RSS

Ki-Tô giáo: Công giáo và Tin Lành – Bản chất và thực chất – Một khảo luận qua các tài liệu Phần II. TIN LÀNH

08 Jun

Trần Chng Ngọc

Phần II. TIN LÀNH:

 

   Thực ra thì “Tin Lành” là dịch từ từ “Phúc Âm” [Gospels] nghĩa  là dựa theo 4 Phúc Âm của Matthew, Mark, Luke và John trong Tân ước.  Người Ki Tô Giáo cho đó là Phúc Âm hay Tin Matthew, Mark, Luke và John trong Tân ước.  Người Ki Tô Giáo cho đó là Phúc Âm hay Tin Lành, nhưng người ngoại đạo với đôi chút hiểu biết thì lại cho đó là “Tin Dữ” hay “Tin Xấu” vì  nội dung của Tân ước, ngoài vai trò của Giê-su như là “Chúa cứu thế” mà Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đòi phải dẹp bỏ: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php , và niềm hoang tưởng về sự “cứu rỗi” của Giê-su mà Linh Mục James Kavanaugh đã coi như là một huyền thoại:  http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php, còn lại toàn là Tin Dữ hay Tin Xấu.  Không phải là vô căn cứ mà Giáo sư đại học David Voas viết cả một cuốn sách dưới tên “Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân ước” [David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Prometheus Books, New York, 1995]

    Có lẽ chúng ta cũng nên biết qua là “Đạo Tin Lành Khác Với Công Giáo La-Mã Như Thế Nào?”  Thực ra, câu hỏi này đã được một người hỏi Robert G. Ingersoll từ cuối thế kỷ 19: “Sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành là gì? Và đạo nào tốt hơn?” (What is the difference between Catholicism and Protestantism? and which one is better?).  Và câu trả lời của Ingersoll có thể nói là chính xác, ngắn gọn, và đầy đủ nhất: “Tin lành khá hơn vì có ít chất Công giáo hơn [nghĩa là ít độc tài, ít giáo điều, ít những lễ tiết mê tín hoang đường hơn, và ít tội ác hơn], nhưng sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành chỉ là sự khác biệt giữa một con cá sấu lớn và một con cá sấu nhỏ.” (Protestantism is better because it is less Catholic, but the difference between Catholicism and Protestantism is only the difference between an alligator and a crocodile).  Ingersoll là nhà tư tưởng tự do (freethinker) vĩ đại nhất của nước Mỹ.

     Ingersoll đã nhận xét rất đúng về thực chất của đạo Tin Lành cũng như Công Giáo: đó là hai định chế tôn giáo độc hại, xấu xí, một xấu nhiều, một xấu ít hơn, nếu chúng ta xét đến lịch sử của cả hai đạo.  Công Giáo có một lịch sử lâu dài hơn Tin Lành nên gây tác hại cho nhân loại nhiều hơn là Tin Lành, mới được thành lập từ thế kỷ 16.  Khi Giáo hoàng John Paul II xưng thú trước thế giới 7 núi tội ác của Công giáo đối với nhân loại thì Tin Lành cũng dự một phần đáng kể trong đó, bởi vì Tin Lành cũng can dự vào những núi tội ác như:  Giết hại phù thủy, bách hại dân Do Thái, thi hành chính sách diệt chủng dân da đỏ ở Bắc Mỹ, không tôn trọng các nền văn hóa khác v..v.., tất cả đều có những bàn tay dính nhơ đầy máu và đầu óc có chứa một loại “gen” đặc biệt của Tin Lành.

    Về hình thức, giữa Tin Lành và Công Giáo có sự khác biệt.  Những tín đồ Công Giáo thực chất là nô lệ của cấu trúc quyền lực của Giáo hội Công Giáo, nghĩa là nô lệ của các bề trên từ Giáo hoàng xuống tới các Linh mục qua giáo lý nô lệ hóa tín đồ là “đức vâng lời”.  Vì vậy các tín đồ Công Giáo đều phải nhắm mắt mà tin những tín lý, tín điều Giáo hội bầy đặt ra, mục đích chính là để tạo quyền lực cho giới chăn chiên..  Còn tín đồ Tin Lành thường được coi là ở trong một định chế dân chủ, nhưng thực chất là nô lệ của cuốn Thánh Kinh,  hay nói đúng hơn, nô lệ của những đoạn đã được chọn lọc kỹ trong Thánh Kinh.  Nhưng đi sâu vào phương cách nhồi sọ tín đồ thì cả hai đều giống nhau, đều có những mánh mung để nhốt tín đồ vào trong những khuôn phép tâm linh, nếu không muốn nói là ngục tù tâm linh, đã định sẵn. 

    Đạo Tin Lành tin ở cái gì?  Theo Mục sư Nguyễn Văn Huệ giải thích thì đức tin Tin Lành là như sau:

       Người Tin Lành tin tưởng Thánh Kinh là uy quyền duy nhất và đầy đủ của đức tin. Người Tin Lành chỉ tôn trọng những truyền thống nào của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh. Người Tin Lành muốn trở về với cội nguồn đức tin và hình thức sống đạo theo như Thánh Kinh dẫn, không thêm, không bớt.

    Thực tế là, ngày nay những ai còn nói chuyện mạc khải, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ.  Bởi vì, thực tế là, Thánh Kinh có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không thì trong Thánh Kinh, những chuyện  loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v…  Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa về vũ trụ, nhân sinh, đã chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.

    Tôi thực tình không hiểu người Tin Lành tin những gì trong  cuốn Thánh Kinh của họ.  Sách lược truyền đạo của họ là chỉ đưa ra những câu lạc lõng trong Thánh Kinh hợp với niềm tin của họ, hoặc có đôi chút đạo lý, và lờ đi những đoạn không thể đọc được chiếm phần lớn Thánh Kinh.  Thật vậy, nếu chúng ta mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc, đọc từ đầu đến cuối, đừng bỏ sót phần nào, thì chúng ta sẽ thấy rằng tuyệt đại đa số những điều viết trong Thánh Kinh là những chuyện không nên đọc, nhất là đối với các trẻ vị thành niên. Nếu ngại công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong Thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Tin Lành hay Công giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:

 –  “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về Tình Dục Trong Thánh Kinh” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.

– “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.

– “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986]  của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.

– “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Sống Lại [trong Chúa] Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979]  của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.

– “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922]  của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.

– “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis:  đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.

– “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd:  Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.

– “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker:  Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.

    Xin nhớ rằng, những cuốn sách khảo cứu về Thánh Kinh như trên đã được phổ biến rộng rãi trên đất Mỹ, và Công Giáo cũng như Tin Lành, dù có nhiều quyền thế và tiền bạc, cũng không có cách nào dẹp bỏ những cuốn sách trên, hay đối thoại để phản bác, vì tất cả đều là sự thật.  Vì thế nên Khoa học gia Ira Cardiff đã đưa ra một nhận xét rất chính xác như sau:

    “Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh.  Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn.

   Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một  óc phê phán  thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”  [26]

   Đó là những sự thực về cuốn sách mà người Tin Lành tuyệt đối tin vào để được lên Thiên đường (mù) sống cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, cùng Chúa của họ, trong trường hợp hãn hữu được Chúa biết đến và tặng cho một cái bánh vẽ  “cứu rỗi” ở trên trời. 

    Trước khi đi vào chi tiết để tìm hiểu thêm về đạo Tin Lành, tôi muốn nhắc lại ở đây nhận định của Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại nhất của nước Mỹ, vào cuối thế kỷ 19:

    Tin Lành Giáo thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái gì?  Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục sư và những người đi giảng đạo thì đần độn (stupid). [27]

     Nhận định của Robert G. Ingersoll như trên đúng hay sai, xin để cho quý độc giả tự mình phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo mình theo là như thế nào.  Riêng đối với tôi, đọc những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ các Mục sư cho tới những người được gọi là “trí thức Tin Lành” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta thấy rõ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may.  Không những họ cuồng tín và đần độn mà còn cho chúng ta thấy, đạo Tin Lành đã làm cho họ mê mẩn đến độ trở thành ngu xuẩn hết mức, và đặc biệt là không còn biết đến các truyền thống văn hóa của dân tộc là gì.  Sau đây là vài trường hợp điển hình về những đầu óc vô cùng ngu xuẩn của Tin Lành Việt Nam.

 1.   Trong bài Lửa Đã Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đình, Hà Nội, http://hoithanh.com/, chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau:

     “dầu sống, hay chết, quyết dâng trọn đời sống cho Jesus…” Những anh em chúng tôi xác tín với nhau rằng, dầu phải chết chúng tôi cũng sẽ thực hiện bằng được chương trình này để tôn cao danh Đức Chúa Trời trên đất nước Việt Nam.”

Và nhất là cái gọi là “Tuyên Ngôn Thuộc Linh”:

   Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đã bị tuyên bố cắt đứt, hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không còn tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước, Hội thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp một khắng khít trước mặt Đức Chúa Trời… Đó chính là nội dung chính của “Tuyên ngôn thuộc linh” được dõng dạc tuyên bố trước hàng ngàn trái tim ngày đêm quặn thắt cho dân tộc. 

   Chúng ta thấy, họ là những kẻ điên, không phải là những con người có đầu óc bình thường.  Họ có quyền tin thờ một người dân thường Do Thái sống với một ảo tưởng, Giê-su;  họ có quyền dâng trọn đời sống, hay chết, cho người họ tôn thờ; họ có quyền tôn cao danh Đức Chúa Trời của họ, nhưng họ ngu xuẩn đến mức là không biết rằng họ tuyệt đối không có quyền xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam như trên.  Tỷ lệ Tin Lành ở Việt Nam so với Công Giáo không đáng kể.  Và Tin Lành đang suy thoái khắp nơi trên thế giới, kể cả trên nước Mỹ.  Vậy mà họ vẫn huênh hoang muốn đem đồ phế thải về làm ô nhiễm dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên, họ ngu xuẩn là vì cái “gen” Tin Lành của họ, và từ cái “gen” này họ mới có những hành động ngu si vô trí.  Nhưng vấn đề là tại sao Nhà Nước lại để cho họ ăn nói như vậy. Đây không phải là vấn đề “tự do ngôn luận”, hay vấn đề “tự do tín ngưỡng” mà là vấn đề xúc phạm đến cả một dân tộc mà đa số tuyệt đối người dân coi Tin Lành như một “tà đạo”.  Phải chăng đã có sự mua chuộc trong tầng lớp cán bộ.  Nhà Nước không có trách nhiệm gì trong vụ ăn nói bừa bãi này hay sao?  Và tại sao người dân phi Tin Lành không có phản ứng trước những lời hỗn hào láo xược như trên của Tin Lành?  Tôi không hô hào một cuộc chiến tranh tôn giáo, nhưng tôi tha thiết kêu gọi tầng lớp trí thức Việt Nam trong Tam Giáo, trong các tôn giáo khác ở Việt Nam, hãy tham gia mặt trận văn hóa, thẳng thắn vạch ra những cái tầm bậy của Tin Lành.  Ngày nay, chúng ta có đầy đủ những thông tin về bản chất và thực chất của Tin Lành.

 

2.   Một chuyện khôi hài nhất thế kỷ đã xảy ra ở Việt Nam trước đây:  Mục Sư Tin Lành [sic] Trần Long thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt Nam, lấy tư cách của một “môn đồ của Chúa Jesus” để gửi một “Thông Điệp Phước Lành [sic]” cho “Nhà Cầm Quyền Việt Nam”, một thông điệp, xin lỗi quý độc giả vì tôi không kiếm được từ nào thích hợp hơn, có thể nói là ngu xuẩn và mê tín nhất thế gian, để kêu gọi nhà cầm quyền hãy từ bỏ nền văn hóa dân tộc để theo nền văn hóa Tin Lành, cũng là nền “văn hóa thiên đàng”.  (Ở trên thế giới này làm gì có cái gọi là “văn hóa Tin Lành” hay “văn hóa thiên đàng”, có chăng chỉ là nền văn hóa mù quáng, hay văn hóa mê tín, hay văn hóa hoang tưởng của các con cừu Tin Lành) mà mục sư Trần Long cho là nền văn hóa của cả nhân loại, có nghĩa là biến nước Việt Nam thành nước Tin Lành [Trần Long: Phục hồi bản sắc văn hóa của dân tộc là để văn hóa Tin Lành tuôn chảy trong lòng dân tộc- vì đây là văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng là văn hóa toàn thế giới. .]  Đây là một hành động của một kẻ không có đầu óc, cuồng tín cực đoan, muốn mang niềm tin thuộc thời bán khai của mình mà ngày nay thế giới văn minh Âu Mỹ đang dần dần loại bỏ, để áp đặt trên toàn thể đất nước.

   Cái mà mục sư Trần Long gọi là “Phước Lành” hay “Tin Lành”, thực ra chỉ là “Hiểm Họa” hay “Tin Dữ”.  Cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư chỉ toàn là một thứ thuộc loại mê tín hoang đường như “Chúa sáng tạo”, “Kính sợ Chúa”, “Biết ơn Chúa”, “Thờ phượng Chúa” “Nước Thiên Đàng vinh hiển”, “Đức Chúa Trời sẽ giáng họa” và vô số những điều tin nhảm nhí khác về Jesus, phản ánh một đầu óc mê muội chưa từng thấy.  Đó là những “Tin Dữ” hay “Tin Xấu” (Bad News) đã mang họa dữ đến cho nhân loại.  Điều này đã thật là rõ ràng nếu chúng ta đọc qua cái lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, những hành động ác ôn của Ki-tô Giáo, tất cả đều nhân danh “Tin Lành”. Mục sư Trần Long muốn biến người Việt Nam thành những con cừu đi theo sự dẫn dắt của một đám gọi là Mục sư, đầu óc kém cỏi, cuồng tín như Trần Long, để tin nhảm tin nhí vào một người Do Thái đã chết mà bản chất là vô đạo đức, đạo đức giả, ác độc và lòng đầy thù hận: Jesus.  Thủ đoạn truyền tà giáo của các mục sư như Trần Long là viết láo lếu về Kinh Thánh, Lịch Sử nhân loại, và trích dẫn lắt léo Kinh Thánh , làm như không ai biết đọc Kinh Thánh.

   Chúng ta hãy thử đọc một đoạn trong cái thông điệp quái gở này mà Nhà Nước phải kiên nhẫn chịu đựng sự lạm dụng quyền tự do một cách ngu xuẩn để viết bậy, viết nhảm nhí nấp sau bình phong tự do tín ngưỡng.  Nhà Nước nên nghe lời đề nghị của Charlie Nguyễn trước đây, không nên nhân nhượng với loại người coi thường chính quyền và dân tộc này.

    Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước mình đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời.

    Với tư cách là một người Mỹ gốc Việt, không phải là môn đồ của Chúa Jesus, tôi xin có vài lời ngỏ cùng mục sư Trần Long.  Đất nước Việt Nam quả là một đất nước có tự do tín ngưỡng, cho nên ai muốn làm môn đồ của Chúa Jesus thì cứ việc làm, không có ai ngăn cản.  Nhưng môn đồ của Chúa Jesus thì không có tư cách gì ngoài tư cách của một con chiên.  Tại sao? Vì đối với mục sư Trần Long thì Jesus là Chúa,  là Đức Chúa Trời,  nhưng đối với những người ngoại đạo như chúng tôi, và cả những người trí thức trong đạo Ki-Tô,  những người đã từng nghiên cứu kỹ Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, thì Jesus không có cái gì xứng đáng để gọi là Chúa hay Đức Chúa Trời.  Khoan kể đến hơn 90% người dân Việt Nam cũng như hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết hay không muốn biết Jesus là ai.  Do đó ông Trần Long chỉ có thể lấy tư cách của một công dân Việt Nam chứ không thể lấy tư cách của một môn đồ của Chúa Jesus, một người Do Thái đã chết tám hoánh từ 2000 năm nay,  để bàn quốc sự Việt Nam.  Chỉ có một điều sơ đẳng này mà mục sư Trần Long cũng không hiểu, tưởng rằng mang cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” ra là vinh hạnh lắm.  Nếu mục sư biết rõ Jesus là ai thì cái nhãn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” chẳng có gì là vinh hạnh mà rất có thể là một biểu hiện của sự ô nhục (a badge of shame).  Tôi có cần phải chứng minh ở đây không?

 3.   Trường hợp điển hình thứ ba là về bức “Tâm Thư Ngỏ” của ông Tin Lành Khuất Minh ở Việt Nam.   Mở đầu “Tâm Thư ngỏ” ông Khuất Minh viết:

 Ngày 11 tháng 8 năm 2001

Kính gửi ông Tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới

Đồng kính gửi ông Trần Chung Ngọc, tác giả bài báo Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại hải ngoại.

 Tạ ơn Đức Chúa Trời, nhân danh một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ, tôi trân trọng gửi lời chào đến quý ông, đồng thời xin gửi đến quý ông một số ý kiến của mình về bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc đăng trên trang 30 báo An Ninh Thế Giới số 226 ngày thứ Tư 11/07/2001.

    Tôi không hiểu báo An Ninh Thế Giới có nhận được Tâm Thư ngỏ này không và thái độ của họ đối với bức Tâm Thư này ra sao, chứ tôi thì tôi không hề nhận được, và nay chỉ đọc 1 câu trên tôi đã cảm thấy vô cùng ngán ngẩm.  Tôi không thể tưởng tượng là cái đạo Tinh Lành lại có thể biến đầu óc của một con người thành tê liệt đến độ như vậy, không còn một khả năng suy nghĩ nào, chỉ biết nhắm mắt mà tin, không cần biết, không cần hiểu.  Tình trạng thê thảm này còn rõ hơn trong những phần sau của bức Tâm Thư. Tôi cũng không hiểu nổi là tại sao gửi 1 bức Tâm Thư cho ANTG và cho Trần Chung Ngọc ông Khuất Minh lại phải tạ ơn Đức Chúa Trời?   

    Thứ đến, nhân danh là một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ để gửi 1 bức Tâm Thư cho tờ báo ANTG của Bộ Công An nước CHXHCNVN với nội dung chỉ trích chế độ CS và hi vọng người ta sẽ có đáp ứng thỏa đáng?  Ở trên đời này có người nào đần đến độ như vậy không?  Hay là đầu óc của ông ấy đã bị thuốc phiện Tin Lành làm cho bất bình thường?  Không những tác giả của bức Tâm Thư này đần đến độ ngớ ngẩn mà những người đăng bức Tâm Thư này trên Internet cũng đần không kém.  Bộ các ông cho rằng Bộ Công An CS cần biết cái vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ là cái gì, hay công dân của nước đó là ai hay sao? 

    Tôi nói cho các ông biết một sự kiện, chính giáo hoàng John Paul II, chủ chăn của số tín đồ Công giáo đông gấp 3 lần số tín đồ Tin Lành trên thế giới, muốn tới La Vang, trước đây cướp được của Chùa Phật Giáo ở đó nhờ thế lực của thực dân Pháp để làm “thánh đường”, hòng nuôi dưỡng lòng mê tín và khích động lòng cuồng tín của giáo dân, cũng phải xin phép nhà nước CHXHCNVN, và nhà nước đã từ chối, không cho phép.  Vậy thì một công dân của cái gọi là vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ mà không ai biết nó ở đâu thì có tư cách gì để “trả lời” một bài báo đăng trên tờ An Ninh Thế Giới của Bộ Công An Việt Nam.  Việt Nam có biết cái vương quốc Thiên đàng đó ở đâu đâu, và lẽ dĩ nhiên, chẳng làm gì có quan hệ ngoại giao nào với cái vương quốc tưởng tượng đó. May ra thì nhiều nhất là Bộ Công An biết được sự kiện là cái người mà ông Khuất Minh gọi là Chúa Jésus Christ thì đã bị đóng đinh trên một cái giá bằng gỗ có hai thanh, một thanh dài và một thanh ngắn, đóng thẳng góc với nhau, và đã chết cách đây khoảng gần 1980 năm rồi.

    Đến đây chắc quý độc giả đã thấy đầu óc của những người Tin Lành thuộc loại như thế nào.  Tất cả là bắt nguồn từ sự tin nhảm nhí vào cuốn Thánh Kinh.  Loại đầu óc như vậy không chỉ có ở Việt Nam mà còn ở trên đất Mỹ được coi là văn minh nhất thế giới.  Pat Roberson, nhà truyền giáo trên TV, cho rằng vụ động đất ở Haiti gần đây là sự trừng phạt của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, vì người Haiti khi xưa đã ký hợp đồng với Satan (pack with the Devil), không biết rằng gần 90% người dân Haiti theo Công giáo. Trước đây ông ta cũng cho trận bão Katrina ở New Orleans là do Chúa trừng phạt vì nơi đây hợp thức hóa chuyện phá thai, và cho rằng bệnh AIDS là do Thiên Chúa “sáng tạo” ra để trừng phạt những người đồng giống luyến ái (homosexuals). 

Hiển nhiên là Pat Roberson ngu đến độ không biết là tại sao có những thiên tai bão lụt, động đất v.. v… đã xảy ra trên thế gian cả ngàn vụ, và trong nhiều trường hợp, các chuyên gia đã có thể tiên đoán được khi nào sẽ xảy ra.. 

     Một trường hợp điển hình khác ở Mỹ là, sau vụ 9-11 ở New York, trước ngày lễ Halloween, 31 tháng 10 hàng năm, Mục sư Tin Lành Deacon Fred, trong một bài giảng cho các tín đồ, cho rằng bổn phận của người Ki-tô là phải giết phù thủy ngay trong thời đại này:

    Thiên Chúa rất rõ ràng ở đây, thưa quý vị, ông ta không muốn cho các phù thủy sống.  Chúng ta phải giết các phù thủy!  Nếu không, chúng ta đang bất tuân lệnh của Thiên Chúa.  Jesus sẽ vui mừng  đến chảy nước mắt nếu ông ta từ trên đám mây cúi xuống và hít hà mùi thịt nướng của một phù thủy trong ngày lễ Halloween này. [Trong ngày lễ Halloween vào 31 tháng 10 mỗi năm, rất nhiều người ăn mặc giả làm phù thủy kéo ra chật đường phố]  Có phải là như vậy đã phá tan ngày sinh nhật nhỏ của Satan không?  Hãy ca tụng Thiên Chúa. [Vui mừng khi được hít hà mùi thịt nướng của một con người] Thật là xấu hổ vì chính quyền Mỹ đã ngăn cấm người dân không được thực hành lệnh trong Kinh Thánh là phải thiêu sống phù thủy. [28]

    Sự tai hại của niềm tin vào những điều viết nhảm nhí trong Kinh Thánh thật đã rõ rệt.  Ở nơi nào mà Khi Tô Giáo, đặc biệt là đám Tin Lành cuồng tín, đám người tin tất cả vào uy quyền tối thượng của Kinh Thánh,  nắm quyền thế tục thì lịch sử đẫm máu của Ki Tô Giáo sẽ lại tái diễn. Tất cả bắt nguồn từ niềm tin vào cuốn sách gọi là Kinh Thánh và nhân danh Thiên Chúa của họ. 

     Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Vấn nạn của những người Tin Lành tân tòng Việt Nam là không biết đầu óc học đã bị điều kiện hóa như thế nào để đến nỗi trở thành những kẻ mê muội, cuồng tín đến mức phi lý trí, phi dân tộc, bất chấp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, bất chấp những sự thực hiển nhiên về chính tôn giáo của họ. 

  Do đó, mọi người Việt Nam phi Ki-Tô phải có bổn phận ngăn chận cái hiểm họa này, không thể  để cho cái tế bào ung thư này tự do lan rộng trong xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta .   Đọc những luận điệu cuồng tín của Trần Long, Khuất Minh và “Tuyên ngôn thuộc linh” ở trên, chúng ta thấy rõ Tin Lành là một đạo hoàn toàn không thích hợp với người Việt Nam, những niềm tin thuộc thời man rợ bán khai của họ đã đang phá sản ở Âu Mỹ hoàn toàn bất phù hợp với truyền thống văn hóa chiết trung (synchretic) về tôn giáo của Việt Nam..

   Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam?  Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Công Giáo và Tin Lành, cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết canh chừng, kiểm soát những phương cách truyền đạo bất chính, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí.  Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, và từ đó sẽ không còn bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo mà ngày nay thế giới Tây Phương đã nhận thức rõ và đang từ bỏ dần dần.  Nhà Nước cũng cần huấn luyện một đội ngũ trí thức nắm vững nội dung Kinh Thánh và lịch sử các giáo hội Công Giáo và Tin Lành cùng kiến thức thời đại về các bộ môn khoa học để có thể công khai chất vấn các nhà truyền đạo về mọi mặt trong các cuộc giảng đạo hay truyền đạo của họ. Chúng ta nên nhớ, “người Ki Tô Giáo, nhất là Công giáo, chỉ sợ sự thật.”  

   Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào còn có lòng với dân tộc, đất nước, còn trân quý truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.  Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hãy nhận thức rõ tầm quan trọng của lãnh vực văn hóa này.  Vì lợi ích của mọi người, và vì tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hãy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam. 

   Chúng ta đã biết, mất đi chỗ đứng trong thế giới Tây phương, Công Giáo cũng như Tin Lành đều có mưu toan bành trướng sang Á Châu, nơi đây ở một số nơi,  Giáo hội đã có sẵn một đám thuộc hạ cuồng tín, nô lệ, bảo sao nghe vậy, và con người còn đang sống trong cảnh khó khăn vật chất và thiếu hiểu biết.  Họ là nhưng mồi ngon trong sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo.  Đối với đất nước Việt Nam, đó là một hiểm họa cần phải phòng ngừa nếu chúng ta muốn bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không có lý do gì để cho người dân tiếp tục bị lừa dối để chấp nhận những đồ phế thải của Tây phương mà lịch sử đã chứng tỏ trái nghịch với truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. 

    Tại sao những người Tin Lành lại đều có một loại đầu óc hầu hết là ngu đần và cuồng tín như trong những trường hợp đã nêu ở trên.  Chúng ta hãy đọc một chút về sự phân tích vấn đề của Mục sư Tin Lành Rubem Alves.    Trong cuốn “Đạo Tin Lành Và Sự Đàn Áp” (Protestantism and Repression, Orbis Books, New York, 1985), Mục sư Tin Lành Rubem Alves, giáo sư đại học ở Campinas, Brazil, đã phân tích rất sâu sắc về mọi khía cạnh của đạo Tin Lành, đặc biệt là về tâm thức của những người tân tòng trong Chương 2: Cải Đạo:  Cái Khuôn Xúc Động Tình Cảm Của Tin Lành (Conversion: The Emotional Matrix of Protestantism), dài 24 trang giấy, từ 22 đến 46.  Đây là một cuốn sách, dày 215 trang, rất hữu ích cho những người nào muốn tìm hiểu về đạo Tin Lành, từ cấu trúc tình cảm, nhận thức thực tại, cho đến phương pháp tẩy não, nhồi sọ những giáo điều mà Tin Lành chấp chặt bất kể đến những bằng chứng về lô-gic, về khoa học, về xã hội, những bằng chứng trái ngược với Kinh Thánh một cách rất hiển nhiên.  Chúng ta hãy đọc một đoạn ngắn trong mục “Cải Đạo và Khổ” (Conversion and Suffering), trang 43-44, để thấy rõ Tin Lành đã lợi dụng những tình trạng khủng khoảng về vật chất và tinh thần của con người như thế nào để kéo họ vào trong vòng mê tín của Tin Lành:

      Sự phân tích vấn đề của chúng tôi đưa đến kết luận là, kinh nghiệm cải đạo là sự đáp ứng của một tình trạng khủng khoảng.  Sự cải đạo giải quyết một ngõ bí tình cảm.

   Đó là tại sao giáo hội phát triển nhanh hơn trong những địa phương ở đó những tiến trình xã hội đã gây ra sự khổ, đặc biệt là từ hoàn cảnh ngoài lề xã hội và sự sụp đổ ý nghĩa của cuộc đời.. Những địa phương như vậy là ưu tiên số một của các nhà thờ ở địa phương, mà những nỗ lực để tạo nên đời sống trong giáo hội được chú trọng trong những địa phương này.

   Tôi không nói điều gì mới lạ đối với những người Tin Lành.  Không có sự cải đạo (vào Tin Lành) nếu không có sự khủng khoảng, không có sự cải đạo mà không có sự khổ.  Cải đạo là một quá trình mà con người hấp thụ sự khổ thành một ý nghĩa mới của cuộc đời và làm cho nó có ý nghĩa…

   Có phải là khó hiểu không khi mà (vai trò của) Giê-su Ki-tô không thể rao giảng được cho những người cảm thấy mình an toàn, hạnh phúc, cho những người cảm thấy đời sống thật đáng sống, cho những người không đang ở trong cơn khủng khoảng?  Có phải là kỳ cục không khi mà Đấng Ki-tô  chỉ có thể trình bày và làm cho có ý nghĩa trong những tình trạng bệnh hoạn trong đó con người bị nhiễm bởi sự bất an, bởi những cảm xúc tội lỗi, và sợ hãi cái chết?  Thật ra nhiệm vụ của những nhà truyền bá phúc âm là gì?  Nhiệm vụ của họ là gán cho một cơn khủng khoảng những cái tên thần học trong khi nguồn gốc của nó chỉ là tâm lý xã hội.  Nhà truyền bá phúc âm tìm cách khơi động một cơn khủng khoảng mà con người có thể không cảm thấy trước, rồi từ đó, và chỉ từ đó, họ mới có thể tuyên bố: “Chúa Ki-tôt là giải đáp”

   Chúng tôi bắt buộc phải kết luận rằng thế giới chỉ mở chỗ cho Chúa Ki-tô khi nó cảm thấy ốm đau, bệnh hoạn.  Có một lý do thần học nào để giải thích là tại sao sự sợ hãi cái chết lại là những bí tích đặc quyền của sự cứu rỗi?  Nói cách khác, kinh nghiệm cải đạo giả định là điểm gặp nhau giữa Thiên Chúa và thế giới là sự khổ và thống khổ.  Có phải là có một cách nhìn thực tại một cách tự mãn trong sự đau khổ (sadomasochistic vision of reality) tiềm ẩn ở đàng sau giả định như vậy? [Tác giả dùng từ sadomasochistic nghĩa là phối hợp của sadism (thỏa mãn trong sự độc ác) và masochism (cảm thấy thích thú khi bị thống trị hay bị bạc đãi).  Về điểm này, Tin Lành không khác gì Công Giáo. Trong một cuộc hành hương tại Lộ Đức (Lourdes), Giáo hoàng John Paul II đã phát biểu là ngài chia sẻ sự đau đớn vật chất của các tín đồ và bảo đảm với họ là những sự đau đớn bệnh hoạn của họ là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa. (Pope John Paul II joined thousands of other ailing pilgrims at Lourdes… telling them he shares in their physical suffering and assuring them that the burden is part of God’s “wondrous plan”.)  Không hiểu khi ông ta bị bắn suýt chết, và khi bị bện Parkingson run rẩy chân tay, ăn nói lắp bắp thì ông ta có nghĩ đó là “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa dành cho người “đại diện của Chúa ở trên trần” không?]

     Sự khổ được biến đổi thành một dạng ân sủng, vì nó mang đến cho kẻ tội lỗi một cơ hội để gặp Chúa Ki-tô.  [Ở đây, chúng ta lại thấy Tin Lành và Công giáo gặp nhau ở điểm này.  Thật vậy, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát nhưng “cơ sở từ thiện” (sic) của bà Teresa, và đã viết trong cuốn “Mother Teresa: Beyond The Image” (Mẹ Teresa: Ngoài Cái Hình Ảnh Đã Được Dựng Lên) là: “Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo…  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc từ thiện bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm việc thiện, chứng tỏ lòng “từ bi” (sic) của bà.” (Xin đọc bài Đâu Là Sự Thực? trên trang nhà Giao Điểm).]  Sự khổ càng lớn thì những cơ hội truyền đạo càng nhiều.  Có phải chăng điều này hàm ý là Giáo hội được đặt trong một vị thế khó hiểu là thường cầu nguyện cho nhân loại bị khổ nhiều hơn để cho con người có thể chấp nhận thông điệp của giáo hội?  Đây là câu hỏi mà Dietrich Bonhoeffer [Một nhà thần học Ki-tô bị chết trong nhà tù của Đức Quốc Xã] đặt trước Giáo hội.     

   Vậy những nhà biện hộ cho đức tin Ki-tô, những người mang những “tin lành” thực sự đã làm những gì?

   Họ chứng tỏ cho những người đang ở trong tình trạng an toàn, hài lòng, hạnh phúc, thực ra là chẳng sung sướng gì, tuyệt vọng, và không ý thức được rằng mình đang ở trong tình trạng nghiêm trọng mà mình không biết gì về nó, từ đó chỉ có họ (những nhà truyền bá phúc âm) mới có thể cứu được.  Bất cứ ở nơi nào mà có sự khỏe mạnh, sức sống, sự an toàn, bình dị, họ dò xét để kiếm những trái cây ngọt ngào [những kẻ nhẹ dạ, cả tin] để gặm nhấm hoặc kiếm chỗ đặt những cái trứng độc hại của họ trong đó.  Họ đặt mục tiêu số một vào cách đưa con người vào tình trạng tuyệt vọng nội tâm, và từ đó những người này sẽ hoàn toàn lệ thuộc họ. [Bonhoeffer].

   Cải đạo (theo Tin Lành) là một giải đáp cho một vấn nạn đau đớn.  Người ta bắt đầu đi từ cải đạo đến một quan niệm về thế giới có tác dụng ngăn ngừa sự tái xuất hiện của kinh nghiệm bất an tiên khởi.  Mục đích [của cải đạo] là đuổi đi sự sợ hãi.  Nếu sự cải đạo đã đủ để chứng minh có thể đuổi đi sự sợ hãi, tâm thức con người sẽ gắn chặt vào kinh nghiệm cải đạo và vào quan niệm mới về thế giới.  Đó là tại sao mọi lý luận không có tác dụng ở trình độ này.  Chúng ta có thể đưa ra mọi thứ bằng chứng – lô-gic, khoa học, hay bất cứ bằng chứng nào khác – để kêu gọi người cải đạo suy tư về kinh nghiệm cải đạo của họ.  Bằng chứng này bị bác bỏ ngay lập tức bởi người tân tòng. [Bởi vì người tân tòng sợ phải đối diện lại với một tâm thức bất an như trước.]  [29]

    Nơi trang 84-85, mục sư Rubem Alves còn cho chúng ta biết rõ những người tân tòng đã cải đạo vào Tin Lành như thế nào và tâm thức của họ đã bị cộng đồng Tin Lành thay đổi như thế nào để họ có thể được chấp nhận trong “hội thánh” (sic) Tin Lành.  Đọc xong đoạn sau đây chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tại sao những tín đồ Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long, Khuất Minh v…v..  lại như những con vẹt, nhắc lại y chang những điều mà họ được truyền dạy trong những cộng đồng Tin Lành:

    Tình trạng của một kẻ tân tòng giống như tình trạng của một đứa trẻ lần đầu tiên đi đến trường học.  Họ không biết gì hết.  Kiến thức sẽ được dàn xếp để truyền cho họ bởi một người [tự cho là] đã có kiến thức (về Tin Lành).  Quá trình học tập là một quá trình tập sự.  Sự tương giao xã hội giữa hai bên không phải là một sự tương giao bình đẳng.  Ông thầy và kẻ tập sự, thầy dạy giáo lý và kẻ tân tòng học hỏi, không ở cùng một trình độ.  Một người là thuộc cấp của người kia; do đó quyền lực nằm trong phương trình này.  Những người dạy giáo lý là những người có quyền năng áp đặt những định nghĩa về thực tại của mình; những kẻ tân tòng học hỏi là những người không có quyền giữ những định nghĩa về thực tại của mình..

   Ngay cả trước khi những kẻ tân tòng học hỏi bất cứ điều gì về thế giới, họ được dạy để tự coi mình như là không biết gì.  Những kiến thức của họ được để trong dấu ngoặc và được dạy phải  nghi ngờ.  Họ không được phép viện ra những điều mà họ cho là họ biết để phê bình loại kiến thức mà “hội thánh” muốn chuyển đạt cho họ.  Tại sao vậy?  Vì kiến thức có trước của họ là tài sản từ các thời kỳ tăm tối và bị đầy đọa từ trước.  Đầu óc của họ được đưa về tình trạng của những trang giấy trắng.  Họ không có gì để nói; nhiệm vụ của họ là nghe.  Là những kẻ tập sự và học hỏi, họ phải tuân phục định chế của giáo hội trong yên lặng.  Nay họ biết rằng định chế đó có độc quyền về sự hiểu biết tuyệt đối, do đó có độc quyền để nói.

     Như vậy, trong thế giới Tin Lành, quá trình học hỏi bắt đầu bằng một bài học thuộc loại đặc biệt về mối giao hệ xã hội: những người dạy giáo lý nói, những kẻ học hỏi ngồi yên; những người dạy giáo lý giảng dạy, những kẻ học hỏi nhắc lại.  Nếu những kẻ học hỏi không biết là mình tin cái gì (như những người giảng dạy tự cho là mình đã biết), họ không đủ tư cách để nói.  Đúng là những kẻ tân tòng được tự do tỏ lộ tình cảm của mình.  Nhưng họ không thể nói điều gì về sự hiểu biết của họ.  Đó là tại sao loại ngôn từ thích hợp của những kẻ tân tòng học hỏi là nhắc lại, như sách giáo lý (của Tin Lành) đã minh họa rõ ràng.  Những sách giáo lý là sách đầu tiên để cho những kẻ tân tòng tập sự và học hỏi.  Chúng chứa những câu hỏi và những câu trả lời viết sẵn.  Khi nào thì những kẻ tân tòng học hỏi hiểu sách giáo lý của Tin Lành?  Khi họ có thể đọc thuộc lòng những câu trả lời in sẵn trong đó.  Sự học hỏi của cộng đống Tin Lành được định nghĩa theo loại kiến thức đó, và sự kiểm tra sự học hỏi của những kẻ tân tòng là khả năng nhớ  và nhắc lại những câu hỏi và câu trả lời trong sách giáo lý.  Theo cách này tâm thức tập thể của cộng đồng Tin Lành được in vào đầu óc và tâm thức của thành viên.  Thế còn vấn đề tự do tìm hiểu thì sao?  Thế còn vấn đề để cho những kẻ tân tòng học hỏi tự mở mang trí tuệ?  Không thể tìm thấy ở đâu trong đạo Tin Lành. [30]

    Ngoài ra, mục sư Rubem Alves còn cho chúng ta biết, trang 34, là Tin Lành cấy vào đầu tân tòng mặc cảm tội lỗi, và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân tòng phải tin rằng mình sinh ra trong tội lỗi, và vì cái bản chất tội lỗi đó con người không thể làm điều gì tốt (Believe that you were born in sin, and that by nature you are incapable of doing good.).  Để thoát ra khỏi cái bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Giê-su Ki-tô là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ (Accepting Christ as the sole and sufficient savior).  Cái công thức này không khuyến khích làm thiện mà chỉ cần đầu phục Giê-su Ki-tô (The formula calls not for doing  but for surrendering to Christ).  Thật vậy, rất mực đạo đức còn thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo (Indeed moral excellence is often considered an obstacle to conversion).

     Những người Tin Lành Việt Nam, đầu óc mù mịt, không biết rằng thế giới đã thay đổi nhiều, và những điều rao giảng của Tin Lành về Chúa Giê-su, về nước “thiên đường” v… v… nay đã không còn mấy giá trị trong cả ngay nội bộ Tin Lành.  Những tác phẩm của Giám mục Tin Lành Jogn Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas  và Rubem Alves v…v… đã nói rõ hơn gì hết sự phá sản tâm linh của Tin Lành.  Thật vậy, chúng ta hãy xét đến một điều giảng dạy chính của Ki Tô Giáo, chung cho Công giáo và Tin Lành về “Tình yêu của Thiên Chúa”:

   Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, Giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm John 3: 16  làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, nhưng lờ đi câu  tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế.”  Theo tôi, mấy câu trên là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.  Nhưng  lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này.  Ngày nay, trên đất Mỹ chúng ta thấy nhan nhản những bảng hiệu đề “Giê-su Yêu Bạn” [Jesus loves you], và trong bài “Lửa Cháy trên Quảng Trường Mỹ Đình” ở trên chúng ta cũng thấy một chuyện phịa về một ông Mục sư Joseph nào đó cảm hóa được ba tên “ăn trộm” bằng mấy câu vớ vẩn vô căn cứ mà “đạo chích” thường dùng như “Chúa rất yêu các em, các em đừng làm như vậy“, “Chúa rất yêu thương các em, các em hãy lên tiếp nhận Chúa” trong khi Chúa đã chết gần 2000 năm nay rồi và Ki Tô Giáo thường khẳng định là không ai có thể biết ý Chúa là như thế nào..  Nhưng thử hỏi mấy ông Tin Lành, nếu tôi không thèm tin vào Chúa của các ông, không muốn tiếp nhận Chúa của các ông, thì Chúa của các ông có còn yêu thương tôi không, hay là đày đọa tôi xuống hỏa ngục của ông ấy như được viết rõ trong Tân Ước?  Luận điều “Chúa yêu thương…” chỉ là luận điệu lừa bịp cho những kẻ đầu óc yếu kém cả tin vào những điều không tưởng.

      Nền thần học Ki Tô Giáo rao giảng cho các tín đồ về một “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian”, và “Chúa rất thương yêu bạn” , nhưng những sự kiện xảy ra ngay trước mắt:  Tsunami, thiên tai, bệnh tật, quái thai, chiến tranh v.. v… đưa đến một câu hỏi:  Tình yêu Thiên Chúa đặt ở đâu?   Một ví dụ điển hình về ngay cả những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo cũng không còn tin vào một “Thiên Chúa lòng lành” nữa được đăng trên tờ Newsweek số ngày 7 tháng 5, 2007, về chuyện một Mục sư tuyên úy phục vụ ở Iraq và nay trở về phục vụ trong Quân Y Viện Walter Reed.  Bài báo viết về cuốn Nhật Ký của Mục sư tuyên úy Roger Benimoff.  Những dòng cuối cùng trong Nhật Ký viết:

    “Tôi không muốn dính dáng gì đến Thiên Chúa.  Tôi thật chán ngấy tôn giáo.  Đó là cặp nạng cho những kẻ yếu kém.. Chúng ta tạo ra Thiên Chúa cho những gì chúng ta cần đến trong một lúc.  Tôi thậm ghét Thiên Chúa.  Tôi thậm ghét tất cả những kẻ nào toan tính giảng giải về Thiên Chúa trong khi họ thực sự không hiểu gì về Thiên Chúa” [31]

    Tại sao một Mục sư tuyên úy lại viết như vậy?.  Vì ông ta đã chứng kiến những cảnh tàn bạo dã man phi lý trong cuộc chiến ở Iraq và những cảnh đau khổ của thương phế binh ở Quân Y Viện Walter Reed, và ông ta không thể nào hòa hợp những cảnh đó với luận điệu thần học “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” trong phúc âm John.  

    Cựu Thống Đốc Jesse Ventura của Bang Minnesota cũng đã từng phát biểu:

    “KiTô giáo là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông” (Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers)

      Nhưng những người Tin Lành đầu óc mụ mị, được nhồi sọ để tin rằng mọi sự tốt đẹp xảy ra cho họ là do Chúa ban cho:  [Trần Long: Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái]. Điều này nói lên tâm cảnh ích kỷ cùng cực của những người Tin Lành.  Họ không hề nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra là quái thai, hoặc có khuyết tật, những thiên tai hàng ngày xảy ra trên thế giới, và vô số những cảnh nghèo khổ xảy ra trong ¾ thế giới.  Họ bị đầu độc bởi viên thuốc phiện Thiên Chúa, tạo cho họ một tâm cảnh hoàn toàn phụ thuộc vào cặp nạng thiên chúa, không bao giờ dám rời bỏ cặp nạng này, dù hàng bao tỷ người trên thế giới vẫn đứng vững trên trường đời mà không cần đến cặp nạng thiên chúa..  Họ được cấy vào đầu là mọi sự tốt lành trên thế gian này đều là do thiên chúa của họ tạo ra, không bao giờ buồn để ý đến những sự xấu ác, bất toàn trên thế giới.  Họ được dạy là thiên chúa lòng lành, rất thương yêu thế gian, nhưng họ chưa từng đọc Kinh Thánh nên không biết rằng thiên chúa của họ trong đó ác ôn như thế nào.  Sau đây chỉ  kể vài điều điển hình về những đòi hỏi và hành động của Thiên Chúa của họ trong Kinh Thánh:

 –          Thiên Chúa đòi hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

–          Thiên Chúa giết đứa con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập (Exodus 12)

–          Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

–          Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

–          Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

–          Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

–          Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

–          Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

–          Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đình tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, vì Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra,  tội lỗi (Genesis 6) [Dưới con mắt cận thị của Thiên Chúa thì con người sa ngã, mang tội với Thiên Chúa, do đó Thiên Chúa tạo ra Hồng Thủy để giết hại hầu hết loài người. Nhưng thử hỏi, tại sao Thiên Chúa lại giết cả mọi sinh vật hoàn toàn vô tội, gồm có nhiều triệu chủng loại khác nhau, khi chúng do chính Chúa “sáng tạo” ra và không hề làm điều gì trái với ý của Thiên Chúa?]

–          Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

–          Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

–          Một học giả trên Internet đã đếm được là trong Thánh Kinh Thiên Chúa đã giết trên 2 triệu người, đó là con số đếm được, trong khi Satan chỉ giết có 10 người, với sự đồng ý của Thiên Chúa, trong vụ đánh cuộc về trường hợp của Job.

    Một trường hợp phá sản tâm linh khác của Tin Lành như sau.  Charles Kimball, Mục sư Tin Lành hệ Baptist, Tiến sĩ Thần Học, tốt nghiệp đại học Harvard, Trưởng Ban Tôn Giáo đại học Wake Forest, gần đây mới xuất bản cuốn Khi Tôn Giáo Trở Thành Ác Ôn (When Religion Becomes Evil), HarperSanFrancisco, 2003.  Tác giả đưa ra 5 dấu hiệu đồi bại (5 warning signs of corruption in religion) của một tôn giáo, khiến cho tôn giáo đó trở thành ác ôn. Đó là:

 –          Tự cho là nắm chân lý tuyệt đối (Absolute truth claims)

–          Tuân phục một cách mù quáng (Blind obedience) [Công Giáo dạy tín đồ phải quên mình trong vâng phục các bề trên, Tin lành dạy phải tuyệt đối trung thành với Thánh Kinh. TCN]

–          Thiết lập thời điểm “lý tưởng” [thời điểm được cứu rỗi để  truyền đạo] (Establish the “ideal” time)

–          Cứu cánh biện minh cho bất cứ phương tiện nào (The end justifies any means)

–          Tuyên bố Thánh Chiến (Declaring Holy War)

      Chúng ta không còn lạ gì, cả 5 dấu hiệu này là những sắc thái đặc thù của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành.  Những dấu hiệu này không chỉ là những dấu hiệu của tự thân Ki Tô Giáo mà cũng là những dấu hiệu của những chính quyền dân sự theo Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo như dưới thời Franco ở Tây Ban Nha, Palevich ở Croatia, Ngô Đình Diệm ở Việt Nam v…v…

     Tiến sĩ Kimball đã phê bình gay gắt sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo và tác giả viết, trang 25:

     “Tự do tôn giáo là điều tốt.  Nhưng tự do từ chối cái tôn giáo mà những người khác muốn áp đặt trên những người có niềm tin khác cũng là điều tốt vậy thôi.” [32]

      Điều này có nghĩa là chúng ta có quyền tự do từ chối và không cho phép những kẻ truyền đạo dùng những thủ đoạn bất lương (The end justifies any means) để truyền đạo như đám Tin Lành.

    Người Việt Nam hẳn không ai mà không biết đến câu “theo đạo có gạo mà ăn”, được truyền tụng trong dân gian từ ngày Công giáo bắt đầu xâm nhập Việt Nam cho tới bây giờ, và gần đây, những nhà truyền giáo Tin Lành đã mua mỗi đầu người Thượng trên miền thượng du vào đạo bằng 20 đô-la.  Ki Tô Giáo không thể truyền đạo trong các môi trường trí thức như trường Trung Học và Đại Học, không thể truyền đạo bằng Thánh Kinh, trừ vài đoạn trích dẫn vụn vặt đượm chất hoang đường, mê tín, nhưng lại khiến cho những người ít đầu óc dễ tin..  Họ chỉ thành công, hoặc bằng bạo lực như trong quá khứ, hoặc bằng cách dùng bả vật chất, trong các cộng đồng mà cảnh nghèo khổ và kém hiểu biết của người dân là những yếu tố dễ lợi dụng và khai thác nhất. Nhưng phải công nhận rằng, “từ thiện” là cái mặt thành công nhất của Ki Tô Giáo, nếu kể về số tín đồ nghèo khó và trí tuệ thấp kém mà Ki Tô Giáo dụ được “vô đạo”, cái đạo “vô đạo” của Ki Tô Giáo.

 Kết Luận:

   Trên đây chỉ là vài nét về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành.  Không ai có thể viết hết về Ki Tô  giáo trong một bài viết thuộc loại này.  Thời buổi này mà chúng ta vẫn còn nghe thấy những luận điệu như những bài viết thuộc loại nghiên cứu lịch sử này là “chống Công giáo”, “chống Tin Lành”, hay “chia rẽ tôn giáo” hay “theo sách lược đánh phá Ki-tô giáo của Cộng sản” của một số tín đồ Ki Tô giáo Việt Nam cuồng tín.  Đây chỉ là những luận điệu chụp mũ vu vơ, không bằng chứng, vì tất cả các tài liệu dùng trong những bài nghiên cứu về Ki Tô Giáo đều là của giới trí thức Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các Giáo hội Ki-tô.  Tuyệt đối không có một tài liệu nào của Phật Giáo hay của Cộng sản.  Tại sao các tín đồ Ki tô giáo Việt Nam, kể cả các bậc chăn chiên và trí thức, đều không có mấy ai sử dụng đến lý trí của mình.

   Nếu còn dùng đến lý trí thì các tín đồ Ki Tô giáo Việt Nam phải hiểu rằng, một khi mà những lời nói dối trá đã không còn giá trị trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, những điều thuộc loại mê tín hoang đường cổ xưa không còn có hiệu lực và không còn thuyết phục được ai, thì tất nhiên con người sẽ không còn tin vào chúng nữa.  Và thực tế là, từ hàng giáo phẩm cho đến các con chiên ở dưới bỏ đạo hàng loạt là vì họ không còn muốn dính dáng gì đến một tôn giáo đầy tội lỗi thế gian, và trình độ người dân ngày nay đã cao, không còn có thể tin vào những điều thuộc loại hoang đường mê tín nữa.  Chính các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đã khai sáng cho họ qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo.

     Cuối cùng tôi muốn nói lên một số ý nghĩ chân thành của tôi về các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam.  Đây là những ý nghĩ  bắt nguồn từ sự hiểu biết về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, với tất cả sự lương thiện trí thức trong lãnh vực học thuật, tuyệt đối không phải vì thù hận cá nhân hay tập thể.  Và những ý nghĩ này nhằm mục đích xây dựng chứ không phải phá hoại.  Do đó, các bạn, xin phép được gọi như vậy, nên hiểu rằng đây là những ý nghĩ của một người bạn, không phải của kẻ thù.

   Vấn đề không phải là các tín đồ Ki Tô Giáo tin vào Thượng đế của người Do Thái, vì ai cũng có quyền tin vào một Thượng đế mà mình muốn tin. Trong thế giới ngày nay, chúng ta thấy có cả trăm Thượng đế khác nhau, và về bản chất, mọi Thượng đế và mọi đối tượng tín ngưỡng đều như  nhau, nếu chỉ là thuần túy đối tượng của một đức tin không cần biết, không cần hiểu. Vấn đề chính là tin như thế nào, và những hành động tôn giáo bắt nguồn từ đức tin của mình có thật sự làm sáng danh Thượng đế mà mình tin hay không, hay ngược lại chỉ kéo Thượng đế của mình xuống vòng  ô nhục.  Thảm thay, đây chính lại là điều các tín đồ Ki-tô thường làm, tưởng rằng để vinh danh Thiên Chúa nhưng thực ra lại hạ thấp Thiên Chúa của mình xuống hàng tệ mạt nhất trong nhân loại, qua những hành động tàn bạo, ác ôn nhất trong lịch sử nhân loại.  Có phải là kỳ lạ  không khi chúng ta tin vào Thần cây đa, Thần bình vôi v… v…, chúng ta không hề gây hại cho ai, trong khi tin vào Thần của Ki Tô Giáo thì lại gây ra bao thảm cảnh cho nhân loại.  Vậy về phương diện xã hội, những niềm tin nào đã gây hại cho xã hội.  Các tín đồ Ki-tô có bao giờ nghĩ đến điều này không?

   Sau đây tôi sẽ đưa ra vài điều để các bạn suy nghĩ và thấy rằng không phải tôi viết bừa mà không có căn cứ.

–          Các bạn tin vào một Thiên Chúa toàn năng [nghĩa là làm gì cũng được], sáng tạo ra cả vũ trụ và muôn loài trong đó.  Nhưng các bạn lại tin rằng Thiên Chúa phải cần đến những con người thế tục, đầy tội lỗi như các bạn để đi kiếm thêm linh hồn cho Thiên Chúa của các bạn.  Chẳng vậy mà các bạn rình mò xem có người quen nào sắp chết, nhân lúc gia đình vắng mặt, đến ban tên thánh cho người sắp chết, hoặc dùng mọi thủ đoạn để kéo người ngọai đạo vào trong niềm tin của các bạn.  Vậy thực ra các bạn đang vinh danh Thiên Chúa hay đang mạ lỵ Thiên Chúa của các bạn?  Các bạn đã không tin ở thuộc tính toàn năng của Thiên Chúa, không tin ở khả năng sáng tạo của Thiên Chúa, không tin ở khả năng thực hiện tất cả những gì mà Thiên Chúa muốn.  Các bạn tin rằng Thiên Chúa có nhiều nhu cầu, thí dụ như nhu cầu độc tài, không ai được thờ Thần khác, hoặc nhu cầu về sự yêu thương hết lòng hết sức của những con người do chính Thiên Chúa tạo ra, hoặc nhu cầu cần được người trần vinh danh v..v.. và Thiên Chúa lại phải nhờ đến các bạn để cung cấp những nhu cầu ấy cho Thiên Chúa?  Vậy thực chất Thiên Chúa của các bạn là cái gì, có khác gì người thường không?  Các bạn đã mang những tính xấu trần tục của con người để áp đặt lên Thượng đế của các bạn.

–          Các bạn tin lời giải thích của giáo hội hay của chính giáo hoàng John Paul II gần đây ở Lourdes, là mọi bất hạnh, tật nguyền xảy tới với các bạn là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa (God’s wondrous plan).  Các bạn không hiểu tại sao những bất hạnh đó lại đến với các bạn, và để tự an ủi các bạn đã tin vào lời giải thích như trên.  Cũng như khi xưa, người dân Do Thái được các thầy tu hay tiên tri Do Thái giải thích là những đau khổ triền miên xảy ra cho dân Do Thái là do sự trừng phạt của Thiên Chúa vì dân Do Thái đầy tội lỗi, không theo đúng luật của Thiên Chúa.  Một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ hồi tâm, mang nước thiên đường, nghĩa là một Jerusalem mới tràn đầy sữa và mật cho người Do Thái.  Vậy thật ra các bạn đã tin vào một Thiên Chúa chuyên làm ác, gây ra bao đau khổ và bất hạnh cho nhân loại chỉ vì Thiên Chúa không vừa ý [ai biết ý Chúa ra sao?]. Điều này đối ngược hẳn với niềm tin của các bạn về một Thiên Chúa “quá thương yêu thế gian”.  Có niềm tin nào có thể hạ thấp Thiên Chúa của các bạn xuống hàng ác ôn hơn không?

–          Trong nhiều thế kỷ, các giáo hội Ki-tô đã gây ra bao thảm họa cho nhân loại qua những cuộc Thánh chiến, những cuộc săn lùng phù thủy, thiêu sống con người, những tòa án xử dị giáo với những cuộc tra tấn khủng khiếp con người, những cuộc cưỡng ép cải đạo khắp năm châu v..v.. mà tất cả đều được biện minh là làm theo ý Chúa (God’s will it = Motto trong cuộc thánh chiến đầu tiên).  Như vậy là các bạn đã tin và chấp nhận một Thiên Chúa toàn năng chủ trương giết chóc, tra tấn, thiêu sống và cưỡng bách cải đạo v..v…  Một Thiên Chúa như vậy thì có giá trị gì cho nhân loại, hay thực chất chỉ là một tên ác ôn khát máu?

–          Đã một thời, và ngày nay vẫn còn nhiều người tin, là những thiên tai như động đất, bão lụt, bệnh dịch truyền nhiễm v..v.. đều là những biện pháp của Thiên Chúa để trừng phạt những người không tin theo Ngài hoặc vì một lý do nào đó của Thiên Chúa mà chúng ta không thể hiều nổi.  Và tất cả cũng đều là do ý Chúa.  Nhưng thiên tai, bệnh tật có chừa ai đâu, đâu chỉ chọn người ngoại đạo để mà trừng phạt.  Các bạn đã tin vào một Thiên Chúa, tác giả của những tai họa của nhân loại.  Một Thiên Chúa như vậy có đáng để con người kính trọng không, khoan nói đến thờ phung?

–          Các bạn tin vào một ông Thiên Chúa đòi hỏi các bạn phải yêu ông ta hết sức hết lòng nếu không thì…, phải tin ông ta và tuân theo những luật lệ của ông ta dù những luật lệ đó đã trở thành lỗi thời, phản ánh một trình độ man rợ của thời chưa khai hóa, nếu không thì…., phải nhận ơn tha thứ của ông ta nếu không thì…, phải tin rằng ông ta có khả năng “cứu rỗi” nếu không thì….  Chỉ có một Thiên Chúa dùng sự đe dọa và sợ hãi để bắt con người phải tin vào mình mới có những đòi hỏi như vậy.  Một Thiên Chúa nhân từ, đầy lòng thương yêu không bao giờ có thể đòi hỏi như vậy.  Thật ra các bạn không hiểu các bạn là ai, không hiểu Thiên Chúa là cái gì, không hiểu sự vận hành của thiên nhiên, của vũ trụ, của thế giới mà chúng ta đang sống trên đó.  Do đó các bạn không hiểu tình yêu là căn bản của mọi sự sống, cũng như không hiểu tình yêu của một Thiên Chúa, theo đúng nghĩa của nó, phải là một tình yêu không có điều kiện, không có sự phân biệt. 

     Đó là những vấn nạn mà các tín đồ Ki Tô Giáo ngày nay phải đối diện.  Nhưng không phải là những vấn nạn trên không thể giải quyết nổi, nếu các bạn có đủ lý trí, lòng tự tin, và sự lương thiện trí thức tối thiểu.  Tất cả tùy thuộc các bạn.  Các bạn chỉ có hai chọn lựa.  Một là tiêp tục sống trong bóng tối của ngu si, an phận làm con chiên, con cừu, và không cần biết đến những sự tiến bộ tri thức của nhân loại.  Hai là muốn thoát ra khỏi cảnh tối tăm trí thức?  Thoát ra như thế nào.  Mục sư Harry Wilson đề nghị: “Phải cất bỏ gánh nặng Thiên Chúa và Kinh Thánh trên vai.”  Riêng tôi, tôi có một đề nghị thiết thực hơn: Muốn gia nhập hàng ngũ của giới trí thức hiểu biết thì lẽ tất nhiên các bạn phải thay đổi những niềm tin về Thiên Chúa và Kinh Thánh.  Tôi không có ý nói là phải bỏ những niềm tin này mà là phải thay đổi những niềm tin này như thế nào để những hành động, lời ăn tiếng nói của các bạn không hạ thấp Thiên Chúa của mình xuống như các bạn thường làm trước đây, và cũng phải chấp nhận sự thực là Kinh Thánh không phải là do sự mạc khải của Thiên Chúa viết ra, mà chỉ là sản phẩm của một số người mà kiến thức của họ vào thời đó còn rất nhiều thiếu sót.  Các bạn có thể tiếp tục tin vào vài điều đạo đức trong Kinh Thánh, nhưng những chuyện trẻ con như “sáng thế”, “tội tổ tông”, “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “chuộc tội”, “cứu rỗi”, “xác chết sống lại” v..v.. thì đừng có bao giờ mang ra mà quảng cáo trên các diễn đàn công cộng. [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Nữ Giáo sư Thần Học Uta Ranke-Heinemann]

Nếu các bạn cứ tiếp tục tin vào một ông Thượng đế của người Do Thái, về sau được biến thành Thượng đế của Ki Tô Giáo, tiếp tục tin vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh, và không hề có một thắc mắc, nghi vấn nào, như các bạn đã tin, tôi e rằng các bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thắc mắc của thiên hạ về Thượng đế của Ki Tô Giáo hay về mức độ khả tín, chính xác, không thể sai lầm của cuốn Kinh Thánh.

Đây chỉ là vài ý kiến chân thành của tôi, hi vọng có thể giúp các bạn trở về thân phận con người mà cái quý báu nhất là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, phân biệt chân giả, và nhất là, đừng vì những niềm tin của mình mà phản bội dân tộc, đánh giá thấp truyền thống văn hóa cao đẹp hơn văn hóa Ki-tô rất nhiều của Việt Nam..

Sau cùng, xin độc giả hiểu cho rằng, bài viết này chỉ viết về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành, chứ không có ý tổng quát hóa, quy tất cả những tội ác và sai trái của Ki Tô Giáo lên đầu đám tín đồ ở dưới mà trong đám này tất nhiên có rất nhiều người lành thiện, giầu lòng bác ái, là những công dân tốt.  Họ không bao giờ nghĩ rằng bản chất và thực chất của tôn giáo họ theo lại có một lịch sử như vậy.  Họ là những người đáng thương chứ không đáng trách.

 

[1]  Most Catholics are unaware of the history to which the pope alluded, an if, in the words of Cardinal John O’Connor, archbishop of New York, Catholics are to be “liberated by the truth”, then they must know what that truth is.)

[2]  King Charles VI of France published a decree withdrawing the French Catholic Church and all French citizens from obedience to Pope Benedict XIII.  He nullified his country’s support for Christianity and declared France religiously neutral

[3]  Malachi Martin, The Decline and Fall of The Roman Church,  p. 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries…

[4]  S.T. Joshi, God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong,  Prometheus Books, New York, 2003, p. 12:  The dominant question thus becomes  not why religion has not died away but why it continues  to  persist in the face of monumental evidence to the contrary.  To my mind, the answer can be summed up in one straightforward sentence: People are stupid.

[5]  Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

[6]  “But the Church does not kill now”, methinks I hear the Christian apologist exclaim.  No, a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious.  The Church does not kill now because it does not have the power to kill.  The fagot and the sword have been wrested from its bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.

[7]  This was the beginning of the Index of Prohibited Books, and the suppression of books challenging Church dogma soon became official Vatican policy.  It was perhaps the most dramatic form of censorship known to the world, by which the Church for centuries policed the literature available to the public, and it maintained official sanction well into the 20th century.

[8]  He believed in a plurality of worlds, in the rotation of this, in  the heliocentric theory.   For  these  crimes,  and for these alone, he was imprisoned for six years. He was offered his liberty, if he would recant.  Bruno refused to stain his soul by denying what he believed to be true.  He was tried, condemned, excommunicated and sentenced to be burned.  He was taken from his cell by the priests, by those who loved their enemies, led to the place of execution..He was chained to a stake and about his body the wood was piled.  Then priests, followers of Christ, lighted the fagots and flames consumed the greatest, the most perfect martyr, that ever suffered death.  (“Ingersoll The Magnificient” By Joseph Lewis).

[9]  Galileo was a great scientist who, even at the age of eighty, when he was dying, had such a beautiful sense of humor.  He said: There is no problem.  I will change it; I will write in my book exactly what God has written in the bible – that the sun goes around the earth.  But one thing I must make clear to you: neither the sun reads my book nor the earth reads my book.  As far as reality is concerned, the earth will continue going around the sun.  And   why   should  you  insist?   Because  I have every proof; I have devoted my whole life to the search, and all those who have a scientific mind are in absolute agreement with me.  Sooner or later you will have to agree because one cannot remain against truth for long.

[10]  It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam.

[11]  Pettifer, Julian & Bradley, Richard, Missionaries, BBC Books, London, 1990, pp. 132-133: By the end of the fifteenth century, Pope Alexander VI created two spheres of influence; he determined that the whole of the Americas with the exception of Brazil, should belong to Spain, while Portugal would take Brazil and whatever could be seized in Asia and Africa. It was decreed that along with territorial gains would go the duty to incorporate any native peoples into the Catholic Church…With the invading armies came priests and  friars whose  presence justified the subjugation of the people and the use of whatever coercion was judged necessary to bring them to the faith.

[12] …It is useful to consider Balny’s actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand’s at Nam-dinh with an emphasis on the relationship between Catholic Missions and the French forces.  The analysis reveals that the French were far from alone in their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received a significant level of support from the missionaries and the Vietnamese Catholics.  Moreover, the methods of the French officers and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels.  This Catholic collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was a significant contributing factor to the French success in Tonkin.

[13]  Les missionaires, selon l’optique des dirrigeants Vietnamiens, étaient coupables  de pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur pays.  Rejet des cultes religieux, des valeurs sociales qui les faisaient vivre en marge de la société traditionnelle.  Mais chose plus grave, on reprochait aux prêtres et aux chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés.

[14]  The principle of the Inquisition was murderous..The popes were not only murderers in the great style, but they also made murder a legal basis of the Christian Church and a condition of salvation.

[15]  The pope’s bulletin declared that the Church controlled “two swords”, that is, two powers: “Both swords are in the power of the Church, the spiritual and the temporal; the spiritual is wielded in the Church by the hand of the clergy; the secular is exerted for the Church by the hand of its military.. and the spiritual power has the right to establish and guide the secular power, and also to judge it when it does not act rightly.. Consequently, whoever opposes the two swords of the Church opposes the law of God.

[16]  The Inquisition, said Bishop Bruno of Segni, “was invented to rob the rich of their possessions.  The pope and his priests were intoxicated with sensuality; they despised God because their religion had been drown in a deluge of health (A History of the popes, Joseph McCe, V.A. Watts & Co., London, 1939)

[17]  Martin Luther, upholding the Bible as the supreme authority, had no reservations about burning witches.  He sanctioned 4 executions at Wittenburg.  “I should have no compassion on the witches…I would burn them all.” John Calvin personally led a campaign in Geneva against 31 persons accused of witchcraft.  Calvin declared:  The Bible teaches us that there are witches and they must be slain… this law of God is a universal law.

[18] Father Delehaye, The Legends of the Saints, 1907, English ed., Dr. Joseph McCabe, “The Popes and their Church”, C. A. Watts & Co., London, 2nd ed. Revised, 1924, p.13:  There is no evidence whatever that the papal genealogies are based upon earlier sources; simply put, there were no Christian popes for many centuries.

[19] In short, these frauds are very common in all books which are published by priests..  For it is certain they plead the authority of earlier writings that wew themselves fake, forged, mangled or corrupted, with more reasons than any to support their articles of faith with sinister ingenuity.

[20] Lockhart, Douglas, The Dark Side of God, Elements Books, Inc., Boston, MA., 1999, p. 47: With the ability to invent history through the forging of imposing-looking documents complete with papal seals, and with the added ability to instantly insert such fabrications into Canon Law, the Catholic Church systematically recreated its past and ended up believing its own lies.

[21] Ellerbe, Helen, The Dark Side of Christian History, Morningstar & Lark, Orlando, FL., 1999, p.17: The Catholic Encyclopedia concedes that “In all departments forgery and interpolation as well as ignorance had wrought mischief on a grand scale.”  Despite Church prohibitions against any further research into the origins of the Gospels, scholars have shown that all four canonized Gospels have been doctored and revised.  While the Church claimed that truth was static in nature and had been revealed only once, it continually found cause for changing that truth.

[22] The entire structure of the Roman Church is built on forgeries, spurious epistles, spurious sermons, spurious miracles, spurious relics, spurious councils, and spurious papal bulls. The Catholic Encyclopedia admits the existence of thousands of forgeries.. Roman inventions as Peter’s martyrdom at Rome (2nd cent.), Assumption of Mary (6th cent.), Temporal power of the bishop of Rome (8th cent.), Primacy of Rome (11th cent.), Seven Sacraments (13th cent.), etc., can only be proved by forgeries…

   Catholic theologians claim that with the development of the primacy in the Middle Ages, the papal letters grew enormously in number (C.E. 6, 202). “There can be no doubt that during a great part of the Middle Ages papal and other documents were fabricated in a very unscrupulous fashion” (C.E. 3, 57). Speaking of the thousands of miraculous relics of Rome, the same scholars admit that “the majority of which no doubt were fraudulent,” a “multitude of unquestionably spurious relics” (C.E. 12, 737). The same scholars admit the following Roman frauds: the origin of the Rosary and the apparition of Mary to St. Dominic, the Scapular and the apparition of Mary to Simon Stock, the Scala Santa, the legends and relics of Veronica, the Holy Lance etc…

[23] Official Catholic records provide extraordinary confessions of wickedness in the whole Catholic clergy, and the implications surrounding this knowledge begin to assume major new proportions when considered in light of the central church claim of unquestionable piety in the clergy hierarchy.

[24] The first proposition,   that  the  sun  is  the  centre  and  does  not revolve about the earth, is foolish, absurd, false in theology, and heretical, because expressely contrary to the Holy Scriptures; and  the second proposition,  that the earth is not the centre  but revolves about the sun, is absurd, false in philosophy, and from a theological point of view at least, opposed to the true faith. (“The Scientific Revolution” Edited by Vern L. Bullough.)

[25]  Now did Christianity have aught to do with the civilization of this people ?  Certainly not; and were it not for the cloud of prejudice before his eyes, the Christians would clearly see that it did not produce our civilization. He wvould see that instead  of the church having  civilized  the world,  the  Rationalistic world has for centuries been slowly civilizing the church.

   The very nature of Christianity–I mean orthodox Christianity – precludes the possibility of progression as an inherent principle of itself; and whatever progress has been made, either in the church or outside of it, must be attributed to causes over which she has had no control. The church claims to have the truth, the whole truth, and nothing but the truth.    Every proposed change, every new discovery, is to her a perversion of truth, and, hence, she opposes it. Were the church to sweep  to universal empire, all progress would at once cease.  Our Huxleys and Haeckels would be summarily disposed of, the torch of Reason would be extinguished, and the ignis-fatuus of Faith would become our only guide. Of the truth of this she has herself given conclusive evidence.  For centuries her power in Europe was supreme, and even Christian writers denommate these centuries the Dark Ages.

   Not until Rationalism was born, not until science commenced her career, and Christianity began to decay, did our modern civilization dawn.  “For more than three centuries, ” says Lecky, “the decadence of theological influence has been one of the most invariable signs and measures of our progress.”  Says Carlyle, “Just in the ratio that knowledge increases, faith diminishes.”  “The Middle Ages were more religious than ours,” says Strauss, “in proportion to their ignorance and barbarism.  Religion and civilization accordingly occupy, not an equal,  but an inverted position regarding each other,  so that with the progress of civilization, religion retreats.”

[26] Virtually no one really reads the Bible.  The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less reads all of it.

   If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.

[27] Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.

[28] God is very clear here, folks, he doesn’t want witches to live. We are supposed to be killing witches! If we don’t, we are disobeying God. Jesus would weep tears of joy if He leaned down off His cloud and sniffed up the burning flesh of a witch this Halloween. Wouldn’t that ruin Satan’s little birthday party! Praise God! It’s just a shame that the United States Government has placed restrictions on the Biblically-mandated practice of witch burning.

[29] Our analysis has led us to the conclusion that the experience of conversion is a response to a crisis situation.  It resolves an emotional impasse.

   That is why the Church grows more rapidly in areas where social processes are causing suffering, particularly from anomie and the collapse of meaning-structures…Such areas should be given top priority by the churches, that efforts to build up church life should be concentrated in them…

   I am not saying anything that is news to Protestants.  There is no conversion without crisis, no conversion without suffering.  Conversion is a process whereby one assimilates suffering to a new meaning-structure and thus makes it meaningful…

   Isn’t it curious that Christ cannot be prached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth living, to people who are not going through a crisis?  Isn’t it odd that Christ can only be proclaimed and made meaningful in morbid situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror of death?  What really is the task of the evangelists?  His or her task is to give theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin.  The evangelist seeks to activate a crisis which might not have been sensed befored, so that then, and only then, he or she can proclaim that “Christ is the answer.”

   We are forced to conclude that the world makes room for Christ only when it feels ill, when it has come down with some sickness.  Is there some theological reason why dread of death and guilt are the privileged sacraments of salvation?  To put it another way, the experience of conversion presupposes that the meeting-point between God and the world is suffering and anguish – the world’s state of pain and sickness.  When there is health and happiness, language about God loses its meaningfulness.  Isn’t there a sadomasochistic vision of reality buried underneath such presupposition?

   Suffering is transformed into a blessing, because it provides an opportunity for the sinner to encounter Christ.  The greater the suffering, the greater the opportunities for evangelists!  Doesn’t that suggest that the Church is being put in the curious position of praying for more human suffering so that human hearts will be more receptive to its message?  That was a question which Dietich Bonhoeffer posed to the Church.

   What do the apologists for the Christian faith, the bearers of the “good news” really do?

   They demonstrate to secure, content, happy mankind that it is really unhappy and desperate, and merely willing to realize that it is in severe traits it knows nothing at all about, from which only they can rescue it.   Wherever there is health, strength, security, simplicity, they spy luscious fruit to gnaw at or to lay their pernicious eggs in.  They make it their object first of all to drive men to inward despair, and then it is all theirs (Bonhoeffer).

   Conversion is a solution to a painful problem.  One starts from conversion to structure a world whose function is to prevent the reappearance of anxiety.  The aim is the exorcism of the terror.  Now if the conversion has proved adequate in exorcising this terror, consciousness will be firmly glued to that conversion-experience and its attendant cognitive worldview.  That is why arguments won’t work at this level.  You may offer all sorts of evidence – logical, scientific, or whatever – to call to convert’s basic experience into question.  It will immediately and flatly rejected by the convert.

[30] The situation of the new converts is akin to that of children going to school for the first time.  They know nothing.  Knowledge will be mediated to them by a person who has knowledge. The learning process is a process of apprenticeship.  The social interaction between two parties involved is not an interaction between equals.  Master and apprentice, teacher and learner, are not the same level.  One is subordinate to the other; hence power is involved in the equation.  The teachers are those who have the power to impose their definition of reality; the learners are those who do not have the power to maintain their definition of reality..

   Even before new converts learn anything about the world, they are taught to view themselves as people who know nothing.  Their own knowledge is placed between parentheses and called into doubt.  It is not permissible for them to appeal to what they think they know in order to criticize the knowledge that the church community wishes to transmit to them.  Why?  Because their knowledge is a heritage from their earlier period of darkness and damnation.  Their minds are reduced to blank pages.  They have nothing to say; their job is to listen.  As apprentices and learners, they must submit silently to the church institution.  They now know that the institution has the monopoly on absolute knowledge, hence a monopoly on the right to talk.

   In the Protestant world, then, the learning process begins with a lesson in a particular kind of social relationship: the teachers speaks, the learners keep quiet; the teachers teach, the learners repeat.  If the learners do not know what they believe, they are not qualified to speak.  It is true that the converts are free to sing their emotions.  But the discourse of knowledge is still impossible.  This is why the proper mode of speech for the learners is repetition, as catechisms clearly illustrate.  Catechisms are primers for apprentice-learners.  They contain questions and ready-made answers.  When do learners know their catechism?  When they can recite by heart the printed answers in it.  The learning of the church community is defined in terms of that knowledge, and the test of learning is the ability to memorize and repeat the catechism questions and answers.  In this way the collective conscience of the community is imprinted as truth on the mind and conscience of the individual member.  What about free inquiry?  What about let the converts break their own ground?  That is nowhere to be found.

[31] Newsweek, p.33: The last lines read:  I do not want anything to do with God.  I am sick of religion.  It is a crutch for the weak.. We make God into what we need for the moment.  I hate God.  I hate all those who try to explain God when they really don’t know.

[32] Freedom of religion is a good thing.  So is freedom from the religion others may wish to impose on those who differ.

 Source: http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-dan/doi-thoai/3963-Ki-To-giao-Cong-giao-va-Tin-Lanh-Ban-chat-va-thuc-chat-Mot-khao-luan-qua-cac-tai-lieu.html?VivvoSessionId=989275694177befabb24b92500a3aaa7
 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Sáu 8, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ: , ,

One response to “Ki-Tô giáo: Công giáo và Tin Lành – Bản chất và thực chất – Một khảo luận qua các tài liệu Phần II. TIN LÀNH

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: