RSS

Giê Su là ai ? Dạy gì? (6)

13 Jul

3.  “Bài Giảng Trên Núi” của Giê-su:

Tất cả những điều mà người ta cho là “giáo pháp” của Giêsu, nghĩa là những lời dạy về luân lý đạo đức con người,  được gói ghém trong Bài Giảng Trên Núi (Sermon on the Mount).  Trong bài giảng này có một phần mà các Linh Mục thường mang ra giảng trong nhà thờ, và do đó các tín đồ thường biết dưới tên “Phúc Thật Tám Mối” và ca tụng với người ngoại đạo là “tuyệt vời”, tuy nội dung chẳng có gì đặc biệt vì tất cả đều là những điều thông thường trên thế giới

Về bài giảng trên núi này, Kenneth C. Davis viết như sau trong cuốn Don’t Know Much About The Bible: Everything You Need to Know About the Good Book But Never Learned:

“Một trong những bài giảng chính của Giêsu là một bài dài mà Augustine gọi là “Bài Giảng Trên Núi.”  “Bài Giảng Trên Núi” được trình bày toàn phần trong Phúc Âm Matthew (hơn 100 câu) và dưới dạng một bản rút ngắn trong Phúc Âm Luke.  Trong Luke bài giảng này tương tự như trong Matthew, tuy ngắn hơn (khoảng 30 câu), và được nói ở  đồng bằng khi Giêsu cầu nguyện xong và xuống núi.

Những sự khác nhau trong hai bài giảng này đã đưa đến sự đồng thuận của các học giả là bài giảng trong Matthew là kết quả góp nhặt từ nhiều bài giảng của Giêsu thành một bài dài có thể nhớ được.  Nói khác đi, đó là những lời giảng của Giêsu được ghi lại một cách trung thực và là “Những Lời Hay Ý Đẹp Nhất của Giêsu” được gom lại thành một bài.” 9

Chúng ta hãy đi  vào vài chi tiết trong Tân Ước để phân tích xem bài giảng đó hay như thế nào?  “Bài giảng trên núi” chiếm 3 đoạn trong Phúc Âm Matthew: 5,6, và 7, và dạng rút ngắn trong Phúc Âm Luke 6:17-45.  Những trích dẫn sau đây là từ Phúc Âm Luke.

Một trong những điều giảng dạy của Giêsu mà các tín đồ cho là hay nhất là câu mà các nhà truyền giáo gọi là “Luật Vàng” (Golden Rule), Luke 6: 31: “Hãy làm cho người khác điều các con muốn người ta làm cho mình”.  Nhưng đây không phải là một luật do Giêsu sáng tác, vì chúng ta  biết rằng, hơn 500 năm trước khi Giêsu sinh ra đời thì Đức Khổng Tử cũng đã nói luật trên nhưng dưới một dạng khác: “Những điều mà mình không muốn người ta làm cho mình thì đừng có làm cho người khác” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân).  Và trong kinh Talmud của Do Thái cũng có câu (Sabbath 31: 1):   “Cái gì mà mình không thích thì đừng có làm cho người khác” (What thou does not like, do thou not to thy neighbor).

Do đó, Luật Vàng mà các tín đồ  Ki Tô thường cho là của Giêsu, thật ra chỉ là cóp nhặt tư tưởng đã có từ trước trong dân gian và thay đổi câu văn từ tiêu cực (negative) sang tích cực (positive).  Nhưng cũng vì thế mà Luật Vàng của Giê-su không được hoàn hảo, vì điều mà mình muốn người khác làm cho mình chưa chắc đã là những điều đúng, lành thiện v..v.. mà có thể bắt nguồn từ tham dục, hay si ngốc.  Và cũng chưa chắc đó là những điều mà người khác cần đến, hoặc muốn mình làm cho họ.  Phân tích câu này, William Floyd cho rằng đó chỉ là một cách xử thế thuộc loại “có đi có lại mới toại lòng nhau” của người xưa (the desirability of reprocity of the ancients) chứ không phải là một tiêu chuẩn đạo đức có tính cách phổ quát.  Trái lại, luật của Đức Khổng Tử  có tính cách luân lý rộng lớn, khuyên ngăn chúng ta không nên làm cho người khác những điều họ có thể không muốn, vì chính mình cũng không muốn những điều này.  Đây là một cách xử thế khôn ngoan, tránh gây bất hòa, vì “đừng làm” ngụ ý thận trọng, trong khi “hãy làm” thường có tính cách áp đặt hay cưỡng bách.

Charles Bradlaugh, một tư tưởng gia tự do (freethinker) nổi tiếng của Anh Quốc, đã phân tích những điều giảng dạy của Giêsu trong một bài viết đặc sắc: Giêsu Giảng Dạy Những Gì? (What Did Jesus Teach?).  Độc giả có thể lấy bài này trong Internet (www.infidels.org).  Ở đây, tôi không có ý định phê bình toàn thể “Bài Giảng Trên Núi” cho nên sau đây tôi chỉ phân tích tiếp vài lời dạy của Giê-su mà một số trí thức Ca Tô cho đó là phản ánh “đỉnh cao trí tuệ của Chúa”:

Mathhew 5:3: Phúc cho kẻ có tinh thần yếu kém, vì nước thiên đàng thuộc về họ. (Blessed are the poor in spirit, For theirs is the kingdom of heaven).

Bình luận về câu trên, Charles Bradlaugh viết:

Tinh thần yếu kém có phải là đức tính chính mà Giê-su đặt lên cao nhất trong những điều giảng dạy của ông ta hay không?  Thực ra đó có phải là một đức tính không?  Chắc chắn là không.  Tinh thần dũng cảm, tinh thần lương thiện, tinh thần đầy đủ những mục đích công chính, đó là những đức tính; tinh thần yếu kém là một tội ác… 10

Tại sao Charles Bradlaugh lại viết như vậy?  Chẳng có gì là khó hiểu.  Giả thử bạn là một người có tinh thần yếu kém và bị người ta tát cho một cái vào má.  Trong trường hợp này, Giê-su dạy bạn phải hành động như thế nào? Luke 6:29 đã vạch rõ: “Nếu các con bị ai tát má này, cứ đưa luôn má bên kia.” (To him who strikes you on the one cheek, offer the other also).  Đây có phải là điều thực tế hay không.  Tôi không khuyên bất cứ bạn đạo nào làm cuộc thí nghiệm sau đây: đến trước mặt Hồng Y Nguyễn Văn Thuận hay “Hồng Y thiết giáp” Ratzinger và tát cho ông ta một cái xem các ông ấy phản ứng như thế nào, có đưa má kia cho bạn tát thêm hay không.  Dù chúng ta có lòng nhân từ đến đâu thì, nếu chúng ta không tát trả lại thì ít ra cũng phải có biện pháp ngăn chận để cho khỏi bị tát thêm.  Dung dưỡng sự bạo hành là đồng lõa với bạo hành.  Cho nên Charles Bradlaugh đã viết “tinh thần yếu kém là một tội ác”, tội ác đối với xã hội, tội ác đối với nhân loại, vì đã khuyến khích sự bất công và bạo hành.

(Luke 6: 20: “Phúc cho các con đang nghèo khổ, vì Nước Trời thuộc về các con” (Blessed are you poor, For yours is the kingdom of God); Luke 6: 24: “Nhưng khốn cho các con đang giàu có, vì các con đã được an ủi rối” (But voe to you who are rich, For you have received your consolation)

Đây có phải là giáo lý về luân lý đạo đức hay không, hay  chỉ là những lời hứa hẹn vô trách nhiệm.  Có ai biết “nước Trời” ở đâu?   Người nghèo khổ, chỉ vì lý do duy nhất là đang nghèo khổ, được hứa hẹn một nước Trời chỉ có trong đầu óc bất bình thường của Giê-su.  Người giàu có, chỉ vì lý do duy nhất là đang giàu có, bị Chúa nguyền rủa.  Công bằng và bác ái ở chỗ nào?

Thực tế là ở trên đời này có ai muốn mình nghèo khổ đâu.  Vì hoàn cảnh nên nghèo khổ và nếu có lòng dũng cảm, có ý chí, chăm chỉ học hành, làm lụng thì con người có thể vượt qua sự nghèo khó.

Nếu lời của Giê-su như trên là đúng thì trong Ca-Tô giáo, từ Giáo Hoàng trở xuống cho tới các Linh Mục, không ai có thể lên thiên đường được, vì đối với lớp dân nghèo khổ, thì các giới chức trong giáo hội toàn là những người giàu có, dư ăn dư mặc.  Tài sản của Giáo hội Ca-Tô Hoàn Vũ (Vatican) lên tới hàng ngàn tỷ đô la, và các giáo hội địa phương cũng chỉ vơ vét của cải thế gian, làm giàu trên sự đói khổ của đám cùng đinh.

Người Việt Nam chúng ta có những câu: “Bần cùng sinh đạo tặc” hay “Đói ăn vụng, túng làm càn”.  Giê-su chắc không biết đến những câu này nên mới phát ngôn như trên.

Phê bình hai câu trên, Charles Bradlaugh viết:

Giêsu đưa ra hình ảnh của một người xuống địa ngục, cái tội duy nhất của người này là giàu có; và một người khác lên thiên đường, đức tính duy nhất của người này là nghèo khổ.  Sau đó Giêsu còn khẳng định là: “Người giàu vào Nước Trời thật khó.  Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Trời.” (Luke 18: 25)  Ý định duy nhất của một giáo lý như vậy có thể là làm cho người nghèo khổ an phận nghèo khổ trong đời sống này trong hi vọng sẽ được đền bù tốt hơn trong đời sau.  Có thật là tốt đẹp  khi ta an phận với sự nghèo khó hay không?  Có phải là tốt hơn nhiều nếu chúng ta tìm hiểu nguyên do của sự nghèo khổ để tìm cách giải quyết vấn đề hay ngăn chận đừng để cho sự nghèo khổ xảy ra hay không? 11

Tất cả các quốc gia trên thế gian này đều cố gắng làm sao để cho dân giàu nước mạnh.  Vậy có ai tin theo lời Chúa đâu?  Điều hiển nhiên là những người nghèo khổ nhiều khi đến độ không có cơm ăn áo mặc.  Cảnh tượng này xảy ra khắp nơi trên thế giới.  Không có cơm ăn thì đói.  Đối với những người này thì Giê-su dạy ra sao?

Luke 6: 21: “Phúc cho các con đang đói, rồi các con sẽ no” (Blessed are you who hunger now, For you shall be filled.); Luke 6:25: “Khốn cho những kẻ đang no, Vì các ngươi sẽ bị đói” (Voe to you who are full, For you shall hunger)

Trên thế gian này, thật sự có ai muốn mình đói để được Giê-su ban phúc cho không?  Chúng ta thấy trước mắt những cảnh đói khổ ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở những nơi như Ethiopia, Rwanda, Congo v..v..   Hàng triệu người đói này có ai cần đến cái “phúc” của Giê-su ban cho hay cần đến cơm gạo, bánh mì để sống còn?  Giê-su chỉ hứa hão.  Bao giờ no?   Ông ta không hề khẳng định.  Bình luận câu trên, Charles Bradlaugh viết:

Giêsu dạy những gì?. “Phúc cho các con đang đói, rồi các con sẽ no”. Ông ta không nói bao giờ thì sẽ được no.  Hiển nhiên là thời điểm sẽ no đã được hoãn lại cho đến khi con người không còn dạ dày đâu để mà đầy bụng.  Không phải là trong đời sống này mà người đói sẽ no. 12

Giê-su cũng còn dạy:

4. Luke 6: 21: “Phúc cho các con đang than khóc, rồi các con sẽ vui cười” .(Blessed are you who weep now, for you shall laugh.); Luke 6:25: “Khốn cho những kẻ đang cười, vì các ngươi  sẽ than khóc.” (Woe to you who laugh now, For you shall mourn and weep).

Thật  vậy sao?  Bao giờ thì cười? và bao giờ thì than khóc?   Con người ai chẳng có những lúc vui, lúc buồn.  Khi gặp chuyện mừng thì vui thì cười, khi gặp chuyên bất hạnh thì than thì khóc.   Có ai cười mãi hay khóc mãi đâu?  Những nạn nhân của Giáo hội Ca-Tô trong ngục tối, bị tra tấn dã man trong thời Trung Cổ vì không tin Chúa, tất nhiên phải than khóc rồi, họ có được “phúc” của Chúa hay không?

Thật tôi không hiểu trong những lời dạy trên của Giê-su hay ho ở chỗ nào mà các tín đồ Ca-Tô khen nức khen nở là bài giảng  trên  núi thật là tuyệt  vời , nhất  là  đoạn  nói về “Phúc thật tám mối”.

Chẳng thế mà Charles Bradlaugh đã đưa ra nhận định:

Giêsu dạy: Những người nghèo, đói, khốn khổ, sẽ được ân sủng của Thần Ki Tô, nhưng ân sủng này chỉ tới khi họ đã hết nghèo, hết đói, hết khốn khổ (nghĩa là đã chết. TCN).   13

Trên đây chỉ là vài trích dẫn từ Thánh Kinh những “lời hay ý đẹp” điển hình của Giê-su.  Dựa vào những tư tưởng có tính cách mạ lị đầu óc con người này, các nhà truyền giáo đi xâm lăng các nước chậm tiến cũng đưa ra luận điệu hứa hẹn lừa dối: “nghèo khổ là do ý Chúa”, và khuyến khích các tín đồ hãy chịu khó an phận như dân Do Thái ngày xưa, cứ giữ niềm tin ở Chúa rồi sẽ có ngày Chúa sẽ đoái thương và sẽ được ân sủng của Chúa.  Chẳng biết cái ân sủng này mặt mũi nó ra làm sao. vì từ xưa tới nay chưa có ai, kể cả Giê-su,  từ cõi chết trở về để mà cho bàn dân thiên hạ biết cái ân sủng đó nó như thế nào.

Trong  cuốn  Tiếng  Kêu  Than  Của  Người Dân   Penny Lernoux viết:

Những nhà truyền giáo ngoại quốc góp phần nhồi vào đầu óc dân bản xứ ý tưởng là họ nghèo và ngu dốt là do ý muốn của Thiên Chúa.  Như Tổng Giám Mục ờ Lima bảo các thổ dân rằng: “Nghèo khổ là con đường chắc chắn nhất đi tới hạnh phúc.” người thổ dân nào hay dân Phi Châu nào mà liều lĩnh nghi ngờ điều dạy khôn ngoan đó bằng cách chống lại hệ thống đều bị giết ngay…Giáo Hội Ca-Tô phải gánh rất nhiều trách nhiệm về tình trạng này. 14

Chúng ta hãy tiếp tục xét đến lời dạy của Giê-su như sau:

Luke 6: 22-23: Phúc cho các con khi bị người ta ghét, xua đuổi, nhục mạ, bêu xấu tên tuổi vì Ta.  Ngày đó, các con hãy lấy đó làm điều mừng và vui mừng nhảy múa, vì sẽ được phần thưởng lớn dành sẵn trên trời.  Ngày xưa các nhà tiên tri cũng từng bị đối xử như thế. (Blessed are you when men hate you, and when they exclude you, and revile you, and cast out your name as evil, For the Son of Man’s sake.  Rejoice in that day and leap for joy! For indeed your reward is great in heaven, For in like manner their fathers did to the prophets.);  Luke 6: 26: Khốn cho những người được quần chúng ca ngợi, vì các tiên tri giả ngày xưa cũng từng được ca ngợi như thế. (Woe to you when all men speak well of you, For so did their fathers to the false prophets.)

Theo đúng lời Chúa không thể sai lầm như trên thì các tín đồ Ki Tô, Ca-Tô cũng như Tin Lành, nên mừng khi bị người ta ghét mới phải, vì đó chính là phúc của Chúa ban cho họ.   Bị người ta ghét là con đường chắc chắn nhất để lên thiên đàng, lẽ dĩ nhiên, sau khi chết.  Muốn được người ta ghét thì cũng dễ thôi, cứ tiếp tục đi theo con đường phi dân tộc, phản dân tộc như trong quá khứ, chỉ cần biết đến nước Chúa, không cần biết đến quốc gia dân tộc là gì.  Tại sao mỗi khi có người nói hay viết những điều gì không hợp với những lời “giáo hội dạy rằng” thì các tín đồ Ki-Tô lại chụp lên đầu họ cái mũ thù ghét và chống Ki Tô Giáo?  Các tín đồ Ki-Tô không biết rằng người ta thù ghét hay chống Ki Tô Giáo chính là để giúp cho họ được hưởng phúc của Chúa, giúp họ được phần thưởng lớn ở trên thiên đàng hay sao, nếu họ tin những lời của Chúa phải là đúng.

Các tín đồ Ki Tô Giáo cũng thường hết lời ca ngợi Chúa của họ.  Nhưng như vậy là họ đã nguyền rủa Chúa vì Chúa đã khẳng định là “Khốn cho những người được quần chúng ca ngợi, vì các tiên tri giả ngày xưa cũng từng được ca ngợi như thế “.  Có thể vì họ tin rằng Chúa Giê-su của họ là tiên tri thật chứ không phải là tiên tri giả.  Nhưng Thánh Kinh lại viết rõ, và ngày nay tất cả các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đều đồng ý ở điểm này, là Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề, sẽ xảy ra ngay trong thời đại mà vài tông đồ của ông còn sống, khi đó ông sẽ trở lại trần để phán xét người sống cũng như người chết. (Xin xem lại chương I, trang 62-63). Điều này đã không xảy ra.  Lại nữa, Matthew 12: 40 kể rằng: Chúa Giê-su nói:  “Như Giô-na đã nằm trong bụng cá ba ngày ba đêm, Ta sẽ vào lòng đất ba ngày ba đêm” (For as Jonas was three days and three nights in the whale’s belly; so shall I be three days and three nights in the heart of the earth).  Khoan kể đến việc Giê-su tin vào câu chuyện hoang đường trong Cựu Ước: Jonas nằm trong bụng cá voi 3 ngày 3 đêm,  đây là lời tiên tri của Giê-su về cái chết giả của mình.  Nhưng Thánh Kinh cũng lại viết rõ rằng Giê-su chỉ “vào trong lòng đất” có hai đêm và một ngày, từ 3 giờ chiều thứ Sáu (Matthew 27: 46) đến sáng sớm Chủ Nhật, trời mới rạng đông (Matthew 28:1).  Từ hai chuyện “tiên tri” trên của Giê-su trong Tân Ước, chúng ta bắt buộc phải kết luận: Giê-su chẳng qua cũng chỉ là một nhà tiên tri giả.  Có vẻ như không có tín đồ Ki Tô nào nghĩ ra điều hiển nhiên này nên họ vẫn tiếp tục ca ngợi Chúa Giê-su của họ cũng như ngày xưa, các tiên tri giả đã được ca ngợi.

Dựa vào những lời dạy trên của Giê-su, nền Thần học Ki Tô Giáo giảng rằng đạo Giê-su là đạo của người nghèo khổ, vì Chúa đã ban phúc cho những người nghèo.  Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là, tại sao Chúa lại cần phải nguyền rủa người giàu?  Một “lý luận” thần học khác là, nghèo khổ là sự thử thách của Thiên Chúa về lòng tin Thiên Chúa của con người.  Lý luận này hạ thấp Thiên Chúa xuống hàng một cái máy dò đức tin (faith-detector).  Thật ra thì, theo nhiều nhà phân tích Thánh Kinh, những lời dạy trên bắt nguồn từ những điều hoang tưởng và hi vọng của chính Giê-su.  Với những mặc cảm về thân phận của chính mình: là một đứa con hoang, sinh ra trong sự nghèo khổ của gia đình một ông thợ mộc đông con, ít nhất là Joseph và Mary có 7 người con, do đó đời sống vật chất khó khăn, cho nên Giê-su hi vọng rằng, cứ tin ở Thiên Chúa thì có ngày Thiên Chúa sẽ đền bù xứng đáng.  Đây cũng chẳng phải là niềm tin riêng của Giê-su mà là niềm tin của cả dân tộc Do Thái trong tâm trạng bị bắt làm nô lệ, tù đầy.  Cho nên, thông điệp chính của Giê-su trong những lời giảng dạy trên là suy diễn từ mơ ước và hi vọng của chính mình thành những lời có mục đích khuyến khích những người nghèo khổ hãy an phận nghèo khổ, giữ vũng niềm tin vào Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ cho hưởng phần thưởng trên nước trời.   Những lời dạy này không phải là để tôn vinh người nghèo, vì trước Thiên Chúa, con người tuyệt đối bình đẳng, vì cùng là tạo vật của Thiên Chúa.

Tới  đây, tôi   nghĩ  chắc quý  độc giả đã   thấy rõ những tư  tưởng của Giê-su thuộc loại nào, và tôi thấy không cần phải tiếp tục phê bình dài dòng những cái gọi là “lời hay ý đẹp” của Giê-su nữa.  Những lời hay ý đẹp của Giê-su thường được giảng theo luận điệu thần học một chiều và trước đám tín đồ vốn lười suy nghĩ và không bao giờ đọc đến Thánh Kinh.  Những mâu thuẫn và những điều phi lý, phản khoa học cũng như những lời chứng tỏ đạo đức thấp kém của Giê su tuyệt đối không bao giờ được các “thày giảng” nhắc tới.   Để cho quý độc giả tự mình nhận rõ thực chất những lời giảng dạy của Giê-su hơn nữa, tôi xin trích dẫn thêm vài tư tưởng của Giê-su từ  Thánh Kinh và chỉ ghi kèm một vài nhận định ngắn, nếu cần, mà thôi.

4.  Vài Lời “Giảng Dạy”  Khác Của Giê-su:

Trước hết, chúng ta hãy nghe lời Giê-su tự nhận và dạy các môn đồ như sau:

Matthew 11: 29: Hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; vì ta có lòng từ ái và khiêm nhường, và linh hồn các ngươi sẽ được yên ổn. (Take my yoke upon you and learn from me, for I am gentle and lowly in heart, and you will find rest of your souls)

Thánh Kinh tiếng Việt của Tin Lành do Hội Thánh Kinh Mỹ (American Bible Society) xuất bản dịch “gentle” là “nhu mì”, một từ thường dành riêng cho phái nữ; còn Thánh Kinh tiếng Việt do Hội Thánh Kinh Quốc tế  (International Bible Society) xuất bản dịch “gentle” là “dịu dàng”. Chúng ta đã biết Giê-su khiêm nhường tới cỡ nào qua những lời tự nhận về “cái Ta” mà tôi đã trích dẫn ở trên, trang 126.  Bây giờ chúng ta hãy xem Giê-su “nhu mì” và “dịu dàng” như thế nào.

Chúa dịu dàng phán:

Matthew 18:6: Nếu ai làm cho một trong những đứa trẻ đã tin Ta phạm tội, thì  tốt hơn cho hắn là buộc một cối đá vào cổ hắn  và ném hắn xuống đáy biển cho chết đuối.

(But whoever causes one of these little ones who believe in

me to sin, it would be better for him if a millstone were hung around his neck, and he were drowned in the depth of the sea)

Phạm tội gì?  Thánh Kinh tiếng Việt dịch “to sin” là “mất đức tin”. Không tin Giê-su hay mất đức tin về Giê-su có phải là một tội hay không?  Ngày nay, có biết bao nhiêu người mất đức tin, bỏ đạo, vì biết đến thực chất của huyền thoại về Giê-su cũng như về nền thần học ngụy tạo của Ki Tô Giáo qua những tác phẩm nghiên cứu của các bậc học giả trong giáo hội cũng như ngoài giáo hội nên đã tỉnh ngộ. Chưa thấy ai cột đá vào cổ những tác giả này rồi mang nhận cho chết đuối dưới bể, vì đây là một quan niệm vô cùng ác độc và man rợ  cách đây 2000 năm của một người Do Thái mà các tín đồ được dạy phải coi như Chúa và  “Chúa lòng lành vô cùng”, không còn có thể chấp nhận trong thế giới tiến bộ với những tiêu chuẩn đạo đức của con người ngày nay.  Quý độc giả có thể đọc lại vài lời nói “dịu dàng” khác của Giê-su nơi trang 136.

Trong Tân Ước có nhiều đoạn mô tả Giê-su rất hận thù những người không tin ông ta và đưa ra những lời nguyền rủa rất cay nghiệt tương tự như trên.  Cũng vì vậy mà học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden đã đưa ra nhận định sau đây:

Con người hành động dã man phần lớn là bị ảnh hưởng đạo đức trong nền văn hóa của mình.  Đạo đức của Tân Ước là trả thù bất cứ người nào bác bỏ Ki Tô Giáo.  Tuy những người viết Tân Ước một mặt viết Giê-su dạy phải tha thứ, Ông ta thực ra có một thái độ cực kỳ bất khoan nhượng đối với những người không chấp nhận ông ta là đấng cứu rỗi của họ. 15

Chúng ta cũng phải hiểu rằng, khi Giê-su nói đến những đứa trẻ (little ones), không phải là ông ta nói đến những đứa trẻ ít tuổi thật, mà là để chỉ những người tin theo ông và phải trở thành như trẻ con như trong đoạn sau đây:

Matthew 18: 3:  Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, trừ phi các ngươi biến cải và trở thành như trẻ con, không có cách nào các ngươi có thể vào trong nước thiên đường. (Assuredly, I say to you, unless you are converted and become as little children, you will by no means enter the kingdom of heaven.)

Mark 10: 15: Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, người nào mà không tiếp nhận nước Chúa như là một đứa trẻ thì sẽ không có cách nào vào đó được.  (Assuredly, I say to you, whoever does not receive the kingdom of God as a little child will by no means enter it.)

Trong Tân Ước chúng ta cũng còn thấy đoạn mô tả Giê-su cầu nguyện:

Matthew 11: 25: Hỡi Cha là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã che dấu những điều này đối với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ; mà tỏ ra cho những con trẻ hay.  (I thank you, Father, Lord of heaven and earth, because you have hidden these things from the wise and prudent and have revealed them to babes)

Như vậy, chúng ta thấy rằng, đạo Giê-su là đạo dành cho những người có đầu óc của trẻ con.  Con trẻ, về thể chất cũng như tinh thần , đều chưa phát triển và trưởng thành, chưa có đủ khả năng suy nghĩ để phân biệt thật hay giả, đúng hay sai, cho nên ai nói gì cũng tin và hay làm theo, bắt chước.  Nó giống như một con chiên (cừu), người chăn chiên dắt đi đâu thì đi đó.   Vì vậy các tín đồ Ca-Tô Việt Nam còn được gọi là con chiên. Hiển nhiên là Chúa  rất thành công với những người đầu óc như của con trẻ, còn đối với những người thông thái sáng dạ hay ít ra là có đôi chút  đầu óc suy nghĩ thì Ngài lại hoàn toàn thất bại.  Chúa cũng còn thành công với những người đầu óc bấn loạn, khủng khoảng tinh thần, cần bám vào một cặp nạng thần quyền để lê lết trong cuộc đời.

Để kết thúc chương này, tôi xin trích dẫn từ Tân Ước vài  lời dạy điển hình của Chúa Giê-su về chính mình cũng như về các tông đồ cùng những lời dạy chứa đầy mâu thuẫn mà chỉ có những bộ óc đặc thù Ki Tô mới không nhận ra:

1.  Có người gọi Giê-su là “Ông Thầy chí thiện” (Good Teacher)  [Matthew 19: 16].   Giê-su có chí thiện hay không?   Ông ta đã phủ nhận:

Matthew 19: 17:  Tại sao ngươi lại kêu ta là chí thiện.  Không ai chí thiện cả trừ một người, đó là, Thượng đế. (Why do you call me good?  No one is good but one, that is, God.)

Ai vào thiên đường trước?

Matthew 21: 31: …Đúng vậy, ta nói cho các ngươi biết, những người đi thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước Chúa trước các ngươi. (Assuredly, I say to you that tax collectors and harlots enter the kingdom of God before you)

Làm việc thiện cho mọi người thấy hay là không?

Matthew 6: 1:  Đừng  làm  những việc  thiện   trước mặt  mọi

người, để cho họ thấy.  Nếu không các ngươi không thể được phần thưởng của Cha các ngươi trên trời.  (Take heed that you do not do your charitable deeds before men, to be seen by them.  Otherwise you have no reward from your Father in heaven)

Matthew 5: 16: Hãy để cho ánh sáng của các ngươi tỏa sáng trước mọi người, để cho họ thấy những việc lành thiện của các ngươi và vinh danh Cha các ngươi ở trên trời. (Let your light so shine before men, that they may see your good works and glorify your Father in heaven.)

Những lời tự nhận của Giê-su đúng hay không đúng?

John 5: 31:  Nếu ta làm chứng cho chính ta, thì sự làm chứng của ta không đúng sự thật. (If I bear witness of myself, my witness is not true)

John 8 : 14:  Tuy ta tự làm chứng cho chính ta, nhưng sự làm chứng của ta đúng là sự thật. (Though I bear record of myself, yet my record is true)

Phán xét hay không phán xét?

John 12: 47:  Và người nào nghe những lời ta nói mà không tin, ta sẽ không phán xét họ; vì ta xuống đây không phải để phán xét thế giới mà để cứu thế giới. (And if anyone hears my words and does not believe, I do not judge him; for I did not come to judge the world but to save the world.)

John 9: 39: Để phán xét ta đã xuống trần, và những người nào không nhìn thấy sẽ nhìn thấy, và những người nào nhìn thấy có thể bị làm cho mù.  (For judgment I have come into this world, and those who do not see may see, and that those who see may be made blind.)

Là một hay là hai?

John 10: 30:  Ta với Cha ta là một. (I and My Father are one.)

John 14: 28: Cha ta vĩ đại hơn ta (My Father is greater than I.)

8.  Hiệu lực của cầu nguyện.  Đúng hay sai?

Mark 11: 24:  Vậy ta nói cho ngươi biết, khi các ngươi cầu nguyện, bất cứ cái gì mà các ngươi đòi hỏi, tin rằng các ngươi sẽ nhận được, và các ngươi sẽ có những cái đó. (Therefore I say to you, whatever things you ask when you pray, believe that you receive them, and you will have them.)

9.Đức tin cần bao lớn?  Làm được những gì?

Matthew 17: 20:  Đúng vậy, ta nói cho ngươi biết, nếu ngươi có đức tin chỉ nhỏ bằng hạt cải, ngươi sẽ bảo trái núi này “Di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia”, nó sẽ di chuyển như vậy; và đối với ngươi không có gì mà làm không được. (Assuredly, I say to you, if you have faith as a mustard seed, you will say to this mountain, “Move from here to there”, and it will move; and nothing will be impossible for you.)

Tôi xin để quý độc giả tự nhận định về giá trị những lời “giảng dạy” của “Chúa” Giê-su ở trên.

KẾT LUẬN:

Joshua hay theo tiếng Hi Lạp, Jesus (Giê-su), có nghĩa là “cứu tinh” (savior). Nhiều người có tên như vậy ở miền Trung Đông trước khi Giê-su của Ki Tô Giáo sinh ra đời.

Niềm tin trong Ki Tô Giáo là, một trong số rất nhiều người mang tên Giê-su, Giê-su của Ki Tô Giáo, thực sự là Đấng Cứu Thế (Savior of the World).  Và chính vì lý do này mà Tây phương đã chia lịch sử loài người ra làm hai: trước và sau ngày sinh của Giê-su, tuy rằng không ai biết ngày sinh của Giê-su là ngày nào, và trước khi Giê-su sinh ra đời thì lịch sử loài người đã diễn tiến ít ra là trong vài triệu năm.

Hàng triệu người trên thế giới ngày nay vẫn tin Giê-su là Đấng Cứu Thế.  Đối với họ, ông ta là hiện thân của Thượng đế, xuống đầu thai trong một trinh nữ, và sinh ra trong một chuồng súc vật ở Bethlehem để cứu vớt tội lỗi của nhân loại.  Tự nhận là Con Thượng Đế trước một nhóm nhỏ 12 tín đồ, ông ta thuyết giảng về một nước Trời hay nước Chúa.  Nhưng những lời thuyết giảng này không cứu được một ai.  Con người không thể được cứu trừ phi có người hi sinh trả giá để chuộc cái “tội tổ tông” cho họ.  Cái giá này là sự hi sinh vĩ đại của Giê-su, chịu một cái chết đau khổ bị đóng đinh trên thập giá.  Ba ngày sau, để chứng tỏ sự chiến thắng của mình trên tội lỗi và thần chết, Giê-su đã tự mình sống lại, hiện thân trước vài tông đồ, rồi bay trở lại lên trời ngồi trên ngai, bên phải Thượng đế.   Đến ngày tận thế, Giê-su sẽ trở lại trần để phán xét người sống cũng như người chết, làm cho xác chết sống lại, quyết định xem những ai xứng đáng được hưởng đời sống đời đời bên ông ở trên thiên đường, những người tin ông, và những ai bị luận phạt, phải đầy đọa vĩnh viễn dưới hỏa ngục, những người không tin ông.

Đó là đại cương đức tin trong Ki-Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành.  Đức tin này được xây dựng trên quan niệm về “tội tổ tông” (original sin) và huyền thoại “Giê-su sống lại” của Thánh Phao-Lồ (Paul), dẫn đến vai trò “cứu rỗi” của Giê-su.  Đối với người ngoại đạo, đức tin trên vừa làm cho họ lắc đầu mỉm cười, vừa là một thách đố trí tuệ đối với họ, vì họ không thể nào hiểu nổi tại sao trong thời buổi này mà, không kể hàng triệu người thuộc lớp dân kém hiểu biết và ít học nhất trong mọi nước trên thế giới, nhất là trong những nước nghèo khổ kém phát triển, vẫn có những người tự xếp mình vào giới trí thức còn tin như vậy.

Họ không thể hiểu vì trước những bằng chứng khoa học về nguồn gốc con người và vũ trụ mà không ai có thể phủ nhận, kể cả Tòa Thánh Vatican, thuyết  Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, cũng như vai trò “cứu rỗi” của Giê-su, đã trở thành vô nghĩa, ít ra là trong giới hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo.

Ngày nay, không ai có thể phủ nhận sự kiện là, vũ trụ đã thành hình cách đây khoảng 15 tỷ năm, và trái đất mà chúng ta sống trên đó đã có tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi năm.  Trong vũ trụ thì trái đất của chúng ta chỉ là một hạt bụi, và con người cũng chỉ do các sinh thể ban khai  tiến hóa tạo thành, có nguồn gốc từ những hạt bụi của các ngôi sao khi vũ trụ mới thành hình.  Là một chuyên gia về thiên văn học tại đại học Virginia, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn L’Infini Dans La Paume de la Main: “Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm” (Poussières d’étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).  Những khám phá trong các ngành khoa học, đặc biệt là những môn Cổ Sinh Vật Học, Sinh Học, Vật Lý.. đã chứng minh rằng con người hiện đại đã xuất hiện trên trái đất cách đây hơn 2 triệu năm, và tổ tiên loài người, kể từ các con vượn người (nhân hầu) cũng đã có mặt trên trái đất cách đây khoảng 6 triệu năm.

Nói tóm lại, thuyết tổ tiên loài người là Adam và Eve do Thiên Chúa tạo ra từ đất sét (Thiên Chúa không biết rằng trong đất sét không có chất hữu cơ và con người thì phần lớn lại là những chất hữu cơ) chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái tưởng tượng ra để giải thích nguồn gốc loài người, phù hợp với quan niệm về một vị Thần mà họ thờ phụng.  Và chuyện “phục sinh” của Giê-su sau này chẳng qua cũng chỉ là chuyện mà một số người theo Giê-su khi đó bày đặt ra để tạo ra một hi vọng về một sự sống lại sau khi chết trong đám tín đồ thấp kém mà trong thời đại đó, tuyệt đại đa số là những kẻ mù chữ thất học.  Thật vậy, học giả A. N. Wilson đã viết trong cuốn Jesus: A Life, trang 3: “Chúng ta đặt ra vấn đề Giê-su bay lên trời để làm gì?  Câu chuyện được đặt ra bởi những người tin rằng vòm trời giống như một cái đĩa, người ta có thể bay qua đó để lên thiên đường.  Đối với một quan sát viên hiện đại, bất kể họ thuộc tôn giáo nào, không ai mà không hiểu được rằng, một người mà bay thẳng lên trời từ ngọn đồi Olives, bất kể là do sức đẩy của một phép lạ nào đó, thì kết cục sẽ bay vòng vòng trên một quỹ đạo.  Chỉ  có  đối với   những kẻ ngu  đần mới phải nói cho họ biết  như  vậy. ”   (Only  dullards  would  need to be told this).

Sự thực về chuyện phục sinh ra sao, quý độc giả nên đọc trong cuốn Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác của một tín đồ Ca-Tô, Dominic Nguyễn Chấn, bút hiệu Charlie Nguyễn, Giao Điểm xuất bản, 2001.

Với trình độ hiểu biết của nhân loại ngày nay, con người đã không còn có thể chấp nhận những chuyện hoang đường của thời cổ xưa.   Chúng ta đã biết, Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma, đã đưa ra một sự kiện: “Hàng trăm nhà thần  học và giám mục  đã  từ  bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan,   và về nhiều giáo lý căn bản khác.”

Đây là một vấn đề rất quan trọng trong nội bộ Giáo hội mà tuyệt đại đa số các tín đồ không hề biết đến.  Giáo hội cố bưng bít được chừng nào hay chừng ấy, bởi vì nếu Giáo hội thú nhận công khai cùng các tín đồ là không làm gì có “tội tổ tông”, không làm gì có quỷ Satan cùng sự vô nghĩa của một số tín lý khác, nghĩa là những hệ luận của quan niệm về tội tổ tông, thí dụ như Đức Mẹ đồng trinh, Chúa sống lại và bay lên trời, sự “cứu rỗi” của Giê-su v..v.. thì cả cái lâu đài xây dựng trên những ngụy tạo và dối trá của Giáo hội sẽ sụp đổ.  Cho nên, Giáo hội cố duy trì hình ảnh thần thánh của Giê-su trong đám nạn nhân thấp kém của Giáo hội được chừng nào hay chừng đó.   Nạn nhân đây gồm tất cả những người đã bị Giáo hội và cha mẹ nhồi sọ từ khi còn nhỏ những luận điệu thần học dối trá của Giáo hội cho nên không có cách nào họ có thể gột bỏ được một niềm tin đã bị lạc dẫn.

Để giúp họ phần nào nhìn rõ vấn đề, tôi nghĩ có lẽ tôi cần phải viết thêm vài sự kiện về thực chất con người của Giê-su.  Trong chương II, qua những đoạn trích dẫn từ Thánh Kinh, chúng ta đã biết rằng, Giê-su là một người mà những đặc tính tiêu biểu là: lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất nhất, khi nói suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của ông ta.

Trong   Thánh  Kinh  còn  có  nhiều    chuyện  có  thể  giúp chúng ta hiểu rõ con người của Giê-su hơn.   Sau đây là vài chuyện trích từ Thánh Kinh.

Chúng ta đã biết chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung cho nó chết héo queo chỉ vì nó không ra trái lúc trái mùa để cho Giê-su ăn khi đói bụng.

Một chuyện khác trong Thánh Kinh,  Matthew 8: 28 – 34, có  thể cho chúng ta thấy rõ tâm địa của Giê-su,  được tóm tắt như sau:

Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.  Chúa phán “đi ra”, chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối hết.  Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và…van nài (có nghĩa là đuổi) Ngài hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

Chúng ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Giê-su “lòng lành vô cùng” của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối hết?  Như vậy có phải là Giê-su là người không có lòng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn.   Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki Tô thì mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả.    Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng,   chặn đuổi  Giê-su  đi nơi khác, không  dám  để cho Giê-su vào làng.

Như đã viết rõ trong Thánh Kinh, Giê-Su sẽ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và chỉ cho dân Do Thái mà thôi (Luke 1: 33:  And He will reign over the house of Jacob for ever).  Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời đời trên Thiên Đường bên cạnh Thiên Chúa với thân phận tôi tớ hầu hạ Chúa. Trong trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt Nam ở Mỹ, có một bài viết về “Hãy Học làm đầy tớ hầu hạ Chúa” với tất cả sự hân hoan và hãnh diện của người có đầu óc của một đầy tớ.

Câu chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng.  Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước,  Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon.  Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David.  Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.”  Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng.  Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.”   Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.”  Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.”  Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái  mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.”  Và người đàn bà kia nói: “Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ  chúng xuống chứ.”  Rồi Giê-Su trả lời: “Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà.”  Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó.”

(When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon.  And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, “Have mercy on me, O Lord, Son of David!  My daughter is severely demon-possessed.”  But He answered not a word.  And His disciples came and urged Him, saying, “Send her away, for she cries out after us.”.   But He answered and said, “I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel.”  Then she came and worshipped Him saying, “Lord, Help me!”     But He answered and said, ” It is not good to take the children’s bread and throw it to the little dogs.”   And she said, “True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters’ table.”  Then Jesus answered and said to her, “O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire.”  And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên.  Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho mình có cùng một thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa.

Đọc Thánh Kinh tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị: khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi thì bị mắng là chó, khi thì bị mắng là đồ điên và mù, khi thì bị rủa là đồ rắn độc, bị đày đọa hỏa ngục v..v..  Hình ảnh của một Chúa nhân từ, được rao giảng là “quá thương yêu thế gian” v..v..,  quả thật không phù hợp với những ngôn từ Chúa nói trong Thánh Kinh.

Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ  Madalyn O’Hair bình luận như sau:

Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này.  Đối với người nào thực sự “thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ” tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học. (Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion.  For someone who really “truly feels in his heart that Jesus is his Savior” I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn  Scandalous Saints, trang 214:

Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44)  Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, “Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn.” (Matthew 15:26)  Nói một cách khác, ông nói, “Người phi Do Thái là đồ chó.  Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?”  Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó?  Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu.  Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó.  Vậy trong vấn đề  thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả.  Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, “Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi.” (Hebrew 13:8)  Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa. 1

Thánh Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là “Chúa toàn hảo”,  “Tình Yêu của Chúa” bao trùm thế gian v..v.. nên phải “Kính Chúa” và hãy hãnh diện là “đầy tớ hầu hạ Chúa”, “thờ phụng Chúa”.  Nhưng Giám Mục John Shelby Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí.   Do đó, ông đã viết:

Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?…

Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.2

Thật   là tội  nghiệp  cho  những tín đồ trong thời buổi này mà vẫn còn tin vào những  chuyện  thuộc  loại  huyền thoại phản khoa học, đầy mâu thuẫn và phi lý, kể cả những chuyện không hề có trong Thánh Kinh. Thật là tội nghiệp vì họ đã được cấy vào đầu óc, từ khi còn nhỏ, những huyền thoại mà giáo hội dạy rằng đó là những sự thực lịch sử.  Do đó những huyền thoại mà họ tin là thực đã ăn sâu vào đầu óc họ, không có cách gì có thể làm cho họ thay đổi niềm tin, nhất là khi lớn lên, họ không bao giờ đọc Thánh Kinh, rất ít khi dùng đến đầu óc suy luận của mình, chỉ biết phó mặc tư duy của mình cho giới chăn chiên.  Ngoài ra, họ còn bị giới chăn chiên đe dọa là nghi ngờ những lời giảng dạy của giáo hội là mang tội với Chúa.  Ngay gần đây, ở Việt Nam, nếu có tín đồ Ca-Tô nào phàn nàn về đạo đức của một số linh mục thì được “bề trên” dạy rằng: “Các con đừng nói hành các cha mà mang tội với Chúa.”  Cho nên, có thể nói là họ đã bị buộc chặt bởi một mớ xiềng xích trí tuệ.   Đó là cái giá mà họ phải trả cho một viễn tượng không chắc chắn: một đời sống đời đời ở trên thiên đường.

Nhưng đối với giới trí thức thì khác, chúng ta hãy đọc một đoạn ngắn trong chương mở đầu cuốn Jesus: A Life của học giả A. N. Wilson, để thấy rõ ảnh hưởng của những huyền thoại trên đầu óc con người, nhất là đối với những thành phần thấp kém, ít học, những thành phần chiếm đa số tín đồ Ki Tô trên thế giới.

Giống như mọi Ki Tô hữu, tôi biết rằng tôn giáo của tôi nhận là có căn cứ trên lịch sử.  Đức tin của tôi được xây dựng trên  một vài câu chuyện, với những ngày tháng kèm theo.  Nhưng tôi không phải là trở thành một tín đồ Ki Tô vì tôi tin những chuyện đó.  Tôi trở thành một tín đồ Ki Tô từ khi tôi còn là một đứa con nít được mang đi rửa tội.  Năm này qua năm khác, trong những ngày lễ lớn của giáo hội Ki Tô, tôi lại được nghe nhắc lại tính cách lịch sử của tôn giáo tôi.  Nhưng ngay cả khi đó, tôi thấm nhập những chuyện trên vì chúng có tác dụng mạnh mẽ trên đầu óc, chứ không phải là vì tôi đã kiểm chứng những chuyện trên qua sự phân tích lịch sử.  Do đó, đến ngày lễ Giáng Sinh, tôi nghe kể rằng thiên thần Gabriel đã đến thị trấn Nazareth và bảo cho Mary biết là nàng sẽ sinh một đứa con, và đặt tên nó là Giê-su, Đấng Cứu Thế.  Không giao hợp với đàn ông, nhưng Mary đã sinh ra một bé trai, không phải ở Nazareth, mà là ở Bethlehem.  Mary sinh Giê-su ở trong một chuồng súc vật vì không có phòng cho bà ta và vị hôn phu, Joseph, ở trong quán trọ.  Sự sinh ra Giê-su được các thiên thần báo hiệu trước; và Mary đặt đứa bé trong một máng cỏ, gia đình Thánh này được những người chăn chiên, và  những nhà thông thái  miền Đông do một ngôi sao dẫn đến, thăm viếng.

Câu chuyện trên ăn sâu vào óc tưởng tượng của tôi từ lâu, trước khi tôi học lịch sử ở trường học.  Tác dụng mạnh mẽ của câu chuyện khiến tôi không nghĩ đến việc đặt nó trong phương pháp phân tích lịch sử thông thường.  Tôi tiếp tục tin rằng đó là một câu chuyện có thực trong lịch sử.  Phúc Âm Luke đặt chắc câu chuyện sinh ra Giê-su vào thời điểm mà Ceasar Augustus đòi hỏi mọi người trong đế quốc La mã phải dự cuộc kiểm tra dân số.  Cuộc kiểm tra dân số này xảy ra trong thời Quirinius làm Thống đốc ở Syria (Luke 2: 2).  Khi đó Herod là vua của xứ Judea. Những chi tiết về sự sinh ra của Giê-su như trên có vẻ là rất chính xác, cho đến khi người ta khám phá ra rằng Herod đã chết 4 năm trước khi thời đại thông thường này bắt đầu (nghĩa là trước khi Giê-su sinh ra. TCN) và Quirinius không phải là Thống đốc ở Syria cùng thời với Herod.   Không có một sử gia nào trong đế quốc La Mã ghi lại một cuộc kiểm tra dân số dưới thời vua Augustus.

Câu chuyện về một đứa bé sinh ra trong một chuồng súc vật ở Bethlehem vì không có phòng cho nó ở trong quán trọ là một trong những huyền thoại có tác dụng mạnh mẽ nhất của nhân loại.  Một huyền thoại, tuy nhiên, cũng chỉ là một huyền thoại.  Dù rằng chúng ta nhất định cho rằng mọi điều viết trong Thánh Kinh đều đúng, chúng ta cũng không thể tìm thấy ở đâu trong Thánh Kinh huyền thoại Giê-su sinh ra trong một chuồng súc vật.  Không có một Phúc Âm nào viết là Giê-su sinh ra trong một chuồng súc vật, và hầu như mọi chi tiết về sự sinh ra của Giê-su, những chi tiết đã gây cảm hứng cho nhiều nghệ thuật gia nổi tiếng, và nhiều thế hệ của những người đi đến nhà thờ trong đêm Giáng Sinh, không hề thấy ở đâu trong lịch sử hay trong Thánh Kinh, mà chỉ là những chuyện truyền tụng trong dân gian.  Một khi chúng ta đi sâu vào vấn đề, chúng ta khám phá ra rằng con người thật của Giê-su, Giê-su lịch sử,   nhất định không thể sinh ra ở Bethlehem.  Nhiều phần chắc là ông ta sinh ra  ở  Galilee, nơi ông ta trưởng thành. 3

Chúng ta thấy rằng, những huyền thoại về Giê-su được giáo hội bịa đặt và đưa ra rõ ràng là để khai thác tính tình nhạy cảm và khuynh hướng cả tin, mê tín của con người ngay từ khi còn nhỏ.  Chúng ta cũng không thể phủ nhận là, trong các giáo hội Ki Tô có rất nhiều người thông minh, hiểu nhiều.  Nhưng thay vì dùng cái thông minh của mình để khai sáng cho đám tín đồ thấp kém, dẫn dắt họ trên con đường mở mang trí tuệ, thì họ lại cố vận dụng trí óc của mình để nghĩ ra những lý luận thần học hoang đường, để nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ tuổi, huyễn hoặc những tín đồ thấp kém và nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, song song với những thủ đoạn nhơ bẩn, lừa dối, cùng phát minh ra những dụng cụ tra tấn dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử loài người để chiêu dụ, cưỡng ép những người ngoại đạo phải tin theo những điều mà họ cho là “chân lý mạc khải”, không thể sai lầm.  Đó là khổ nạn của thế giới ngày nay, nhất là thế giới của những quốc gia kém phát triển, nghèo khó, dân trí chưa mở mang.   Người dân chất phác đâu có đủ khả năng để hiểu những lý luận thần học ngụy biện.  Họ đặt tất cả lòng tin vào những bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo mà họ yên trí đó là những người có ăn học, thông thái, lương thiện, thành thật.  Họ có biết đâu, vì tin vào vài hứa hẹn huyền hoặc mà họ không đủ lý trí để suy luận và đánh giá, nên họ đã bị lùa vào trong một định chế tôn giáo toàn trị mà mục đích chính chỉ để duy trì quyền lợi vật chất và tinh thần của một số nhỏ.

Ở các nước Âu Mỹ tân tiến thì vấn đề có khác.  Giám Mục James A. Pike viết trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Thành Thật Của Ki Tô Giáo (A Time For Christian Candor), trang 108, như sau:  “Cuốn Tân Ước thật là rõ ràng.  Thật vậy, những sự kiện (trong Tân Ước. TCN) tự bao giờ vẫn luôn luôn rõ ràng cho bất cứ ai nhìn thấy chúng.  Giê-su sinh ra ở một  địa phương đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt.  Mẹ và các em ông ta không cho rằng ông ta có một nhiệm vụ nào khác với nhiệm vụ của một con người.”   (The new Testament is clear enough.  Indeed, the facts have always been clear enough for any man to behold.  Jesus was born in a particuliar place at a particular time.  His mother and brothers did not understand that He had more than a human role to perform.)

Học giả Colin Wilson còn đi xa hơn.  Sau khi nghiên cứu về nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch sử cổ xưa của loài người, ông ta đã viết một cuốn sách với nhan đề:  Những Đấng Cứu Thế Lừa Đảo:  Những Chuyện Về Những Đấng Cứu Thế Tự Phong (Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors) trong đó có chương nói về Giê-su.  Sau đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25:

Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó mà ngày nay người ta còn nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn dưới tên Hi Lạp, Giê-su… Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận thế sẽ đến ngay trong thời đại của những người sống cùng thời với ông ta; khi đó sẽ có chiến tranh, nạn đói, động đất, và người chết sẽ được làm cho sống lại.  Mặt Trời sẽ trở nên tối tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và các ngôi sao sẽ từ trên trời rơi rụng xuống.

Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới Giê-su – hãy yêu người láng giềng và làm cho người ta những điều mà mình muốn người ta làm cho mình – đã là một phần trong truyền thống Do Thái.  Hơn 1000 năm bị áp bức – người Do Thái đã bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ 1250 năm trước thời đại thông thường này – đã tạo nên cho người dân một tâm cảnh hòa bình và tuân phục ý Chúa; do đó khi Giê-su dạy hãy yêu kẻ thù là ông ta chỉ nhắc lại điều Moses dạy…

Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái là những sự đau khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của ông tổ Adam của họ.  Phao-Lồ rao truyền rằng cái “tội tổ tông” này đã được hóa giải bởi cái chết của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào trở thành tín đồ Ki-Tô thì nay cái tội tổ tông họ mang trên người đã được cứu chuộc.  (Đây chỉ là một luận điệu thần học ấu trĩ của thời bán khai, vì nếu quả thật cái chết của Giê-su trên thập giá có thể chuộc được tội thì đó là chuộc cái “tội tổ tông” cho cả dân Do Thái (dân Việt Nam coi chuyện “tội tổ tông” là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường,   không những tầm bậy mà còn nói lên cái tâm địa tàn nhẫn độc ác và phủ nhận trách nhiệm của chính Thiên Chúa), chứ không phải chỉ chuộc tội cho những người Do Thái nào trở thành tín đồ Ki Tô.)…

Đến   năm 100 của thời đại thông thường này, mọi người đều thấy rõ là lời tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được.  Nhưng khi đó thì Ki Tô Giáo đã lan rộng cho nên đó không thành vấn đề.  Sự mong đợi ngày tận thế nay được hoãn lại một thiên niên kỷ, tới năm 1000 – và từ ngữ “thiên niên kỷ” trở thành đồng nghĩa với “Ngày Phán Xét”.  Ki Tô Giáo đạt được chiến thắng lớn năm 313 khi hoàng đế Constantine – một tên ngông cuồng ngu xuẩn khát máu và sa đọa như nhiều hoàng đế La Mã – tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã…

Làm sao mà những “Đấng Cứu Thế” này lại hấp dẫn như vậy.   Thứ nhất, họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng.  Nhưng không phải chỉ có vậy.  Chúng ta đã biết, Giáo hội Ki Tô, mới đầu là một tổ chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lãnh đạo bị ném cho những con sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn giáo chính thức của La Mã năm 313, dưới triều hoàng đế Constantine.

Khi có được quyền lực rồi, những tín đồ Ki Tô bắt đầu xử sự

ngay một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền đài của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và cãi vã với nhau.  Thực chất là, Giáo hội đã trở thành một tổ chức siêu độc tài.  Và dân nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, rên xiết dưới gánh nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để cho tội lỗi của họ được tha thứ, càng ngày càng trở nên bất mãn với những lãnh đạo tinh thần của họ.  Nhưng họ không thể làm gì được; Giáo hội đã đặt họ vào trong gọng kìm sắt như là Đức Quốc Xã (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới thời Stalin ở Nga. 4

Tuyệt đại đa số các tín đồ Ki-Tô Giáo không biết đến lịch sử nhơ nhớp của các giáo hội Ki Tô, không biết đến những thủ đoạn “trí thức” nhằm nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín tối tăm của giới chăn chiên, không biết đến những sự thay đổi trong não trạng của các cấp lãnh đạo tôn giáo, và nhất là không biết đến những thú nhận sai lầm thần học của giáo hội trước những sự kiện bất khả phủ bác của khoa học và thực tế ở ngoài đời.  Do đó, đức tin của họ vẫn thuộc đức tin của thời Trung Cổ, tin vào những chuyện đã không còn chỗ đứng trong thời đại mới.  Theo Robert W. Funk, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Nhân Vật Giê-su (President of the Jesus Seminar), một Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh và nhân vật Giê-su gồm hàng trăm học giả, chuyên gia, ở trong các giáo hội Ki Tô, thì “thời đại mới” (New age) có nghĩa quan trọng nhất là sự chấm dứt của thời đại Ki Tô (The “new age” refers first and foremost to the end of the Christianized era).  Trong cuốn Honest to Jesus, trang 297, ông viết:  “Định nghĩa “thời đại mới” như trên, tôi không bảo rằng Ki Tô Giáo đã hết thời; tôi chỉ cho rằng Tây phương được Ki-Tô hóa và kỹ nghệ hóa không còn giữ vai trò chỉ đạo trò chơi duy nhất trên trái đất” (I am not thereby claiming that Christianity has come to an end; I am only proposing that the Christianized, industrialized West can no longer pretend to sponsor the only game on the planet…)

Ông viết tiếp, trang 298:

… Ở Tây phương, cái biểu tượng của vũ trụ cổ xưa đang trên đà suy thoái.  Chắc chắn là, nó còn lay lắt, dưới một dạng thức yếu kém, trong nhiều ốc đảo, nơi đây một hoạt động của đoàn quân hậu vệ được tung ra để chống lại ảnh hưởng của những đầu óc hiện đại có tác dụng soi mòn và phá hoại  của những chất a-cít.  Những ai còn bám víu vào những quan niệm cổ xưa càng ngày càng thấy khó khăn hơn trong việc làm cho những câu trong Thánh Kinh như “ông ta bay lên trời” có ý nghĩa.  Những sự hấp dẫn về một Thiên Chúa chứng thực, về thiên đường và hỏa ngục, về một đấng cứu chuộc thần thánh, về Chúa Ki-Tô như là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, đã bắt đầu mất  đi tác dụng và thường là rơi vào những cặp tai không còn  muốn nghe. (.. in the West, the old symbolic universe is on the decline.  It lingers on, to be sure, in weakened form, in many pockets where a rearguard action is being waged against the erosice and corrosive acids of the modern mind.  Those who cling to the old are having increasing difficulties in assigning meaning to such biblical statements as “he ascended into heaven”.  Appeals to an endorsing God, to heaven and hell, to a divine redeemer, to Christ as the sole mediator between God and humankind, have begun to lose their bite and more frequently fall on unhearing ears.)

Trong những xã hội Tây phương, phần lớn giới hiểu biết trong các giáo hội Ki Tô đã không còn tin vào những huyền thoại trong Thánh Kinh nữa.  Tuy nhiên, không phải là chỉ trong thời đại mới con người mới bác bỏ những luận điệu thần học sai lầm của Giáo hội.  Trong lịch sử các giáo hội, nhiều người từ xưa đã “không tin rằng vai trò của giáo hội là cần thiết để được “cứu rỗi”.  Con người có thể đến với Thiên Chúa trực tiếp mà không cần đến các linh mục, mục sư hay những bí tích.” (Colin Wilson, Ibid., p. 25: Many members of the Church did not believe that the Church was essential for “salvation”.   Man can know God directly, without the need of priests and sacraments.).

Có lẽ chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đang bị suy thoái, nhất là Ca-Tô Giáo Rô Ma.  Sự suy thoái này có nhiều nguyên nhân.  Một trong những nguyên nhân là trong Ca-Tô Giáo đã xảy ra hết chuyện mang tai tiếng này đến chuyện mang tai tiếng khác, ngay trong thời đại này, chứ không phải là trong lịch sử quá khứ.  Vấn đề Giáo hội đã biết rõ nhưng vẫn cố tình dung dưỡng và che dấu tội lỗi của giới linh mục trong nhiều thập niên về các vụ cưỡng bách tình dục các trẻ em phụ tế, nữ tín đồ, và ngay cả các sơ trong 23 quốc gia mà gần đây, vì không thể bưng bít mãi được nên Tòa Thánh đã phải lên tiếng thú nhận, nay đã được báo chí phổ biến rầm rộ.  Từ một thập niên trước đây, giáo hội đã phải bỏ ra đến gần tỷ đô la để nộp phạt và dàn xếp ngoài tòa cho hàng trăm linh mục tội lỗi.  Vụ cựu linh mục Ca-Tô John Geoghan mới ra tòa gần đây ở Boston chỉ là một trong hơn 80 vụ che dấu khác của giáo hội trong Giáo Phận Boston.   Cho đến nay, Giáo hội đã bỏ ra hơn 10 triệu đô la để bồi thường cho các nạn nhân của Geoghan, và người ta ước tính giáo hội sẽ phải bỏ ra nhiều trăm triệu nữa cho các vụ xảy ra ở Boston và trên khắp nước Mỹ. (Newsweek, February 25, 2002: The Church has reportedly paid more than $10 million in settlements so far in the Geoghan case alone.  And mounting lawsuits in Boston and nationwide, lawyers speculate, coukd total hundreds of millions more.).   Giáo dân ở Boston đã giận dữ biểu tình trước tư gia của Hồng Y Bernard Law yêu cầu ông ta từ chức.  Lẽ dĩ nhiên ông ta từ chối.  Nhiều giáo dân đang cổ động tín đồ không đóng tiền cho nhà thờ nữa vì không muốn tiền của mình bị lạm dụng, dùng trong các vụ bồi thường và dàn xếp này.  Chuyện tai tiếng này và nhiều chuyện tai tiếng khác ở khắp nơi trên thế giới, thí dụ như chuyện một số sơ ở Rwanda bị truy tố về tội góp phần trong chính sách diệt chủng dân Tutsis, chuyện Mẹ Teresa dấu nhiều triệu đô la, tiền người ta cúng cho bà để làm việc thiện theo lời kêu gọi và quảng cáo của bà, trong ngân hàng trong khi để cho tình trạng các “cơ sở từ thiện” của bà sập sệ, thiếu thuốc men, thiếu sự chăm sóc v..v.. cho những người xấu số được “dòng tu bác ái” của bà mang về nuôi nấng, đã khiến cho quần chúng thấy rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của giáo hội và giới chăn chiên.

Nhưng nguyên nhân chính là con người trong thế giới tiến bộ Âu Mỹ đã thường ngày đối diện với những tác phẩm nghiên cứu của nhiều học giả về tôn giáo của họ, chưa kể đến những tin tức hàng ngày trên báo chí và TV, những cuộc tranh luận về tôn giáo công khai trên TV.  Với những thông tin tràn ngập về mọi mặt, giáo hội không còn có thể che dấu sự thật trước đám tín đồ có ăn học được nữa.  Do đó, trong những xã hội tân tiến này đã xảy ra tình trạng linh mục, nữ tu, và con chiên bỏ đạo hàng loạt, khoan kể đến việc một số đã viết sách vạch trần thực chất phi nhân của giáo hội cũng như những chuyện hoang đường, dâm ô, tục tĩu trong Thánh Kinh.  Thống kê cho biết, sau vụ 11 tháng 9 tại New York, số người đi lễ nhà thờ tăng vọt từ hơn 30% đến gần 60%, nhưng chỉ vài tuần lễ sau số người đi lễ nhà thờ lại trở lại mức hơn 30%.  Đó là ở Mỹ.  Còn ở Âu Châu thì tình trạng thê thảm hơn nhiều.

Không còn thuyết phục được người dân trong những xã hội văn minh tiến bộ, Ca-Tô Giáo Rô-Ma cũng như Tin Lành đang mở chiến dịch đi truyền đạo ở các nước nghèo và kém mở mang, nấp sau những bình phong như “tự do tín ngưỡng” và “nhân quyền”.  Ở Á Châu, họ tung ra ra cái gọi là nền “thần học theo cung cách Á Châu”.  Riêng đối với Việt Nam, họ viết sách và bỏ tiền ra mua lương tâm của những tên trí thức dỏm viết sách viết báo xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam, hạ thấp Phật Giáo, và đánh bóng những tên đại Việt gian như Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký cùng quan thầy Alexandre de Rhodes.  Tin Lành thì len lỏi vào các vùng Thượng Du Bắc Việt, mang tiền ra khuyến dụ những người Thượng nghèo khổ, xúi bẩy họ đòi tự trị với quốc giáo là Ki Tô Giáo, gây xáo trộn trong xã hội Việt Nam.

Họ có thành công hay không, tất cả tùy thuộc ở trình độ hiểu biết của người dân về vấn đề tôn giáo.  Cái vũ khí hữu hiệu nhất để vô hiệu hóa những lý luận hoang đường của Ki Tô Giáo về vai trò cứu rỗi của Giê-su và vai trò của “hội Thánh” Ki-Tô là giáo dục để cho người dân biết rõ về những sự thực về Ki Tô Giáo.  Chính quyền có nhiệm vụ đưa ra một chính sách giáo dục mở mang dân trí. Đây là cái chìa khóa để bảo vệ truyền thống và văn hóa Việt Nam.

Riêng tôi, tôi cho rằng mưu toan Ki Tô hóa Á Châu của Ca-Tô cũng như Tin Lành không thể thành công, dù họ có nấp sau những chiêu bài như “trở về với dân tộc”, “góp phần vào nền văn hóa Việt Nam” qua những luận điệu của cái gọi là “thần học theo cung cách Á Châu”.

Thứ nhất, thần học Ki Tô Giáo, dù mang tên gì đi chăng nữa, Á Châu hay Phi Châu, Giải phóng hay của phái nữ, cũng đều là thần học.   Thần học là môn học đặt tiền đề trên sự hiện hữu của một vị Thần mà họ gọi là Thượng đế, trên sự “cứu rỗi” của Giê-su như là có thực, rồi mới tìm cách lý luận để biện giải cho những tiền đề trên.   Nhưng ngày nay, những khám phá của khoa học trong nhiều bộ môn, và nhất là thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc loài người,  đã dứt khoát phá đổ thuyết  Sáng Tạo trong Cựu Ước cũng như chức năng “cứu rỗi” của Giê-su trong Tân Ước.  Khi mà chuyện Adam và Eve chỉ là một huyền thoại như mọi người, kể cả các bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo, đều công nhận, đặc biệt là ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, cũng phải công nhận như vậy trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, thì không ai còn có thể tin vào chuyện một nhân vật hoang đường, ăn một trái trên một cái cây hoang đường, trong một cái vườn hoang đường, do một ông Thượng đế hoang đường tạo ra, cho nên cả nhân loại đều bị phạt đời đời kiếp kiếp.  Thời buổi này mà ông Thượng đế đó xử sự như vậy , hoặc mang con ông ấy lên thập giá đóng đinh thì ông sẽ vào ngồi đếm lịch trong nhà tù.  Không có tội tổ tông thì ai cần ai cứu rỗi?  Giê-su sẽ thất nghiệp vì đâu có còn ai cần đến sự cứu rỗi của ông ấy.  Hơn nữa lý thuyết “chuộc tội” của giáo hội chỉ có tính cách lừa bịp, vì nếu Giê-su đã chuộc tội cho loài người bằng cách chịu “tử nạn” đóng đinh trên thập giá, thì tại sao trong 2000 năm nay con người vẫn chết, vẫn phải làm việc đầu tắt mặt tối, phái nữ vẫn mang nặng đẻ đau, như lời nguyền rủa của Thượng đế đối với loài ngươi sau khi một Adam giả tưởng ăn một trái trên một cây giả tưởng trong một vườn địa đàng giả tưởng của một ông Thượng đế giả tưởng.

Thứ nhì, người Á Đông có đầu óc thực tế, hướng về nhân bản và nhân chủ.  Người Việt Nam luôn luôn hãnh diện vì mình là Con Rồng Cháu Tiên, dù đây chỉ là một huyền sử, chứ chẳng ai muốn nhận một anh Adam trong huyền thoại của dân Do Thái làm tổ tiên của mình.  Nền văn hóa Á Đông cũng không thể nào phù hợp với nền văn hóa Ki Tô của các ông mắt sâu, râu rậm, mũi lõ, mắt xanh.

Thứ ba là những sự kiện lịch sử.  Ai cũng biết, nhiệm vụ của tôn giáo là hướng dẫn vấn đề tinh thần, dạy đạo đức cho con người để cho con người đi vào con đường hướng Thiện.  Nhưng Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, là tôn giáo loại gì mà lại đi giết người chỉ vì họ không có cùng một niềm tin với những tín đồ Ki Tô.  Cái lịch sử ô nhục đầy máu và nước mắt của Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như của Tin Lành có thể biện minh cho những sắc thái cao đẹp của một tôn giáo theo đúng nghĩa là một tôn giáo được hay không?  Bao nhiêu triệu người bị tra tấn, tù đầy, giết chóc, thiêu sống dưới tay của các Linh Mục Ca-Tô và Mục Sư Tin Lành?  Có một cá nhân nào bị Phật Giáo, một tôn giáo mà các tín đồ Ki Tô cho là thấp kém, của ma quỉ, tra tấn, tù đầy, giết chóc và thiêu sống hay không?  Tại sao Giáo Hoàng John Paul II phải đi đến các nước trong thế giới thứ ba để đã hơn 100 lần xin lỗi những quốc gia này vì những tác hại và bất hạnh mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho đất nước của ho?  Tại sao Tòa Thánh phải xưng thú 7 núi tội lỗi của Giáo hội đối với nhân loại?  Tại sao các Giám Mục, Mục Sư Tin Lành phải lên tiếng xin lỗi thổ dân da đỏ ở Mỹ Châu và thổ dân ở Phi Châu và Nam Mỹ?

Những tín đồ Ca-Tô Việt Nam có đầu mà không có óc lên tiếng ca tụng giáo hoàng là người can đảm, dám công khai nhận lỗi của Giáo hội trước bàn dân thiên hạ, và ăn năn thống hối.  Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ xin lỗi hay không xin lỗi, ăn năn thống hối hay không ăn năn thống hối.  Vấn đề là ở chỗ tại sao một tôn giáo tự xưng là “mạc khải”, “thánh thiện”, “duy nhất”, “được Thánh Linh hướng dẫn”, “do Chúa Giê-su thành lập”  v..v.. mà lại phạm phải những tội lỗi ác độc, tàn bạo, nhơ nhớp đối với nhân loại trong suốt 2000 năm qua với hàng trăm triệu xác chết trên bờ vai lương tâm của Giáo hội?  Tại sao được Thánh Linh tuyển chọn và hướng dẫn, cùng với tín lý “Giáo hoàng không thể sai lầm” mà trong lịch sử Ca-Tô Giáo lại có những triều đại Giáo hoàng dâm loạn, tội ác tầytrời?  Tại sao khi rửa tội thì có Thánh Linh vào ngự trong người mà hàng trăm linh mục lại đi hiếp dâm trẻ con, nữ tín đồ, và cả những sơ rồi bắt họ uống thuốc ngừa thai hay phá thai?

Nếu người dân được mở mang kiến thức để biết về những sự thực về Ki-Tô Giáo thì đương nhiên họ sẽ đặt những câu hỏi như trên với những nhà truyền giáo trước khi họ chấp nhận những luận điệu mê hoặc của những người đi truyền giáo nhưng không bao giờ đọc kỹ Thánh Kinh hoặc không bao giờ biết rõ về lịch sử của chính tôn giáo họ.  Robert W. Funk cũng chủ trương phải đặt vấn đề với Ki Tô Giáo, xét đến những sự kiện trong lịch sử Ki Tô Giáo.  Ông viết, Ibid., p. 199:

Từ nay trở đi, chúng ta phải luôn luôn hỏi rằng, truyền thống Ki Tô Giáo có cái gì để dạy chúng ta, và nếu có, thì đó là cái gì.   Chúng ta không còn trao khoán cho Ki Tô Giáo một sự đồng ý trước, như là một phần của sự mua bán, mà không xác định những điều chúng ta chấp nhận là những cái gì. 5

Tôi thành thực mong rằng, một ngày nào đó, người dân Việt Nam sẽ biết đến, không nhiều thì ít, qua những tác phẩm thuộc loại nghiên cứu của Giao Điểm, Trần Văn Kha, Lê Trọng Văn, Cao Huy Thuần, Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Mạnh Quang, Charlie Nguyễn, Nguyên Vũ v..v.., những sự thật trong lịch sử Ki Tô Giáo cũng như những sai lầm, mâu thuẫn, và những chuyện phi luân, dâm ô, ác độc có đầy trong Thánh Kinh.  Ngoài ra họ cũng nên có một kiến thức tối thiểu về những tiến bộ của khoa học, nhất là về vũ trụ học và nhân chủng học.  Chỉ có như vậy họ mới có thể tránh được cái thòng lọng mà Ki Tô Giáo luôn luôn dùng mọi thủ đoạn để xiết vào cổ họ.

Chú Thích  –  Kết Luận

1.  Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214:  Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44)  Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, “It is not fit to take the children (of Israel’s) bread and to cast it to dogs.” (Matthew 15:26)  In other words he said, “You non-Jews are dogs.  Why should I do anything for you?”  How would you like to have Jesus call you a dog?  Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love.  Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog.  So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all.   The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, “Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever.” (Hebrew 13:8)  So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.)

2. John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:   Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?…

A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.

3. Wilson, A. A., Jesus: A Life, Preface:  Like all Christians, I was aware that my religion claimed to be rooted in history.  There were certains stories, which verifiable dates attached to them, on which my faith was founded.   But I did not become a Christian because I believed those stories.  I became a Christian as an infant when I was baptized.  Year by year, at the great festivals of the Christian Church, I heard these historical claims rehearsed.  But even then, I absorbed the stories because they were powerful in themselves, and not because I had tested them by means of historical analysis.  So, at Christmas, I heard that the Angel Gabriel went to a town called Nazareth and told Mary that she was going to give birth to a baby, and she was to call him Jesus, the Saviour.  Without having sexual intercourse with a man, Mary gave birth  to   the boy, not in Nazareth, but in the town of Bethlehem.  Mary gave birth to Jesus in a stable, because there was no room for her and her fiancé, Joseph, in the inn.  The birth was heralded by angels; and Mary had laid the little child in a manger, the Holy Family was visited by shepherds and by wise men from the East, who had been led there by a star.

This story had been taken hold of my imagination long before I ever studied history at school.   So powerful was it that I would not readily subject it to the ordinary processes of historical analysis..  I continued, however, to suppose that it was a story with a real historical setting.  The Gospel according to Luke dates it most specifically to a time when Ceasar Augustus required that everyone in the Roman Empire should take part in a census.  It happened at the time when Quirinius was governor of Syria (Luke 2: 2). Herod was King of Judea at the time (Matthew 2: 1). This would seem to place the birth of Jesus very accurately, until you discover that Herod died four years before the Common Era began, and that Quirinius was not the Governor of Syria during the reign of Herod.   No historian of the Roman Empire makes any mention of a universal census during the reign of Emperor Augustus…

The story of the baby being born in a stable at Bethlehem because there was no room for him at the inn is one of the most powerful myths ever given to the human race.  A myth, however, is what it is.  Even if we insist on taking every word of the Bible as literally true, we shall still not be able to find there the myth of Jesus being born in a stable.   None of the Gospels state that he was born in a stable, and nearly all the details of the nativity scenes which have inspired great artists, and delighted generations of churhgoers on Christmas Eve, stem neither from history nor from Scripture, but from folk-lore.  Once we go into the matter, we discover that the real Jesus, the Jesus of History, is extremely unlikely to have been born in Bethlehem.  It is much more probable that he was born in Galilee, where he grew up.

4. Wilson, Colin, Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors, pp. 18-25: The only messiah of that period who is remembered today was called Joshua, better known by the Greek form of his name, Jesus…  Study of  the  scriptures  had led him to believe the  world would  end within the lifetime of people then alive; there would be wars, famines, and  earthquakes, and the dead would be brought back to life.  The   sun  would be  turned to  darkness and the  moon to blood, and the stars would fall from the sky.

The message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and do to others as you’d have them do unto you – was already a part of the Jewish tradition.  More than a thousand years of oppression – the Jews had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long ago as 1250 B.C. – had developed a spirit of pacifism and submission to the will of God; so Jesus’s injunction to love your enemy was merely a restatement of the Mosaic teaching…

…One of the most fundamental beliefs of Judaism was that the sufferings of the Jews were caused by the sin of their forefather Adam.  Paul announced that this “original sin” had been canceled out by the death of Jesus on the cross, so that anyone who became a Christian was now redeemed…

Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy was not going to be fulfilled.   But by that time, Christianity had became widespread that this made no difference.  The expectation of the end of the world was now transferred to the Millennium itself – the year 1000 A.D. – and the word Millennium became a synonym for the Day of Judgement.  Christianity achieved its greatest triumph so far on 313 A.D. when the Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac as many of the Roman emperors – declared it the official religion of the empire…   How did these “messiahs” become so powerful?  To begin with, all of them had the gift of preaching.  But it was more than that.  As we have seen, the Christian Church, which began as as poor and persecuted organization whose leaders were thrown to the lions, suddenly became the official religion of Rome in 313 A.D., under the Emperor Constantine.

As soon as they gained power, the Christians began to behave far worse than their enemies, destroying pagan temples, burning heretics, and squabbling among themselves.  In effect, the Church became the supreme dictator.  And the poor, ordered to go to church every Sunday, groaning under heavy taxes, and forced to pay to have their sins forgiven, became increasingly disenchanted with their spiritual masters.  But there was nothing they could do; the Church exerted the same iron grip as the Nazis in   Germany or  the Communists  in Stalin’s   Russia.

5. Funk, Robert W., Honest to Jesus, p. 299: From now on we must always ask whether the Christian tradition has something to teach us and, if it does, what that something is.  We can no longer give Christianity prior consent without determining what we are embracing as part of the bargain.

Source: http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/tcn_jesusket.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 13, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: