RSS

Ki-Tô giáo: Công giáo và Tin Lành – Bản chất và thực chất – Một khảo luận qua các tài liệu Phần I. CÔNG GIÁO

08 Jun

Ki-Tô giáo: Công giáo và Tin Lành – Bản chất và thực chất – Một khảo luận qua các tài liệu

Trần Chung Ngọc

Đây chỉ là vài nét về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành. Không ai có thể viết hết về Ki Tô giáo trong một bài viết thuộc loại này. Thời buổi này mà chúng ta vẫn còn nghe thấy những luận điệu như những bài viết thuộc loại nghiên cứu lịch sử này là “chống Công giáo”, “chống Tin Lành”, hay “chia rẽ tôn giáo” hay “theo sách lược đánh phá Ki-tô giáo của Cộng sản” của một số tín đồ Ki Tô giáo Việt Nam cuồng tín.

Sự Kiện: 

    “Trải qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Thánh Kinh đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đãi  người  Do  Thái  và những  người  phi-Ki-Tô,  giết  hại  và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt,  tạo tâm  lý  sùng tín,  và nhiều lầm lạc khác.  Những mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin  vào quyền  năng tuyệt đối của những điều viết trong Thánh Kinh.”

Mục sư Ernie Bringas trong cuốn

Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Bởi (Tin Vào) Quyền Năng Của Cuốn Thánh Kinh

    [Over the past centuries, bibliolatry has led Christians in  bigotry,  the  persecution   of   Jews  and   other  non-Christians, murder and terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult mentality, and other aberrations.  The  destructive  behavior  patterns can be easily traced to the unchallenged authority accorded biblical writing.]

Ernie Bringas in

Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, p.17

     ” Nhân danh Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ.   Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất. 

   Nhân danh hắn sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng  cả  ngàn  năm… Phúc âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình thương yêu như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người.  Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được sinh ra.”

Robert G. Ingersoll trong cuốn

Ingersoll, Con Người Phi Thường

   (In Christ name millions and millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed.  In his name millions and millions have been enslaved.  In his name the thinkers, the investigators, have been branded as criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best.  In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years.  His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.

   It would be far better had the New Testament never been written – far better had the theological Christ never lived.)

Robert G. Ingersoll in Ingersoll, The Magnificient, p. 117

“Toàn thể cấu trúc của Giáo hội Công giáo La-mã được xây dựng trên những ngụy tạo, những lá thư tông đồ giả mạo, những bài giảng giả mạo, những phép lạ giả mạo, những di tích (của các Thánh) giả mạo, những công đồng giả mạo, và những sắc lệnh giả mạo của các giáo hoàng.”

Cựu Linh mục dòng Tên Peter Doeswyck

   [The entire structure of the Roman Church is built on forgeries, spurious epistles, spurious sermons, spurious miracles, spurious relics, spurious councils, and spurious papal bulls.]

Ex-Jesuit Priest, Peter Doeswyck

Phần I. CÔNG GIÁO:

Vài Lời Nói Đầu: 

      Ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000,  trong một cuộc “Thánh lễ” công cộng tại “Thánh đường” Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức “Thánh cha” Gion Pôn Hai (John Paul II), đại diện cho “hội Thánh” Công giáo gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Công giáo, một tôn giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”, “cao quý”, “ánh sáng của nhân loại” v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những hành động phi Thánh phi phàm, đặc thù Công giáo, của những con cái “hội thánh” Công giáo.  Những núi tội ác này, qua gần 20 thế kỷ, đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như “Thánh Chiến” (sic), Tòa Hình Án xử Dị Giáo, Săn lùng và thiêu sống phù thủy,  kỳ thị phái nữ, xâm lăng văn hóa, ý muốn thống trị và thái độ thù nghịch đối với những tôn giáo khác, bách hại dân Do Thái, gây chia rẽ trong cộng đồng Ki Tô, liên kết với những thế lực thực dân, phát xít v…v… như đã được nhắc tới hết sức đại cương trong những lời xưng thú 7 núi tội ác của Công Giáo.

   Đây không phải là lần đầu tiên Giáo hoàng xưng thú tội lỗi của Công giáo.  Người ta ghi nhận, trong thời gian 21 năm ở ngôi vị giáo hoàng, Ngài đã xin lỗi  hơn 100 lần về những tội ác chuyên biệt liên hệ đến Giáo hội. (Chicago Tribune, March 13, 2000: By some counts he has already apologized for specific sins linked to the church on more than 100 occasions during his 21- year pontificate).  Nhưng lần này, sự xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội Công giáo có tầm mức rộng lớn hơn những lần trước rất nhiều, vì nó bao quát, tuy không đầy đủ, 7 núi tội ác chính của giáo hội Công giáo đối với nhân loại trong suốt 2000 năm qua, đặc biệt là trong thiên niên kỷ thứ hai, theo Thường Lịch.

    Các tín đồ Công giáo, nhất là tín đồ Công giáo Việt Nam, bèn ca tụng hành động của Tòa Thánh là một hành động can đảm chưa từng có trong giáo hội, theo luận điệu diễn giải của giới chăn chiên dạy các con chiên có đầu nhưng không có óc.  Giết người, tra tấn người, thiêu sống người, ăn cướp, chiếm đoạt tài sản của người v…v…. rồi thú tội mà gọi là một hành động can đảm thì chỉ có người Công giáo Việt Nam mới có cái can đảm như vậy.  Sau này, vào một cơ hội thuận tiện nào đó, Giáo hội Công Giáo Việt Nam có xưng tội với dân tộc về tội phản quốc của Công giáo vì đã giúp thực dân Pháp thiết lập được nền đô hộ ở Việt Nam, và những hành động man rợ cướp phá miếu mạo chùa chiền, giết người ngoại đạo, săn lùng kháng chiến v..v…thì có lẽ cũng có thể coi đó là một hành động can đảm, theo đúng tinh thần ăn năn tự kiểm của Công giáo, hay để “thanh tẩy ký ức” (purify the memory).

       Nhưng dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của Giáo hội Công giáo như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Công giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Công giáo, từ Giáo hoàng trở xuống đến những “bà lão Công giáo nhà quê” (từ của Linh mục Thiện Cẩm) hãy trả lời cho tôi câu hỏi sau đây:  

    Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là “thánh thiện”, là “ánh sáng của nhân loại”, là quán quân về “công bằng và bác ái”, được “thánh linh hướng dẫn” v…v…, mà giáo hội mẹ cũng như các giáo hội con như Tây Ban Nha dưới thời Franco, Croatia dưới thời Palevich, Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm v…v… lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại và đối với chính dân tộc của mình như vậy?  trong khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo chụp cho cái mũ vô thần lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm

    Từ nhiều năm nay tôi và tuyệt đại đa số người dân Việt Nam vẫn chờ đợi câu trả lời, nhưng Công giáo vẫn cúi mặt giữ thái độ “im lặng là vàng”.  Đi vào chi tiết, những lời xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội, được  5 Hồng Y và 2 Tổng Giám mục long trọng tuyên đọc tại Thánh đường Phê-rô,  Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hân hạnh đọc lên những lời xưng thú tội ác trong mục chống lại công lý và hòa bình v…v… của “hội Thánh” Công giáo.  Giáo hoàng và ban tham mưu thần học của ông đưa ra những lời xưng thú tội ác tổng quát trong 7 mục sau đây:

 1.  Xưng thú “tội ác chung”.

2.  Xưng thú “tội ác trong khi phục vụ “chân lý””.

3.  Xưng thú “tội ác đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.

4.  Xưng thú “tội ác trong sách lược bách hại dân Do Thái”.

5.  Xưng thú “tội ác trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.

6.  Xưng thú “tội ác trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”.

7.  Xưng thú “tội ác trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”.

    Tòa Thánh xin thế giới tha thứ cho những tội ác của Công giáo bằng những lời lẽ rất đại cương như trên, cho nên không mấy người biết rõ những tội ác của Giáo hội là những tội ác nào. Lewis Weinstein viết trong tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000,  như sau:

    “Hầu hết các tín đồ Công giáo không biết đến cái lịch sử (chứa đầy tội ác của Công giáo. TCN) mà Giáo hoàng nói đến, và nếu, theo lời của Hồng Y John O’Connor, tổng giám mục địa phận New York, tín đồ Công giáo phải “được sự thật giải phóng”, thì họ phải biết sự thật đó như thế nào.” [1]

    Sự thật đó như thế nào?  Đọc kỹ lịch sử truyền đạo của Công Giáo, chúng ta có thể tóm tắt sự thật đó trong một câu ngắn gọn:

    Tội ác của Công giáo đối với nhân loại có thể mô tả như sau, mượn lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại Cáo:

Quyết Đông hải chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô;

Khánh Nam sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác.

(Độc ác thay, trúc rừng không ghi hết tội;

Dơ bẩn thay, nước bể không rửa sạch mùi.)

bởi vì, trong gần 20 thế kỷ, cả trăm triệu sinh mạng gồm già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ, vô tội đã bị giáo hội, nhân danh phúc âm, chân lý của Chúa, bắt bớ, giam cầm, tù đầy, bạo hành, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống v…v… chưa kể đến những hành động phá hủy đền thờ miếu mạo của các tôn giáo khác, hoặc những hành động nhằm tiêu diệt các nền văn hóa phi Công giáo mà Tòa Thánh đã thú nhận trong lễ xưng thú tội ác ở trên.

      Một phần chi tiết những núi tội ác của Giáo hội Công giáo hoàn vũ đã được trình bày qua loạt bài về “Công Giáo Hắc Sử”  đã đăng trên sachhiem.net và giaodiemonline.com.  Độc giả có thể đọc loạt bài này: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/CGchinhsu/CGCS3.php  và nhiều bài khác về thực chất Công giáo trong hai trang nhà trên.  Bài viết này chỉ có mục đích hé mở cánh cửa để cho chút ánh sáng sự thật có thể lọt vào trong những ngục tù tâm linh tăm tối, chỉ một chút ánh sáng thôi, vì quá nhiều ánh sáng e rằng các tín đồ sẽ không chịu nổi, từ tối ra sáng, đôi mắt cần phải điều tiết dần dần, với hi vọng là “sự thật về bản chất và thực chất của Giáo hội Công giáo sẽ giải thoát họ” ra khỏi cảnh u mê, tăm tối như chính Chúa Giê-su của họ đã dạy trong Tân ước, hay như Hồng Y John O’Connor đã nói ở trên.  Nội dung bài viết này khai triển những sự kiện trích dẫn của Mục sư Ernie Bringas, con người tự do tư tưởng phi thường Robert G. Ingersoll, và Linh mục Peter Doeswyck ở trên. 

“Một Khi Đã Là Tín Đồ Công Giáo Thì Suốt Đời Là Tín Đồ Công Giáo??” [Once a Catholic, always a Catholic??]

   Có thể nói, tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo trên thế giới, nhất là tín đồ Công giáo Việt Nam, kể cả các bậc chăn chiên và trí thức, sống qua suốt cuộc đời mà không hề biết gì về bản chất và thực chất của Giáo hội Công giáo mà họ được dạy là một “hội thánh”.  Họ cũng không biết gì về lịch sử thực sự của Giáo hội, lịch sử các Giáo hoàng và giới chăn chiên v..v…   Nhiều nhất là họ được dạy và tin những gỉ mà Giáo hội đã điều kiện hóa đầu óc của họ, phần lớn là từ nhỏ, với sự góp phần của các bậc cha mẹ thiếu hiểu biết, và cứ như vậy, cha truyền con nối, đến độ họ không cò thể suy nghĩ gì khác những gì mà Giáo hội đã cấy vào đầu óc họ..  Vì vậy, họ không hề biết là những gì Giáo hội dạy hầu hết là sai sự thực, dựa trên dối trá và ngụy tạo. Điều này sẽ được chứng minh trong một đoạn sau.   Mục đích của Giáo hội không phải là mở mang trí óc, tăng sự hiểu biết của tín đồ, mà chỉ để giữ chặt họ trong một ngục tù tâm linh mà nay đã phá sản ở Âu Mỹ, một ngục tù được xây dựng trên những điều hoàn toàn trái ngược với bản chất và thực chất của Giáo hội, nằm trong sách lược nhồi sọ, bao quanh bởi những bức tường thần học tinh vi mà mục đích chính là để mê hoặc những tín đồ đầu óc yếu kém về những điều không tưởng.

    Nếu có người nào có đủ trình độ và dũng cảm vượt qua được những bức tường chướng ngại trí thức mà Giáo hội dựng lên bao quanh họ, để biết đôi chút về bản chất và thực chất của Giáo hội, thì họ sẽ cảm thấy ngỡ ngàng là tại sao họ còn có thể tiếp tục ở trong một Giáo hội như vậy.  Đối với tín đồ Công giáo Việt Nam thì trường hợp của một số người đạo gốc nhiều đời như Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Charlie Nguyễn alias Bùi Văn Chấn, hay Giu-se Phạm Hữu Tạo và chắc chắn còn nhiều người nữa, những bậc trí thức đã tỉnh ngộ và đã can đảm vạch ra những mặt sai trái của Công giáo, là những thí dụ điển hình hiếm hoi.

    Đối với thế giới văn minh Âu Mỹ thì chuyện từ bỏ Giáo hội, sau khi biết rõ bản chất và thực chất của Giáo hội, của các bậc trí thức, hay của các chức sắc Công giáo, từ Hồng y xuống tới các Linh mục v..v.. không phải là chuyện ít ỏi.  Trong thế giới Tây phương, vô số người đã vượt qua được những bức tường thần học chướng ngại trí thức của Giáo hội dựng lên và đã trở thành những người đúng nghĩa là con người, vì đã cất bỏ được gánh nặng “quên mình trong vâng phục” trên vai, một hình thức nô lệ trí thức, để tự mình bước đi những bước tự do, vững vàng trên đường đời mà không cần đến cặp nạng tôn giáo để lê lết trong cuộc đời.  “Quên mình trong vâng phục” là theo sát lời dạy của “Thánh” Ignatus Loyola (1491-1556), người sáng lập dòng Tên  của Giáo hội Công Giáo: “Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta nhìn thấy Trắng thực sự là Đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như vậy.” [We should always be disposed to believe that which appears White is really Black, if the hierarchy of the Church so decided].  Cho đến ngày nay, Giáo hội vẫn giữ tín đồ trong ngục tù tâm linh như vậy, và gần đây, Giáo hoàng Benedict XVI, với sự phụ họa của Giáo hội Công giáo Việt Nam, vẫn còn khuyên các con chiên phải giữ “đức vâng lời”, nghĩa là khuyên họ tiếp tục làm nô lệ cho hàng giáo phẩm Công giáo, Giáo hội bảo sao thì phải nghe vậy và thi hành, không thắc mắc.  Nhưng thực tế là, trong thế giới văn minh Âu Mỹ, Giáo hội đã mất đi không ít những tín đồ có đầu óc, và ngày nay Giáo hội chỉ còn có thể tuyển mộ được những tân tòng trong tầng lớp dân chúng ít học, thấp kém, đời sống kinh tế khó khăn, những mồi ngon cho Giáo hội sử dụng bả vật chất làm phương tiện dụ đạo.  Trên nước Mỹ, những người vào trường dòng để học nghề làm linh mục, phần lớn là Mễ và Mít, theo thống kê của một trường dòng ở Iowa, không phải là vì “ơn kêu gọi”, mà như chính Giáo hoàng Benedict XVI đã nhận định, chỉ để có một đời sống vật chất thoải mái trên sự quỵ lụy của đám tín đồ thấp kém, ít hiểu biết ở dưới.

   Thật vậy, Giáo hội đã mất đi không ít những tín đồ có đầu óc, vì không phải tất cả những linh mục được đào tạo theo sách lược của Giáo hội, hay các con chiên có đầu óc, đều cam tâm tự nguyện làm nô lệ cho Tòa Thánh suốt đời.    Nhiều vị, qua sự học hỏi cá nhân,  vượt ra ngoài khuôn phép “Giáo hội dạy rằng”, đã thấy rõ bản chất và thực chất của tôn giáo và Giáo hội của mình, và đã dũng cảm thoát ra khỏi cái mà Tiến sĩ Barnado gọi là Bóng Tối Dày Đặc của Ý Thức Hệ La Mã (The Thick Darkness of Romanism), và cho ra những tác phẩm soi sáng sự thật cho nhân loại.  Chính họ là những người biết rõ bản chất của Giáo hội và thực chất của những giáo điều, tín lý trong Công Giáo La Mã hơn ai hết, và nhờ những tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc, cộng với những suy tư trí thức của họ, mà ngày nay chúng ta có thể biết rõ sự thực về mọi mặt của đạo Công giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung.  Những tác phẩm của Tổng Giám Mục Peter de Rosa, Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong, các Linh mục Jean Mesnier, Joseph McCabe, Emmett McLoughlin, James Kavanaugh, Andrew M. Greeley, David Rice, Leonardo Boff, Georges Las Vergnas, Charles Davis, các Mục sư Rubem Alves, Ernie Bringas, Nữ tu Công giáo Mary Ann Collins, Karen Armstrong, của các nhà Thần học Hans Kung, Edwards Schillebeeckx, Uta Ranke-Heinemann v…v…, và của hàng trăm học giả, giáo sư đại học, chuyên gia nghiên cứu về tôn giáo,  ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô cũng đủ để cho chúng ta biết khá tường tận về đạo Công Giáo và Tin Lành.

Tại Sao Giáo Hội Công Giáo Vẫn Tồn Tại ??

      Nghiên cứu về lịch sử Giáo hội Công giáo hoàn vũ, chúng ta thấy Giáo hội đã trải qua nhiều biến cố tưởng chừng không thể nào cứu vãn được để mà tồn tại.  Vài trường hợp điển hình sau đây cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

 

  1.  Ngày 21 tháng 5, 1408, Vua Pháp Charles VI (1368-1422) ra sắc lệnh tuyên bố Giáo hội Công giáo Pháp và các công dân Pháp không được trung thành và tuân lệnh Giáo hoàng Benedict XIII.  Ông ta vô hiệu hóa sự ủng hộ tài chánh cho Ki Tô Giáo và tuyên bố Pháp trung lập về tôn giáo [2]
  2.  Trong cuộc cách mạng 1789, “Pháp, Trưởng Nữ của Giáo Hội Công Giáo La Mã, đã chính thức đưa Lý Trí lên bàn thờ Chúa, đã tàn sát trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu và 47 Giám Mục, và đã dẹp mọi Trường Dòng, Trường Học Công giáo, những Dòng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v..” [3]
  3. Do sách lược dùng chiến tranh xâm lược để chiếm đất, vơ vét tài sản, và cưỡng bức người dân vào đạo, lãnh thổ của Giáo hoàng (Papal States) vào giữa thế kỷ 19 lên tới khoảng 40.000km2 , với 3 triệu dân thường xuyên phải đóng thuế cho Giáo hội.  Năm 1870, nhà cách mạng Ý Garibaldi đã tiến quân vào La Mã và tước đoạt lại mọi lãnh thổ của Giáo hội đã cưỡng chiếm của nước Ý, và thu hẹp lãnh thổ của Giáo hội còn lại khoảng 108 sào là cung đình Vatican hiện thời.  Garibaldi thống nhất nước Ý và từ đó nước Ý ở ngoài quyền hành của Vatican.

    Nhưng sự tồn tại của Giáo hội Công giáo cho đến ngày nay với một số tín đồ gần một tỷ người là một sự kiện.  Tìm hiểu lý do tại sao Giáo hội lại có thể tồn tại lâu dài, tôi thấy có vài giải thích của người Công Giáo.

 –           Thứ nhất, Giáo hội là do Chúa thành lập nên không thể biến mất trên thế gian cho đến ngày tận thế.

–          Thứ nhì, Giáo hội có Thánh Linh hay Chúa Thánh Thần soi sáng, phò trợ nên có thể vượt qua mọi biến cố.

–          Thứ ba, Giáo hội là một lực lượng đạo đức (a moral force) cho nhân loại cho nên tất nhiên phải tồn tại vì nhân loại cần đến đạo đức.

    Tuy nhiên, khi nghiên cứu về nguồn gốc và lịch sử của Công giáo, tôi thấy 3 giải thích trên không hợp với những sự thật lịch sử và lô-gíc thông thường.

   Thứ nhất, tất cả các học giả ngày nay, ở trong cũng như ở ngoài Giáo hội Công giáo, lể cả những nhà thần học nổi danh trong Công Giáo như Linh mục John Dominic Crossan, Giáo sư đại học De Paul, Chicago; Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trong Giáo hội chiếm được ngôi vị nữ giáo sư thần học Công giáo (Professor of Catholic theology);  Hans Kung, Giáo sư Thần học tại trường đại học nổi tiếng Tubingen ở Đức; Linh mục Joseph McCabe, một học giả nổi tiếng về bộ sử 8 cuốn: A Complete Outline of History.  Bộ sử này được dùng trong các đại học Mỹ trong nhiều thập niên;  Joseph L. Daleiden, một học giả Công giáo; Học Hội Nghiên Cứu Về Giê-su (The Jesus Seminar) gồm nhiều học giả thuộc mọi hệ phái Ki-tô v..v…, sau khi nghiên cứu kỹ Tân ước, đều đồng thuận ở một điểm: Giáo hội Công giáo tuyệt đối không phải là do Chúa thành lập vì trái ngược với những tư tưởng của Giê-su trong Tân Ước.     Cũng vì những bằng chứng không thể chối cãi được ở ngay trong Thánh Kinh mà khi được hỏi rằng: “Giê-su có ý định thành lập một tôn giáo mới, tôn giáo mà ngày nay chúng ta gọi là Ki Tô Giáo, hay ít nhất là tạo ra một giáo hội Ki Tô tách biệt (ra khỏi Do Thái giáo. TCN) không, Linh mục John Dominic Crossan đã trả lời: “Câu trả lời cho câu hỏi đó là một chữ “KHÔNG” quyết định” (The answer to that is an emphatic NO).

    Thứ nhì, Giáo hội Công giáo đã mang trên vai 7 núi tội ác đối với nhân loại mà ngày 12.3.2000, Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú cùng thế giới như đã trình bày ở trên.  Vậy chẳng lẽ Thánh Linh hay Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho Giáo hội phạm phải những tội ác vô tiền khoáng hậu đối với nhân loại hay sao.

    Và thứ ba, nếu Giáo hội thực sự là một lực lượng đạo đức cho nhân loại thì tại sao Giáo hội lại phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại trong lịch sử truyền đạo của Giáo hội, trong khi các tôn giáo khác như Thích, Nho, Lão, không có Thánh Linh soi sáng, lại không hề làm đổ một giọt máu của nhân loại trong quá trình truyền đạo lâu dài hơn Ki Tô Giáo cả hơn 500 năm.  Chúng ta còn nhớ, đầu tháng 10, 2009, 2500 người mua vé vào đại sảnh Methodist ở Westminster, Luân Đôn, để nghe một cuộc tranh luận về chủ đề “Giáo hội Công giáo có phải là một lực lượng để tạo nên sự tốt đẹp trong thế giới không?” [Is the Catholic Church a force for good in the World?] thuộc chương trình Intelligence Squared Debate, một diễn đàn tranh luận thiết lập ở Anh trước đây 6 năm. Điều khiển cuộc tranh luận là nữ ký giả Zeinab Badawi, tốt nghiệp đại học Oxford về chính trị, triết học và kinh tế. Có bốn thuyết trình viên thuộc hai phe. Phe ủng hộ [for], đồng ý với chủ đề trên gồm có hai nhân vật của Công giáo: Tổng giám mục John Onaiyekan ở Nigeria và bà Ann Widdecombe, một thành viên bảo thủ của quốc hội Anh. Phe chống [against] gồm có Christopher Hitchens thuộc Hiệp Hội Thế Tục Quốc Gia (National Secular Society), một hiệp hội được thành lập tại Anh từ năm 1866, và Stephen Fry.

   Kết quả của cuộc tranh luận trên ra sao? 

   Giáo hội Công giáo, qua suốt dòng lịch sử, chưa bao giờ, và có thể là không bao giờ, là một sức mạnh để tạo nên sự  tốt đẹp trong thế giới. Và đây chính là nhận định kết luận bất khả phủ bác của cuộc tranh luận

   [The Catholic Church is not a force for good in the world: that was the overwhelming verdict after a heated debate]

   Vậy thì tại sao Công giáo vẫn tồn tại?  Cuối cùng, tôi bắt buộc phải đồng ý với nhận định của Robert G. Ingersoll cách đây trên một thế kỷ mà vé vào cửa để nghe ông ta thuyết trình năm 1870 là $2.  Trước một cử tọa đông đảo, ông ta đưa ra nhận định sau đây:

   Công giáo La mã thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ rằng quần chúng tín đồ thì ngu si và các linh mục thì xảo quyệt  

   [Roman Catholicism dies hard. What does that prove? It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning.]

    Hơn một thế kỷ sau, S.T. Joshi cũng đưa ra một nhận định tương tự: 

   “Câu hỏi chính không phải là tại sao tôn giáo (tác giả muốn nói đến Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Ki Tô Giáo) không chết đi mà là tại sao nó còn tiếp tục tồn tại trước hàng núi những bằng chứng trái ngược [với những gì các tôn giáo trên rao truyền].  Đối với tôi, câu trả lời có thể thâu tóm trong một câu thẳng thắn: quần chúng tín đồ thì ngu si” [4]

     Tôi thấy cần phải giải thích từ “ngu si” ở đây.  Một tín đồ ngu si không có nghĩa là tín đồ đó không đủ đầu óc để học hiểu, mà là thiếu những thông tin cần thiết để có thể đánh giá đúng những gì tôn giáo giảng dạy.  Trong Phật Giáo cũng có cụm từ “ngu si vô trí” để chỉ những người không đủ trí tuệ hay thông tin để nhìn một sự vật nào đó đúng như nó là như vậy (như thực tri kiến: to see things as they really are), do đó không biết rõ sự thật, và không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân.  Thí dụ, một tín đồ Công giáo có thể rất giỏi về một bộ môn nào đó, có thể có bằng cấp rất cao về một chuyên ngành nào đó, nhưng về tôn giáo của họ thì đầu óc họ đã bị điều kiện hóa để có một điểm mù tôn giáo, họ không được phép tìm hiểu những sự thực về tôn giáo của họ, cho nên họ đã bị nhồi sọ, bưng bít, không tiếp cận được với những thông tin cần thiết để có thể đánh giá đúng những lời giảng dạy của các bậc chăn chiên, và cái điểm mù tôn giáo trong đầu óc họ làm cho họ không thể chấp nhận hay tiêu hóa được những thông tin hay bằng chứng trái với đức tin của họ.  Như vậy, trong lãnh vực tín ngưỡng, có thể nói họ là người ngu si. 

   Điều này thật quả không sai, hiện nay, trên 70% tín đồ Công giáo là ở các nước trong thế giới thứ ba, ở Phi Luật Tân và ở trong vài ốc đảo ngu dốt (từ của Linh mục Trần Tam Tĩnh) ở Việt Nam.  Trong những cộng đồng này, số đông tín đồ thấp kém thì chẳng biết gì, còn giới chăn chiên, phần lớn là không biết, hoặc giả có biết đi chăng nữa, nhưng vì quyền lợi tinh thần và vật chất trên đám giáo dân thấp kém ở dưới, nên vẫn bưng bít, dấu kín những sự thật về Giáo hội và thực chất đức tin Công Giáo trước đám tín đồ. Chúng ta có thể chứng minh dễ dàng điều này qua vài sự kiện sau đây.  Một tài liệu điển hình về kết quả nghiên cứu của Russell Shorto trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth), trang 14, viết như sau:

   Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay  cả những người được giáo hội Công giáo bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. [5]

    Trong cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan-Phao-Lồ II”, Giao Điểm, 2000, học giả Trần Văn Kha đã đưa ra một loạt câu hỏi rất trí thức mà không có câu trả lời về quan niệm linh hồn trong Công giáo, trang 82-83.  Linh mục Thiện Cẩm ở Việt Nam đã đưa ra câu trả lời đơn giản như sau:  “Đối với một bà lão Công giáo nhà quê thì Chúa đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài, vậy việc tạo ra linh hồn cho mỗi người đâu có khó khăn gì.”  Hiển nhiên là sự tồn tại của Giáo hội Công giáo là nhờ có những “bà lão Công giáo nhà quê” với trình độ hiểu biết như vậy.  Tin bướng tin càn như vậy thì nếu không gọi là ngu si thì gọi là cái gì?  Và câu trả lời của Linh mục Thiện Cẩm có thuộc loại “lý luận” xảo quyệt của giới chăn chiên không?

 

Sách Lược Che Dấu Sự Thật Và Giữ Tín Đồ Trong Bóng Tối Của Giáo Hội Công Giáo:

 

   Tại sao Giáo hội lại muốn giữ tín đồ trong bóng tối của sự hiểu biết?  Như Samuel Butler đã từng đưa ra một nhận định chính xác: “Giáo hội Công Giáo không sợ tội lỗi mà chỉ sợ có sự thật.”  Hiển nhiên là sự tồn tại của Giáo hội phần lớn dựa vào sách lược che dấu sự thật về Giáo hội và những điều hoang đường và sai lầm về thần học cũng như về khoa học trong cuốn Thánh Kinh trước đám tín đồ thấp kém.  Bài viết này không ngoài mục đích đưa ra một số sự thật về bản chất và thực chất của Giáo hội Công giáo La mã, những sự thật mà các tín đồ Công giáo Việt Nam rất ít biết hoặc không hề biết.

   Thật vậy, đã có thời Giáo hội cấm tín đồ tự đọc cuốn Thánh Kinh, vi phạm có thể bị vạ tuyệt thông hoặc xử chết.  Giáo hội giữ độc quyền giải thích Thánh Kinh, cho rằng tín đồ không có khả  năng tự đọc Thánh Kinh, có thể hiểu sai Thánh Kinh và trở thành lạc đạo (heretic).  Lạc đạo, nghĩa là không đồng ý với những lời dạy của Giáo hội,  trong thời Trung Cổ đối với Giáo hội là tội chết..  Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, một người đạo gốc trong 30 năm thưở thiếu thời, cho rằng Giáo hội sợ tín đồ nhận ra những điều hoang đường, sai trái trong Thánh Kinh.  Giáo hoàng và các Thánh trong Công Giáo chủ trương giết người lạc đạo.  Họ viện dẫn Cựu Ước để biện minh cho các cuộc tàn sát vì Cựu Ước dạy rằng: Kẻ nào phỉ báng tên Chúa đều phải bị giết (He who blasphemes the name of the Lord shall be put to death).  Thánh Thomas Aquinas tuyên bố: “Nếu những kẻ bất lương đáng tội chết, thì những kẻ lạc đạo còn đáng bị giết hơn nữa” (St. Thomas Aquinas declared: “If malefactors are justly doomed to death, much more may heretics be justly slain.”)  Lạc đạo đơn giản chỉ là không theo Công giáo hay bỏ Công giáo.  Nhưng ngày nay, quyền sinh sát của Giáo hội Công giáo đã không còn nữa, và như John Remsburg đã nhận định trong cuốn “False Claims”, The Truth Seeker Company, New York, 1928, trang 24:

   Hình như tôi nghe người Ki Tô biện hộ cho Giáo hội nói: “Nhưng bây giờ Giáo hội không còn giết nữa”.  Đúng vậy, một con hổ sắp chết càng ngày càng bới dữ đi.  Ngày nay Giáo hội không còn giết nữa vì Giáo hội không còn quyền lực để mà giết.  Bó củi (để thiêu sống người) và thanh gươm (để giết người) đã bị tước khỏi nhưng bàn tay đẫm máu của Giáo hội, và ngày nay Giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí: gây thù hận và vu khống.” [6]

    Điểm qua những trang nhà Công giáo chống Cộng và lác đác một số bài phê bình mà không phải là phê bình, đối thoại mà không phải là đối thoại, của một số trí thức Công giáo trước những phanh phui ra những sự thật về Công giáo, chúng ta thấy rõ họ đã tận dụng hai thứ vũ khí này.

    Giáo hội cũng cấm tín đồ đọc những sách viết về những sự thực về bản chất và những tín lý mà mục đích chính là tạo quyền lực của giới chăn chiên trên đám tín đồ ở dưới, hoặc những sách mà mà Giáo hội cho rằng trái với những tiêu chuẩn đạo đức theo quan niệm của Giáo hội, những tiêu chuẩn mà lịch sử đã chứng tỏ là chính Giáo hội đã vi phạm hơn ai hết..

   Năm 1501, Giáo hoàng Alexander VI ban sắc lệnh cấm không được ấn hành những cuốn sách thảo luận về Ki Tô Giáo mà không có giấy phép của ông Giám mục địa phương, hay “giấy phép của chính Giáo hoàng” [Diarium of Buchard].

  Đây là sự khởi đầu của một danh sách dài những cuốn sách Giáo hội cấm tín đồ đọc [Index of Prohibited Books], và sự dẹp bỏ những cuốn sách đặt nghi vấn về những tín lý của Giáo hội đã trở thành chính sách chính thức của Vatican.  Đây có lẽ là cách kiểm duyệt bi thảm nhất mà thế giới biết đến, qua sự kiểm duyệt này, trong nhiều thế kỷ Giáo hội đã khống chế những văn phẩm mà quần chúng có thể đọc – Và Giáo hội chính thức duy trì sự khống chế này, kéo dài cho tới thế kỷ 20. [7]

   Chúng ta cũng biết ở Mỹ giới chăn chiên thường khuyên các con chiên là “đừng có đọc sách của Giao Điểm”.  Và ở Việt Nam thì Công giáo đã ra sức mua chuộc những cán bộ văn hóa để ngăn chận, không cho phổ biến các sách của Giao Điểm cũng như những sách viết về những sự thật về Công giáo.  Thông tin ở Việt Nam cũng loan tin rất ít về vụ các linh mục hiếp dâm nữ tu Công giáo trên 23 quốc gia, và trên 5000 linh mục bị truy tố vì tội loạn dâm và ấu dâm.  Và những chuyện bê bối trong nội bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng bị bưng bít dấu kín, nhưng thỉnh thoảng cũng bị lọt ra ngoài một phần qua vài bài viết, thí dụ như của Nguyễn Văn Trung hay Linh mục Nguyễn Văn Trọng.  Qua những sách lược trên của Giáo hội, các tín đồ, vốn đã ngu si lại tiếp tục sống trong vòng ngu si suốt đời.  Nếu không thì làm sao những sự xảo quyệt của giới chăn chiên có thể thành công.  Chúng ta hãy kể vài thí dụ về sự xảo quyệt của giới chăn chiên.

   Tín đồ được các bậc chăn chiên hứa hẹn một cái bánh vẽ trên trời mà họ gọi là “thiên đường” trong khi chính họ cũng chẳng biết cái bánh vẽ đó như thế nào, ở đâu, vì từ xưa tới nay đã có ai từ đó trở về, kể cả Chúa Giê-su, để cho bàn dân thiên hạ biết cái thiên đường đó là như thế nào. Nhưng sự xảo quyệt của các linh mục còn tỏ rõ hơn nữa khi họ vẫn giảng cho tín đồ về thiên đường và hỏa ngục trong khi có thể họ đã biết là, trước sự tiến bộ của khoa học về vũ trụ học, về sinh học  v..v…, Giáo hoàng John Paul II của họ đã bắt buộc phải chấp nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ,  thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế sáng tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa).  Như vậy, Giáo hoàng đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.   Thật vậy, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Thử hỏi có bao nhiêu tín đồ Công giáo được các bậc chăn chiên cho họ biết Giáo hoàng của họ đã nói những gì về thuyết Big Bang, thuyết Tiến Hóa, và về thiên đường và hỏa ngục?

  Tín đồ Công giáo Việt Nam được dạy là phải luôn luôn cầu nguyện Chúa hay Đức Mẹ Maria, kiểu “cầu ngày không đủ, tranh thủ cầu đêm, cầu thêm ngày chủ nhật”, một hình thức xin-cho, vì Chúa đã hứa cứ cầu đi rồi sẽ được.  Chúa phán, Matthew 21:22: “Nếu các người tin, các người sẽ nhận được bất cứ điều gì các người yêu cầu trong cầu nguyện” [If you believe, you will receive whatever you ask for in prayer] và John 14:13-14: “Và Ta sẽ làm bất cứ điều gì các người yêu cầu nhân danh Ta…  Các ngươi có thể yêu cầu bất cứ điều gì nhân danh ta, ta sẽ làm theo lời yêu cầu đó” [And I will do whatever you ask in my name… You may ask me for anything in my name, and I will do it.]

   Nhưng thực tế cho thấy rằng, Giáo dân Việt Nam cầu nguyện xin-cho với Nhà Nước Việt Nam thì may ra còn có thể được, chứ nghe lời xúi dục của ông Tổng Kiệt nhục nhã, đi thắp nến cầu nguyện đòi đất ăn cướp trước đây ở Tòa khâm Sứ, Ấp Thái Hà, Tam Tòa v… v… đều không có hiệu quả, vì Chúa chưa được phép của Nhà Nước Việt Nam, nếu không muốn nói là thật ra Chúa chỉ hứa hão.  Nhưng Giáo hội thường có những giải thích đặc thù Công giáo về cầu nguyện xin-cho mà không được đáp ứng.  Nếu cầu không được và  thắc mắc thì được giải thích là “Chúa đã trả lời rồi, Chúa không ưng thuận lời cầu nguyện đó.”  Tại sao?  Đây là thuộc về mầu nhiệm của Thiên Chúa, mọi quyết định của Chúa đều đúng vì Chúa là Chúa, chúng ta không thể nào hiểu được việc Chúa làm”.  Nhưng sự xảo quyệt của giới chăn chiên còn tỏ rõ hơn nữa khi họ giảng đạo, luôn luôn nói là “ý Chúa thế này, thế nọ”, “phải làm thế này thế nọ để làm đẹp lòng Chúa” v…v…  Khi xưa Giáo hoàng hô hào Thánh Chiến cũng nói với tín đồ đó là ý Chúa [God’s Will].     Khi có chuyện bất hạnh xảy ra cho tín đồ thì lời giải thích sẽ là “Chúa sinh ra thì Chúa có quyền lấy đi”, hoặc “Chúa gọi về sớm với Chúa”.  Tất cả những giải thích này đều thuộc loại dối trá, dù với mục đích gì, bàn chất vẫn là dối trá.

 

Cá Nhân Phạm Tội Hay “Hội Thánh Công Giáo” Phạm Tội:

   Giáo hội đã phạm rất nhiều tội ác đối với nhân loại.  Đây là một sự kiện bất khả phủ bác.  Một luận điệu bào chữa cho Giáo hội là các cá nhân phạm tội chứ Giáo hội vẫn là một “hội thánh” thánh thiện.  Luận điệu này quên rằng khi Giáo hoàng phạm tội thì đó là “đại diện của Chúa” (Vicar of Christ) phạm tội chứ không phải là cá nhân thường như mọi người, và khi các Linh mục can tội loạn dâm hay ấu dâm thì đó là các “Chúa thứ hai” phạm tội chứ không phải là người thường như mọi người.

   Nhưng thực ra Giáo hội là gì?  Theo cấu trúc toàn trị của Giáo hội Công giáo thì Giáo hoàng và tập thể các chức sắc ở Vatican gồm từ các Hồng y xuống tới các Linh mục, quyết định sách lược, đường lối của Giáo hội để phục vụ cái mà Giáo hội gọi là “Chân lý Công Giáo “ (Catholic truth), nghĩa là những tín điều, tín lý mà Giáo hội muốn tín đồ phải nuốt chững vì “đức vâng lời”, kèm theo những sách lược, thủ đoạn để mở mang đạo Chúa.  Trong thời Trung Cổ ở Âu Châu, Giáo hội nắm quyền sinh sát trong tay, và Giáo hội đã ra lệnh cho cánh tay thế tục, nghĩa là những chính quyền nằm dưới quyền của Giáo hội, cưỡng bức áp đặt những tín lý của Giáo hội trên nhân loại qua sách lược “giết người hàng loạt” [The Church ordered its secular arm to force its dogma upon humanity by “mass murder”]

   Các Giáo hội con, như Giáo hội Công giáo Việt Nam chẳng hạn, chỉ có nhiệm vụ thừa hành đường lối của Giáo hội hoàn vũ.  Như vậy, tội ác của Giáo hội thuộc về toàn thể “hội thánh” chứ không phải chỉ là của một số cá nhân như những lời bào chữa xảo quyệt của Giáo hội.  Chính sự ngu si của quần chúng tín đồ mù quáng tuân theo tất cả đường lối, sách lược của Giáo hội, cho nên dù muốn dù không, toàn thể “hội thánh” phải có trách nhiệm liên đới về những tác hại mà Giáo hội gây ra cho nhân loại, bởi vì không có sự tuyệt đối trung thành mù quáng của Giáo dân, Giáo hội không thể thực hiện được những sách lược Giáo hội muốn thi hành.

   Tuy nhiên, sự ngu si và cuồng tín của giáo dân không phải là yếu tố chính, mà còn phải do sự ngu dốt của chính Giáo hội cho nên Giáo hội mới có thể gây ra 7 núi tội ác đối với với nhân loại mà Giáo hoàng John Paul II cùng bộ tham mưu của ông đã xưng thú cùng thế giới.  Sự ngu dốt của Giáo hội là tin vào những điều mà Giáo hội cho rằng không thể sai lầm trong Thánh Kinh vì tưởng đó là lời mạc khải của Thiên Chúa.  Bao nhiêu thảm họa Giáo hội Công giáo gây cho nhân loại cũng chỉ vì sự ngu dốt này của Giáo hội.  Chúng ta hãy kể vài trường hợp điển hình.

   Sự ngu dốt này đã đưa đến hành động giết hại khoa học gia, ngăn chận sự tiến bộ kiến thức trong nhiều thế kỷ.  Chúng ta hãy kể hai trường hợp điển hình.

   Trường hợp thứ nhất là Giáo hội Công giáo thiêu sống Giordano Bruno, một linh mục dòng Đa Minh người Ý.  Bruno không những đồng ý với Copernicus mà còn táo bạo hơn,  đưa ra quan niệm là ngoài thế giới chúng ta đang sống có thể còn có nhiều thế giới tương tự khác nữa.  Điều này trái với lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh: “Trái đất là trung tâm của thế giới duy nhất mà chúng ta đang sống.”

    “Bruno tin rằng ngoài thế giới của chúng ta còn có nhiều thế giới khác nữa, tin là trái đất quay xung quanh mặt trời, và tin vào thuyết mặt trời là trung tâm của thái dương hệ   Vì những “tội ác” như vậy mà ông ta bị giam tù trong 6 năm.  Sau cùng, vì không chịu thay đổi quan niệm để được tự do, ông bị đưa ra tòa án xử dị giáo, kết án là có tội, tuyệt thông và bị tuyên án thiêu sống.  Ông bị các Linh mục, những người được dạy phải yêu kẻ thù,  dẫn từ nhà tù ra nơi hành hình.  Ông bị cột vào một cọc xung quanh có chất củi.  Rồi các Linh mục, tín đồ của Chúa Ki-Tô, châm lửa và thiêu sống vị Thánh tử đạo vĩ đại nhất, hoàn hảo nhất từ xưa tới nay.”  [8]

 

   Trường hợp thứ hai là về Galileo Galilei.  Năm 1616, kính thiên văn đầu tiên của Galilei đã làm cho vòm trời trong Thánh Kinh rớt ra từng mảng.  Công cuộc khảo cứu của Galileo Galilei dựa trên sự quan sát thiên văn qua hàng loạt những kính thiên văn ngày càng tân kỳ hơn, đã thực chứng quan niệm của Bruno và đồng thời khẳng định thuyết của Copernicus như là một chân lý khoa học.  Chúng ta đã biết, năm 1633, dưới triều Giáo Hoàng Urban VIII, tòa án xử dị giáo đã buộc Galilei phải sửa đổi khám phá khoa học của ông cho phù hợp với Thánh Kinh, nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất, và biệt giam ông tại nhà cho đến khi ông chết vào năm 1642.

  Vì trường hợp của Galileo đã nói lên phần nào tinh thần tôn trọng sự thật và bất khuất của các khoa học gia, và vì Galileo được coi như là người đã mở một kỷ nguyên mới cho nền khoa-học tân tiến Tây phương, nên tôi nghĩ kể lại vài dòng về trường hợp của ông cũng không phải là vô ích (B. S. Rajneesh, Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests and Politicians: Mafia of the Soul, trg. 27):

   “Năm 1633, khi Galileo, dựa trên những dữ kiện khoa học không thể phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn sách khảo cứu thiên văn của ông rằng: không phải là mặt  trời quay  xung quanh  trái đất  mà  chính là trái đất quay xung quanh mặt trời, thì ông bị kéo ra trước tòa án dị giáo của giáo hoàng Urban VIII.  Khi đó ông đã già, gần chết.  Giáo hoàng phán: “Trước khi chết, ngươì hãy sửa lại điều trên vì nó ngược lại với thánh kinh.  Bất cứ điều nào ngược với thánh kinh đều đương nhiên sai lầm, vì thánh kinh là lời của Thượng Đế.

   Galileo là một khoa học gia vĩ đại, dù đã 80 tuổi, sắp chết, nhưng vẫn còn đầy đủ óc khôi hài tuyệt vời.  Ông nói: Không thành vấn đề, tôi sẽ sửa lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong sách của tôi đúng như lời Thượng Đế đã viết trong thánh kinh – nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất.  Nhưng có một điều tôi cần trình ngài rõ: cả trái đất lẫn mặt trời đều không đọc sách của tôi.  Và sự thực thì, trái đất sẽ tiếp tục quay xung quanh mặt trời.

   Nếu ngài nhất định muốn biết tại sao thì tôi có đầy đủ bằng chứng.  Tôi đã dùng cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những người có đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ý với sự khám phá của tôi.  Trước sau gì rồi ngài cũng  phải  đồng ý  vì không  ai có thể chống lại sự thực lâu dài.”  [9]

     Tuy vậy Galileo vẫn bị buộc phải sửa đổi sự thực khoa học ông đã viết trong sách, bị kết án là “lạc đạo” và bị biệt giam tại nhà cho đến khi ông chết, năm 1642.  Nhưng lời tiên đoán của ông đã thành sự thực, tuy hơi chậm.  359 năm sau, ngày 29 tháng 10 năm 1992, giáo hoàng John Paul II, tuyên bố vụ án Galileo là một sai lầm và phục hồi danh dự cho Galileo, sau khi một ủy ban gồm những bộ óc thượng thặng của tòa thánh nghiên cứu trong 13 năm về vấn đề Galileo.  13 năm dùng để nghiên cứu một vấn đề mà đối với toàn thế giới đã rõ như ban ngày từ  mấy trăm năm nay, một sự kiện mà ngày nay học sinh tiểu học cũng biết, 13 năm tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của giáo dân đóng góp để kiếm ra một kẽ hở  hòng  biện hộ cho Giáo hội trong vụ án Galilei nhưng không thành công, để cuối cùng  phải thú nhận sự sai lầm của Giáo hội.

   Sự ngu dốt của các bậc Thánh trong Giáo hội Công giáo có thể biểu hiện điển hình trong lời phán của Thánh Augustine, tác giả nền thần học căn bản của Công Giáo, Augustine không thể tin nổi là trái đất có hình cầu, điều này chứng tỏ thần học là một bộ môn thuộc loại mê tín, không có giá trị trí thức:

   Không thể có người ở phía bên kia của trái đất, vì trong những hậu duệ của Adam, không có sắc dân nào được ghi trong Thánh Kinh. [10]

Ảnh Hưởng Thánh Kinh Trên 7 Núi Tội Ác Của Giáo Hội Công Giáo:    

    Hầu hết các tín đồ Công giáo không biết rằng, sở dĩ Giáo hội Công giáo gây nên 7 núi tội ác đối với nhân loại là vì Giáo hội tin theo tất cả những gì viết trong cuốn Thánh Kinh, như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định ở trên, trong khi Thánh Kinh chỉ là một cuốn sách mà ngày nay các học giả đã chứng minh rằng chứa rất nhiều sai lầm về thần học cũng như khoa học, khoan kể những chuyện hoang đường của dân tộc du mục Do Thái thời bán khai.  Các tín đồ cũng không biết rằng phần lớn những việc ác độc của Giáo hội chính là theo sát những lời dạy của hai cha con Giê-su trong cuốn Thánh Kinh.  Ngày nay, Giáo Hội làm đủ mọi cách để quảng cáo cho một Thượng đế nhất mực nhân từ của Ki-Tô Giáo, và Giê-su như là một Thày Giảng tôn giáo vô hại (a harmless religious preacher) và chủ trương hòa bình, nhưng những gì chúng ta có thể đọc trong Cựu Ước và các Phúc Âm trong Tân Ước đã loại bỏ hoàn toàn những điều Giáo hội nói về Thượng đế và Giê-su.  Do đó, Giáo hội luôn luôn tránh né thảo luận về sự kiện là chính hai cha con Giê-su đã gây cảm hứng cho Giáo Hội để thi hành những điều ác ôn đối với nhân loại.  Chúng ta hãy đọc vài lời phán của hai cha con Giê-su trong Thánh Kinh để chứng minh luận cứ trên.  Trước hết chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức Công giáo, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc :

   “Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.  Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “Tà Thần”, đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai.

   Lịch sử cho thấy:

    “Vào cuối thế kỷ 15, (1493), Giáo hoàng Alexander VI, tự  cho  Công giáo cái  quyền thống trị  hoàn cầu,  đã chia thế giới ra làm hai vùng ảnh hưởng: 1) toàn thể Mỹ Châu, trừ Ba Tây, thuộc Tây Ba Nha; 2) còn Bồ Đào Nha thì được Ba Tây và tất cả những đất đai nào chiếm được ở Á Châu và Phi Châu.  Sắc lệnh phân chia vùng ảnh hưởng này quy định rằng, song song với việc chiếm cứ đất đai là bổn phận phải kết hợp các dân địa phương vào trong giáo hội Công giáo.  Do đó, đi cùng với những đoàn quân xâm lăng là những linh mục.  Sự có mặt của gìới linh mục đã biện minh cho những hành động áp chế dân địa phương cũng như bất cứ thủ đoạn cưỡng ép nào được coi là cần thiết để kéo họ vào niềm tin Công giáo.”  [11]

    Bản chất của các giáo sĩ thừa sai và các linh mục bản xứ như ở Việt Nam họ tạo nên phần lớn là cuồng tín, nhắm mắt nghe theo mọi huấn lệnh của Giáo hoàng, vô đạo đức tôn giáo, tham lam, thích vơ vét tài sản của cải, lạm quyền để ăn cướp hay phá hủy chùa chiền làm đất xây nhà thờ, điển hình là nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ La Vang, nhà thờ Đức Bà ở Saigon v..v… đều được xây trên những đất ăn cướp của Chùa.  Sách lược này theo đúng huấn lệnh của Alexander VI ở trên và  trong  Cựu ước:  “Ngươi không được thờ thần nào khác, phải phá hủy tượng thần của dân gian.” Một số tài liệu trong phần sau sẽ chứng minh điều này.

   Giáo sư sử Mark W. McLeod viết trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874, trang 122, về vài hành động của Giáo dân Việt Nam trong thời Pháp xâm chiếm Việt Nam như sau:  

   … Để giúp chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ Truyền Giáo Công giáo và các lực lượng quân sự Pháp.  Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Công giáo Việt Nam.  Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Gia Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Công giáo đã dùng sức lao động (của tín đồ Công giáo bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người “lương”, mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Công giáo, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua.  Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Công giáo  thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ.”  [12]

        Trong “thánh lễ” xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội Công giáo đối với nhân loại, Giáo hội đã thiếu lương thiện khi cho rằng những tội ác mà Giáo hội gây ra là do một số cá nhân không theo đúng tinh thần của Giáo hội.  Những hành động ác ôn của Giáo hội hoàn vũ đối với nhân loại và của Giáo hội con ở Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam có phải là những hành động lẻ tẻ của các cá nhân nằm ngoài ý định của “hội thánh” Công giáo không?  Tuyệt đối không phải, đó chính là sách lược chính thức của Giáo Hội, thực thi đúng những lời dạy của hai cha con Giê-su trong cuốn thánh Kinh.  Chứng minh?  Chúng ta có thể đọc trong Cựu Ước như sau:

 THIÊN CHÚA: PHỤC TRUYỀN 6:17; 7:1-5: PHẢI TUYỆT ĐỐI TUÂN HÀNH CÁC ĐIỀU RĂN, LUẬT LỆ CỦA THIÊN CHÚA…  KHI ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN CÁC NGƯƠI VÀO VÙNG ĐẤT MÀ CÁC NGƯƠI SẼ CHIẾM HỮU..CÁC NGƯƠI PHẢI TẬN DIỆT HỌ, KHÔNG ĐƯỢC LẬP GIAO ƯỚC, KHÔNG ĐƯỢC THƯƠNG XÓT…  KHÔNG ĐƯỢC GẢ CON GÁI MÌNH CHO CON TRAI HỌ, HOẶC CƯỚI CON GÁI HỌ CHO CON TRAI MÌNH VÌ HỌ SẼ DỤ CON CÁI CÁC NGƯƠI THỜ CÚNG CÁC THẦN CỦA HỌ MÀ BỎ CHÚA HẰNG HỮU.. CÁC NGƯƠI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ NHƯ SAU:  PHẢI PHÁ HỦY NHỮNG BÀN THỜ CỦA HỌ, PHẢI ĐẬP PHÁ NHỮNG CỘT TRỤ THIÊNG LIÊNG CỦA HỌ, ĐẬP NÁT  NHỮNG HÌNH TƯỢNG BẰNG GỖ,  ĐỐT SẠCH CÁC TƯỢNG CHẠM CỦA HỌ..

   Lời xưng thú núi tội ác thứ 5:   Xưng thú “tội ác trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”, và thứ 7:  Xưng thú “tội ác trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người” của Giáo hội Công giáo đã chứng minh hơn gì hết là Giáo hội đã theo sát lời dạy trên trong Cựu Ước.  Và nay chúng ta đã hiểu tại sao các bậc chăn chiên Việt Nam không muốn cho con chiên của mình lấy người ngoại đạo, và cưỡng ép những người ngoại đạo phải học đạo trước khi lấy người trong đạo, với điều kiện những đứa con sinh ra phải đi rửa cái tội của một Adam hoang đường, nghe lời của một con rắn hoang đường biết nói tiếng người,  chót ăn một trái cây hoang đường, trong một cái vườn hoang đường của cổ sử Do Thái.

    Tại sao lịch sử Công giáo lại chứng tỏ đó là một tôn giáo rất hiếu chiến với những đạo binh của Chúa, đạo binh của Đức Mẹ v…v…  Đó là vì chính Chúa Giê-su đã gây cảm hứng hiếu chiến cho Giáo hội.  Giê-su phán:

GIÊ-SU: Matthew 10: 34-36:

ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA XUỐNG TRẦN ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH TRÊN TRÁI ĐẤT.  TA KHÔNG XUỐNG ĐÂY ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH MÀ LÀ GƯƠM GIÁO.  VÌ TA XUỐNG ĐÂY ĐỂ LÀM CHO CON CHỐNG LẠI CHA, CON GÁI CHỐNG LẠI MẸ, CON DÂU CHỐNG LẠI MẸ CHỒNG, VÀ KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI Ở NGAY TRONG NHÀ HẮN.

   Cho nên đi đến đâu, Công Giáo cũng tạo nên sự bất hòa trong dân gian, gia đình xung đột v…v…  Cảnh Lương Giáo tàn sát lẫn nhau trong quá khứ, và gia đình bất hòa vì có đứa con lạc đàn đi theo Công giáo là chuyện thường xảy ra trong xã hội Việt Nam kể từ khi Công giáo xâm nhập vào Việt Nam.

    Trong cuốn Những Hội Truyền Giáo Hải Ngoại và Sự Xâm Nhập của Pháp Vào Việt Nam (Les Missions Étrangères et la Pénétration Francaise au Viet-Nam), Nicole-Dominique Lê viết:

   “Theo quan điểm của những nhà lãnh đạo Việt Nam  thì các thừa sai đã phạm tội thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia.  Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những giá trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề của xã hội truyền thống.  Nhưng nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đã tạo nên sự phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau.”  [13]

    Chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận trong cuốn  Cẩm Nang Triết Việt, trang 57:

   “Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam…đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ.  Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có làm giảm đi, nhưng xem ra không sao xóa sạch được”

   Sự phân biệt lương-giáo của ông cha chúng ta là có ý nghĩa sâu sắc.  Vì “lương” có nghĩa là tốt, lành, lương thiện, còn “giáo” chỉ các giáo dân, những người không “lương”.  Linh Mục Lương Kim Định đã thú nhận một ảnh hưởng tác hại của Công Giáo trên đại khối dân tộc Việt Nam: gây chia rẽ.

    Sau Giám mục Bá Đa Lộc là những Linh mục, Giám mục tới Việt Nam với mục đích rõ rệt là phá hủy nền văn hóa Việt Nam, và vận động chính phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp.  Trong số này chúng ta phải kể đến những Giám mục Huc, Retord, Pellerin, Gauthier, Puginier v..v.. [Xin đọc bài “Nhân Vụ Đồng Chiêm” – Quạ Thì Đen” của Nguyễn Lâm trên http://www.sachhiem.net/TONGIAO/tgN/NguyenLam.php ngày 1/2/2009]

Tất cả đều có những hoạt động gián điệp với sự tiếp tay của một số không nhỏ tín đồ Công giáo bản xứ.  Hiện nay, những sử liệu về hoạt động gián điệp và gian ác thế tục của họ không thiếu.  Trong mục đích xâm lăng Việt Nam, các thừa sai Công giáo đã bi thảm hóa chính sách cấm đạo của các triều đình nhà Nguyễn với tất cả sự căm phẫn của họ.  Nhưng xét theo bối cảnh lịch sử thế giới trong những thế kỷ 16-19 thì chúng ta phải nói rằng, căn bản căm phẫn của các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc và tay sai bản địa về việc  cấm đạo  và  bách hại  giáo dân ở  Việt Nam thật là vô lý một cách lố bịch: “Vì chính trong những khoảng thời gian này, Công Giáo đang tàn sát những tín đồ Tin Lành ở Netherlands, tra tấn hàng ngàn dân Huguenots ở Pháp, và Văn Phòng Thánh Xử Dị Giáo (Holy Office of the Inquisition = Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa Hình Án xử dị giáo) còn đang bận thiêu sống những kẻ dị giáo từ Granada tới Goa.” (Dennis Bloodworth, The Chinese Looking Glass, A Delta Book, New York, 1968), khoan kể là việc cấm đạo không phải vì giáo dân theo một đạo mới mà vì giáo dân đã có những hành động phản quốc, phản bội dân tộc.

    Như vậy, căn bản căm phẫn của họ thực ra là đặt trên cái lý lẽ đầy bất công và man rợ của kẻ mạnh, mạnh vì gươm giáo, súng ống, chứ không phải mạnh về tinh thần hay đạo đức: là con Chúa thì có quyền đi tra tấn, tàn sát, thiêu sống người ngoại đạo vì họ không có cùng một niềm tin như các con Chúa, còn người ngoại đạo thì không có quyền đụng tới con Chúa ngay cả khi những con Chúa này thuộc loại phản quốc.

   Về những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, Lord Acton, một tín đồ Công giáo, viết vào cuối thế kỷ 19:  

    “Nguyên tắc của Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo là giết người..  Những giáo hoàng không chỉ là những tên sát nhân có hạng, mà còn cho sự giết người là một căn bản hợp pháp của Giáo hội Ki Tô và là một điều kiện của sự cứu rỗi.”  [14]

    Giáo hội đã theo sát lời dạy của Giê-su như sau:

 GIÊ-SU: LƯU–CA: 19:27: HÃY MANG NHỮNG KẺ THÙ CỦA TA RA ĐÂY, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MUỐN TA NGỰ TRỊ HỌ, VÀ GIẾT CHÚNG NGAY TRƯỚC MẶT TA.

    Giáo hội không chỉ giết người mà còn hành hạ tra tấn các nạn nhân bằng những hình cụ rất khủng khiếp mà Giáo hội đã phát minh ra.  Hiện nay ở San Francisco, Mỹ, và ở Amsterdam, Hà Lan, đều có bảo tàng viện trưng bày hơn 40 hình cụ Giáo hội “sáng tạo” ra để tra tấn con người.  Nhưng tại sao Giáo hội lại ác ôn như vậy?  Chính Giê-su đã dạy phải hành hạ tra tấn những kẻ không tin Chúa trong sách Khải Huyền.

   Sách Khải Huyền đã được Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson phê bình  một cách rất chính xác như sau: “Sách Khải Huyền là những lời nói dốt nát của một kẻ điên khùng”   [President Thomas Jefferson referred to the Book of Revelation as “the ravings of a maniac”, West County Times, California, USA, Editor Steven Morris, 14 August, 1995]. 

   Kẻ điên khùng dốt nát này là ai?  Kinh Thánh viết rõ tên sách Khải Huyền: “The Revelation of Jesus Christ”, có nghĩa là “Lời khải thị của Giê-su Ki Tô”, và câu đầu trong sách Khải Huyền viết rõ: “Rev. 1: 1: The Revelation of Jesus Christ, which God gave Him to show to His servants – things which must soon take place, He made it known by sending his angel to his servant John….” [TCN tạm dịch: Lời khải thị, hay mạc khải, của Giê-su Ki-tô mà Chúa Cha đã ban cho ông ta để tỏ cho các tôi tớ của ông ta thấy những điều sắp phải xảy ra.  Giê-su tỏ điều khải thị này (cho các tôi tớ) bằng cách sai thiên sứ của ông ta đến với kẻ tôi tớ của ông ta là John (Gio-an hay Giăng)…].  Bây giờ chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Chúa Giê-su trong sách Khải Huyền, 9:3-5:

   Rồi từ đám khói bay xuống đất những con châu chấu.  Chúng được ban cho nọc độc như những con bọ cạp ở dưới đất.  Chúng được lệnh không được phá hại cây cỏ mà chỉ nhắm vào những người không có dấu ấn của Thượng đế đóng trên trán [nghĩa là những người không được Thượng đế chọn để cứu vớt trong ngày tận thế vì không tin vào Thượng đế].  Chúng không được quyền giết mà chỉ được tra tấn hành hạ những người này trong 5 tháng.  Và sự đau đớn cùng cực của những người này giống như khi bị bọ cạp chích.  Trong 5 tháng này, những người này muốn chết đi cho rồi mà không chết được. (Ôi! Chúa lòng lành của Ki Tô Giáo?] 

     Nhưng thật ra, những cuộc tra tấn nạn nhân vô tội của Giáo hội trong những vụ xử án dị giáo, lạc đạo, và phù thủy còn dã man, khủng khiếp hơn là bị bọ cạp chích nhiều.  Tra tấn xong, và sau cuộc tra tấn thì nạn nhân nào cũng có tội.  Cuối cùng thì Giáo hội trao cho cánh tay thế tục của Giáo hội mang nạn nhân đi thiêu sống, dưới sự giám sát của giám mục hoặc linh mục.  Tại sao chính quyền thế tục lại phải nghe theo lời sai khiến của Giáo hội để thi hành những điều ác ôn như vậy.  Chúng ta nên nhớ rằng, trong thời Trung Cổ, quyền hành sinh sát của Giáo Hội là tuyệt đối, đứng trên thế quyền. 

   Ngày 18 tháng 11 năm 1302, Giáo hoàng Boniface VIII ban “sắc lệnh về hai lưỡi gươm” của Giáo hội (Bull of two Swords [Unam Sanctam = The One Holy]), đặt căn bản cho quyền hành của Giáo hội trong nhiều thế kỷ.  Sắc lệnh của Giáo hoàng tuyên dương là Giáo Hội nắm trong tay “hai lưỡi gươm”, nghĩa là hai mặt quyền lực. (“Two swords, that is, two powers):

     “Cả hai lưỡi gươm đề nằm trong quyền lực của Giáo hội, lưỡi gươm tinh thần và lưỡi gươm thế tục;  lưỡi gươm tinh thần được vung lên trong Giáo hội bởi giới chăn chiên; lưỡi gươm thế tục thi hành lệnh của Giáo hội bởi cánh tay quân sự của Giáo hội .. và quyền lực tinh thần có quyền thiết lập và hướng dẫn quyền lực thế tục, và phán xét quyền lực thế tục khi quyền lực này không thi hành đúng lệnh.. Bất cứ người nào chống lại hai lưỡi gươm này là chống lại luật của Thượng đế (Bull Unam Sanctam, Boniface VIII, 18 November 1302; Catholic Encyclopedia, xv, p.126)  [15]

    Nhưng tại sao sau khi tra tấn Giáo hội lại không giết phắt nạn nhân đi cho rồi, mà lại còn phải mang nạn nhân đi thiêu sống.  Là vì chính Chúa Giê-su đã dạy như vậy trong “Phúc Âm” (sic) John 15:6:

    Nếu  một người không chịu theo ta, nó sẽ bị quăng đi như một cành cây, và trở thành khô héo; rồi các người sẽ gom chúng lại, ném chúng vào ngọn lửa, và chúng bị đốt cháy.

    Không phải là tự nhiên và vô cớ mà Giáo hội lại đi săn lùng phù thủy, nếu thực sự có phù thủy ở trên đời, tra tấn họ và thiêu sống họ.  Đó là vì Giáo hội theo sát lời dạy trong những đoạn sau trong Thánh Kinh.

   Exodus 22: 18:  NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ CHO MỘT PHÙ THỦY ĐƯỢC SỐNG SÓT [King James Version: “You shall not suffer a witch to live”; Revised English Version:  “You must not allow a witch to live.”]; Leviticus 19:26  “Thiên Chúa sẽ đối mặt với các kẻ làm thầy pháp và giết hết bọn này trước mặt dân chúng”; Levi. 20:26-27  “Những kẻ làm phù thủy hoặc bói toán phải được đem ra giết hết”.  Và Giáo hội Công Giáo cũng như Tin Lành sau này đã theo đúng những luật man rợ này của Thiên Chúa trong Kinh Thánh để tiêu diệt những phù thủy, sản phẩm tưởng tượng của Thiên Chúa trong Kinh Thánh mà Công Giáo cũng như Tin Lành tin là có thật, hay vu là có thật, để theo đuổi những mục đích thế tục như chiếm hữu tài sản của nhưng nạn nhân. 

    Giám mục Bruno ở Segni nói:  “Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và Phù Thủy “được phát minh ra để cướp tài sản của những người giầu có.  Giáo hoàng và các linh mục của ông ta đều bị nhiễm độc bởi thú nhục dục; họ coi khinh Gót vì tôn giáo của họ đã bị chìm ngập trong một cơn đại hồng thủy của giàu sang” [16]

   Tin nhảm tin nhí vào Thánh Kinh, rằng phù thuỷ có thực trên thế gian, không chỉ là niềm tin trong Công Giáo mà còn trong Tin Lành.  Thật vậy, Martin Luther,  ông tổ của Phản Thệ Giáo, alias Tin Lành [thực sự chỉ là Tin Dữ], tin chắc cuốn Kinh Thánh là quyền uy tối cao, không ngần ngại thiêu sống phù thủy.

     Ông ta cho phép thiêu sống 4 phù thủy ở Wittenberg,.  Ông ta phát biểu: “Tôi không hề có lòng thương các phù thủy..Tôi có thể thiêu sống tất cả bọn họ. và Tin Lành John Calvin (1545) đích thân chỉ huy một chiến dịch ở Geneva chống 31 người bị kết án là phù thủy.  Calvin tuyên bố: “Kinh Thánh dạy chúng ta là có những phù thủy và họ phải bị giết.. luật này của Thiên Chúa là một luật phải được áp dụng khắp nơi” [17]

      Chúng ta thấy rằng, những câu trích dẫn ở trên từ cuốn Thánh Kinh, và nhiều câu khác cũng như nhiều chuyện trong Thánh Kinh, đã là căn bản, không những chỉ cho sách lược truyền đạo của Công Giáo, điển hình là ở Việt Nam, cho những cuộc Thập Ác Chinh, mà còn cho cả 7 núi tội ác của giáo hội Công Giáo mà giáo hoàng John Paul II cùng một số phụ tá cao cấp trong tòa Thánh, trong đó có Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, về sau được phong Hồng Y, đã công khai xưng thú với nhân loại ngày 12 tháng 3, 2000 tại thánh đường Phê-rô.

   Chúng ta có thể nêu ra vô số trường hợp chứng tỏ sự ngu dốt của Giáo hội trong lịch sử Giáo hội đã gây nên bao tác hại cho nhân loại, và sự ngu dốt đó còn kéo dài cho tới ngày nay khi Giáo hội còn mang cái gọi là “vạ tuyệt thông” hoang đường để hù dọa tín đồ, “đức vâng lời” để nô lệ hóa tín đồ, hoặc lập trường cứng rắn của Giáo hội về những vấn đề xã hội, nhất là vấn đề ngừa thai, cấm phá thai trước nạn nhân mãn, trong khi một số linh mục đã hiếp dâm chị em nữ tu Công giáo rồi dẫn họ đi phá thai.

Thực Chất Hàng Giáo Phẩm Công Giáo:

   Giáo dân Công giáo Việt Nam gọi giáo hoàng của họ là “đức thánh cha”.  Họ được dạy như vậy nhưng sự thực họ không biết gì về những “đức thánh cha” của họ.  Khoan kể lịch sử các giáo hoàng đã cho thấy có nhiều giáo hoàng tội ác ngập trời, ngay cả những giáo hoàng gần đây như Pius XII, John Paul II hay Benedict XVI cũng không được coi là có đạo đức tôn giáo.  Giáo hoàng đương nhiệm, Benedict XVI, khi còn là Hồng y thiết giáp Joseph Ratzinger, đã phê bình Phật Giáo bằng một câu rất vô giáo dục, gần đây ông ta cũng còn phán bậy về Hồi Giáo rồi phải xin lỗi, và chính ông ta đã ra lệnh cho các giám mục trên thế giới phải tiếp tục thi hành chính sách bao che, bưng bít các vụ giám mục và linh mục của ông ta can tội loạn dâm và ấu dâm.

    Giáo dân cũng gọi các linh mục của họ là “đức cha” mà sự thực không biết gì về các “đức cha” vô đức của họ.  Họ được dạy, đúng ra là bị nhồi sọ, để tin rằng “giáo hoàng” là những đại diện của Chúa trên trần (Vicars of Christ), có thể cho họ lên một “thiên đường mù” sau khi chết để sống cuộc sống đời đời với Chúa mà thực ra không phải là Chúa của họ.  Họ được dạy, đúng ra là bị nhồi sọ, để tin rằng các linh mục của họ đều là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), có quyền thay Chúa tha tội cho họ.  Trong bí tích xưng tội hoang đường, là “cha tha tội cho con” chứ không phải là “Chúa tha tội cho con” trong khi rất có thể Chúa, nếu thực sự có Chúa, không hề muốn tha tội cho họ.  Họ không hề biết rằng nhiều khi các “đức cha” của họ còn bê bối, tội lỗi hơn chính họ nhiều.  Ở Việt Nam, khi giáo dân phàn nàn về đạo đức của mấy “đức cha” thì được ông giám mục sở tại khuyên: “Các con đừng nói hành các Cha mà mang tội với Chúa”.  Giáo dân đầu óc thuộc loại mì ăn liền sợ mang tội với Chúa cho nên không dám hé môi, để mặc các “đức cha” tự tung tự tác, con rơi con vãi.  Nhưng trong thế giới Tây phương thì có khác.  Hơn 5000 linh mục ở Mỹ đã bị giáo dân đưa ra tòa vì tội loạn dâm và ấu dâm, và một số Hồng Y, Tổng Giám mục đã bị truy tố, lên án về tội bao che các linh mục phạm tội.  Giáo hội đã phải bỏ ra trên 2 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai”.

      Vì tiếp tục sống trong bóng tối nên chúng ta thấy trên vài trang nhà của Công Giáo Việt Nam vẫn huênh hoang nói lên câu vô nghĩa: Giáo hội Công Giáo Rô-ma là “Giáo hội mạc khải, thánh thiện, duy nhất, và tông truyền” dù rằng hàng ngàn công cuộc nghiên cứu về Công Giáo của các học giả Tây phương, gồm cả các bậc chăn chiên như Linh mục, và cao cấp hơn như Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, khoan kể đến các nhà thần học nổi danh thế giới như Hans Kung, Uta-Ranke Heineman, John Shelby Spong v..v.. đã chứng minh dứt khoát là Công Giáo tuyệt đối không có cái gì có thể gọi là “mạc khải, thánh thiện, duy nhất, và tông truyền”. Chúng ta hãy điểm sơ vài nét về lịch sử Công Giáo, về đạo đức của các Giáo hoàng và giới chăn chiên.

   Vì Giáo hoàng là “đại diện của Chúa” (Vicar of Christ) và là người chủ chăn đứng đầu Giáo hội cai quản đám con chiên ở dưới, nên sau đây tôi sẽ duyệt qua một số sự kiện về các Giáo hoàng và và hàng Giáo phẩm trong cung đình Vatican, xuyên qua đó hi vọng chúng ta có thể thấy rõ phần nào bản chất và thực chất của Giáo hội Công giáo.  Về lịch sử và đạo đức của một số không nhỏ Giáo hoàng, tôi đã viết bài “Đây! Những “Đức Thánh Cha”, Đại Diện Của Chúa Ki-Tô trên Trần và là Chủ Chăn của Giáo Hội Công Giáo :Thiên Khải, Duy Nhất, Thánh Thiện, Tông truyền,”  đăng trên sachhiem.net:  http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN20.php,  tôi sẽ không nhắc lại những chi tiết trong đó nữa.  Ở đây, tôi chỉ nêu lên một số sự kiện tổng quát để chứng minh là:

   “Đọc lịch sử Giáo hội Công Giáo từ đầu cho đến ngày nay, chúng ta thấy đó là một lịch sử của những sự tàn bạo, giết người [cruelty and murder], những vụ mang tai tiếng (scandals), những chuyện vô luân [immorality], gian lận [frauds], gian dối (deceit], ngụy tạo [forgeries], hiếu chiến [aggression].  Tất cả những điều này sẽ được chứng minh trong phần tài liệu sau đây.

   Trước hết, tài liệu của Giáo hội về các Giáo hoàng bắt đầu bằng một sự ngụy tạo.  Người ta biết rằng lịch sử các Giáo hoàng viết bởi Giáo hội Công giáo đều chứa những văn kiện ngụy tạo [It is acknowledged that the popular Catholic version of the history of the popes are composed of forgeries], mà mục đích chính là để đánh bóng Giáo hội, mê hoặc tín đồ, che dấu sự thực.  Vatican xuất bản cuốn sách về các Giáo hoàng (Book of the popes) và cuốn “Liberian Catalogue”, đưa ra trước thế giới những thông tin ngụy tạo về các Giáo hoàng.  Phân tích tổng hợp hai cuốn sách trên, các học giả đã chứng minh là cả hai đều nổi rõ về những chuyện bịa đặt giả tưởng về những người kế vị Peter đầu tiên (both notorious for their fictions accounts of early and mythical “successors” of St. Peter” [Catholic Encyclopedia, ix, pp. 224-225; also Pecci ed., ii, p. 371] và Giáo hội không biết gì về các Giáo hoàng trong 6,7 thế kỷ đầu.  Trong những thế kỷ này, không có một Giáo hoàng nào có một khuôn mặt lịch sử rõ ràng [To glance at the sypnosis of each pope as given, the Church knows nothing whatever about the pontiffs of the first 6, 7 centuries, and not one of them is a clearly defined in history].

   Linh mục Delehaye, sau khi nghiên cứu cuốn sách trên, phát biểu:

   “Không có bất cứ một bằng chứng nào là danh sách các Giáo hoàng trong mấy thế kỷ đầu được căn cứ trên những tài liệu có từ trước; đơn giản là, không có một Giáo hoàng Ki-tô nào trong nhiều thế kỷ”  [18]

    Nhà thần học Anh, Anthony Collins (1676-1729) viết trong cuốn “Discourse of Freethingking (1713), trang 96:

    Nói ngắn gọn, những sự gian dối như vậy rất thông thường trong mọi cuốn sách viết bởi các linh mục.  Điều chắc chắn là họ dựa vào quyền năng của những tác phẩm trước, nhưng chính những tác phẩm này cũng là đồ giả, ngụy tạo, với các lý do hơn bất cứ lý do nào khác để hỗ trợ cho những sản phẩm về đức tin của họ với sự lươn lẹo nham hiểm. [19]

    Ngày nay, nếu chúng ta có đọc những cuốn sách viết về đạo của các linh mục Phan Phát Huồn, Bùi Đức Sinh, hay Tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận v…v…, chúng ta cũng có thể thấy trong đó đầy những sự gian dối, ngụy tạo, không ngoài mục đích hỗ trợ cho đức tin của họ, bất kể đến sự bất lương và liêm sỉ trí thức.

   Đọc lịch sử Giáo hội Công giáo chúng ta thấy Giáo hội có cả một trường phái ngụy tạo (school of forgeries), chuyên ngụy tạo những văn kiện có lợi cho Giáo hội, hay sửa lại các tài liệu mà Giáo hội thấy rằng có hại cho uy tín và những thuộc tính tự tạo để tăng uy tín của Giáo hội, hoặc diễn giải Thánh Kinh theo chiều hướng lành mạnh hóa những điều xâu xa trong Thánh Kinh.  Những văn kiện ngụy tạo nổi tiếng nhất mà nay chính Giáo hội hoặc các nhà thần học trong Công giáo cũng phải thừa nhận là ba bằng chứng ngụy tạo sau đây:

–           Bản văn hiến dâng của Constantine (The Donation of Constantine);  mục đích là chứng minh chắc chắn rằng Giáo Hoàng là người kế thừa Phê-rô và Constantine, do đó có toàn quyền trên trái đất, và đàng sau hậu trường là sự hậu thuẫn của quyền lực từ trên trời. 

–          Ngụy tạo Tân Ước, rằng Giáo hội Công Giáo là do Chúa Giê-su thành lập, trao quyền cho Phê-rô, và các giáo hoàng đều là những người kế vị Phê-rô để chăn dắt đạo Chúa.

–          Ngụy tạo lời Giê-su, sau khi đã chết hiện ra dạy các tông đồ phải đi truyền đạo trên khắp thế giới.

   Quý độc giả có thể đọc chi tiết chứng minh ba sự ngụy tạo chính này trên trang nhà sachhiem.net: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/Giesu/Giesulaai3.php

   Quý độc giả cũng có thể đọc bài “Những Tài liệu Ngụy Tạo và Quyền Lực Giáo Hoàng” [Forged Documents and Papal Power] của Nữ Tu Công Giáo Mary Ann Collins trên www.CatholicConcerns.com , hoặc bài “Ảnh hưởng lịch sử và sự sử dụng những tài liệu ngụy tạo để đẩy mạnh giáo lý về chế độ Giáo hoàng” [The Historical Influence and Use of Forgeries in Promotion of the Doctrine of the Papacy] của William Webster trên trang nhà: http://www.christiantruth.com/articles/forgeries.html để thấy rằng Giáo hội Công giáo đã ngụy tạo ra, không phải là một vài, hay một vài chục, mà hàng trăm các văn kiện để tạo quyền lực cho chế độ Giáo hoàng và Giáo hội.

   Chúng ta biết rằng, các tín đồ Công giáo ở các nước kém phát triển như trong thế giới thứ ba, hoặc như ở Việt Nam, Phi Luật Tân là những người cuồng tín nhất thế gian.  Làm sao mà Giáo hội có thể thành công trong việc nhào nặn đầu óc tín đồ đến độ họ không còn khả năng suy nghĩ.  Đó là vì Giáo hội đã sử dụng Học Thuật Công giáo (Catholic scholarship), phối hợp một nền thần học ngụy biện, dối trá với những văn kiện ngụy tạo, giả mạo.  Nguỵ biện vì lúc thì giải thích thế này, khi thì giải thích thế nọ, lúc thì giải thích suôi, khi thì giải thích ngược v..v..; dối trá vì không đúng với sự thật với chủ đích lừa dối; ngụy tạo, giả mạo là bịa đặt ra, thêm thắt vào. Học thuật này rất thành công đối với đám tín đồ ít học, đầu óc yếu kém, không đủ khả năng để nhận ra sự thật.  Nhưng ngày nay, học thuật này đã không còn chỗ đứng trong thế giới văn minh, tiến bộ.   Thật vậy, ngày nay, nhiều học giả, trí thức, chuyên gia v..v.. đã phanh phui ra những thủ đoạn lừa dối của giáo hội Công giáo.  Thí dụ, Douglas Lockhart đã viết trong cuốn  Cái Mặt Đen Tối Của Thiên Chúa (The Dark Side of God) như sau:

   Với khả năng phịa sử qua những tài liệu giả mạo trông như thật với dấu ấn của Giáo Hoàng, và lồng những tài liệu giả mạo này vào trong Giáo Luật, Giáo hội Công giáo đã tái tạo quá khứ của mình một cách có hệ thống để rồi cuối cùng tin vào những điều nói láo của chính mình. [20]

    Nữ học giả Helen Ellerbe cũng viết trong cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo (The Dark Side of Christian History):

    Cuốn Tự Điển Bách Khoa của Công giáo cũng phải thừa nhận rằng “Trong mọi lãnh vực, sự giả mạo và thêm thắt vào cũng như sự ngu đần đã được tập họp thành trò tinh quái có hạng.” Dù rằng Giáo hội đã cấm không cho nghiên cứu thêm về nguồn gốc của các Phúc Âm, nhiều học giả đã chứng tỏ cả bốn Phúc Âm đều đã được xào xáo viết lại.  Trong khi Giáo hội tuyên bố rằng bản chất chân lý không thay đổi và chỉ được mạc khải một lần duy nhất, Giáo hội luôn luôn tìm ra lý do  để thay đổi chân lý đó. [21]

    Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Cựu Linh mục dòng Tên, Peter Doeswyck, về những sự ngụy tạo của Giáo hội Công giáo La mã: http://www.mtc.org/3_98_nl.html#art1:

    “Toàn thể cấu trúc của Giáo hội Công giáo La-mã được xây dựng trên những ngụy tạo, những lá thư tông đồ giả mạo, những bài giảng giả mạo, những phép lạ giả mạo, những di tích giả mạo (của các Thánh), những công đồng giả mạo, và những sắc lệnh giả mạo của các giáo hoàng. Sách Bách Khoa Toàn Thư của Công Giáo thú nhận về sự hiện hữu của nhiều ngàn những tác phẩm ngụy tạo.. Những phát minh của Giáo hội La-mã như Peter tử vì đạo ở La-mã (thế kỷ 2), sự thăng thiên của Mary (thế kỷ 6), quyền lực thế tục của Giám mục thành La-mã (Giáo hoàng) [thế kỷ 8], Quyền tối thượng của Giáo hội La-mã (thế kỷ 11), 7 Bí Tích (thế kỷ 13) v..v… chỉ có thể chứng minh bằng sự ngụy tạo…

   Các nhà thần học Công giáo nhận định rằng, với sự phát triển về quyền tối thượng của Giáo hoàng trong thời Trung Cổ, số văn thư của các giáo hoàng tăng lên thật nhiều: “Không còn nghi ngờ gì nữa là trong gần suốt thời Trung Cổ các tài liệu của các giáo hoàng và nhiều tài liệu khác đã được ngụy tạo không ngần ngại một cách rất vô lương tâm.  Nói về hàng ngàn các phép lạ về các di tích của các thánh của Giáo hội La Mã, những học giả này thú nhận là “chắc chắn phần lớn là giả mạo”, có “vô số các thánh tích chắc chắn là giả mạo”.  Những học giả này thú nhận những sự gian dối sau của Giáo hội La-mã: nguồn gốc chuỗi hạt mân côi hay các bài kinh cầu, sự hiện ta của Mary trước thánh Dominic,   xương vai của Mary và Mary hiện ra trước Simon Stock, những bậc thang thánh [Scala Santa = đó là 28 bậc thang bằng đá ở thánh đường John Lateran, thành La Mã,  được giáo hội dạy rằng các thiên thần đã mang chúng từ Jerusalem tới.  Đó là những bậc thang mà Chúa Giê-su đi xuống sau khi bị Pilate xử.  Trong các Phúc Âm không có chỗ nào nói về các bậc này, nhưng dây không phải là vấn đề đối với giáo hội, vì giáo hội bảo con chiên thế nào thì con chiên phải nghe như vậy.  Vì sự mê tín cùng cực vào những điều nhảm nhí như trên nên các tín đồ Công Giáo hành hương nơi đây thường leo 28 bậc này bằng đầu gối.  (Those who adored the Pope: “And kissed—whatever he gave them to kiss, Toe, relic, embroidery, nought came amiss,”).  TCN], những truyền thuyết về thánh tích của thánh Veronica, cây “thánh giáo” [đâm lên người Giê-su sau khi Giê-su bị đóng đinh] v..v… [22]

       Chúng ta hãy đọc một trường hợp điển hình về sự ngụy tạo của Giáo hội trong vô số các vụ ngụy tạo.

   Trong những ấn bản đầu của bộ Tự Điển Bách Khoa Encyclopedia Britannica, Giáo sư  Rockwell, một sử gia chuyên nghiên cứu về lịch sử giới lãnh đạo Công giáo, đã viết về Giáo hoàng Boniface VIII như sau: tham lam, huênh hoang kiêu căng làm cho ông ta có nhiều kẻ thù.  Nhiều người cho rằng hắn liên kết với Satan [avarice, lofty claims and frequent exhibition of arrogance made him many foes; he was believed by many to be in league with the Devil (3rd ed., 1797)]  Sau ấn bản thứ 11 vào năm 1898, Giáo hội Công giáo mua lại nhà xuất bản Encyclopedia Britannica và chỉ trong vài năm, những ấn bản mới được phát hành và những đoạn nói về Boniface VIII được lệnh phải xóa bỏ. Đến năm 1943, các ấn bản của Giáo hội được trao trách nhiệm cho đại học Loyola ở Chicago.  Trong những thập niên tiếp theo, các vị chăn chiên đi từng nhà tín đồ ngây thơ và rao bán được nhiều triệu bộ.

   Thật ra, rất ít người, nhất là các tín đồ Công giáo, biết rằng nhiều văn kiện chính thức của Giáo hội Công giáo đã ghi lại những việc xấu xa trong toàn thể hệ thống hàng giáo phẩm Công giáo, và những uẩn hàm xung quanh sự hiểu biết này đã bắt đầu có những quan điểm mới khi xét trong ánh sáng của lời dạy chính của Giáo hội, cho rằng hệ thống giới chăn chiên rất sùng tín [nghĩa là giới chăn chiên chẳng sùng tín mà chỉ lợi dụng chức vụ cho những mục đích thế tục. TCN] [23]

   Nhưng với sách lược cố hữu là che dấu sự thực nên Giáo hội đã dấu nhẹm những văn kiện này và thay thế chúng bằng những tài liệu ngụy tạo để đánh bóng bộ mặt của Giáo hội.  Một luận điệu dối trá của Giáo hội mà chúng ta thường thấy các tín đồ Công giáo Việt Nam thường nhắc lại mà người Công giáo Việt Nam thường lập lại như những con vẹt là “Giáo hội đã là tôn giáo đưa Âu Châu đến nền văn minh hiện đại”.  Điều này hoàn toàn sai với những sự thực lịch sử.  Ngày nay, thế giới đã biết rằng chế độ Giáo hoàng, thay vì dẫn giắt Âu Châu trên con đường tiến tới văn minh, thực ra những đại diện của Công giáo đã đưa Âu châu qua nhiều thế kỷ xung đột và thoái hóa. [The world is learning that the papacy, instead of having guided Europe along a path to civilization, has even in its best representatives inaugurated centuries of conflict and degradation].

Giáo hội và nền văn minh Âu Mỹ?

   Giáo hoàng và giáo hội luôn luôn nhập nhằng lấy cái nền văn minh Âu Mỹ làm nền văn minh KiTô.  Giáo hoàng John Paul II phát biểu là “Một nền văn minh xứng đáng với con người phải là nền văn minh KiTô.”   Hồng Y Spellman khi sang Việt Nam ủy lạo binh sĩ Mỹ cũng khẳng định họ “đang chiến đấu để bảo vệ nền văn minh KiTô Tây phương.”   Và trên vài diễn đàn điện tử chúng ta vẫn thấy một số tín đồ Công giáo huênh hoang và ngu ngơ quảng cáo rằng nền văn minh Tây phương chính là nền văn minh của Ki tô giáo.

   Chúng ta đã thấy những chính sách đốt sách vở của Công giáo, chính sách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương, giết người ngoại đạo, bách hại dân Do Thái, và đàn áp các khoa học gia vì những khám phá của họ ngược với Thánh Kinh v..v..  Vậy nền văn minh KiTô là nền văn minh nào, có phải là nền văn minh hiện thời không?  Có bao nhiêu khoa học gia, tư tưởng gia, triết gia tuyệt đối tin vào KiTô giáo đã đóng góp cho nền văn minh hiện đại và đóng góp những gì?  Hay là nền văn minh hiện đại bắt nguồn từ những khoa học gia bị Giáo hội bạo hành, rồi phát triển qua những khoa học gia, tư tưởng gia mà giáo hội đã không còn quyền hành để thiêu sống hay bắt giam nữa.

      Chúng ta cũng đã biết, khi Giáo hội Công giáo La Mã nắm quyền thống trị ở Âu Châu thì đã kéo bức màn “man rợ và đen tối trí thức” phủ lên Âu Châu trong 10 thế kỷ.  Sau thời đại hắc ám này, chúng ta thấy xuất hiện ở Âu Châu những thời đại Phục sinh (Renaissance), thời đại Khai sáng  (the age of Enlightenment), thời đại lý trí (the age of reason), thời đại cách mạng khoa học (the age of scientific revolution), thời đại phân tích (the age of analysis), thời đại kỹ nghệ (the industrial age) v…v… Tất cả những thời đại này lập thành nền văn minh hiện nay của Tây phương, và lịch sử đã chứng minh rằng, Giáo hội Công giáo đã hết sức ngăn chặn sự phát triển trí thức của nhân loại này nhưng đã hoàn toàn thất bại.  Các đại tư tưởng gia Tây phương như Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Victor Hugo, Thomas Paine v…v.. là những người đi tiên phong trong vấn đề cải cách xã hội, đề xướng quyền tự do và nhân quyền của con người.  Tác phẩm của họ đều bị Giáo hội giam chặt trong cái gọi là “danh sách những tác phẩm cấm tín đồ đọc” (Index of banned books).  Những khoa học gia tiên phong của cuộc cách mạng khoa học như Copernicus, Kepler, Bruno, Galileo v…v… đều bị Giáo hội dùng “sự ngu dốt và bạo quyền khống chế sự thật” giam  cầm hoặc thiêu sống.   Vậy,  có  thể tin được chăng, nền văn minh Tây phương là nền văn minh Ki Tô?  Có lẽ chúng ta nên duyệt qua vài tài liệu lịch sử để thấy thực chất của Công giáo La Mã trong nền văn minh Tây phương như thế nào.

   Trước hết, chúng ta cần biết là nền văn minh Âu Mỹ được xây dựng trên những tư tưởng khai phóng về những quyền tự do căn bản của con người như tự do tín ngưỡng, tự do suy tư v..v.., những quyền mà giáo hội luôn luôn chống đối,  và những thành quả khoa học với kết quả làm tăng mức sống thoải mái của con người. Giáo hội đã góp được những phần nào trong sự tiến bộ của con người qua các thời đại?  Hàng giáo phẩm Công giáo, với nhiệm vụ chăn dắt tín đồ, đã làm những gì để mở mang đầu óc của những tín đồ ngoài một số tác phẩm về Thần học mà mục đích chỉ để bảo vệ các tín lý giáo hội đưa ra, giữ tín đồ trong vòng mê tín, ngu muội.

   Đã đành rằng, trong hàng giáo phẩm Công giáo cũng có những vị đóng góp cho nền văn minh Âu Mỹ qua những công cuộc khảo cứu về khoa học và xã hội nhưng số này quả thật hiếm hoi, và Giáo hội đã hoặc khai trừ họ, hoặc thiêu sống họ (Bruno), vì những đóng góp của họ không phù hợp với những giáo điều Công giáo, cho nên phải nói rằng, nền văn minh Âu Mỹ không phải là nền văn minh Ki Tô như Giáo hội thường nhập nhằng tự nhận.  Vài tài liệu sau đây sẽ chứng tỏ điều trên.  Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu về cuộc cách mạng khoa học ở Âu châu, khởi điểm của nền văn minh Âu Mỹ hiện đại.

  Cuộc cách mạng khoa-học ở Tây phương phát khởi từ  thế kỷ thứ 16,  phát  triển mạnh trong thế kỷ thứ 17, mở đầu bằng những công trình khảo cứu và tư tưởng của Nicolaus Copernicus (1473-1543), Giordano Bruno (1548-1600), Galileo Galilei (1564-1642),  Johannes Kepler (1571-1630) v…v…Người ta gọi đó là 1 cuộc cách mạng khoa học, bởi vì nhờ đó mà Tây phương thoát ra khỏi cảnh tăm tối đã kéo dài gần 1000 năm, từ năm 476 tới năm 1473.  Thời gian này thường được gọi là thời Trung Cổ và cũng còn được gọi là thời kỳ đen tối hay thời kỳ hắc ám (Dark Ages).  Chính trong khoảng thời gian này, Tây phương đã bị thống trị bởi một ý thức hệ tôn giáo độc tôn.  Những giáo điều, tín lý của Công Giáo cộng với quyền hành  của hàng giáo phẩm Công Giáo ở địa vị nắm quyền, trên cả những chính quyền thế tục đương thời, đã ngăn chặn sự phát triển khoa học và tự do tư tưởng của con người.  Mọi khám phá khoa học, mọi tư tưởng trái ngược với Thánh Kinh đều bị lên án là ‘tà đạo” (heretics), phải diệt trừ.  Do đó, cũng chính trong khoảng thời gian này, Tây phương phải chịu đựng, như chúng ta đã biết, 8 cuộc Thập Tự Chinh (Crusades) và hàng trăm ngàn các vụ xử án dị giáo (Inquisitions), với kết quả là nhiều triệu người gồm già, trẻ, lớn, bé, trai, gái đã bỏ mạng vì, hoặc bị tàn sát, có khi tập thể; hoặc bị tra tấn bởi những dụng cụ tra tấn kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại; hoặc bị treo cổ, hoặc bị thiêu sống v…v…, tất cả chỉ vì họ không chấp nhận hay có những tư tưởng ngược với Thánh Kinh.

   Cuộc cách  mạng  khoa học  đã gây nên hai ảnh hưởng to lớn trong giới khoa học và ngoài xã hội dân gian.  Trong giới khoa học, đó là khởi điểm của của các tiến bộ khoa học về sau.  Trong xã hội đại chúng, đó là khởi điểm của sự đạp đổ nền độc tài tôn giáo và những giáo điều lỗi thời, vì những khám phá khoa học mới đã có tác dụng mở mang dân trí, điển hình là cuộc cách mạng năm 1789 tại Pháp mà kết quả là tước bỏ quyền hành của giới lãnh đạo tôn giáo trong quần chúng.  Ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Tây phương được viết trong các sách giáo khoa mà bất cứ sinh viên đại học nào học về khoa học cũng phải biết.

   Nhưng trong thời mà quyền hành của Giáo hội còn ngự trị trên nhân loại thì Giáo hội vẫn đưa ra quyết định:

   “Điểm thứ nhất, nói rằng mặt trời là trung tâm và không quay xung quanh trái đất, là điên rồ, vô nghĩa, sai lầm theo thần học, và là tà thuyết vì trái ngược hẳn với Thánh Kinh; và điểm thứ hai, nói rằng trái đất không phải là trung tâm mà lại quay xung quanh mặt trời , là vô nghĩa, sai lầm theo triết lý, và ít nhất từ quan điểm thần học, đối nghịch với chân tín ngưỡng”  [24]

      Giáo hội cũng cấm các giáo sĩ và con chiên đọc sách của Copernicus và Galilei.  Lệnh cấm này kéo dài suốt 278 năm cho tới năm 1821 mới được Giáo Hoàng Pius VII thu hồi và tới năm 1822 Giáo hội mới chịu khuất phục trước những sự thật khoa học: rằng trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất như lời mạc khải của ông Thượng đế toàn năng, toàn trí của Giáo hội..  Nhưng cấm thì cứ cấm, giới trí thức cùng người dân đọc thì vẫn cứ đọc. Dần dần quyền hành tôn giáo ở Âu Châu không còn địa vị độc tôn và giữ quyền sinh sát như trước nữa, vì cuộc cách mạng khoa học và các phát triển khoa học về sau trong mọi ngành, nhất là về vũ trụ học, nhân chủng học và di truyền học, và phương pháp định tuổi của vật chất bằng phóng xạ đồng vị Carbon v…v… đã làm sụp đổ tận gốc rễ thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh, căn bản tín ngưỡng của Công giáo .  Đó là ảnh hưởng trực tiếp to lớn của cuộc cách mạng khoa học trên xã hội Tây phương và đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên khắp thế giới, nhất là trong các thế giới văn minh Âu Mỹ..

    Qua  những  tài liệu  dẫn chứng  ở  trên chúng ta thấy rằng không có một nền văn minh nào xứng đáng với danh từ  văn minh mà  có thể gọi là nền văn minh KiTô.  Sự nhập nhằng vơ nền văn minh Tây phương vào làm nền văn minh Ki-Tô là sách lược quen thuộc của Công giáo để khuyến dụ những người kém hiểu biết trong những quốc gia nghèo khổ, những người không hề biết gì về lịch sử cũng như bản chất của Công giáo.

   Để có một nhận định chính xác hơn về mối tương quan giữa nền văn minh Âu Mỹ và KiTô giáo, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của John E. Remsburg trong cuốn “Những lời tự nhận sai sự thực” (“False Claims”,  trg. 16-17 ):

   “KiTô giáo có liên quan gì tới nền văn minh của dân tộc này?  Chắc chắn là không; và nếu không có đám mây thiên kiến trước mắt họ, những tín đồ KiTô sẽ thấy rõ rằng KiTô giáo không tạo nên nền văn minh của chúng ta.  Họ sẽ thấy rằng thay vì giáo hội văn minh hóa thế giới, chính cái thế giới duy lý trong nhiều thế kỷ đã từ từ văn minh hóa giáo hội.

   Chính ngay cái bản chất của KiTô giáo đã loại bỏ cái khả năng tiến bộ như là một nguyên lý tự hữu của tôn giáo này; và bất cứ có sự tiến bộ nào, ở trong hay ở ngoài giáo hội, đều do những nguyên nhân mà giáo hội không kiểm soát được.  Giáo  hội tự cho là nắm giữ chân lý, chân lý toàn diện, chỉ là chân lý.  Mọi đề nghị thay đổi, mọi khám phá mới, đối với giáo hội là sai sự thực, và, do đó, giáo hội chống đối.  Giả thử giáo hội thành một  đế  quốc  trên  toàn  thế  giới,  mọi  tiến  bộ sẽ phải ngưng ngay lập tức.  Những Huxley và Haeckels của chúng ta sẽ bị diệt trừ thẳng cánh, ngọn đuốc Lý Trí sẽ bị tắt ngấm, và cái lòng tin mù quáng sẽ là sự chỉ đạo duy nhất của chúng ta.  Giáo hội đã cho ta những bằng chứng  quyết định về sự thực này.  Trong nhiều thế kỷ, quyền lực của giáo hội ở Âu Châu là cao nhất, nhưng ngay cả những văn sĩ KiTô cũng phải gọi những thế kỷ đó là thời đại đen tối.

   Chỉ khi chủ thuyết duy lý khai sinh, khi khoa học bắt đầu phát triển, và KiTô giáo bắt đầu suy thoái, nền văn minh hiện đại mới ló dạng.  Lecky nói rằng: “Trong hơn 3 thế kỷ, sự suy thoái của những ảnh hưởng thần học là một trong những dấu hiệu không thể chối cãi để đo sự tiến bộ của chúng ta.”  Carlyle nói rằng: “Kiến thức càng tăng, lòng tin càng giảm.”   Strauss nói rằng: “Thời Trung Cổ tín ngưỡng tôn giáo thì tỷ lệ thuận với sự ngu si và man rợ.  Tôn giáo và văn minh không ở cùng vị thế mà trái ngược đối với nhau, cho nên với sự văn minh tiến bộ, Ki Tô giáo phải lui.” [25]

Source: http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-dan/doi-thoai/3963-Ki-To-giao-Cong-giao-va-Tin-Lanh-Ban-chat-va-thuc-chat-Mot-khao-luan-qua-cac-tai-lieu.html?VivvoSessionId=989275694177befabb24b92500a3aaa7

 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Sáu 8, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ: , ,

One response to “Ki-Tô giáo: Công giáo và Tin Lành – Bản chất và thực chất – Một khảo luận qua các tài liệu Phần I. CÔNG GIÁO

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: