RSS

Giê-su là ai? đã giảng dạy những gì? (1)

13 Jul

Giê-su là ai? đã giảng dạy những gì?
(sách do Giao Điểm xuất bản, tháng 3.2002)

Trần Chung Ngọc

LỜI NÓI ĐẦU

Người dân Việt, với bản chất hiền lành, mộc mạc, “dĩ hòa vi quý”, không bao giờ muốn gây sự hiềm khích giữa các khối dân chúng có tín ngưỡng khác nhau. Hệ thống tín ngưỡng của Việt Nam, trong tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) Đồng Nguyên, là một hệ thống chiết trung, nghĩa là không bám chặt vào một tín ngưỡng hay một hệ thống tư tưởng chuyên biệt nào, thể hiện một tinh thần bao dung, không có tính cách loại trừ. Cho nên, rất có thể có những người không đồng ý với công việc nghiên cứu của tôi: đưa ra những sự thật về Ki-Tô giáo, cho rằng như vậy chỉ gây chia rẽ tôn giáo. Tôi thông cảm và tôn trọng ý kiến của họ. Ý kiến trên bắt nguồn từ một tình cảm cao quý cá nhân, nhưng đặt không đúng chỗ, vì tình cảm này không xét đến ảnh hưởng của tôn giáo trên mọi vấn đề xã hội, nhất lại là một tôn giáo ngả nhiều về chính trị và xã hội thế tục như Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng. Kinh nghiệm Việt Nam trong thời Pháp thuộc và trong 9 năm dưới chính quyền Ca-Tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam có thể cho chúng ta nhận rõ vấn đề: Ca-Tô Giáo chỉ chiếm 7% dân chúng nhưng được hợp thức hóa là một tôn giáo trong khi Phật Giáo, chiếm khoảng 80% dân chúng, chỉ được coi như là một hiệp hội, và do đó về pháp lý không khác gì một hội như hội quần vợt.

Nhìn rõ vấn đề tôn giáo trong xã hội, học giả Paul Blanshard đã viết như sau trong cuốn Nền Tự Do Của Mỹ và Quyền Lực Ca-To⠨American Freedom and Catholic Power), trang 4, như sau:

“Anh không bao giờ nên chỉ trích tôn giáo của người khác”, cái giáo lý nghe có vẻ vô hại đó, phát xuất từ những tình cảm cao quý, nhưng thật là nguy hại cho lối sống dân chủ. Nó không để ý đến bổn phận phải bênh vực sự thật trong mọi ngành tư duy của mọi công dân tốt. Nó không xét đến sự kiện là phần lớn cái mà con người gọi là tôn giáo cũng là chính trị, lành mạnh xã hội và kinh tế. Giữ yên lặng về “tôn giáo của người khác” có thể đưa đến nền y tế hạng hai, nền giáo dục thấp kém, và chính quyền phản dân chủ.”

(You should never criticize another man’s religion”, that innocent-sounding doctrine, born of the noblest sentiments, is full of danger to the democratic way of life. It ignores the duty of every good citizen to stand for the truth in every field of thought. It fails to take account of the fact that a large part of what men call religion is also politics, social hygiene and economics. Silence about “another man’s religion” may mean acquiescence in second-rate medicine, inferior education and anti democratic government.)

Mặt khác, về vấn đề chia rẽ tôn giáo, nếu chúng ta nhìn kỹ lịch sử thì chúng ta sẽ thấy rằng, trong mấy trăm năm nay, từ khi Ca-Tô giáo Rô-ma du nhập Việt Nam, và cho tới tận ngày nay, sự chia rẽ tôn giáo không phát xuất từ đại khối dân tộc, mà từ một tín ngưỡng thuộc thiểu số, vào khoảng 7% dân số: tín ngưỡng Ca-Tô, dựa trên thế lực ngoại bang và cường quyền. Lịch sử Việt Nam, từ khi Ca-Tô Giáo du nhập Việt Nam năm 1533, trong thời Pháp thuộc, và trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam, đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy, chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận trong cuốn Cẩm Nang Triết Việt, trang 57, rằng:

“…sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam…đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe lương giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có giảm đi nhưng xem ra không sao xóa sạch được.”

Không nhức nhối và e dè nghi kỵ làm sao được khi mà tín đồ Ca-Tô tỉnh ngộ Charlie Nguyễn đã phải đau lòng viết sách tố cáo tinh thần nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Ca-Tô Việt Nam, và nêu lên sự kiện là cho tới tận ngày nay, trong các sách bổn, kinh cầu nguyện, kinh nhựt khóa của giáo dân Ca-Tô Việt Nam v..v.., vẫn còn chứa những câu có tính cách xúc phạm đến toàn thể dân tộc Việt Nam, đến ông bà tổ tiên chúng ta, đến Phật Giáo và tất cả những tôn giáo khác v..v.., những câu như: “Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo”; “Xin Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm ngoại giáo”; “..đang ở nơi tối tăm thờ lạy bụt (Phật) thần ma quỉ”; “Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e phá tan đạo Bụt Thần”; “Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.” v..v.. (Xin đọc “Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác”, và “Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm” của Charlie Nguyễn, Giao Điểm xuất bản, 2001)

Khi xưa, nấp dưới bóng thực dân Pháp, và dưới hai chế độ Ca-Tô ở miền Nam, sự hiện hữu của những bản kinh này thật là dễ hiểu, vì cường quyền và bạo lực đã thắng công lý. Nhưng ngày nay, nước nhà đã độc lập và thống nhất, sự hiện hữu của những bản kinh trên trong một dân tộc mà Ca-Tô giáo chỉ chiếm 7% dân số thì thực là một điều khó hiểu. Đối với tôi thì, vì hiểu rõ bản chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, nên tôi chẳng chấp vào những điều huênh hoang hung hăng cuồng tín bắt nguồn từ vô minh và ảo tưởng kiêu căng vô lối, hỗn xược của đám người nô lệ trong giáo hội Ca-Tô Việt Nam. Nhưng đối với đại khối dân tộc thì sao? Ai đã chia rẽ tôn giáo ở đây? Chắc chắn không phải là những người viết sách đưa ra những sự thực lịch sử của Ca Tô Giáo Rô-Ma, đặc biệt là Ca-Tô Giáo Rô-Ma tại Việt Nam, hay lịch sử Tin Lành.

Đưa ra những sự kiện lịch sử về Ki-Tô Giáo không có nghĩa là gây chia rẽ tôn giáo, chống Ki-Tô giáo, hay gây hận thù giữa những khối dân tộc có tín ngưỡng khác nhau. Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn.

Với quan niệm như vậy tôi đã không ngần ngại dấn thân vào làm một công việc mà tôi biết rằng bạc bẽo và không có ích lợi cho bản thân: đó là nghiên cứu và đưa ra những sự thật về Ki Tô Giáo, những sự thật mà các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam cũng như những người phi-Ki-Tô rất ít biết đến, do hoàn cảnh lịch sử của nước nhà trong hơn 100 năm nay. Chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa những sự thật, kết quả nghiên cứu của những bậc thức giả có uy tín nhất trong Ki Tô Giáo cũng như trong môi trường trí thức đại học Âu Mỹ, và những điều xuyên tạc cố ý với ý định hạ thấp hay bôi nhọ tôn giáo.

Tôi không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo. Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào.

Tôi không chống cá nhân những người theo Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành. Đối với tôi, không có lý do gì để chống họ, nhất là chỉ vì họ đi theo một tôn giáo hợp với sở thích của họ. Tuy nhiên, trong thời đại này, những sự thực lịch sử cũng như giáo lý của tôn giáo, bất kể là tôn giáo nào, cần phải được trình bày rõ ràng để cho người dân biết đâu là sự thực. Đưa ra những sự thật về tôn giáo để nhận rõ đâu là nguồn gốc khổ đau cũng như đâu là nguồn gốc hạnh phúc mà tôn giáo đã mang đến cho nhân loại, ít ra là trong vài ngàn năm qua, tôi cho là một điều cần thiết.

Do đó, tôi chống hệ thống giáo quyền của Ca-Tô Giáo Rô-ma vì hệ thống này đã nô lệ hóa đầu óc con người và biến tín đồ thành những người vô tổ quốc “thà mất nước chứ không thà mất Chúa” chứ tôi không chống các tín đồ Ca-Tô mà tôi cho là nạn nhân của Giáo hội Ca Tô toàn cầu. Tôi chống cái giáo điều “quên mình trong vâng phục” của Ca-Tô Giáo và tinh thần nô lệ Vatican của Giáo Hội Ca-Tô tại Việt Nam chứ không chống các tín đồ được dạy từ nhỏ là phải “quên mình trong vâng phục”. Bởi vì đây chính là những nguồn gốc mang đến sự chia rẽ trong đại khối dân tộc. Tôi chống “thẩm quyền Thánh Kinh” (Bible authority) của Tin Lành mà các tín đồ Tin Lành phải tuyệt đối tin là không thể sai lầm, vì chính thẩm quyền này đã mang đến bao sự đau thương cho nhân loại, và vì Thánh Kinh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như về khoa học, nhưng không chống tín đồ Tin Lành.

Tuy nhiên, làm công việc bạc bẽo này, tôi ý thức được rằng, đưa ra những sự thật về Ki Tô Giáo có thể sẽ phải đối diện với nhiều nguy hiểm cay đắng, hiểu lầm và ngay cả những phản ứng cuồng tín, nhưng tôi cho rằng sự yên lặng lại còn mang đến nhiều nguy hiểm lớn hơn cho dân tộc và quốc gia. Tôi hiểu rằng, bất cứ người nào lên tiếng phê phán hệ thống quyền lực Ca-Tô hay thẩm quyền của Thánh Kinh đều phải gồng mình lên đội cái mũ “chống KiTô”, vì đó là sách lược chống đỡ của hệ thống quyền lực Ki Tô Giáo nói chung, chụp cái nhãn hiệu “chống Ki Tô Giáo” lên mọi ý kiến hay kết quả khảo cứu nào không phù hợp với những điều “giáo hội dạy rằng..” hay “Thánh Kinh viết rằng..”. Ngoài ra họ cũng còn phải cam chịu mang danh hiệu là “kẻ thù của các tín đồ Ki Tô” vì hệ thống giáo quyền Ki Tô luôn luôn đồng nhất hóa những tham vọng của giới giáo sĩ với những cái mà họ cho là ước muốn của tín đồ, và reo rắc vào đầu óc tín đồ quan niệm sai lầm là mọi công cuộc nghiên cứu về thực chất Ki Tô Giáo, những điều mà tín đồ không thể ngờ vì không biết đến, đều bắt nguồn từ một tâm hận thù.

Đức Khổng Tử có nói: “Thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối, tốt hơn là thắp lên một ngọn đèn nhỏ”. Cuốn sách này không có tham vọng sẽ trở thành một nguồn sáng sáng hơn ánh sáng của một ngọn đèn nhỏ.

DẪN NHẬP

Giáo Hoàng Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Công Giáo La-Mã) John Paul II, trong cuộc viếng thăm Ấn Độ năm 2000, đã kêu gọi tín đồ tăng gia nỗ lực cải đạo quần chúng ở Á Châu, nghĩa là, theo truyền thống truyền đạo của Ca Tô Giáo, dùng mọi thủ đoạn để kéo quần chúng vào Ca-Tô Giáo.

Mac Kher, dựa trên những sự kiện lịch sử: rằng sự du nhập của Ki Tô Giáo vào Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, phần lớn Phi Châu và vài vùng Thái Bình Dương đã đưa tới sự hủy diệt một cách có hệ thống toàn bộ những tôn giáo và nền văn hóa đa thần có trước thời Ki-Tô, cho lời kêu gọi trên là một lời tuyên chiến chống nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á Đông nói chung, Ấn Độ nói riêng (Xin đọc trong http://www.nycny.com).

Tuần báo Newsweek, số ngày 16 tháng 4, 2001, trang 48, tường trình sự suy thoái của Ki Tô Giáo ở Âu Châu và Bắc Mỹ, nhất là ở Âu Châu, ngày nay được coi là một xã hội trong tình trạng hậu-Ki-Tô (post-Christian society), nhưng Ki Tô Giáo lại có chiều hướng phát triển trong các nước nghèo khó ở Á, Phi, nơi đây dân trí còn thấp kém, đời sống kinh tế vật chất khó khăn, và còn bị nhiều áp bức.

Gần đây, tại Việt Nam, những nhà truyền giáo Tin Lành, mượn chiêu bài tự do tín ngưỡng để truyền đạo trên các miền thượng du Bắc Việt và đã gây ra không ít hỗn loạn trong xã hội Việt Nam.

Mục đích truyền đạo của Ca-Tô cũng như Tin Lành ở Việt Nam là, lợi dụng và khai thác hoàn cảnh khó khănvề vật chất cũng như tinh thần của một số người dân ở trình độ thấp nhất, thunhặt tín đồ bằng những giáo điều huyền hoặc và bả vật chất. Khi có một số tín đồ cuồng tín và tuyệt đối theo lệnh các nhà truyền giáo rồi, họ sẽ biến số tín đồ này thành một lực lượngchính trị nấp sau bình phong tôn giáo để tạo áp lực với chính quyền, chi phối mọi hoạt động xã hội trên căn bản một niềm tin không cần biết không cần hiểu của Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành. Lịch sử du nhập của Ca-Tô Giáo vào Việt Nam đã chứng tỏ như vậy.

Những tín đồ tân tòng Ca-Tô hay Tin Lành, vì nhẹ dạ cả tin những lời hứa hẹn vào một đời sau, vì được giúp đỡ chút ít trong những hoàn cảnh vật chất khó khăn, đều không biết rằng mình đã bị huyễn hoặc bởi một cái bánh vẽ, do đó bị lùa vào cảnh nô lệ một hệ thống giáo quyền trong cấu trúc toàn trị của Ca-Tô Giáo, hay vào cảnh nô lệ “những điều mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh” của Tin Lành. Nhìn vào toàn bộ nền Thần học Ki Tô Giáo, chúng ta thấy nó giống như một cái áo cũ kỹ đã rách bươm nhiều chỗ, phải vá chằng vá chịt, dùng để che đậy một thân thể bệnh hoạn. Tại sao? Bởi vì nền thần học này dựa trên nhiều ngụy tạo và gian dối, như sẽ được chứng minh trong chương sau. Mỗi khi sự ngụy tạo và gian dối nào bị phanh phui, người ta lại phải thay đổi, dùng ngụy biện để che đậy nó đi bằng một luận điệu thần học khác. Vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn False Claims, trang 3, rằng:

Trong những giới thông minh ở Âu Châu và Mỹ Châu, nền thần học Ki-Tô trên thực tế đã chết.

(Among the intelligent classes of Europe and America, Christian theology is practically dead.)

Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện là, nền thần học này cũng mang đến cho các tín đồ, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém trong xã hội, một niềm hi vọng trong đời sống sau: Tới ngày phán xét cuối cùng (không biết bao giờ mới xảy ra tuy Chúa Giê-su đã hứa với các tông đồ là sẽ xảy ra trong ngay khi ông ta còn sống, và trong 2000 năm nay không biết bao nhiêu lần các bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo đã tiên đoán sai lầm ngày tận thế sẽ xảy ra) Chúa sẽ hóa phép làm cho xác chết của họ sống lại đoàn tụ với linh hồn và sống cùng Chúa đời đời trên Thiên đường. Đó là cái bánh vẽ trên trời (từ của Linh mục Ernie Bringas: A Pie-in-the-sky) cộng với mồi vật chất (theo đạo có gạo mà ăn) để khuyến dụ họ tin theo đạo Chúa.

Những nhận xét ở trên không phải là không có căn bản, nhưng tuyệt đại đa số những tín đồ Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đều không biết đến những sự thực này, do chính sách bưng bít của các giáo hội, và do chính họ không đủ khả năng để theo dõi những diễn biến ngay chính trong các giáo hội của họ.

Thật vậy, chính Mục Sư Tin Lành Rubem Alves, Giáo sư Thần Học tại đại học Campinas ở Ba Tây, trong cuốn Đạo Tin Lành và Sự Đàn Áp (Protestantism and Repression, Orbis Book) đã phải đưa ra nhận đinh như sau, phản ánh thực chất tình trạng Tin Lành truyền đạo ở Ba Tây, trang 44:

“Có phải là kỳ cục không khi mà Chúa Ki-Tô không thể rao giảng cho những người cảm thấy mình an toàn và hạnh phúc, những người cảm thấy cuộc đời đáng sống, những người không đang ở trong một cơn khủng khoảng? Có phải là khác thường không khi mà Chúa Ki-Tô chỉ có thể tuyên dương và có nghĩa trong những tình trạng đau khổ vì bệnh hoạn của những người đang ở trong những hoàn cảnh lo lắng, cảm giác tội lỗi, và khủng khoảng hay chết chóc? Thật ra nhiệm vụ của nhà truyền giáo là gì? Nhiệm vụ của họ là đặt cho một cơn khủng khoảng những tên Thần Học mà thực ra nguồn gốc của nó là vấn đề tâm lý xã hội. Nhà truyền giáo tìm cách khơi động một cơn khủng khoảng màcon người có thể chưa cảm thấy, để rồi từ đó, và chỉ khi đó, họ mới có thể tuyên bố “Chúa Ki-Tô là sự giải đáp.”

(Isn’t it curious that Christ cannot be preached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth living, to people who are not going through a crisis? Isn’t it odd that Christ can only be proclaimed and meaningful in morbid situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror or death? What really is the task of the evangelist? His or her task is to give theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin. The evangelist seeks to activate a crisis which might not have been sensed before, so that then, and only then, he or she can proclaim that “Christ is the answer”.)

Nhận định của Giáo sư Rubem Alves ở trên quả thật đúng nếu chúng ta quan sát tình trạng Ki Tô Giáo nói chung ở các xã hội tân tiến Âu Mỹ. Con người Âu Châu nói riêng, trong các nước văn minh tiến bộ nói chung, vì đã có một đời sống kinh tế tương đối thoải mái, và vì thường xuyên đối diện với những tiến bộ của các bộ môn khoa học và tôn giáo học, đã tỉnh ngộ và thấy rõ thực chất của những lời hứa hẹn hoang đường như trên. Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ khi đa số chỉ mang danh là tín hữu Ki Tô theo truyền thống gia đình và xã hội của họ, nhưng chẳng còn tin những điều không còn phù hợp với sự tiến bộ trí thức và mức độ hiểu biết của quần chúng ngày nay. Những người ngày nay còn tin vào những điều hoang đường phi lý trí, phản khoa học v..v.. phần lớn thuộc những nước nghèo, chậm tiến, và thường là lớp người không mấy khi dùng đến đầu óc, hoặc đầu óc đã bị bố mẹ, linh mục, mục sư làm cho mê muội từ khi còn nhỏ, chưa đủ khả năng hiểu biết, do đó bị giáo hội dẫn vào và giữ trong bóng tối của mê tín, của vô minh, và trong hệ thống toàn trị của giáo quyền Ca-Tô và của Kinh Thánh Tin Lành.

Số báo Newsweek nêu trên đã đưa ra vài con số nói lên tình trạng của Ki Tô Giáo hiện nay: năm 1900, 80% tín đồ Ki Tô là dân Âu Châu và Bắc Mỹ, ngày nay 60% là dân các nước Á, Phi, và châu Mỹ La-Tinh (Newsweek, Ibid.: In 1900, 80% of Christians were either Europeans or North Americans. Today, 60% are citizens of Africa, Asia and Latin America). Điều nguy hại mà Ki Tô Giáo đã gây ra ở Á, Phi là các giáo hội Ki-Tô ở những địa phương này lại bảo thủ hơn những giáo hội trong các nước văn minh tiến bộ Tây phương (Newsweek, Ibid.: a rift between the liberal churches of the West and the eruption of more conservative churches in Africa and Asia). Vì vậy chúng ta thường thấy một số không nhỏ tín đồ Ca-Tô cũng như Tin Lành Việt Nam vẫn còn mang tâm cảnh cuồng tín, hung hăng về vấn đề tín ngưỡng hơn bất cứ tín đồ Âu, Mỹ nào. Họ cuồng tín và hung hăng vì họ được giữ chặt trong cái mà Tiến sĩ Barnado gọi là “bóng tối dày đặc của ý thức hệ Rô-Ma” (in the thick darkness of Romanism), hoặc trong chủ trương “Đức Tin biện minh cho tất cả” (Justification by Faith) của Tin Lành, hoặc trong những “ốc đảo ngu dốt” (từ của Linh mục Trần Tam Tĩnh chỉ các cộng đồng Ca-Tô Việt Nam như Bùi Chu, Phát Diệm, Vĩnh Sơn, Hố Nai, Gia Kiệm v..v..). Họ được nhồi sọ từ nhỏ để tuyệt đối tin vào một cái bánh vẽ trên trời (A pie-in-the-sky) hay một ảo tượng không chắc chắn (an uncertain vision) bất kể đến cái lịch sử tàn bạo đẫm máu của giáo hội Ca-Tô Rô-ma mà họ được dạy là một giáo hội thánh thiện, cũng như lịch sử tàn bạo diệt chủng dân da đỏ của Tin Lành. Họ không biết đến và dù có biết cũng không quan tâm đến những triều đại dâm loạn của những giáo hoàng mà họ thường gọi là “đức thánh cha”, cũng như vấn đề đạo đức quá suy đồi trong hàng giáo phẩm như hàng trăm linh mục, giám mục, mục sư can tội cưỡng bách tình dục trẻ em phụ tế và nữ tín đồ đến độ giáo hội phải bỏ ra đến cả tỷ đô la, theo ước tính của Jason Berry, để bồi thường cho các nạn nhân; linh mục Andrew Greeley, giáo sư xã hội học tại đại học Chicago cho rằng có tới 25% linh mục đồng giống luyến ái (gay priests) nhưng học giả Ca-Tô Jason Berry bảo con số này thực sự cao gấp đôi; số linh mục nghiện rượu cũng không phải là nhỏ; số linh mục chết vì bệnh AIDS có tỷ lệ cao gấp từ 4 đến 8 lần tỷ lệ trong quần chúng; và gần đây nhất, vấn đề linh mục cưỡng bách tình dục, danh từ phổ thông là “hiếp dâm”, một số nữ tu Ca Tô (sơ) trong 23 quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, Ba-Tây, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Ái Nhĩ Lan, Ý v..v..,và cưỡng bách một số phải uống thuốc ngừa thai hoặc phá thai, đã bị phanh phui và phổ biến trên tờ National Catholic Reporter ở Kansas City ngày 16 tháng 3, 2001, và trên hãng thông tấn Adista ở bên Ý. Tòa Thánh Vatican, tuy đã được phúc trình về vấn đề này từ tháng 2, 1995, nay cực chẳng đã cũng phải lên tiếng thú nhận bằng lời lẽ mơ hồ là có vấn đề ô nhục nhất trong giới chăn chiên này, nhưng chỉ giới hạn trong một vùng địa dư mà thôi (only in a geographic region). Vậy mà họ vẫn tự nhận là họ#273;ang ở trong một “hội Thánh”, một “giáo hội thánh thiện, duy nhất, tông truyền v..v..” không chút ngượng ngùng. Họ không hề thắc mắc về một vấn đề căn bản: Tại sao cái mà họ gọi là “hội Thánh” của họ lại có thể có một lịch sử tàn bạo, đẫm máu, ô nhục, kéo dài suốt 20 thế kỷ cho đến tận ngày nay?

Người Việt Nam chúng ta, hơn ai hết, nếu không muốn bị mang tiếng là lạc hậu, chậm tiến, và bị rơi vào những cảnh suy đồi đạo đức của những kẻ buôn thần bán thánh v..v.. thì chúng ta cần phải đề cao cảnh giác trước âm mưu truyền giáo sang Á Châu của Vatican và của Tin Lành. Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng quyền tự do tín ngưỡng của con người và quyền tự do truyền đạo bằng những phương cách có tính cách xúc phạm đến mọi nền văn hóa phi-Ki-Tô của Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành. Thật vậy, Giáo hoàng Ca-Tô đã thú nhận gần đây trong những lời xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội Ca-tô ngày 12 tháng 3, 2000: “Chúng tôi xin được tha thứ cho những tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.

Nhưng chỉ vài tháng sau khi xưng thú 7 núi tội lỗi cùng thế giới, như tự tát vào chính mặt mình, ngày 5 tháng 9, 2000, Hồng Y Ratzinger, với sự đồng ý của Giáo Hoàng John Paul II, đã tung ra tài liệu “Dominus Jesus” mang hình thức tuyên ngôn dài 36 trang. Trong tài liệu này có hai điểm nổi bật gây nhiều dư luận trên thế giới, một liên quan đến các tôn giáo phi-KiTô, và một liên quan đến khả năng trung gian cứu rỗi duy nhất của giáo hội Ca-Tô:

1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)

2. “Giáo hội Ca-Tô Rô-ma là phương tiện duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity)

Hai điểm trên chứng tỏ giáo hội Ca-Tô không thực tâm trong vấn đề xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ, và ý muốn thống trị, thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo phi-KiTô vẫn là chỉ tiêu của giáo hội trong sách lược bành trướng đạo sang Á Châu.

Sách lược truyền đạo của Tin Lành cũng tương tự như của Ca-Tô. Họ vẫn tin tưởng rằng những điều “Thánh Kinh viết rằng…” phải là tuyệt đối, không thể sai lầm, và cũng dùng cùng những thủ đoạn của Ca-Tô giáo: xuyên tạc, hạ thấp tất cả các tín ngưỡng dân gian phi Ki-Tô và những nền văn hóa phi Ki-Tô.

Chúng ta cũng cần phải ý thức được rằng, Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo cũng như Tin Lành, đang lạm dụng và núp sau chiêu bài “Nhân quyền” và dựa vào ưu thế kinh tế và quân sự của các cường quốc AⵠMỹ để truyền đạo trong những quốc gia mà họ có thể ép được. Họ không dám đụng tới khối Hồi Giáo hay Do Thái, những khối tuyệt đối không nhân nhượng về vấn đề tự do truyền đạo. Họ cũng không dám đụng tới Trung quốc, một quốc gia vĩ đại với gần một tỷ rưỡi dân, có tiềm lực kinh tế và quân sự không thể coi thường, và có một chính sách rõ rệt để ngăn chận và kiểm soát sự tự do truyền giáo. Nhưng họ lại khai thác sự yếu kém kinh tế của các nước nhỏ ở Á đông và tính dễ dãi của những dân tộc trong vùng này, như Thái Lan và Việt Nam, để thực hiện ảo vọng Ki Tô hóa các quốc gia này. Việt Nam là mục tiêu hàng đầu vì nơi đây Vatican đã có sẵn một lực lượng khoảng từ 5 đến 7 triệu giáo dân phần lớn nổi tiếng cuồng tín, cực đoan, và hoàn toàn lệ thuộc Vatican. Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca-Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ.

Ngoài ra, để đối phó với sách lược đang được thi hành hiện nay của Ca Tô và Tin Lành: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc bôi nhọ lịch sử, văn hóa Việt Nam, điển hình là cuốn sách với cái tên quái gở “Tổ Quốc Ăn Năn” của Nguyễn Gia Kiểng, một tín đồ Ca-Tô, đồng nhất hóa hành động hay tư tưởng của một vài cá nhân trong lịch sử Việt Nam với Tổ Quốc Việt Nam, hoặc cuốn Hành Hương Đất Phật của một “trí thức Ca-Tô” khác, Nguyễn Kim Khanh với bút hiệu Phan Thiết, mà nội dung chỉ để xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo qua một kiến thức rất hời hợt về Phật Giáo. Song song với những hoạt động văn hóa một chiều của Vatican, Tin Lành cũng tung ra một loạt những bài viết, phần lớn là bịa đặt, để đánh bóng Tin Lành và cùng lúc hạ thấp Phật Giáo. Chúng ta có thể kể những bài của Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc trong mucsu.net, hay cuốn “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá” của Huệ Nhật mà giá trị không thể xếp vào hạng trí thức. Những tác giả thuộc loại nô lệ trí thức này cũng còn theo sách lược toàn cầu của Vatican và Tin Lành, xuyên tạc, bóp méo lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài như “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, nhưng vẫn khăng khăng bám chặt vào “chân lý về Chúa KiTô đấng trung gian duy nhất, vẫn là và sẽ mãi mãi là một tín điều, và không thể chấp nhận sự thỏa thuận hay dung hòa nào cả”. Chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí. Nếu không muốn mang tội với dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần đẩy mạnh nỗ lực mở mang dân trí. Đây chính là sách lược then chốt để ngăn chận sự xâm nhập văn hóa Việt Nam qua những luận điệu mê hoặc hoang đường của Ki Tô Giáo, đồng thời là cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà.

Cuốn sách này được viết ra không ngoài mục đích đóng góp một phần vô cùng nhỏ nhoi trong chiều hướng mở mang dân trí bằng cách đưa ra những sự thực về con người của Giê-su cũng như những lời giảng dạy của Giê-su trong Thánh Kinh, những lời không mấy khi được các linh mục hay mục sư diễn giảng trong nhà thờ, hoặc chỉ được diễn giải theo lý luận thần học của giáo hội, nhiều khi rất mâu thuẫn và phi lý, trước đám tín đồ thấp kém đã bị cấy vào đầu óc những niềm tin tôn giáo từ khi còn nhỏ.

Hiện nay trong thế giới Âu Mỹ chúng ta thấy tràn ngập những tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Giê-su. Tác giả những thiên khảo cứu này đều là những bậc có uy tín trong giáo hội cũng như ngoài giáo hội. Họ gồm có các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Linh Mục, giới trí thức trong Giáo hội, cùng những chuyên gia, học giả, giáo sư đại học, nhà thần học v..v.. mà truyền thống tín ngưỡng gia đình và xã hội của họ là Ki Tô Giáo.

Cuốn sách này chỉ có thể trình bày phần nào những kết quả nghiên cứu của các học giả nói trên. Độc giả có thể tham khảo những cuốn sách liệt kê trong phần Tài liệu Tham Khảo nếu muốn biết thêm chi tiết về những chủ đề nêu trong sách. Không có lý do gì mà người Việt chúng ta lại không được biết và đọc những tài liệu này. Tín đồ Ki Tô cần phải đọc để biết về thực chất tôn giáo của họ. Người ngoại đạo càng cần phải đọc hơn để khỏi bị lừa dối bởi những điều hoang đường sai sự thực.

Nội dung cuốn sách này là trình bày cùng quý độc giả hình ảnh thực sự của Giê-su qua một số tài liệu nghiên cứu, phân tích mới nhất của các chuyên gia về Ki Tô Giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, và tuyệt đại đa số vẫn nằm trong truyền thống tôn giáo, văn hóa Tây phương. Hình ảnh này sẽ cho chúng ta biết Giê-su thực sự như thế nào, sống trong hoàn cảnh nào, chịu ảnh hưởng của những tư tưởng nào v..v.. Cuốn sách này cũng phân tích những điều giảng dạy điển hình của Chúa Giê-su được ghi trong Thánh Kinh, và từ những thông tin trong phần nghiên cứu về con người Giê-su ở trên, chúng ta mới có thể biết rõ chủ ý của Giê-su nằm trong những điều giảng dạy. Cho nên cuốn sách này sẽ gồm có hai chương:

Chương 1: Giê-su là ai?
Chương 2: Giê-su giảng dạy những gì?

Ngoài ra trong phần Phụ Lục, tôi cũng xin cống hiến quý độc giả vài nét về Vua David, người mà các nhà thần học trong giáo hội Ca-Tô thường hãnh diện khoe rằng Giê-su thuộc dòng dõi ông Vua này, và dạy các tín đồ hàng ngày cầu nguyện:”Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David.” (Trích dẫn từ Kinh Nhựt Khóa của Công giáo).

http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/tcn_jesusintro.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 13, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: