ. Văn Nghệ xuất bản 1999, trang 33-35).

 

Mọi người thân yêu nhất của tôi đều đang có niềm tin Công Giáo. Tôi không có một lý do nào để căm thù cái đạo gốc của mình. Tuy nhiên, tôi không thể nào chấp nhận được cái thói cao ngạo láo xược của đại đa số tu sĩ Công Giáo luôn luôn cho rằng chỉ có Công Giáo là duy nhất thánh thiện, duy nhất đúng đắn. Họ gọi mọi tôn giáo khác là các đạo thờ quỉ. Sự thật chẳng có tôn giáo nào thờ quỉ cả vì theo giáo lý Công Giáo Quỉ là kẻ bị Chúa phạt đày xuống hỏa ngục. Như vậy, quỉ là kẻ thất bại và bị tước đoạt mọi quyền năng. Liệu có ai ngu xuẩn để tôn thờ một kẻ không còn quyền năng gì mà còn đang bị giam trong lửa hỏa ngục? Các tu sĩ Công Giáo thường có thói quen gọi các đạo khác là “bụt thần ma quỉ” chẳng qua chỉ muốn dùng danh từ này để nhục mạ các tôn giáo khác, nhất là để nhục mạ đạo Phật.

 

Nếu các tôn giáo khác có ai gọi Công Giáo là đạo thờ quỉ, chắc chắn Công Giáo sẽ gây thánh chiến thật thảm khốc chống lại tôn giáo đó. Vậy mà trong các sách kinh Công Giáo vẫn còn chình ình rất nhiều những câu kinh nhục mạ các tôn giáo khác. Thật là một sự tự cao tự đại một cách trơ trẻn và không sáng suốt.

 

Sự tự cao tự đại đó ai cũng có thể nhận thấy rõ ràng khiến cho các tu sĩ Công Giáo không thể chối cãi. Nhưng cái tội ác của giáo hội Công Giáo ở chỗ đã nhân danh cái quyền tự phong là “độc quyền chân lý” để tàn sát các đạo khác bằng các cuộc “thánh chiến” [Chiến tranh là chết người, là đau khổ thì không thể gọi là thánh được.] đẫm máu và bằng các tòa án tôn giáo đưa hàng triệu người lên dàn hỏa để thiêu sống trong nhiều thế kỷ qua là một tội ác không thể không nguyền rủa.

 

Sau 40 năm chuyên nghiên cứu về Kitô Giáo, giáo sư cựu linh mục Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan John Dominic Crossan, đã từng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Hoa Kỳ, tác giả tác phẩm best sellers “The Historical Jesus” và “Who is Jesus” đã viết về giáo hội Công Giáo như sau: “Con đường độc đạo chỉ có ta là duy nhất tuyệt đối đúng có nghĩa là tất cả nọi người khác đều phải chết”. (One way I alone can be absolutely right is for all others to be dead – “Who is Jesus” Harper – Collines 1996, page 30). Công Giáo La Mã có quyền gì mà dám nhân danh thần linh để hủy diệt mọi người không chấp nhận các tín điều bậy bạ vô luân của Công Giáo. Chỉ có Công Giáo là một thứ đạo khốn nạn và phi nhân nhất trong lịch sử loài người mới có cái thái độ đáng nguyền rủa đó mà thôi. Vậy tại sao loài người lại không có quyền tự vệ chính đáng để bỏ cái đạo khốn nạn đó? Công Giáo là đám cỏ dại trên cánh đồng Việt Nam, tại sao chúng ta không bỏ cái đám cỏ dại này để cứu cánh đồng Việt Nam?

 

Chúng ta cần phải học hỏi các bài học lịch sử đầy đau thương của các quốc gia Âu Mỹ đã từng là những nạn nhân của hiểm họa Công Giáo La Mã.

 

1. Kinh nghiệm của các nước Hy lạp, Nga và Đông Âu.

 

Năm 1054, các giáo hội Công Giáo tại Hy Lạp, Nga và Đông Âu đã là những nước đầu tiên nhận thức được âm mưu xâm lược toàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo của Đế Quốc La Mã. Do đó, họ đã đồng loạt tuyên bố tách rời khỏi Vatican. Sử gia John B. Noss đã ghi nhận sự kiện này không phải do xung đột về giáo lý mà là để chống lại ý đồ bành trướng lãnh thổ của Đế Quốc La Mã. Tác giả viết: “CATHOLIC in the West (Vatican) has required the meaning of UNIVERSAL in the sense of the geographic extention of the church throughout the world” – (MAN’S RELIGION, p. 457). Xin tạm dịch: “Trong thế giới phương Tây (của Vatican) danh từ CÔNG GIÁO với nguyên nghĩa là TOÀN CẦU, trong ý nghĩa thật của nó là bành trướng lãnh thổ của giáo hội ra khắp thế giới”.

 

Từ đó đến cuối thế kỷ 20, Công Giáo La Mã đã gây ra nhiều cuộc thánh chiến chống lại các quốc gia nói trên, gọi chung là giáo hội Đông Phương hoặc giáo hội Chính Thống. Thảm khốc nhất là các cuộc nội chiến tại Nam Tư giữa xứ Croatia theo Công Giáo và xứ Serbia Chính Thống Giáo.

 

Giữa thời đại văn minh của thế kỷ 20, thế giới đã phải xúc động trước các tin về những vụ giết người tập thể vì lý do tôn giáo tại các xứ Croatia, Serbia và Bosnia tại Nam Tư. Tất cả đều cùng là một giống dân Slave nhưng đã chia thành những quốc gia riêng biệt thù hận lẫn nhau hằng chục thế kỷ chỉ vì sự cuồng tín tôn giáo!

 

Từ những kinh nghiệm đau thương đó nên vào tháng 8 năm 1997, quốc hội Nga (hậu Cộng Sản) đã biểu quyết đạo luật công bố quyền tự do truyền đạo và hành đạo cho mọi tôn giáo. Chỉ có một biệt lệ duy nhất là tuyệt đối cấm Công Giáo La Mã và Tin Lành không được hoạt động tại Nga (như đã nói ở phần trước).

 

2. Kinh nghiệm Anh Quốc:

 

Tiếp theo các nước Đông Âu là Anh Quốc tách rời khỏi Vatican năm 1535. Từ đầu thập niên 1530, vua Anh đã vận động quốc hội Anh chuẩn y việc tách rời này. Công cuôvận động của vua Anh bị thủ tướng Anh thời đó là Thomas More cực lực phản đối. Thomas More xin từ chức thủ tướng Anh Quốc năm 1532. Y vận động chống lại vua Anh và ủng hộ việc thiết lập các tòa án dị giáo để đưa các người chống Công Giáo lên dàn hỏa. Ngày 1.2.1935, nghị viên Anh thông qua đạo luật “The Act of Supremacy” xác nhận vua Anh có quyền tối thượng đối với chủ quyền quốc gia và là giáo chủ của giáo hội Công Giáo Anh quốc. (The King is the supreme head of the church of England). Năm 1559, Quốc Hội Anh biểu quyết đạo luật Tổ chức thống nhất cho toàn hệ thống Công Giáo nước Anh (Act of uniformity) và duyệt xét lại toàn bộ các sách kinh nguyện (prayers) và cho phép giáo dân chỉ được đọc các kinh đã được in trong sách kinh chính thức được gọi là “The Book of Common Prayers”. Năm 1535, Thomas More bị đưa ra công trường Westminster chém đầu về tội phản nghịch. Trước khi lên đoạn đầu đài, Thomas More tuyên bố: “Công Giáo La Mã là giáo hội toàn cầu. Tôi chết trong và vì niềm tin Công Giáo”. (I die in and for the faith of the Holy Catholic Church).

 

Năm 1935, kỷ niệm 400 năm Thomas More chết vì đạo, Vatican đã phong tên phản quốc này lên bậc hiển thánh. (xin đọc Man’s Religion và A World only lit by fire).

 

3. Kinh nghiệm các nước toàn tòng Công Giáo tại Mỹ Châu La Tinh.

 

Ở phần trên của bài viết này, tôi đã có dịp kể chuyện về cuộc sống dâm ô cuồng loạn có một không hai của giáo hoàng gốc Tây Ban Nha là Alexander VI. Ông ta nổi tiếng vì đã loạn luân với mẹ ông, với con gái, với cô em ruột và với con riêng của vợ. Nhưng ông ta cũng nổi tiếng vì đã phát động cuộc xâm lược đại qui mô của thực dân Tây Ban Nha và tu sĩ Công Giáo vào lục địa Châu Mỹ. Giáo Hoàng Alexander VI và người con trai là ông hoàng Borgia Caesar cũng nổi tiếng vì đã là nguồn cảm hứng cho Machiavel viết nên tác phẩm lừng danh Quân Vương tôi đã có dịp trình bày ở những đoạn trên nhằm mục đích chứng minh rằng: Vatican là trung tâm phát sinh ra một xu hướng méo mó về đạo đức chính trị phi nhân bản đã phá hoại hòa bình thế giới và hạnh phúc nhân loại trong những thế kỷ qua và còn tiếp tục.

 

Trong mục tiêu bành trướng lãnh thổ và cướp đoạt vàng bạc của cải làm giàu cho tòa thánh, giáo hoàng Alexander VI giao độc quyền khai thác vùng đất do Columbus khám phá (tức Châu Mỹ) cho hoàng gia Tây Ban Nha năm 1503. [Ngày 4.5.1493, Giáo Hoàng Alexander IV ký sắc chỉ Inter Catera, sắc chỉ nầy về sau được dùng làm căn bản cho việc triển khai quyền sở hữu về Tân Thế Giới (new World).]

 

Năm 1519, hoàng gia Tây Ban Nha xử dụng một tên du thủ du thực 35 tuổi, chuyên đi tìm vàng là Hernan Cortez làm tướng chỉ huy một hạm đội gồm 11 chiến thuyền, 10 đại bác và 600 binh sĩ, cùng với một đoàn tu sĩ dòng Phan xi cô do giám mục Diego de Landa lãnh đạo lên đường chinh phục Châu Mỹ. Tháng 3.1519, đoàn quân này đổ bộ ở vùng vịnh Tabasco. Tháng 5.1519, chúng chiếm thành phố Cholula và phá hủy 400 kim tự tháp tại đây. Năm 1521, chúng chiếm Tenchtitlan và hoàn tất cuộc xâm lược Mexico (Mễ Tây Cơ).

 

Trước khi tiến chiếm thành phố lớn nhất của Mexico thời đó là thành phố Montezanur, chúng đột nhập vào các nhà tù phóng thích tù nhân và dụ họ hợp tác dẫn đường trong thành phố nhưng sau khi thành công, bọn chúng đã giết hết đám tù nhân đã giúp chúng. Giám mục lãnh đạo tinh thần của đoàn quân xâm lược là Giám Mục Diego de Landa chủ trương đốt sạch để xóa bỏ mọi vết tích của nền văn minh cổ đại của người Da Đỏ.

 

Trong các đền thờ được xây cất tương tự như Kim Tự Tháp của các dân tộc Aztec, Toltecs, Maya thường có nhiều tượng và đồ vật trang sức bằng vàng. Bọn thực dân đem nấu chảy thành vàng khối chở về Tây Ban Nha. Các thứ còn lại chúng đều phá hủy hoặc đốt cháy thành than. Trong số các Kim Tự Tháp có một cái gọi là đền thờ Tepanapa cao tới 60 mét, mỗi cạnh rộng 300 mét, lớn gấp đôi kim tự Tháp Cheop của Ai Cập, hiện trên đỉnh của nó là nhà thờ “Đức Mẹ Đồng Trinh”.

 

Năm 1843, nhà khảo cổ Mỹ John Lloyld Stephen viết sách kể chuyện ông đã tìm được dấu vết của 44 thành phố thuộc văn minh Maya bị thực dân Tây Ban Nha phá hủy. Ông đã tìm được một kho sách cổ của dân tộc Maya gồm hàng ngàn bản gỗ có ghi chữ tượng hình (pictograph) nhưng đều đã bị cháy thành than. Nhiều tấm bia đá có khắc hình và chữ bị đập vỡ vứt xuống đáy hồ. Hiện nay các nhà khảo cổ chỉ tìm lại được rất ít tượng đồng và tượng đá của văn minh Maya. Người Maya đã đạt được trình độ cao trong việc sản xuất đồ gốm và nhiều loại nữ trang rất đẹp. Theo các nhà khảo cổ ước tính thì nền văn minh Maya đã có từ thế kỷ 12 trước Tây lịch.

 

Tội ác của đoàn quân xâm lược dưới sự lãnh đạo của Giám Mục Diego và Hernan Cortez còn được ghi lại trong những cuốn sách thuộc loại hồi ký của các cha dòng đi theo đoàn quân xâm lược, trong đó có một số hình ảnh vẽ cảnh chặt tay chặt chân tù binh da đỏ rất dã man. Nhiều thổ dân trên các đảo thuộc quần đảo Antilles đã bị bọn thực dân tiêu diệt sạch không còn một ai sống sót. Theo một số báo cáo của những đoàn quân xâm lược gửi về triều đình Tây Ban Nha thì vào giữa thế kỷ 16, dân số Mexico khoảng 15 triệu người. Nhưng đến đầu thế kỷ 17, chỉ còn có 2 triệu người mà thôi. [Dân số Mễ Tây Cơ hiện nay là 100.349.766] Phần lớn thổ dân đã chết vì bị nhiễm các loại vi trùng lạ do thực dân Tây Ban Nha đem từ lục địa Âu Châu qua.

 

Sau khi chiếm được Mexico, thực dân Tây Ban Nha và tu sĩ nhà thờ lập nên các đồn điền và các khu khai thác mỏ và biến thổ dân thành nô lệ. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, thực dân đến Phi Châu bắt cóc người da đen đem đến Mỹ Châu khoảng 60 triệu người để tăng cường nhân lực nô lệ cho các đồn điền và hầm mỏ. Ngay từ những năm đầu của cuộc xâm lược vào Mexico, riêng một mình Hernan Cortez đã chiếm 250 héc ta đồn điền và làm chủ 200.000 nô lệ da đỏ!

 

Cuối thế kỷ 18, do ảnh hưởng của các cuộc cách mạng tại Hoa Kỳ và Pháp, nhất là do ảnh hưởng tư tưởng của các nhà tư tưởng thuộc phong trào Soi Sáng Âu Châu (Enlightement) được dịch sang tiếng Tây Ban Nha, một số linh mục cấp tiến đã cầm đầu các cuộc cách mạng chống lại chính quyền thuộc địa và nhà thờ Công Giáo. Phần lớn các cuộc cách mạng này đều bị tắm trong biển máu! Phải đợi đến thế kỷ 19, nhiều nước tại Châu Mỹ mới đạt được thắng lợi lớn lao về chính trị kinh tế và xã hội trên toàn lục địa Châu Mỹ La Tinh. Sự kiện lớn lao này được mô tả khá chi tiết trong tác phẩm The Emergence of Latin America in the Nineteenth Century” (2nd edition, by David Bushenell and Neil Macaulay. Oxford University Press xuất bản năm 1994).

 

Đáng chú ý nhất là Hiến Pháp Mexico năm 1857. Hiến pháp này được nhiều nước Châu Mỹ La Tinh noi theo. Bản hiến pháp này của Mexico đã đưa ra nhiều biện pháp táo bạo và cương quyết đối với các tu sĩ và nhà thờ Công Giáo khiến ta cũng phải ngạc nhiên sững sờ.

 

– Hiến pháp tước bỏ mọi đặc quyền đặc lợi của các tu sĩ đã được chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha công nhận trong các thế kỷ trước . Các đặc quyền đặc lợi như: tu sĩ được miễn đi lính, tu sĩ được xét xử tại các tòa án riêng và theo luật riêng. Các tu sĩ tự xưng là người của Chúa (agents of God), nên đòi phải được xử theo luật của Chúa chứ không thể bị xét xử theo luật của người phàm (law of man). Tu sĩ bị tước đoạt độc quyền làm khai sinh hôn thú, chứng từ khai tử… Tất cả các việc này đều được thế tục hóa, tức là được chuyển cho các viên chức nhà nước thực hiện.

 

– Điều quan trọng là nhà thờ phải được tách rời hoàn toàn ra khỏi chính quyền (the separation of Church and State). Các tu viện bị đặt ra ngoài vòng pháp luật (outlawed monasteries). Các viện nữ tu bị hoàn toàn dẹp bỏ với hình phạt tử hình được áp dụng cho bất cứ nữ tu nào bị bắt gặp còn ở lại trong tu viện (the suppression of all nunneries upon the death of the present occupants), Các nam tu sĩ bị cấm không được mặc áo dòng khi xuất hiện ở các nơi công cộng (forbidding the wearing of clerical clothing in public). Toàn bộ tài sản của giáo hội bị tịch thu, [Nhưng tại Viêt Nam, các tài sản của giáo hội Công Giáo nhờ thế lực của thực dân mà vẫn còn, chưa ai đụng đến]. trong số đó có một số nhà thờ được bán cho những người Tin Lành ngoại quốc (The general confiscation of church property).

 

Hầu hết các nước Châu Mỹ La Tinh theo đuổi chính sách công khai chống các tu sĩ Công Giáo (Anticlericalism) nhất là ở Venezuela, Colombia và West Granada.

 

Với rất nhiều kinh nghiệm chống tà đạo Công Giáo trên khắp thế giới, ước mong cần phải nghiên cứu và học hỏi để có thể đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm tiêu hủy, hoặc ít ra là giảm thiểu, các ảnh hưởng tai hại của Công Giáo La Mã trên đất nước ta. Không có gì có thể ngăn cản chúng ta ban hành một đạo luật tương tự như nước Nga là cấm chỉ mọi hoạt động của Công Giáo La Mã và Tin Lành trong khi vẫn cho phép các tôn giáo khác được tự do hoạt động.

 

Bài học Anh Quốc thế kỷ 16 đã chỉ cho chúng ta thấy là muốn bảo tồn chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc thì, giáo hội Công Giáo bản xứ phải dứt khoát đoạn tuyệt với Vatican, vì Vatican luôn luôn tìm cách xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới qua giáo hội Công Giáo bản địa mà ban tham mưu của nó là các hội đồng giám mục tại mỗi nước. Quốc hội Anh thế kỷ 16 đã khẳng định mọi cuốn sách kinh nguyện (prayer books) phải được quốc hội thông qua để loại bỏ mọi câu kinh đi ngược lại quyền lợi chung của quốc gia dân tộc. [Trong cuốn Vatican Thú Tội và Xin Lỗi, Giao Điểm 2001, ông Bùi Kha đề nghị giáo hội Công Giáo Việt Nam nên chỉnh đốn lại toàn bộ Thánh Kinh trước lúc mở các chủng viện và giảng dạy cho tín đồ vì Thánh Kinh có hơn 80% là ngụy tạo, và vô số lời dạy trong đó đã đối nghịch với phong tục tập quán, đạo đức và luật pháp Việt Nam.]

 

Các nước Châu Mỹ La Tinh, như chúng ta đều biết, là những quốc gia toàn tòng Công Giáo từ nhiều thế kỷ qua. Vậy mà hầu hết các nước này đều noi gương Mexico đặt tu viện nam nữ Công Giáo ra ngoài vòng pháp luật theo tinh thần Hiến Pháp Mexico năm 1857. Toàn thể tài sản của giáo hội Công Giáo bị tịch thu. Các tu sĩ Công Giáo bị tước đoạt quyền dạy học và quyền ứng cử bầu cử. Các nhà trường Công Giáo hoàn toàn bị đóng cửa. Các tu sĩ dòng Tên ngoại quốc bị trục xuất. Các tu sĩ nhà thờ bị cấm ngặt không được thu tiền của giáo dân dưới bất cứ hình thức nào. Các nhà thờ được đặt dưới sự kiểm soát thường xuyên của chính phủ.

 

Sở dĩ các dân tộc Châu Mỹ La tinh có những biện pháp quyết liệt để trói tay giáo hội Công Giáo vì họ không thể quên được tội ác diệt chủng và diệt nền văn hóa cổ xưa của tổ tiên họ là người Da Đỏ. Thiết tưởng những biện pháp nêu trên vẫn là quá nhẹ so với các tội ác tày trời của giáo hội Công Giáo đã phạm trong quá khứ đối với toàn thể các dân tộc Châu Mỹ La Tinh.

 

Năm 1917, Mexico có bản hiến pháp mới nhưng lập trường của họ đối với giáo hội Công Giáo vẫn giữ nguyên tinh thần của bản hiến pháp 1857.

 

Năm 1979 và trong thập niên 1990, Giáo Hoàng Jean Paul II đã nhiều lần đến thăm Mexico để làm hòa nhưng đã hoàn toàn thất bại. Mối quan hệ ngoại giao giữa Mexico và Vatican đến nay vẫn chưa được nối lại sau trên một thế kỷ hoàn toàn gián đoạn. Trong các nước Châu Mỹ La Tinh toàn tòng Công Giáo mà còn có những bản hiến pháp đặt các tu viện Công Giáo ra ngoài vòng pháp luật như vậy, không lẽ tại Việt Nam, Công Giáo chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhoi chúng ta lại không thể có được một đạo luật cho toàn bộ hệ thống tu sĩ Công Giáo [Các giáo phái Tin Lành còn nguy hiểm hơn. Họ muốn biến các sắc dân thiểu số thành những khu vực tự trị.]

 

ra ngoài vòng pháp luật được hay sao? Tuy số tín đồ Công Giáo chỉ chiếm khoảng 8% dân số Việt Nam nhưng hệ thống tu sĩ Công Giáo là một tổ chức chặt chẽ nắm đa số các trường học tư thục từ cấp tiểu học đến đại học, chi phối đa số ghế quốc hội của thời đệ nhị Cộng Hòa, chi phối các giới chức trong chính quyền và quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở cấp lãnh đạo cao nhất. Hiện nay số giáo dân Việt Nam tại hải ngoại phần đông rất giàu có sẽ là nguồn tài trợ đắc lực cho mọi mưu toan lũng đoạn quốc gia của giới tu sĩ Công Giáo Việt Nam

 

Đứng trước các hiểm họa đó, thiết tưởng một đạo luật đặt hệ thống tu sĩ Công Giáo Việt Nam ra ngoài vòng pháp luật là điều hết sức cần thiết để kịp thời đối phó với các xáo trộn chính trị có thể xảy ra khi đất nước ta bước vào giai đoạn phú cường.

 

Biện pháp này càng tỏ ra cần thiết hơn nữa vì có triệu chứng cho thấy các tôn giáo khác như một nhóm người của Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài cũng bắt chước Công Giáo củng cố hệ thống tu sĩ riêng của mình để lũng đoạn chính trị trong cái gọi là “Liên Tôn”. Các ủy ban liên tôn sẽ là những sào huyệt để cho kẻ lưu manh chính trị núp đằng sau tha hồ phá rối an ninh quốc gia và vô hiệu hóa hoàn toàn mọi cố gắng của bất cứ chính phủ nào trong công cuộc kiến thiết quốc gia để mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân tộc.

 

Các bài học chống giáo hội Satan của các nước Âu Mỹ giúp các quốc gia khác một số kinh nghiệm về phương diện luật pháp và hành chánh.

 

Người Nhật trong thế kỷ 17 thấy biện pháp này không đủ hiệu năng nên họ đã treo cổ hoặc đóng đinh trên thập giá toàn bộ hệ thống tu sĩ Công Giáo bản địa và thừa sai ngoại quốc cùng một lúc với việc tiêu diệt trọn 37.000 giáo dân tại Nagasaki năm 1638. [Nên tránh bài học đau thương như Nhật Bản lúc bấy giờ.]

 

Chính nhờ biện pháp quyết liệt này, nước Nhật đã bảo toàn chủ quyền độc lập, bảo toàn danh dự quốc gia và văn hóa dân tộc. Đó chính là yếu tố đã đưa nước Nhật lên địa vị siêu cường ngày nay.

 

Xin xem tiếp phần Hai: Sách Kinh Công giáo và tác hại của nó –

Charlie Nguyễn

Source: http://home.earthlink.net/~charlienguyen/cgtbvt_ngay_tan_the.htm#4.%20giao%20hoi%20gian%20ac

 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Sáu 7, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ: , ,

One response to “Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: