RSS

Giê Su là ai ? Dạy gì? (5)

13 Jul

1. Giê-su Và Gia Đình:

Gia đình là nền tảng của xã hội.  Không ai có thể phủ nhận là ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo đã thấm nhuần vào xã hội Việt Nam với phương châm “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.  Do đó, về “tề gia” thì người Việt Nam rất coi trọng về hiếu đễ với cha mẹ, thờ cúng tổ tiên, tình nghĩa vợ chồng, bổn phận giữa cha mẹ và con cái và giữa anh chị em trong nhà.  Trong văn học bình dân có nhiều câu dạy con người từ khi còn nhỏ phải biết đến ơn cha nghĩa mẹ.  Điển hình là hai câu: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.” dạy đạo làm con cần phải hiếu kính cha mẹ.   Phật Giáo cũng coi trọng chữ hiếu.  Đức Phật đã chẳng dạy rằng: “hiếu kính với cha mẹ hiện tiền chính là hiếu kính với Phật” hay sao?  Tục lệ thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ của người dân Việt cũng chỉ nói lên lòng hiếu kính của con người đối với các bậc đã sinh thành ra mình.  Nhưng khi Ca-Tô Giáo Rô-ma du nhập Việt Nam thì tôn giáo này, với quan niệm vô gia đình vô tổ quốc, chỉ biết đến Chúa v..v.. đã biến những tín đồ tân tòng thành lớp người vô tổ quốc, vô chính phủ, vô gia đình, vô tổ tiên.  Họ chỉ có một tổ quốc: đó là nước Chúa, thật ra chỉ là nước Vatican vì có ai biết nước Chúa ở đâu đâu?; một chính phủ: đó là hệ thống quyền lực của giáo hoàng vì họ được giáo hội dạy rằng thần quyền đứng trên thế quyền, giáo hoàng là “đại diện của Chúa” trên trần, và các linh mục là “cha cũng như Chúa” v..v..; một gia đình: đó là gia đình những người theo đạo; và một tổ tiên: đó là ông Adam và bà Eve trong huyền thoại sáng tạo cổ xưa của Do Thái.  Cho nên các tín đồ tân tòng Việt Nam  đã mù quáng dẹp bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào xó trong hơn 400 năm, kể từ 1533, cho tới gần đây, vì trước sự tiến bộ của nhân loại, để giữ tín đồ, giáo hội đã bắt buộc phải cởi trói, cho phép giáo dân được thờ cúng ông bà tổ tiên, cho nên họ mới lác đác trở lại thờ cúng tổ tiên.  Họ thường tự biện rằng ngày nay họ đã thờ cúng tổ tiên trở lại, hay ăn giỗ ăn Tết, và do đó Ca-Tô giáo cũng có tinh thần dân tộc.  Nhưng điều này lại nói rõ hơn gì hết cái tinh thần nô lệ Vatican của họ, vì chuyện thờ cúng tổ tiên không phải là họ tự động trở lại với truyền thống dân tộc mà chỉ là họ được Vatican cho phép sau Công Đồng Vatican II.  Tại sao trong hơn 400 năm họ không hề có thái độ gì đối với lệnh cấm thờ cúng tổ tiên của Vatican?  Tại sao họ phải nhắm  mắt   tuân theo  cái lý thuyết thần  học   quái  gở của Ca-Tô Giáo: không được thờ cúng tổ tiên?

Các tín đồ Ca-Tô  thường nhắc đến câu Giêsu dạy “Phải hiếu kính với cha mẹ..” (Matthew 19: 19: Honor your father and your mother..) làm như đó là đạo lý đặc thù của Ki Tô Giáo, chỉ mình Ki Tô Giáo có mà thôi.   Nhưng vì không đọc Thánh Kinh nên họ không biết rằng, trong thực tế, hành động của Giê-su lại trái ngược hẳn lại, không có gì có thể gọi là hiếu kính với cha mẹ hay có tình nghĩa với gia đình.  Qua những chuyện viết trong Thánh Kinh, chúng ta không thể nghĩ khác hơn là: những thái độ và hành động  hỗn hào bất kính với cha mẹ, vô tình vô nghĩa với gia đình, là những thuộc tính đặc thù của Chúa Ki-Tô.

Thật vậy, đọc Thánh Kinh chúng ta thấy Giê-su   không coi gia đình ra gì, có lẽ vì ông ta có mặc cảm với cái thân thế bất minh, là đứa con hoang của mẹ mình.  Trong nhiều trường hợp ông ta còn để lộ thái độ thù ghét gia đình.  Trước hết, chúng ta hãy xem cách đối xử của ông ta với chính mẹ mình.

Trong các Phúc Âm, chúng ta không bao giờ thấy   Giê-su gọi mẹ mình, bà Maria, là “Mẹ”.  Trong bản Thánh Kinh của Vua James (King James Version), cuốn Thánh Kinh được chấp nhận rộng rãi và dùng trong nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay, từ mà Giê-su dùng để gọi bà Maria là “Người đàn bà kia” (Woman), một cách gọi xách mé hỗn xược. Thật là tội nghiệp cho bà Maria.  Đây không phải là điều khó hiểu.  Vì phân tích những lời hỗn hào của Giê-su đối với mẹ và gia đình trong nhiều trường hợp được viết trong Thánh Kinh, một số học giả đã cho rằng, đúng là Giê-su có cái mặc cảm của một đứa con hoang, bị thiên hạ khinh khi đàm tiếu cho nên hận gia đình, hận mẹ, hận thân phận nghèo khó của mình v..v.. kết thành những thái độ và lời nói với mẹ và gia đình như vậy. Ngoài ra, chính gia đình của Giê-su gồm có cha, mẹ (Joseph và Maria) và các em trai, em gái của Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu tinh của dân tộc Do Thái, đôi khi còn cho ông ta là không có đầu óc bình thường nếu không muốn nói là điên (out of his mind),  cho nên  thái độ của Giê-su  đối  với  gia đình rất là hỗn hào, xấc láo.

Chúng ta chắc ai cũng đã biết chuyện sau đây được kể trong Thánh Kinh: Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó mới 12 tuổi, cùng đến Jerusalem.  Sau ngày lễ thì hai vợ chồng Joseph thấy biến mất ông con.  Tưởng rằng ông con đã đi cùng bạn bè đi về nhà nên ông bà cũng trở về nhà.  Nhưng đi suốt cả ngày cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi tìm Giê-su.  Hai ông bà quay trở lại Jerusalem và ba ngày sau thì thấy Giê-su đang ngồi đối đáp với mấy thầy thông thái trong một đền thờ.  Sau đây là những lời qua lại giữa bà Mary và ông con Giê-su, Lu-Ca (Luke) 2 : 48 -50:

Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.  Ngài trả lời: Các người kiếm tôi làm chi?  Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi hay sao?  Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết.

Quý vị có thấy một đứa bé 12 tuổi nào hỗn hào với cha mẹ như vậy chưa, trừ phi nó là một nghiệp chướng của một gia đình vô phúc.  Trước hết nó ở lại Jerusalem một mình mà không hề xin phép cha mẹ.  Sau đó khi cha mẹ tìm được nó, trách nó, thì nó lại sẵng giọng cùng cha mẹ và hỏi họ kiếm nó làm chi?   Nhưng câu chót “Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết”  đã chứng minh rằng cả Joseph và Mary đều biết, nhất là Mary, người biết rõ hơn ai hết ai là cha thực của Giê-su, rằng Giê-su không phải là ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, không phải là con của Chúa Thánh Thần, không phải là Chúa Cứu Thế v..v.. cho nên mới không hiểu Giê-su nói gì khi Giê-su nói là đang lo việc của Cha, nghĩa là việc của Chúa Cha alias Thần Gia-vê của Do Thái.

Chuyện cha mẹ lo lắng cho con là chuyện tự nhiên, nhưng chuyện “Chúa tôi” đối đáp với cha mẹ như vậy thì quả thật là đặc biệt, hiếm có trên thế gian, và ít ra là không hợp với nền luân lý của Việt Nam.

Chúng ta cũng biết, trong Tân Ước, ngoài trường hợp hỗn hào với bố mẹ khi Giê-su 12 tuổi ở trên, chỉ có hai trường hợp khác Giê-su trực tiếp nói cùng bà Maria, và cả trong hai trường hợp đó Giê-su đều gọi mẹ là “Người đàn bà kia”.

Trường hợp thứ nhất, John 2: 1-4 kể rằng: Trong một tiệc cưới có cả hai mẹ con Mary và Giê-su dự,  khi rượu hết bà Mary đến nói với Giê-su là “Họ đã hết rượu rồi”.  Giê-su trả lời bà như sau: “Người đàn bà kia! Sự quan tâm của bà thì có liên can gì tới Ta?  Giờ của Ta còn chưa tới” (Woman, what does your concern have to do with Me?  My hour has not yet come). Giờ gì?  Đọc tiếp Thánh Kinh chúng ta mới thấy rằng đó là giờ Giê-su trổ tài làm phép lạ, biến 6 vại nước thành rượu.  Kinh Thánh tiếng Việt của American Bible Societies xuất bản năm 1998 dịch đoạn trên như sau: “Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự gì chăng?  Giờ Ta chưa đến”.  Đó là câu nói “hiếu kính với cha mẹ” của “Chúa tôi” của những tín đồ Ca-Tô Việt Nam.  Vậy họ còn đợi  gì mà không noi  gương Chúa,   đối  xử  với cha mẹ như Chúa?

Trường hợp thứ hai là khi Giê-su đã bị đóng đinh trên thập giá, đang hấp hối sắp chết.  John 19: 26 kể rằng: Chúa Giê-su thấy mẹ mình, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng: “Người đàn bà kia, đó là con của ngươi..” (When Jesus therefore saw His mother, and the disciple whom he loved standing by, He said to His mother: “Woman, behold your son!”)

Chúng ta nên để ý là Giê-su đã dùng cùng danh từ “Người đàn bà kia” (Woman) để gọi một người đàn bà từ xứ Canaan đến xin chữa bệnh cho con gái mà mới đầu Giê-su không chịu chữa mà còn gọi người ta là chó vì không phải là dân Do Thái, và một người đàn bà khác can tội tà dâm (John 8:10, Matthew 15:28).  Ngoài ra,  Matthew 12:48  cũng còn kể:  Trong khi Giê-su đang đứng giữa đám đông, Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su thì Giê-su sẵng giọng nói: “Ai là mẹ Ta? Ai là các em  Ta?”    (Who is my mother?  and who are my brothers?).

Giê-su ghét gia đình là chuyện của ông ta, nhưng ông ta lại muốn những kẻ theo ông cũng phải ghét gia đình của họ như ông ta đã ghét gia đình mình.  Do đó ông ta đã dạy các môn đồ như sau:

Luke 14, 26:  Nếu   kẻ nào đến với  ta mà  không “căm ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)

Theo  Gene  Kasmar  trong cuốn   Tất Cả  Những  Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh (All The Obscenities in the Bible), trang 359, thì chữ “căm ghét” là dịch từ tiếng Hi Lạp (Thánh Kinh gốc viết bằng tiếng Hi Lạp)  “miseo”, có nghĩa là ghét tởm và khinh khi (detest and despise).

Và khi một đệ tử của Giê-su nói, Matthew 8: 21-22:     “Xin để con đi chôn cất cha con xong con sẽ đi theo Ngài” Giê-su trả lời: “Hãy đi theo ta ngay, hãy để cho người chết  lo mai táng người chết của họ.

Tôi cảm thấy quá tội nghiệp cho những tín đồ Ki-Tô Việt Nam, Ca-Tô cũng như Tin Lành.  Họ trông ngóng gì ở con người đối xử với mẹ và gia đình như trên?  Một con người tư cách như vậy có đáng để cho họ thờ phụng hay không?  Tại sao họ vẫn còn ham hố một sự “cứu rỗi” hoang đường, giả tưởng từ một con người tư cách đạo đức đáng chê trách như vậy?  Bởi vì từ khi sinh ra đời họ đã bị lừa dối bởi những xảo thuật nhồi sọ tinh vi của giáo hội qua vai trò “chăn dắt con chiên” của những giám mục, linh mục, với sự phụ giúp vô tình và bắt nguồn từ vô minh của các bậc cha mẹ, tất cả vốn cũng đã bị nhồi sọ như họ từ khi còn nhỏ.

Tại sao “Chúa” Giê-su lại có những hành động đối với gia đình như vậy?  Tân Ước, Matthew 10: 34-36, đã viết rõ, Giê-su khẳng định:

Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.  Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

Và Lưu-Ca  12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau:

Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới.  Không, Ta đến để chia loài người làm hai.  Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai.  Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

Qua những quan niệm và cách hành xử đối với gia đình như tôi vừa trích dẫn từ “Thánh Kinh” ở trên, Giê-su đã tự mình “làm gương” cho những người theo ông.  Và lịch sử cũng đã chứng tỏ, Ki Tô Giáo đi đến đâu cũng làm cho gia đình, xã hội chia rẽ chống lại nhau một khi trong gia đình, trong xã hội, có những con người tân tòng mù quáng tin vào Giê-su mà không biết gì về thực chất con người của Giê-su, và nhất là tin vào những giáo lý vô tổ quốc, phản dân tộc, vô gia đình,  vô tổ tiên v..v.. của giáo hội Ca-Tô.  Tất cả chỉ vì mù quáng tin vào những lời giảng dạy của giới chăn chiên trong giáo hội, dựa theo một nền Thần học ngụy tạo, lạc dẫn.

Kinh nghiệm Việt Nam từ khi khi đạo “Chúa” bắt đầu du nhập đã cho chúng ta thấy rõ điều này qua những sự kiện, bằng chứng lịch sử (Xin đọc Chương VIII trong cuốn Công Giáo Chính Sử  của Trần Chung Ngọc viết về Công Giáo Việt Nam).

Nhận xét về những tác hại mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho nhân loại trong vấn đề chia rẽ trong gia đình, quốc gia, và dân tộc, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden đã đưa ra một nhận định về lời phán trên của Giê-su trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), trang 177, như sau:

Thảm thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà lịch sử chứng tỏ là Giê-su đã thành công thực hiện. 5

2.  Giê-su Và Quốc Gia.

Trong phần trên tôi đã trình bày những quan niệm và cung cách hành xử của Giê-su đối với gia đình.  Từ đó, chúng ta có thể tiên đoán rằng, nếu quan niệm của Giê-su đối với gia đình thuộc loại bất bình thường thì quan niệm của ông ta đối với quốc gia dân tộc chắc cũng chẳng khác  biệt là bao nhiêu.  Thật vậy, nếu chúng ta đọc kỹ cuốn Tân Ước và tổng hợp những quan niệm của Giê-su về quốc gia dân tộc thì chúng ta sẽ thấy chúng phản ánh một tâm hồn bệnh hoạn, sống trong hoang tưởng, ảo tưởng của một con người mà đầu óc để ở trên mây.  Việc chứng minh luận cứ này chẳng có gì là khó khăn vì tất cả nằm trong cuốn Thánh Kinh.

Trong Chương trên, mục Bằng Chứng Ngụy Tạo Thứ Hai, tôi đã trích dẫn nhiều câu từ Thánh Kinh chứng tỏ rằng Giê-su tin là ngày tận thế đã sắp tới và Nước Chúa hay Nước Trời sẽ được thiết lập để thay thế cho nước Do Thái đang bị người La Mã thống trị.  Muốn hiểu rõ những ý tưởng của Giê-su trong phần phân tích sau đây, tôi nghĩ chúng ta cần có một khái niệm rõ ràng về quan niệm một Nước Trời hay Nước Chúa (Kingdom of God) của người Do Thái trong thời đại của Giê-su.  Đây không phải là một quan niệm mới mẻ gì của Giê-su mà là một lý tưởng thông thường nhất của tinh thần quốc gia Do Thái.  Các nhà “tiên tri” trong Cựu Ước thường viết về quan niệm này lập thành một hướng niệm của người Do Thái mỗi khi dân tộc Do Thái bị Thiên Chúa của họ bỏ rơi, lâm vào cảnh khốn cùng nô lệ.

Muốn hiểu điều trên có lẽ chúng ta cần trở lại một chút về lịch sử Do Thái.  Dân tộc Do Thái là một dân tộc du mục và trong lịch sử luôn luôn gặp những bất hạnh như nô lệ và lưu đầy.  Trong nhiều thế kỷ lâm vào những cảnh khốn cùng này, người Do Thái vô cùng hoang mang, vì từ trước tới nay họ vẫn tin rằng dân tộc mình được Thần Gia-vê, nghĩa là Chúa Cha, đặc biệt chọn lựa và cưng nhất, qua những giao ước và hứa hẹn của Thần với các ông tổ Abraham, Isaac, Jacob, và Moses trong Cựu Ước.  Nay những thực tại lịch sử chứng tỏ rằng những giao ước của Chúa Cha với Abraham v..v.. chỉ là những chiếc bánh vẽ trên trời.  Giới tiên tri thông thái lãnh đạo dân Do Thái bèn đổ tội lên đầu dân Do Thái, giải thích rằng vì dân Do Thái tội lỗi nên bị Thần phạt.  Dân Do Thái cần phải thống hối, cầu nguyện, và tin vào Thần Gia-Vê thì sẽ có ngày Thần của họ đoái thương, và một đấng cứu tinh (Messiah) của dân tộc Do Thái sẽ xuất hiện để  tiêu diệt những kẻ thống trị, khôi phục chủ quyền của dân Do Thái. Đấng cứu tinh mà dân Do Thái mong đợi thật ra chỉ là một anh hùng dân tộc, có công với dân Do Thái, tương tự như David khi xưa đã đưa Do Thái lên địa vị hùng mạnh trong vùng Trung Đông, chứ không phải là đấng cứu thế cứu rỗi linh hồn lên hiệp thông với Thần của họ trên Thiên đường.  Do đó, vị cứu tinh dân tộc này phải thuộc dòng dõi của vị Vua anh hùng Do Thái: David.

Vào thời điểm  Giê-su sinh ra  đời  thì Do Thái đang sống dưới ách thống trị khắc nghiệt của La Mã.  Do đó, dân Do Thái, cũng như trong những thời kỳ bị chinh phục và bắt làm nô lệ trước, mong chờ  và tin rằng Thần Gia-vê sẽ đoái thương đến họ, và một đấng cứu tinh thuộc dòng dõi vua David sẽ xuất hiện để giải phóng dân tộc họ.     Và quan niệm Nước Trời (Kingdom of God) nguyên thủy của người Do Thái rất đơn giản, đó chỉ là sự biến đổi thế giới thường thành một thế giới mà Thần của họ sẽ trực tiếp cai quản công việc thế gian và do đó, khôi phục những phúc lợi của dân Do Thái, dân đã được Thần chọn lựa (Joel Carmichael, The Birth of Christianity, Dorset Press, New York, 1989, p. 1: The Kingdom of God meant the transformation by God of the natural world into one in which God’s will would conduct human affairs directly and hence restore the fortunes of the Jews, the Chosen People).  Người Do Thái tin tưởng rằng nơi nước Trời hay nước của Chúa này, dân Do Thái sẽ sống sung sướng với sữa và mật tràn đầy, dưới sự quản trị và ân sủng trực tiếp của Thần Gia-vê.  Các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, từ trên xuống dưới, không biết về lịch sử Do Thái, không đủ khả năng tự mình đọc và hiểu lấy Thánh Kinh, không hiểu ý nghĩa của nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) trong Thánh Kinh, nghe lời giảng hoang đường huyễn hoặc của giới giáo sĩ, nên coi đó là một một nước ở trên thiên đường và gọi là “Nước Cha Trị Đến” mà không hiểu rằng nước này chỉ là một nước mà Chúa Cha trị vì, cai quản các việc thế gian của dân Do Thái như một ông vua trên trần thế, theo niềm tin  của người Do Thái thời bấy giờ, chứ  chẳng   dính dáng  gì  tới  bất  cứ dân tộc nào khác trên thế giới.  Thật vậy, trong cuốn A Time For Christian Candor, Giám Mục James A. Pike của giáo xứ California viết như sau, trang 109:

Quan niệm về thế giới của Giê-su là quan niệm trong thời đại của ông ta.  Quan niệm về một Nước Chúa mà ông ta nhấn mạnh là quan niệm đã được đưa vào Do Thái giáo từ thế kỷ 5 trước thời đại thông thường này, dưới ảnh hưởng của Zoroaster (Một nhà tiên tri Ba-Tư trong thế kỷ 6 trước Tây Lịch. TCN).  Ông ta (Giê-su) chịu ảnh hưởng giáo lý của dân Essenes, như là chúng ta càng ngày thấy đó là điểu hiển nhiên qua những bản dịch của những Cuộn Kinh Trong Biển Chết.  Ông ta có một đầu óc giới hạn – điều này đúng đối với mọi người.  Thí dụ, giống như các ông thầy tu Do Thái (Rabbis) cùng thời, ông ta cho rằng chính David viết tất cả những bài Thánh Vịnh cho nên ông ta đã chưng dẫn David như là tác giả bài Thánh Vịnh số 110 (thực ra là một bài đã được viết sau thời David) trong một cuộc tranh cãi với dân Pharisees.  Và ông ta nghĩ, phù hợp với tâm cảnh về một ngày tận thế trong thời của ông ta, rằng ngày tận thế đã gần kề. 6

Để  phù hợp với sự  khao khát  này của dân  tộc Do Thái, hai tác giả Phúc Âm Matthew và Luke đã đưa vào đoạn nói về gia phả của Giê-su thuộc dòng dõi vua David mà không nghĩ ra rằng điều này hoàn toàn mâu thuẫn với huyền thoại Mary đồng trinh và Giê-su là con của Chúa Thánh Thần.

Như chúng ta đã biết, Giê-su, chịu ảnh hưởng của Cựu Ước, tin những lời giải thích của những bậc thông thái tiên tri Do Thái, rằng dân Do Thái tội lỗi nên bị Thần của họ  phạt, nên khuyên mọi người hãy thống hối, đúng như nhận định của giáo sư đại học Hermann Samuel Reimarus ở trên: “Tất cả những điều giảng đạo của Giê-su nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới”.   Nhưng quan niệm về nước Chúa hay nước thiên đàng của Giê-su lại không phù hợp với quan niệm của người dân Do Thái, không đáp ứng được sự khao khát của dân Do Thái là được giải phóng khỏi ách nô lệ của La Mã, cho nên dân Do Thái mới không tin Giê-su là cứu tinh của dân tộc họ.  Và, khi Giê-su bắt đầu đi lang thang thuyết giảng về những cái gọi là phúc âm và tự nhận mình là con Thần Gia-vê, là đấng cứu thế v..v.. thì thánh kinh viết rõ là gia đình ông và nhiều người cùng thời cho là ông ta điên.  Thánh kinh cũng viết, có nơi khi ông tới, dân làng kéo ra ngoài làng đuổi ông đi, không cho ông vào làng.  Những lời rao giảng của ông không phù hợp với sự mong ước về một anh hùng dân tộc, cứu dân Do Thái ra khỏi vòng tối tăm nô lệ, của dân Do Thái.  Tuy không đến nỗi phản quốc như Trần Lục của Việt Nam, mang giáo dân đi hỗ trợ quân xâm lăng để tiêu diệt kháng chiến quân, vì trong thời đó Giê-su chỉ có một nhúm người theo ông, nhưng ông cũng không chủ trương gây nên một phong trào kháng chiến để chấm dứt sự đô hộ của La Mã, mà trong vài trường hợp, ông còn chủ trương tuân phục sự thống trị của La Mã (Cái gì của Ceasar hãy trả lại cho Ceasar). Vì vậy, dân Do Thái không công nhận ông là đấng cứu tinh (Messiah) của Do Thái và vẫn tiếp tục không công nhận cho tới ngày nay.  Họ cho rằng ông không có tinh thần quốc gia dân tộc, đã nhận xằng những danh hiệu cứu thế cũng như Con Thiên Chúa nên khi ông bị đóng đinh trên thập giá họ còn buông lời chế riễu.  Theo kết quả nghiên cứu của Peter Jennings trên đài ABC trong chương trình The Search for Jesus gần đây, số người tin và theo ông không quá 15 người, kể cả 12 người gọi là tông đồ, và không có một người nào trung thành với ông, tất cả đều bỏ trốn khi ông bị bắt cũng như bị hành hình.

Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao Giê-su lại có những lập trường, tác phong và hành động như vậy?   Ngày nay, các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và cổ sử đã tìm ra giải đáp.  Đó là vì đầu óc Giê-su không được bình thường, bị ám ảnh nhiều bởi những chuyện trong Cựu Ước đưa đến một tâm bệnh hoang tưởng, cộng với cái mặc cảm về thân thế không mấy tốt đẹp của mình.  Và những tư tưởng và hành động của Giê-su bắt nguồn từ những chứng bệnh tâm thần như trên.  Vì không làm chủ được chính mình nên những tư tưởng của Giê-su không nhất quán, trước sau không giống nhau, chứa nhiều mâu thuẫn, lời nói thường không đi đôi với việc làm như chúng ta đã biết, và nhất là ông toàn nói về những chuyện trên trời dưới bể, không có gì là thực tế, và không thể áp dụng được, trong thời ông cũng như trong thời nay.  Sau đây chúng ta sẽ đi vào phần chứng minh.

Đối với quan niệm về quốc gia, Giê-su phân chia thế giới làm hai phần: nước của cha ông ở trên thiên đường cho những người theo ông, và tất cả các nước khác trên trái đất.   Chúng ta không biết là Giê-su biết được trên thế giới có bao nhiêu nước.  Với kiến thức của những người viết Thánh Kinh, với quan niệm trái đất phẳng và dẹt như cái đĩa, trên có vòm trời bằng đồng thau có những cánh cửa mà các thiên thần mở ra để cho mưa rơi xuống, thì tôi tin rằng sự hiểu biết của Giê-su về các quốc gia trên thế giới chắc cũng không hơn gì sự hiểu biết của Thánh Augustine ở mấy thế kỷ sau, người được coi là cha đẻ của nền thần học Ca-Tô và được Ca Tô Giáo tôn sùng, coi như là có trí tuệ “siêu việt”, nhưng cũng là người không tin là trái đất hình cầu và phán rằng: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh Kinh không ghi lại bất cứ giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam).

Cho nên,  khi Giê-su nói đến “mọi nước” (all nations)  thì tôi tin rằng đó chỉ là một số quốc gia ở quanh vùng Trung Đông mà thôi.

Vì sống trong niềm hoang tưởng là mình được Thần Gia-vê phái xuống để cứu dân Do Thái, và chỉ dân Do Thái mà thôi (Matthew 15: 24: I was not sent except to the lost sheep of the house of Israel), nhưng dân Do Thái lại không tin lời ông và không chấp nhận ông là đấng cứu tinh của họ, nên ông cho rằng họ không đáng được hưởng nước của Thần Gia-vê, do đó ở trong đền thờ ông đã nói với những thầy tế lễ, lớp giáo sĩ  chỉ đạo dân Do Thái, rằng:

Matthew 21: 43: Cho nên Ta nói cho các ngươi hay, nước của Thiên Chúa sẽ bị tước đi khỏi các ngươi và để cho một nước mang hoa trái  của nó. (Therefore I say to you, the kingdom of God will be taken from you and given to a nation bearing the fruits of it.)

Cái nước có phúc này là nước nào?  Đó là nước của những người theo Giê-su tìm kiếm nước của Chúa chứ không lo tìm kiếm những nhu cầu vật chất như đoạn sau đây trong Thánh Kinh đã viết rõ:

Luke 12: 29-32:  Các ngươi đừng lo kiếm thức ăn thức uống, cũng đừng mang tâm lo lắng.  Vì  đó là những thứ mà mọi nước trên thế giới đều lo kiếm, và Cha của các ngươi biết là các ngươi cần các thứ đó.  Nhưng hãy lo tìm kiếm nước của Chúa, và rồi các ngươi sẽ có thêm những thứ đó.  Đừng có sợ, bầy chiên nhỏ, vì đó là sự hân hoan của Cha các ngươi cho các ngươi nước đó.

(Luke 12: 29-32:  Do not seek what you should eat or what you should drink, nor have an anxious mind.  For all these things the nations of the world seek after, and your Father knows that you need these things.  But seek the Kingdom of God, and all these things shall be added to you.  Do not fear, little flock, for it is your Father’s good pleasure to give you the Kingdom.)

Điều rõ ràng trong đoạn trên là Giê-su đã chia thế giới ra làm hai: nước của Chúa cho “bầy chiên nhỏ”, và “mọi nước khác”.  Nước của Chúa là một nước hoàn toàn khác biệt với mọi nước khác, vì  dân của nước này chỉ lo tìm kiếm nước của Chúa chứ không như dân của các nước khác, chỉ lo kiếm thức ăn thức uống hoặc những nhu cầu vật chất cần thiết của con người.  Điều hiển nhiên là công dân của nước này không có bao nhiêu, vì tất cả họp lại chỉ thành một “bầy chiên nhỏ”.   Bầy chiên nhỏ này là những con chiên của Giê-su, người chăn chiên chí thiện, với đặc tính là rất ngoan ngoãn, giống như những con cừu, Giê-su lùa đi đâu thì phải đi đó, kể cả chuyện thù ghét cha mẹ, anh chị em.  Nhưng Tân Ước cũng lại viết rõ, Matthew 22: 14: “Vì nhiều người được ơn kêu  gọi, nhưng chỉ có ít người được chọn” (For many are called, but few are chosen).  Cho nên, ngày nay số người theo Giê-su thì nhiều, nhưng số người được Giê-su chọn để mà cứu rỗi chắc cũng chẳng là bao nhiêu. Nhất là đối với những người đang sống trong những quốc gia Âu Mỹ chỉ biết lo ăn, kiếm mặc, kiếm tiền, và các nước Đông phương trong đó có Việt Nam chỉ lo xóa đói giảm nghèo v..v.. thì nước của Chúa không thể thuộc về họ. Họ không đủ tiêu chuẩn đòi hỏi của Chúa Giê-su.  Thánh Kinh đã viết như vậy, mà Thánh Kinh là những lời mạc khải của Chúa, làm sao có thể sai lầm được, có phải như vậy không, quý vị tín đồ Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành?

Sau khi chia thế giới ra làm hai: “nước Của Chúa” và “mọi nước khác”, Giê-su sẽ đối  xử với các nước này ra sao trong tương lai?   Thánh Kinh cũng lại viết rất rõ:

Matthew 25: 31-34:  Khi Con Của Người (nghĩa là Giê-su) tới trong vinh quang, và mọi thiên sứ thánh cùng tới với Người, thì Người sẽ ngồi trên ngai vinh hiển của Người.  (Dân của) Mọi nước trên thế giới sẽ tập họp trước Người, và Người sẽ phân tách họ ra với nhau, như là người chăn chiên chia riêng cừu với dê.  Rồi Người sẽ đặt những con cừu bên tay phải, những con dê bên tay trái. Rồi Vua sẽ phán cùng đàn cừu ở  bên tay phải,” Hỡi các ngươi được Cha Ta ban phúc lành, hãy tới mà hưởng nước của Chúa đã được sắp sẵn cho các ngươi từ khi thành lập thế giới.

(Matthew 25: 31-34:  When the Son of Man comes in His glory, and all the holy angels with Him, then He will sit on the throne of His glory.  All the nations will be gathered before Him, and He will separate them from one another, as a shepherd divides his sheep from the goats.  And he will set the sheep on His right hand, but the goats on the left.  Then the King will say to those on His right hand, “Come, you blessed of My Father, inherit the kingdom prepared for you from the foundation of the world.)

Nếu người nào có đầu óc, đọc xong đoạn Kinh Thánh trên mà không cho Giê-su là một kẻ điên, hoặc ít ra cũng là một ông Vua Xạo, thì chính người đó điên, cần vào chữa trị ở nhà thương Biên Hòa.  Bởi vì, Thánh Kinh đã viết rõ, Giê-su tin rằng ngày phán xét đã sắp tới, ngay trong thời đại mà một số những người theo ông còn sống.   Nhưng đã 2000 năm nay rồi, Giê-su vẫn chưa tới trong vinh quang (sic), và không biết bao giờ mới tới, nếu bộ xương khô có thể tới được.  Nhưng vấn đề không phải là tới hay không tới, mà là những người viết Tân Ước không biết gì về sự cấu tạo của vũ trụ và sự gia tăng dân số trên thế giới.  Hiểu biết của họ về “mọi nước trên thế giới” có thể chỉ là vài nước nhỏ ở miền Trung Đông cách đây gần 2000 năm, và dù có như vậy đi chăng nữa thì đoạn trên trong Thánh Kinh cũng chỉ là một niềm hoang tưởng bệnh hoạn.  Nó hoang đường như vậy mà vẫn có người tin thì kể cũng lạ, nhưng đây cũng lại là sự thực đối với gần 1/4 nhân loại.

Giả thử  ngày phán  xét  như  trên  của Chúa xảy  ra ngay bây giờ, như lời tiên tri láo của ông Trương Tiến Đạt trong Tiếng Loa Cảnh Báo về ngày phán xét xảy ra trong năm 2000, hoặc của nhiều nhà tiên tri dỏm khác trên thế giới đã nhiều lần “tiên tri” về ngày phán xét trong 2000 năm qua, thì chúng ta sẽ đứng trước một hoạt cảnh như sau:

Đức Giê-su Ki-Tô chễm chệ ngồi vinh quang trên ngai Phê-rô ở Vatican.  Lẽ dĩ nhiên, Phê rô phải nhường chỗ cho Giê-su và phải trao lại chìa khóa thiên đường (nước của Chúa) cho Giê-su.  Đứng xếp hàng đôi (vì đây là cách mau nhất và dễ nhất để phân biệt cừu với dê, hay theo thuật ngữ Ca-Tô, người công chính với kẻ ác, tuy rằng chẳng có ai khẳng định được là cừu ác hơn dê, hay dê ác hơn cừu, vì cả hai đều thuộc loại thú vật hiền lành, chẳng làm hại ai bao giờ, chỉ để cho những người công chính của Ki Tô Giáo ăn thịt.  Người công chính là người tin Chúa chứ không phải là người thánh thiện, đạo đức, và kẻ ác đây không phải là kẻ làm việc ác mà là kẻ không tin Chúa) trước mặt Chúa là hơn 6 tỷ người trong mọi nước trên thế giới hiện nay.  Đây chỉ là những người sống, còn nếu kể cả số người chết từ trước đến nay thì theo ước tính của các khoa học gia, tổng số người có mặt trên trái đất, chết cũng như sống, là vào khoảng 50 tỷ.

Theo Kinh Tin Kính của Ca-Tô Giáo thì mọi tín đồ phải tin là đến ngày phán xét, Chúa sẽ phán xét cả những người chết và làm cho xác chết những người Chúa chọn sống lại. Để cho dễ tính, ta lấy tròn số người sống hiện nay là 6 tỷ.   Như vậy là có tất cả 3 tỷ cặp để chờ Chúa lần lượt phán xét.  Giả thử là cứ 3 cặp thì chiếm khoảng 1 mét.  Vậy nếu xếp hàng dài thì 3 tỷ cặp sẽ dài 1 tỷ mét, nghĩa là 1 triệu cây số.  Đường bán kính của trái đất vào khoảng 6400 cây số.  Vậy chu vi của trái đất là vào khoảng 40000 cây số.  Lấy 1 triệu chia cho 40000 ta được 25.  Vậy nếu xếp hàng dài từng đôi một thì hàng này dài 25 lần vòng quanh trái đất.  Giả thử Chúa Giê-su có tài phán xét rất mau lẹ, có thể vừa xét hồ sơ vừa phán xét  từng cặp, và quyết định ai sang trái hay phải với tốc độ 10 cặp trong 1 phút, nghĩa là chỉ có 6 giây 1 cặp, thì  lấy 3 tỷ cặp chia cho 10  ta được 3 trăm triệu (300 000 000) phút.  Mỗi giờ có 60 phút vậy một ngày có 1440 phút.  Lấy 3 trăm triệu chia cho 1440 ta được, lấy chẵn, là 208 000.  Lấy số này chia cho 365 ngày một năm ta được khoảng 570 năm.  Giả thử Chúa Giê-su quyền phép vô cùng, không mệt và đói như khi vào sa mạc hay không đói như trước khi nguyền rủa cây sung cho nó chết héo queo vì nó không ra quả lúc trái mùa cho Ngài xơi, thì Ngài cũng cần tới 570 năm để phán xét xong 3 tỷ cặp.  Dân nước Việt Nam vì thuộc vần V gần cuối trong vần A,B,C nên xếp hàng gần cuối.  Nhưng có gì bảo đảm là  trong khi xếp hàng chờ Chúa phán xét con người không  lâm vào cảnh “nhàn cư vi bất thiện”.  Kết quả lại tiếp tục sinh con đẻ cái ngay trước mặt Chúa làm cho dân số càng ngày càng tăng.  Vậy bao giờ Chúa mới phán xét xong?  Đây là một bài toán không có đáp số vì chỉ có một phương trình cứu rỗi mà lại có quá nhiều ẩn số.   Phán xét người sống xong rồi Chúa lại phải phán xét đến người chết.  Chúa phải đi kiếm da thịt đã tan rã của trên 40 tỷ xác chết, không biết chết như thế nào, bên Tàu hay bên Tây, ở Bùi Chu Phát Diệm hay Hố Nai Gia Kiệm, chết toàn thây hay bị B52 bỏ bom trúng nên tan như xác pháo v..v.. để làm cho xác chết sống lại mà ban ơn hay đấu tố. Giả thử Chúa có một số tôi tớ đắc lực nhất phụ giúp, có thể phán xét người sống cũng như người chết với một siêu tốc độ trung bình 1 giây đồng hồ một người, thì Chúa và các tôi tớ của Ngài cũng cần tới hơn 1500 năm để phán xét xong 50 tỷ người.  Ai còn tin được những chuyện như Chúa phán xét và thưởng phạt trong ngày tận thế xin lên tiếng.  Đừng có nói rằng “Chúa của tôi quyền phép vô cùng, làm gì chẳng được” mà người ta cười cho.  Thực tế ở trên đời chứng tỏ là Chúa chẳng có quyền phép gì, chẳng làm được gì.  Tại sao?  Vì ông ta đã chết cách đây gần 2000 năm và những thuộc tính mà Ki Tô Giáo gán cho ông đều là những điều không tưởng, không thể kiểm chứng và cho đến nay, chưa có gì chứng tỏ đó là những sự thực.

Trở lại “bầy chiên nhỏ” sống trong “nước Chúa” của Giê-su.  Ngày nay, với sự bành trướng của Ki Tô Giáo trên thế giới qua những biện pháp tra tấn, thiêu sống v..v.. và đồng hành với thực dân xâm lược, dùng quyền hành hoặc vật chất để ép  những người ngoại đạo vào trong Ki Tô Giáo, “bầy chiên nhỏ” của Giê-su trong nước Do Thái đã trở thành “bầy chiên lớn” có những con chiên trong nhiều  quốc gia trên thế giới.  Do sự “giáo dục” của giáo hội, đặc tính của những con chiên này là sống vất va vất vưởng tạm bợ nhờ cơm gạo của các quốc gia mình đang sống trong đó để lo tìm nước Chúa vì đây mới chính là quê thật của họ.  Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo Việt Nam đã chẳng có câu: “Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David.”  hay sao? (Xin đọc Charlie Nguyễn: Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, trang 66).  Lẽ dĩ nhiên, trong chốn chim muông cầm thú đáng khinh dễ này không thể thiếu mặt gia đình, ông bà, cha mẹ, anh chị em các tín đồ, vì không ai có thể sống ngoài sự đời.  Lời kinh trên đã theo đúng lời Giê-su dạy mà tôi đã trích dẫn từ Thánh Kinh ở trên: Luke 14, 26: Nếu kẻ nào đến với ta mà không “căm ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)

Tôi không hiểu tại sao tín đồ Ca Tô Việt Nam lại cứ bám vào sự sống trong chốn chim muông cầm thú mà không tự sát chết hết đi cho rồi để về quê thật mà hiệp với Vua David?   Tại sao họ lại oán trách các Vua Triều Nguyễn đã bách hại giáo dân mà không hiểu rằng các ông Vua Triều Nguyễn đã giúp họ thoát khỏi cảnh chim muông cầm thú để họ có thể mau về với Vua David ở quê thật của họ?  Những câu hỏi trên tôi chỉ đặt ra để cho những Ki Tô hữu của tôi suy nghĩ về câu kinh họ cầu chứ không phải là tôi man rợ đến độ thực tâm muốn cho họ chết hết, vì tôi biết rằng trải qua bao nhiêu đời, họ đã bị nhốt trong bóng tối dày đặc của ý thức hệ Rô-Ma (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism), do đó nhiều khi họ chỉ đọc những kinh như con vẹt mà không hiểu gì cả, kinh viết bởi những người vốn cũng đã từng sống trong bóng tối dày đặc của ý thức hệ Rô Ma trong nhiều đời.

Chúng ta  đã thấy,  điều  kiện  cần để  tin theo  Giê-su   là phải căm ghét cha mẹ, anh chị em, và ngay cả mạng sống của chính mình.  Nhưng  đó  chưa phải  là điều kiện đủ.  Vì Giê-su còn dạy như sau:

Matthew 23: 9:  Không được gọi ai trên trái đất này là Cha, vì các ngươi chỉ có một Cha ở trên trời. (Do not call anyone on earth your Father, for One is your Father, He who is in heaven.)

Vì tôi biết các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, từ Hồng Y nguyễn Văn Thuận trở xuống, rất ít ai đọc Thánh Kinh khoan nói đến chuyện đọc với một đầu óc sáng suốt, nên tôi xin giúp và nhắc nhở các Ki Tô hữu của tôi là, nếu quý vị gọi ông thân sinh ra mình cũng như gọi các linh mục là Cha thì quý vị đã làm ngược lại lời  Chúa dạy, nghĩa là không tin Chúa.  Tội không tin này to lắm, to hơn cả những tội như giết người, cướp của v..v.., vì giết người hay cướp của mà tin Chúa thì vẫn được Chúa cho hưởng cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên, sau khi chết, chứ còn không tin thì đến ngày phán xét quý vị đừng có hòng được Chúa cứu rỗi và ban cho cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên, sau khi chết.

Đọc Tân Ước, chúng ta thấy rằng Giê-su đã đưa ra nhiều điều tự nhận quá lố, những lời tiên tri không thành sự thực, và những lời hứa hẹn vô trách nhiệm đối với số tông đồ ít ỏi theo ông.  Nhưng có lẽ vì hiểu rõ bản chất những tư tưởng của mình bắt nguồn từ một tâm bệnh hoang tưởng nên Giê-su đã mường tượng và tiên đoán được vài hậu quả.  Trong một phần trên tôi đã trích dẫn từ Tân Ước,  Matthew 10: 34-36 và Luke 12: 51-53, những đoạn mà   Giê-su khẳng định là ông ta không xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất mà để gây chia rẽ giữa những người tin theo ông và những người không tin, ngay cả trong các  gia đình.

Còn một lời tiên đoán khác của Giê-su cũng đã trở thành sự thực.  Đó là câu trong Matthew 24:9:

“Tất cả các dân tộc đều ghét các ngươi vì các ngươi theo ta.” (And you will be hated by all nations for my Name’s sake.)

Thật vậy, lịch sử Ki Tô Giáo trên thế giới, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đã chứng tỏ rằng tôn giáo này không thể phát triển và bành trướng nếu không dựa vào cường quyền và bạo lực, khởi đầu từ thời Constantine, dùng Ki Tô Giáo để củng cố quyền lực trong thế kỷ thứ tư.  Trong cuốn Công Giáo Chính Sử, chương III và chương IV, tôi đã trình bày thực chất sự phát triển của Ca-Tô Giáo ở Âu Châu và trên thế giới như thế nào.  Đó là một lịch sử với sách lược man rợ trí thức: đốt sách vở ngoại đạo và hủy diệt những nền văn hóa phi Ki-Tô; với những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Hình Án để cưỡng bách con người phải theo Ki Tô Giáo; với 2000 năm bách hại dân Do Thái; và với chủ trương song hành với các thế lực thực dân để đi xâm chiếm và truyền đạo trong các nước kém mở mang ở Phi Châu và Á Châu.

Ở Á Châu, do chính sách  hủy diệt văn hóa phi Ki Tô của Ca-Tô Giáo, Phi Luật Tân mất luôn nền văn hóa của mình và trở thành hầu như toàn tòng Ca-Tô Giáo, ngay cả tên nước cũng đặt lại theo tên Vua Phillip của Tây Ban Nha.

Ở Tân Thế Giới (Mỹ), Tin Lành, dựa trên ưu thế của súng ống đối với cung tên của dân da đỏ, đã trả ơn người da đỏ đã nuôi sống họ qua mùa đông khắc nghiệt năm 1620 bằng cách đi cướp hết đất đai và thi hành chính sách diệt chủng đối với người da đỏ và cưỡng bách người da đỏ phải theo cái đạo cao quý cầm đầu bởi Chúa lòng lành vô cùng của họ. Từ 1620 đến 1890, trong vòng 270 năm, những con cái da trắng của Chúa đã giảm dân số dân da đỏ từ 15 triệu xuống còn dưới 250000, và biến miền đất phì nhiêu của dân da đỏ thành “Tân Thế Giới” của người da trắng, do người da trắng (Christophe Columbus) tìm ra. Nhiều người da đỏ ngày nay nuốt nước mắt, không biết làm gì hơn là uống rượu để giải sầu. (Ward Churchill, Sacramento Bee, Nov.23, 2000:  Does anyone expect us (the Indians) to give thanks for the fact that soon after the Pilgrim fathers regained their strength, they set out to dispossess and exterminate the very Indians who had fed them that first winter?

Is it reasonable to assume that we might be jubilant that our overall population, numbering perhaps 15 million at the ouset of the European invasion, was reduced to less than a quarter- million by 1890?)

Năm 1996, Samuel P. Huntington xuất bản cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order).  Huntington là một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập san Foreign Affairs.  Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận.   Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới.  Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ.

Trong cuốn sách trên, Giáo sư Huntington đưa ra vài nhận định như sau:  Vào đầu thế kỷ 20, vị thế của Tây phương bao trùm thế giới, tạo nên một tâm cảnh chung trong thế giới Tây phương là “văn minh thế giới là văn minh Tây phương, luật quốc tế là luật Tây phương”.   Sự bành trướng của Tây phương trên thế giới từ thế kỷ 16 là dựa trên sự phát triển kỹ thuật: kỹ thuật hàng hải để đi tới các nơi xa xôi, và kỹ thuật vũ khí để chiến thắng quân sự v..v..”Tây phương thắng trên thế giới không phải là vì sự ưu việt của những ý tưởng, hoặc giá trị, hoặc tôn giáo Tây phương mà là ưu thế trong sự áp dụng bạo lực một cách có tổ chức.” (Huntington, Ibid., p. 51: The West won the world not by the superiority of its ideas or values or religion but rather by its superiority in applying organized violence).  Người Tây phương thường quên đi sự kiện này; người các nước khác, nhất là các nước đã một thời bị Tây phương đô hộ,  không bao giờ quên.  Thật vậy, Tây phương là nơi sản xuất ra nhiều lý tưởng xã hội như tự do, phát xít, dân chủ theo quan niệm Ki Tô (Christian democracy), dân chủ xã hội (social democracy), đoàn thể, kinh tế tự do v..v.. nhưng Tây phương chưa bao giờ có được một tôn giáo lớn (theo nghĩa là chủ lực tinh thần hướng dẫn đạo đức và tính thiện của con người. TCN).   Những tôn giáo lớn trên hoàn cầu không phải là sản phẩm của Tây phương mà là của những nền văn minh ngoài Tây phương, và trong hầu hết các trường hợp, đã có trước nền văn minh Tây phương. (Huntington, Ibid., p. 54: The West, however, has never generated a major religion.  The great religions of the world are all products of  non-Western civilizations and, in most cases, antedate Western civilization).  So sánh giáo lý, lịch sử Ki Tô Giáo (Chính Thống, Gia Tô, Tin Lành) với các tôn giáo Á Đông như  Thích, Nho, Lão và Ấn Giáo, chúng ta thấy rõ ngay điều này.

Những nhận định của Giáo sư  Huntington cũng như những sự thực lịch sử trên thế giới đã chứng minh tại sao trong các nước mà Ki Tô Giáo là thiểu số hay không thể dựa vào cường quyền, Ki Tô Giáo luôn luôn bị coi như là một tôn giáo ngoại lai, xa lìa dân tộc, đúng như lời tiên đoán của Giê-su trong Matthew 24:9: “Tất cả các dân tộc đều ghét các ngươi vì các ngươi theo ta.”

Nhưng ở đây chúng ta cần ý thức rõ rằng, không phải người ta ghét các tín đồ Ki Tô Giáo chỉ vì họ theo một tôn giáo khác mà vì cái bản chất phi quốc gia phi dân tộc của Ki Tô Giáo, nhất là Ca-Tô Giáo.  Không một người dân trong một quốc gia nào lại có thể chấp nhận một tổ chức, dù đó là một tổ chức tôn giáo, nằm trong quốc gia của họ, ăn cơm gạo quốc gia của họ, mà lại tuyệt đối trung thành và tuân phục một thế lực ngoại bang mà lịch sử đã chứng tỏ rằng ngả về chính trị và thế tục nhiều hơn là tôn giáo.

Mặt khác, nền thần học Ki Tô Giáo đã biến đám tín đồ thành những nô lệ tinh thần, trói chặt họ bằng những xiềng xích trí tuệ, từ đó ý niệm quốc gia không còn quan trọng vì quốc gia chỉ là nơi trú chân tạm bợ để chờ ngày về nước Chúa.  Chúng ta phải công nhận là, với một học thuật Ca-Tô (Catholic scholarship) tinh vi và với một kế hoạch giáo dục Ca-Tô (Catholic education), Ca-Tô Giáo đã thành công trong việc nhào nặn đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ đến độ khi lớn lên, tín đồ không còn có thể nghĩ gì khác nếu không được tiếp xúc với những sự tiến bộ trí thức của nhân loại, và do đó, đủ can đảm để vứt bỏ mớ xiếng xích trí tuệ như hàng triệu tín đồ ở trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, từ hàng Tổng Giám Mục trở xuống, đã làm.

Chúng ta cũng không nên quên rằng, nhiều nhà trí thức Pháp, ngay từ đầu thế kỷ 19, đã nhận thức được sự quan trọng của một nền giáo dục khai phóng so với nền giáo dục Ca-Tô đã chiếm ngự trong xã hội Pháp trong nhiều thế kỷ.  Cho nên họ đã cương quyết chống lại nền giáo dục Ca-Tô trên nhiều phương diện, và họ đã thành công “giật con em họ ra khỏi vòng tay “giáo dục” của các linh mục và vạch trần những đạo đức giả của giáo hội Ca-Tô” (Arraché l’enfant au moine, dévoilé les hypocrisies de l’Église).  Các nhà trí thức tiến bộ Pháp đã coi nền giáo dục Ca-tô như là một nền giáo dục có mục đích chống lại tổ quốc và sự tiến bộ của quốc gia.  Do đó, Bộ Trưởng Giáo Dục Charles Dupuy đã phát biểu:

Chúng tôi tuyên bố thẳng ra rằng, đối với chúng tôi, thật là điều không thể nhân nhượng được trong chiều hướng giáo dục tự do, bất cứ người nào lại có thể dạy dỗ lớp trẻ để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ của chúng. 7

Nhưng vào cuối thập niên 1860 thì ông Nguyễn Trường Tộ, thuộc hạ của Giám Mục thực dân Gauthier, trong một bản điều trần lại đề nghị cùng Vua Tự Đức hãy dùng các Giám mục, Linh mục trong việc canh tân đất nước, và “cho phép các giáo hội Tây phương cứ tới nước mình mà lập hội cứu tế”, “cho phép mỗi tỉnh lập ra một viện dục anh, giao cho một giám mục quản cố”. mà không biết đến thực chất những hội cứu tế, viện dục anh của Ca-Tô Giáo Rô-ma mà mục đích mở ra chỉ là dùng bả vật chất để kiếm thêm tín đồ, lấy tiền trợ cấp của chính quyền, nhồi sọ trẻ con v..v.. Ông Tộ cũng không biết đến chính sách dùng giáo dục của thực dân Pháp để xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam, và sự độc hại của nền giáo dục phi tổ quốc, phản dân tộc, đi ngược thời gian của Ca-Tô giáo. Ấy thế mà ngày nay “người ta” vẫn tiếp tục đánh bóng Nguyễn Trường Tộ như là một “thiên tài yêu nước” với những tư tưởng canh tân  đi trước thời gian.

Do đó, chúng ta không lấy gì làm lạ khi nền giáo dục Ca-Tô đã có thể đào tạo nên một  Linh Mục Hoàng Quỳnh, người phát biểu câu thời danh nhất trong lịch sử Việt Nam: “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa.”.  Và ngày nay, 1995, Linh Mục Trịnh Văn Phát vẫn có thể thản nhiên tuyên bố: “Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi.   Tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện là để phục vụ cho nhu cầu của Giáo hội.” (“Cảm nghĩ một chuyến đi”; Liên lạc Giáo hoàng học viện Piô Dàlạt số 2, 7/1995, trg. 72. (Nhóm Úc Châu)).

Chúng ta cũng không nên quên rằng, khi các nhà truyền giáo Tây phương xâm nhập Việt Nam truyền đạo, những tín đồ Ca-Tô tân tòng được dạy là phải tuyệt đối “quên mình trong vâng phục” các linh mục và giám mục, chứ không có bổn phận phải tuân theo luật lệ quốc gia, vì theo chủ thuyết Ca-Tô, Thần quyền tự phong của Ca-Tô Giáo đứng trên thế quyền ở bất cứ nơi nào trên thế giới.  Và đây chính là một trong nhiều lý do các Vua Triều Nguyễn đã coi Ca-Tô Giáo là Tà Đạo.

Cái bản chất  phi tổ quốc,  phi dân tộc   của các tín đồ Ca-Tô đã được Edgar Jones phân tích khá rõ trong cuốn Jesus: The Rock of Offense.  Tác giả là mục sư Tin Lành ở Memphis, Tennessee.    Từ sự phân tích này, hi vọng chúng ta có thể hiểu rõ vấn đề hơn.

Những người đáp ứng lời kêu gọi gia nhập “đoàn chiên nhỏ”, giống như Giê-su, đến từ một quốc tịch của một quốc gia trong những quốc gia trên thế giới.  Họ không còn dự phần trong những quốc gia (của họ) trong thế giới nữa, và họ cũng chẳng muốn dự phần làm chi.  Sự tách biệt ra khỏi quốc gia này là do sự thay đổi về lòng trung thành của cá nhân họ và phản ứng của thế giới (đối với họ) : sự căm ghét.  Giê-su đã chứng nghiệm sự căm ghét cao độ của quốc gia ông ta.   Với sự căm ghét này ông ta đã làm gương cho các môn đồ của ông ta.  Ông dạy họ là họ sẽ bị mọi quốc gia ghét (Matthew 24:9). Ông ta bao giờ cũng cân nhắc cẩn thận lời nói của mình để chuyển đạt ý định của mình.  Bất cứ khi nào ông nói “mọi quốc gia” là ông ta nghĩ đúng như vậy.   Cũng vậy, điều mà chúng ta biết chắc là: bất cứ người nào mà không bị mọi quốc gia ghét thì người đó không thuộc đoàn chiên của ông ta.  Giê-su đã nói thật rõ ràng rằng những người theo ông sẽ bị mọi quốc gia ghét.

Vậy, đây là một tiêu chuẩn để chúng ta định giá trị về ước vọng của chúng ta trong sự chia xẻ gia tài của nước Chúa.

Hãy nhớ lời của Giê-su: “Các ngươi sẽ bị mọi quốc gia ghét (Matthew 24:9)”

Chúng ta thay đổi sự trung thành của chúng ta vì chúng ta không còn gì mấy để chia xẻ với những quốc gia của chúng   ta.  Chúng ta không còn dự phần gì mấy với cha mẹ, gia đình, châu báu, sự tìm kiếm, đời sống, bạn hay thù.  Giêsu  đã hủy bỏ sự trung thành với nơi sinh của chúng ta và thay thế bằng một nơi sinh thứ hai hay tái sinh.(Ki Tô Giáo có danh từ “born again” chỉ những người hoàn toàn thay đổi, như là chết đi sống lại để tuyệt đối tin vào Chúa và hiến thân toàn vẹn cho Chúa.  Nói cách khác con người cũ của chúng ta phải chết đi để sống lại trong Chúa dù không phải là thân xác chết thật. TCN)

Do đó, lòng ái quốc, chủ  yếu thường  đặt vào quốc gia của con người, nay trở thành tâm điểm của sự ác.  Chúng ta không còn là những người yêu nước theo ý nghĩa quốc gia, vì yêu nước có nghĩa là tôn trọng tổ tiên, và chúng ta đã thay thế tổ tiên xưa, nghĩa là những người sáng lập đất nước, và tổ tiên đã sinh ra ta, bằng một người cha của chúng ta ở trên trời.

Sự   tái  sinh  này  cũng  giống y  như  sự  sinh  ra  đầu  tiên, theo nghĩa là nó cung cấp cho chúng ta các bậc sinh thành mới, một gia đình mới, một quốc gia mới, và một quốc tịch mới.  Mọi sự liên hệ mà chúng ta có từ khi mới sinh ra đời đối với quốc gia dân tộc gia đình v.. v.. được thay thế bởi những liên hệ mới trong sự tái sinh.  Trong dân tộc mới này, Thiên Chúa là người Cha mới và duy nhất,và những người tuân theo ý Thiên Chúa là những người mẹ mới, anh chị em, con trai con gái mới. (Muốn hiểu đoạn này chúng ta cần phải nhắc lại một chuyện trong Thánh Kinh, Matthew 12: 46-49:  Trong khi Giê-su đang đứng giữa đám đông, Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su thì  Giê-su sẵng giọng nói: “Ai là mẹ Ta? và ai là các em  Ta?”  Và ông ta đưa tay chỉ các môn đồ, nói: “Đây mới là mẹ Ta và các em Ta” (Who is my mother?  and who are my brothers? And He stretched out His hand toward His disciples and said, “Here are My mother and My brothers!”. ).  Dân tộc mới là “đoàn chiên nhỏ”, và quốc tịch mới là quốc tịch ở trong đoàn chiên nhỏ, hay căn bản hơn, là quốc tịch trong nước của Thiên Chúa, vì nước này đã được trao cho bầy chiên nhỏ. 8

Từ Thánh Kinh và từ những tài liệu phân tích Thánh Kinh của các học giả, chúng ta thấy rõ rằng quan niệm của Giê-su đối với quốc gia là phi tổ quốc.  Giê-su chỉ quan tâm đến nước của Thiên Chúa, một niềm hoang tưởng trong đầu óc của Giê-su.  Trong Thánh Kinh còn có nhiều đoạn nói về quan niệm của Giê-su về đời sống con người trên thế gian.  Đây là quan niệm vô cùng tiêu cực: đời sống trong kiếp này chỉ là tạm bợ, hãy sửa soạn cho ngày tận thế gần kề, chuyên lo phục vụ Thiên Chúa để có đời sống đời đời, lẽ dĩ nhiên, sau khi chết.  Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy những tín đồ Ca-Tô sẵn sàng phản bội tổ quốc để phục vụ nước Chúa, đúng ra là nước Vatican, vì Vatican nắm những chìa khóa mở của thiên đường, không ai có thể hiệp thông thẳng với Chúa mà bắt buộc phải đi qua ngả trung gian là Vatican nếu muốn được cứu rỗi để có cuộc sống đời đời.

Đến đây, chúng ta đã biết quan niệm của Giê-su đối với gia đình và quốc gia là như thế nào.  Sau đây chúng sẽ xét đến những lời giảng của Giê-su thuộc về lãnh vực luân lý đạo đức con người.  Nếu xét đến những lời nói và hành động của Giê-su đối với gia đình thì khó mà thấy trong đó những điểm về luân lý.  Nếu chúng ta xét những hành động của Giê-su đối với con người, súc vật, cây cỏ thì khó mà có thể cho Giê-su là con người đạo đức.   Điều này sẽ được chứng minh trong một phần sau.

Các tín đồ Ca-Tô thường ca tụng cái gọi là “Bài Giảng Trên Núi” trong Tân  Ước là tuyệt  vời.  Họ  được  giáo hội dạy như vậy cho nên yên trí là như vậy chứ thực ra họ không tự mình đọc suy nghĩ và tìm hiểu những điều trong đó.  Sau đây tôi sẽ đi vào phần phân tích một số điểm trong “Bài Giảng Trên Núi” của Giê-su.

Source: http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/tcn_jesusIIa.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 13, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: