RSS

Giê-su là ai? đã giảng dạy những gì? (2)

13 Jul

CHƯƠNG I
GIÊ-SU LÀ AI?

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

(Russell Shorto in “Gospel Truth”)

Như là một định chế trong thế giới này, Vatican đã thông thạo những phương pháp biến chế, xào xáo sự thực bằng những cách lạ lùng để thúc đẩy chương trình toàn cầu  của mình.  Vatican đã thông thạo cách che dấu lịch sử, khai thác sự ngu dốt  của con người, và ngụy trang những chính sách   phi-dân chủ của mình…

(As an institution in this world the Vatican has learned to manipulate and manage truth in strange ways in furthering its world-wide program.  It has learned to shade history, exploit human ignorance, and disguise its undemocratic policies…)

(Paul Blanshard, in “The Management of Truth: The Vatican”)

Ki-Tô Giáo nói chung, đặc biệt là Giáo-hội Ca-Tô Rô-Ma (phiên âm từ “The Roman Catholic Church”) mà người Việt Nam thường biết dưới cưỡng từ quen thuộc là Giáo Hội Công Giáo La-Mã, đã thành công trong việc tạo dựng lên một hình ảnh của Giê-su, đối tượng của một đức tin thuộc loại “Tin là một cách sống, chết; không liên quan gì đến cái biết, cái hiểu.” (Đỗ Mạnh Tri, trong cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng”) trong đám tín đồ đông đảo, gần 2000 năm qua.  Hình ảnh Giê-su mà Giáo hội cấy vào đầu tín đồ rất xa với sự thực, những sự thực không nằm trong sự hiểu biết của tín đồ, vì Giáo hội cũng đã thành công trong việc biến tín đồ thành những thuộc hạ với tâm cảnh nô lệ, hoàn toàn tuân phục Giáo hội. Trong bức “Thư Chung Năm 2001” của “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam” gửi “Cộng Đồng Dân Chúa” để họ “Được Sống Dồi Dào”, mục 4, các giáo dân được khuyến khích phải “quên mình trong vâng phục” theo đúng Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 44, nghĩa là phải tuyệt đối vâng phục những điều “Giáo hội dạy rằng…”.  Do đó, bất cứ Giáo hội giảng dạy ra sao, bất kể những điều   giảng dạy này có đúng sự thực hay không, có thuận lý hay không, có hợp  với  trình  độ hiểu  biết   của nhân  loại  ngày  nay  hay không v..v.., tín đồ đều phải vâng phục và tin theo.  Đây là truyền thống tín ngưỡng của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Thật vậy, Truyền thống trong Ca-Tô Giáo Rô-ma được tóm tắt trong câu (J. Sheatsley, The Pope’s Catechism, p.80):

Tín đồ Ca-Tô phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh.

Vì Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

(A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not.

Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

Bản chất của Tin Lành cũng không khác gì Ca-Tô Giáo.  Họ chỉ thay những lời “Giáo hội dạy rằng..” của Ca-Tô Giáo bằng câu “Thánh Kinh viết rằng…” và điều kiện tiên quyết để theo Tin Lành là phải tuyệt đối tin vào Thánh Kinh và huyền thoại cứu rỗi của Giê-su. Trong Tin Lành, thẩm quyền của Giáo hội trong Ca-Tô Giáo được thay thế bằng thẩm quyền của Thánh Kinh. Mục sư Tin Lành Rubem Alves viết trong cuốn “Protestantism and Repression”, trang 62 như sau về đức tin trong đạo Tin Lành: “Nếu những sự kiện khoa học, nhân văn, xã hội v..v.. hay thực tế ở ngoài đời (real life) mà trái ngược với Thánh Kinh thì những sự kiện này đương nhiên phải dẹp bỏ.” (If the facts oppose the text (of the Scriptures), abolish the facts).   Nếu khoa học mà phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học tốt (Good science).  Nếu khoa học mà không phù hợp với Thánh Kinh thì đó là khoa học xấu (Bad science).  Truyền thống trong Tin Lành cũng là phải tuyệt đối tin rằng con người sinh ra trong tội lỗi (born in sin) và do bản chất đó, con người không thể làm gì tốt (by nature, incapable of doing good),  phải bị đày đoạ vĩnh viễn (To be a sinner is to be destined to eternal damnation), và cách duy nhất để được cứu rỗi là phải tin vào quyền năng của Giê-su (Justification by Faith). Vì vậy, Rubem Alves viết: “Chúng ta không bao giờ thấy Tin Lành giải thích hay biện minh cho thẩm quyền của Thánh Kinh bằng sự hiểu biết hay xuyên qua những thực tế ở ngoài đời. (Ibid., p.34: We will never see Right Doctrine Protestantism trying to explain or justify biblical authority in terms of understanding or comprehension of existence that it offers.)

Do đó, thảm trạng của nhân loại ngày nay là, gần một phần tư dân số trên thế giới vẫn tiếp tục sống trong bóng tối của một ý thức hệ mà thực chất không còn phù hợp với trình độ trí thức của con người trong thời đại thông tin điện tử này.  Họ là nạn nhân của một nền Thần học tinh vi, dựa trên nhiều ngụy tạo và gian dối, một nền Thần học có tác dụng giữ họ trong bóng tối của đức tin thời Trung Cổ. Luận cứ này sẽ được chứng minh trong những phần sau của cuốn sách này.

Cho nên, nếu chúng ta đặt một câu hỏi then chốt: Giê-su là ai? thì câu trả lời thật là dễ dàng đối với những tín đồ Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành: “Chúa tôi.”, vì họ chỉ được dạy như vậy và tin có vậy.  Nhưng nếu chúng ta hỏi tiếp: “Chúa tôi là ai?” thì có lẽ tín đồ Ki Tô Giáo sẽ không trả lời vì không biết trả lời ra sao.  Nhưng phần chắc là, do được dạy nhồi sọ từ nhỏ, họ sẽ nhìn chúng ta với một cặp mắt khinh khi,  cho rằng chúng ta đích thật là những kẻ mọi rợ, chưa biết đến “tin mừng phúc âm.” trong khi họ chưa bao giờ đọc đến phúc âm và cũng không biết trong phúc âm có những gì, ngoài vài điều vụn vặt chọn lọc được rao giảng trong nhà thờ, và trong sách báo tuyên truyền một chiều của Ki-Tô giáo.   Chỉ có điều, đối với thiểu số trên thế giới thì phúc âm, hay nói cho đúng hơn, những điều mê tín cách đây 2000 năm của dân tộc Do Thái, quả mang đến một tin mừng: “cứ tin ở Chúa thì sau khi chết phần hồn sẽ được lên thiên đường ở cùng Chúa, và đến ngày phán xét cuối cùng, thì Chúa sẽ làm cho xác chết của mình sống lại đoàn tụ với linh hồn”.  Nhưng đối với đa số trên thế giới hiện đại có chút ít đầu óc thì chuyện “linh hồn lên thiên đường và xác chết ngày sau sống lại” thuộc loại chuyện “Chú Cuội ngồi trên cung Hằng”, vì “cứ tin ở Chúa” chỉ có thể áp dụng cho con người sinh sau Chúa, nghĩa là cách đây khoảng 2000 năm, trong khi lịch sử nhân loại đã trải dài ít ra là vài triệu năm.

Có lẽ tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô Giáo không hề đọc đến 3 tác phẩm nhan đề Giê-su là ai?, trong số hàng trăm tác phẩm khác, mà nội dung là kết quả nghiên cứu về nhân vật Giê-su trong lịch sử Ki Tô Giáo.  Tác giả 3 tác phẩm nghiên cứu về cùng một chủ đề này là hai học giả Ki-Tô: Colin Cross và Thomas Wright, và Linh mục Ca-Tô John Dominic Crossan, giáo sư thần học tại đại học De Paul ở Chicago trong 26 năm.  Ba tác phẩm này cùng với nhiều tác phẩm nghiên cứu khác ngày nay đã có thể cho chúng ta một cái nhìn về nhân vật Giê-su hoàn toàn khác với hình ảnh cùng những thuộc tính mà các giáo hội đã cấy vào đầu óc các tín đồ về Chúa của họ.  Ngay cả mặt mũi thực sự của Giê-su cũng được đài BBC dùng  máy điện toán tái tạo dựa trên những mẫu sọ người Do Thái cách đây 2000 năm, và những hình vẽ người Do Thái cho đến thế kỷ thứ 4.  Hình ảnh gần đúng với sự thực này đã được đăng trên báo chí, và chương trình “Dateline NBC” của đài truyền hình NBC ngày 11 tháng 4, 2001 cũng đưa lên cho cả thế giới coi.  Hình ảnh này cũng được đài TV Discover loan truyền cho thế giới coi tối ngày 15 tháng 4, 2001, trong cuốn phim khảo cứu “Jesus: The Complete Story”, cùng với những chi tiết đối ngược với những luận điệu thần học của giáo hội.  Theo các khoa học gia thì hình ảnh Giê-su mà chúng ta thường thấy trên các hình vẽ, tượng hình v..v.. ngày nay chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của các nghệ sĩ (Artists’ fantasies) thuộc giống dân da trắng, vì sự thực là không có một tài liệu nào cho biết hình dáng Giê-su ra sao.  Nhưng với kỹ thuật tái tạo trong khoa học ngày nay, người ta đã có thể tái tạo khuôn mặt của Giê-su một cách sát với thực tế nhất.  Khuôn mặt này trông thô lỗ, râu tóc quăn, da ngăm ngăm, mũi to, môi dày v..v.., như chúng ta thấy ở đầu cuốn sách này, không có gì giống với những hình ảnh do người da trắng tạo ra theo sự tưởng tượng của họ.  Sự tái tạo khuôn mặt Giê-su của đài BBC đã gây nên nhiều phản ứng trong giới da trắng vì theo quan niệm của họ, Giê-su phải là người da trắng, mặt mũi gọn ghẽ như hình ảnh mà chúng ta thường thấy trong các xã hội Âu Mỹ..  Trong tờ Chicago Tribune ngày 13 tháng 4, 2001, Brad R. Braxton viết: “Vấn đề không phải là có lẽ Giê-su có tóc quăn, mũi lớn, môi dầy, da đen mà là tại sao hình ảnh này lại thu hút sự chú ý (phản đối) của một số người da trắng… Trong nhiều thế kỷ, dân da trắng đã hưởng lợi thế về tôn giáo, tâm lý, chính trị và kinh tế vì đã vẽ ra một vị thần theo hình ảnh của họ.  Vẽ ra chân dung của Giê-su như là một người da trắng vốn không phải là điều khó hiểu.  Đó chỉ là thần học dưới dạng nghệ thuật.” (So the news is not that Jesus probably had curly hair, a broad nose, thick lips and dark skin, the news is why this is so arresting to some white people…For centuries, white people have enjoyed the religious, psychological, political and economic advantages of having the divine cast in their image.  The depiction of Jesus as a white man is not inherently problematic.  It is theology in the form of art.)

Vậy thì “Giê-su là ai?”.  Cho đến thế kỷ 16, hầu như toàn thể Á Châu chẳng có mấy người biết Giê-su là ai.  Còn ở Âu Châu thì không một ai dám đặt ra câu hỏi này và không một ai dám phê phán bình luận cuốn Thánh Kinh vì sợ bị tù đầy, tra tấn và mang đi thiêu sống.  Chúng ta nên nhớ, những tòa hình án xử  Dị Giáo của giáo hội Ca-Tô, vì thế giới loài người càng ngày càng văn minh hơn, do đó quyền lực của giáo hội cũng càng ngày càng suy sụp, chỉ được dẹp bỏ vào khoảng giữa thế kỷ 19, sau khi đã tra tấn và giết hại 11 triệu người “dị giáo”, và “Thánh bộ” (Holy Office) cầm đầu các tòa án xử dị giáo đã được biến thể, đổi tên thành Thánh Bộ Truyền Bá Giáo Lý Về Đức Tin, ngày nay do “hồng y thiết giáp” Ratzinger đứng đầu.

Sự tiến bộ trí thức là một định luật thiên nhiên của nhân loại. Dù giáo hội Ca-Tô đã tìm hết cách và xử dụng tối đa mọi quyền lực thế gian trong suốt 1500 năm, từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 19, với những biện pháp dã man, tàn bạo nhất để ngăn chận sự tiến bộ này, cuối cùng giáo hội cũng  phải đầu hàng trước những bước tiến trí thức của loài người.  Thật vậy, ngay từ 1760, Hermann Samuel Reimarus, giáo sư ngôn ngữ Á Đông tại đại học Hamburg bên Đức, đã viết một cuốn sách đưa ra nghi vấn về sự thực lịch sử viết trong các phúc âm.  Vì sợ bị giáo hội trả thù, ông ta đã xếp đặt để cho tác phẩm của ông được xuất bản sau khi ông ta chết.  Rồi cho đến năm 1835, Giáo sư Thần học David Friedrich Strauss cho ra đời cuốn Khảo Xát Kỹ Cuộc Đời Của Giê-su (Life of Jesus Critically Examined) trong đó tác giả dùng những phương pháp phân tích để đi tới kết luận: “các phúc âm không phải do các tông đồ của Giê-su viết mà là do những tín đồ Ki Tô về sau, những người đan lẫn những truyền thuyết, những điều tưởng tượng và sự kiện vào với nhau.”(..the gospels were written not by followers of Jesus but by later Christians who wove fact, legend, and fantasy together).    Sau đó Strauss bị cấm dạy môn Thần học cho đến khi chết.  Chúng ta có thể đọc tóm tắt những tác phẩm của Reimarus và Strauss trong cuốn sách được coi là làm “lung lay thế giới thần học” (..it rocked the theological world) vào đầu thế kỷ 20, Tìm Kiếm Nhân Vật Giê-su Lịch Sử (The Quest of The Historical Jesus), của một tác giả nổi tiếng trên toàn thế giới, Y Khoa Bác Sĩ Albert Schweitzer.  Ngoài bằng bác sĩ, Albert Schweitzer còn có hai bằng cấp khác: tiến sĩ Thần học, và tiến sĩ Triết Học.

Bước sang thế kỷ 20, sự khám phá ra những cuộn kinh nơi Biển Chết (The Dead Sea Scrolls) song song với kỹ thuật định tuổi vật chất cùng nhiều khám phá khác trong ngành khảo cổ đã giúp cho những nhà nghiên cứu rất nhiều trong công cuộc đi tìm những sự thực trong Thánh Kinh.   Rồi đến thập niên 1960, những khoa dạy môn Thần học trong các trường đại học Ki Tô bắt đầu xuống dốc vì càng ngày càng ít người học, nhiều học giả đã bỏ các trường đại học Ki Tô để sang dạy tại các trường đại học công, nơi đây họ có nhiều tự do hơn trong việc khảo cứu.

Tất cả những sự kiện trên đã làm động cơ thúc đẩy cho công cuộc nghiên cứu phúc âm và về nhân vật Giê-su phát triển mạnh mẽ.   Điển hình là Hội Nghiên Cứu Giê-su (The Jesus Seminar) gồm nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, đã phối hợp các kỹ thuật nghiên cứu tân tiến nhất như khảo cổ, cổ sinh vật học, phương pháp định tuổi vật chất, với phương pháp phân tích ngữ học, cổ ngữ học, xã hội học, sử học v..v.. để phân tích từng câu, từng lời, từng sự kiện viết trong phúc âm.  Một khuôn mặt đặc biệt trong ngành nghiên cứu Tân Ước lại chính là một linh mục Ca-Tô: John P. Meier, giáo sư Thần học. Trong tác phẩm Một Người Do Thái Ở Ngoài Lề, Không Đáng Kể: Nghĩ Lại Về Nhân Vật Giê-su Lịch Sử (A Marginal Jew: Rethinking The Historical Jesus), tập 1 và 2, nhà xuất bản Doubleday tại New York phát hành năm 1991 và 1994, với sự duyệt và phê chuẩn (imprimatur) của Vatican, tuy còn dè dặt trong những điểm tế nhị khác thuộc về đức tin Ca-Tô, linh mục Meier đã thẳng thắn luận về những bằng chứng chứng tỏ Giê-su là đứa con hoang, đã lấy vợ, và nhiều chủ đề khác có thể gây ngỡ ngàng trong một giáo xứ (He discusses evidence that the historical Jesus was illegitimate, that he was married, and various topics that might raise eyebrows in a parish house).  Hơn thế nữa, Meier đồng ý với các đồng nghiệp trong ngành, bác bỏ những chuyện có tính cách siêu nhiên trong Tân Ước như là sự thực lịch sử  – Giê-su đi trên sóng, biến đổi nước thành rượu, và các phép lạ khác   v..v..  Linh mục Meier cũng bàn đến một vấn đề quan trọng khác liên hệ đến tín lý then chốt “Maria đồng trinh” của Ca-Tô giáo, và đưa ra nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ là bà Maria đã sinh nở ít ra là 7 lần, với Giê-su là đứa con đầu lòng.   Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô không hề biết đến những kết quả nghiên cứu sâu rộng này.

Vậy kết quả những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Giê-su ra sao?  Cho đến nay, các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ngoài Ki Tô giáo đã có thể đưa ra một giải đáp khá chính xác cho câu hỏi “Giê-su là ai?”.  Những kết quả nghiên cứu tổng hợp về nhân vật Giê-su đã cho chúng ta một con người lịch sử hoàn toàn khác với hình ảnh Giê-su mà các giáo hội Ki Tô đưa ra trước đám đông tín đồ thấp kém.  Tại sao vậy?   Chúng ta có thể đọc trong cuốn Sự Thật Về Phúc Âm của Russell Shorto, một học giả đã nghiên cứu và duyệt qua những công cuộc nghiên cứu về nhân vật Giê-su trong hai thế kỷ 19 và 20,  những đoạn như sau:

Bữa ăn chiều cuối cùng, Sinh ra từ một trinh nữ, chết rồi sống lại:  những niềm tin chính của Ki Tô Giáo  đang bị thử thách từng điểm một.  Các học giả chuyên nghiên cứu Thánh Kinh – một thời đã là những người gìn giữ nền Thần học Ki Tô – ngày nay đang dùng khoa khảo cổ, cổ sinh vật học, ngữ học, khoa học điện toán, và ngay cả khoa vật lý các hạt nhỏ, để tìm hiểu vấn đề “Giê-su là ai?”  Kết quả là một sự duyệt lại tận gốc rễ Phúc âm và chuyện trong Phúc âm nay đã trở nên thật là rõ ràng nhưng lại làm cho một số người choáng váng bàng hoàng.

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu (như LM John Meier. TCN), cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại. 1

…Công cuộc nghiên cứu của Hội Nghiên Cứu Giê-su, và của tất cả những nhà nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay, biểu thị cho một sự chuyển hướng của các học giả chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh về tiêu chuẩn lương thiện văn hóa, lánh xa sự độc đoán của giáo hội.   Theo Funk (chủ tịch Hội Nghiên Cứu Giê-su. TCN), các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng (ảo tưởng tin rằng mình chính là con của Thần Do Thái và là đấng cứu tinh của dân Do Thái. TCN) – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.   Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. 2

Có ba chi tiết quan trọng trong đoạn tóm tắt kết quả nghiên cứu về nhân vật Giê-su của Shorto ở trên: 1) Phần lớn những điều mà ngày nay chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại; 2) Giáo hội và các bậc lãnh đạo trong giáo hội đã biết rõ sự thực trên; 3)   Chỉ có những tín đồ Ki-Tô, và có thể những bậc lãnh đạo Ki Tô trong các nước kém phát triển, hoặc một số người ngoại đạo không hề nghiên cứu về nhân vật Giê-su,  là vẫn còn tin rằng những gì giáo hội dạy về Giê-su đều là sự thực, và do đó vẫn tiếp tục sống trong bóng tối.

Phải chăng Shorto đã đưa ra những nhận định vô căn cứ?  Tuyệt đối không phải.  Chúng ta hãy xét đến vài kết quả nghiên cứu điển hình về nhân vật Giê-su của một số  giám mục, linh mục, học giả chuyên về tôn giáo:

1.  Trong cuốn Giê-su Là Ai ?, học giả Ki Tô Colin Cross viết như sau trong phần dẫn nhập:

Nhìn từ xa và xét về toàn thể, Giê-su ở Nazareth  có vẻ như là một nhân vật lịch sử hiển nhiên.  Nhưng khảo xát kỹ về bất cứ chi tiết nào cũng làm cho hình ảnh này mờ nhòa.  Lý do về sự bất minh này thật là hết sức đơn giản.  Đó là chúng ta không có bất cứ một tài liệu nào, thuộc bất cứ lãnh vực nào, về phần lớn cuộc đời của ông.  Ông ta không viết một cuốn sách nào.  Ngay cả hình dáng của ông ra sao cũng không ai biết.  Không có ngay cả một bằng chứng nào tự nó có giá trị để chứng tỏ là ông đã hiện hữu.  Những tài liệu hiện hữu, những phúc âm, chỉ viết về một phần nhỏ nhoi của đời ông và được viết theo quan điểm sùng bái cá nhân và nghi thức tôn giáo chứ không phải theo quan điểm sử học thông thường.  Trong những chuyện kể trong phúc âm có những điều bất phù hợp nghiêm trọng cũng như những điều rõ ràng là không thể xảy ra. 3

2. Mục Sư Ernie Bringas cũng viết như sau, trong cuốn Thi Hành Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Do Quyền Lực Thánh Kinh Gây Nên:

Điểm đồng thuận ngày nay là nhân vật lịch sử Giê-su –  những lời Giê su nói và những hành động Giê-su làm, và những biến cố xảy ra trong cuộc đời của ông – không thể xác định được chính xác.  Trong khi chúng ta biết tác giả của một phúc âm nhìn nhân vật Giêsu như thế nào như họ đã viết lại, và viết lại như thế nào, thường là chúng ta không thể đi quá những điều viết trong phúc âm để biết về chính con người thực của Giê-su.  Chúng ta không thể đoan quyết là những lời nào viết trong phúc âm về cuộc đời của Giê-su là đúng như sự thực. 4

3. Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi vị Giáo sư Thần học Ca-Tô (A Chair in Catholic Theology), viết trong phần dẫn nhập của cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con như sau:

Chúng ta vấp phải sự thực sau đây về nhân vật Giê-su.  Chúng ta không biết khi nào ông ta sinh ra và ở đâu cũng như khi nào ông ta chết.  Ông ta là một người không có một tiểu sử.  Chúng ta không biết những hoạt động của ông như là một thầy giảng trước quần chúng thật sự đúng là ở đâu và kéo dài bao lâu.  Nói cho thật đúng, chúng ta chẳng biết gì nhiều hơn là ông ta đã sinh ra đời, có người theo ông ta làm môn đồ, và ông ta bị hành quyết trên giá hình chữ thập – loại hình phạt của La Mã – và như vậy có một kết cục xấu số…

Ông Giê-su này không chỉ nằm sâu dưới đất ở Jerusalem (nghĩa là thực ra đã chết và chôn ở Jerusalem. TCN) mà còn ở dưới một núi những nghệ thuật tồi tệ, chuyện hoang đường, và cách diễn giải   của giáo hội. 5

4.  Học giả Andrew Harvey viết trong cuốn Con Của Người:

Không còn nghi ngờ gì nữa,  sự phân tích lịch sử đã chứng tỏ là các phúc âm không phải là những điều do Thần Ki Tô linh cảm hoặc là những điều trung thực do nhân chứng kể lại về cuộc đời của Giê-su, mà là những câu chuyện đã được gọt dũa cẩn thận, được xếp đặt để cho phù hợp với, hoặc cổ xúy những sở thích tôn giáo, nhân cách, nhóm người khác nhau trong những năm đầu đầy xúc động của Ki Tô Giáo.  Những phúc âm không phải là những tài liệu viết ra theo sự linh cảm trực tiếp của Thần thánh, hoặc những ghi chứng lịch sử rõ ràng; chúng không phải là những điều mạc khải trực tiếp của Thần Ki Tô hoặc là những chuyện do những nhân chứng, những người biết rõ Giê-su, muốn kể lại rõ ràng những kinh nghiệm của họ đối với Giê-su.  Được viết vào cuối thế kỷ đầu, chúng biểu thị và cô đọng những truyền thống trong những cộng đồng Ki Tô đầu tiên và từ từ  biến đổi trong khoảng 300 năm để thành những phúc âm ngày nay chúng ta có. 6

5.  Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà:

Giê-su được diễn giảng bởi những tín đồ Ki Tô lúc đầu theo những quan niệm về Thần Ki Tô mà họ tin tuyệt đối, dựa theo hình ảnh của một ông vua trên trời.  Điểm chủ yếu là hình ảnh Giê-su ngồi bên phải của cái ngai Chúa Cha ngồi trên trời.  Hình ảnh này phản ánh niềm tin huyền thoại phổ thông thời đó về một vũ trụ được coi như là một vương quốc.

Nhưng Giê-su đã được “sinh ra từ một người đàn bà”.  Sự sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết.   Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .  7

Rồi giám mục Spong đã vạch ra những luận cứ, nhiều khi rất mâu thuẫn, của giáo hội đưa ra để thay đổi những sự kiện trên như sau:

Một lần nữa, nghệ thuật diễn giảng lại được mang ra áp dụng.  Ông ta không phải là đứa con hoang, Thần Ki Tô là cha ông ta; Thánh Linh đã sinh ra ông ta. Ông ta không sinh ra ở Nazareth, mà sinh ra ở Bethlehem, thị trấn của David. Sự sinh ra ở Bethlehem  đã  được  tiên  đoán  bởi  nhà tiên   tri  Micah.  Ông ta  không phải không là ai cả, mà là thuộc dòng dõi vua David.  8

6.  Trong  cuốn  Giê-su Chính Gốc,  hai  tác giả Elmar R. Gruber và Holger Kersten viết:

Hầu như không có đề tài nào khác gây sôi nổi trong thế giới Tây phương như là nhân vật “Giê-su ở Nazareth”; hầu như không có đề tài nào khác đã đưa đến sự hiện hữu của nhiều cuốn sách như vậy, hoặc đến những sự tranh luận sôi nổi và nồng nhiệt như vậy.   Tuy vậy, nhân cách của con người Giê-su lịch sử được bao phủ bởi một bức màn đen tối dày đặc.  Trong 15 thế kỷ, chúng ta chỉ có những chuyện kể về Giê-su theo luận điệu thần học chính thức của giáo hội, viết ra với mục đích củng cố đức tin Ki-Tô cùng lôi cuốn người ngoại đạo vào Ki Tô giáo….

Trong thế kỷ 19, lần đầu tiên Tân Ước được đưa ra làm chủ đề nghiên cứu trí thức.  Đây là sự bắt đầu của công cuộc khảo cứu có hệ thống về cuộc đời của Giê-su.

Năm   1835  David  Friedrich  Strauss  đã  xuất  bản  một cuốn sách nhan đề Cuộc Đời Của Giê-su, gây nhiều ảnh hưởng.  Trang bị với những quan điểm phân tích thuần lý và với tinh thần không thỏa hiệp, Strauss đã thẳng thắn bác bỏ tích cách chính xác lịch sử của các phúc âm.  Đối với ông, những điều viết trong phúc âm chỉ là những  truyền thuyết và những chuyện sùng tín về hình ảnh con người Giê-su, lấy ý từ Cựu Ước.  Sự chống đối tính cách xác thực của phúc âm như trên còn đi xa hơn vào khoảng giữa thế kỷ 19.  Bruno Bauer loại hẳn hình ảnh của Giê-su trong công việc  nghiên cứu lịch sử, tuyên bố rằng nhân vật chính trong Tân Ước là một phát minh huyền thoại.  Giê-su và Paul (Phao Lồ) chỉ là những giả tượng văn chương; và Ki Tô Giáo được coi là tạo ra bởi một nhóm cuồng tín  pha chế đức tin xung quanh hai nhân vật phát minh từ những truyền thống tôn giáo Hi Lạp, Do Thái và La Mã.

Ngày nay chúng ta có đến hơn 80000 tác phẩm chuyên khảo về Giê-su, nhưng tác dụng của chúng để soi sáng nhân vật Giê-su lịch sử thật quả là vô cùng khiêm nhường.  Ai là Giê-su?  Ông ta sinh ra bao giờ?  Hình dáng ông ta ra sao?  Khi nào ông ta bị đóng đinh trên thập giá?  Bao giờ, ở đâu và ông ta chết như thế nào?  Tìm kiếm giải đáp cho những câu hỏi trên đã trở thành một vấn đề không giải quyết nổi.  Trong những cuốn sách viết trong hai thế kỷ đầu hầu như không có cuốn nào nhắc đến Giê-su như là một con người thực sự hiện hữu.  Những nguồn tài liệu về sau toàn là những tác phẩm thần học, dựa trên niềm tin không thắc mắc: Giê-su là con đấng Cứu Tinh (của dân Do Thái. TCN) và là con của Thần Gia-vê (thần của dân Do Thái. TCN).   Do đó, hầu như không có những tác phẩm thực sự vô tư về Giê-su, và cho tới ngày nay, công cuộc nghiên cứu trí thức cũng không ở vị thế có thể khẳng định là Giê-su sinh ra năm nào.  Hầu như không có tài liệu nào nói về cuộc đời niên thiếu của Giê-su, một giai đoạn quan trọng làm nền tảng tạo ra những cá tính của con người.  Ngay cả những chuyện kể về khoảng thời gian ngắn ngủi ông ta tiếp xúc với quần chúng cũng không nói gì nhiều về tiểu sử của ông ta.  Có vẻ như là ông ta không được các sử gia đương thời biết tới, hay ít nhất là không đáng để nhắc tới.   Vậy làm sao mà các sử gia này không hề biết tới những phép lạ hoặc những hiện tượng kỳ lạ như được kể trong phúc âm?  9

7.  Michael Martin trong cuốn Bản Án Chống Ki Tô Giáo viết:

Những phương pháp phân tích hiện đại về học thuật khảo cứu Thánh Kinh đã đặt vấn đề về tính cách xác thực của Thánh Kinh, nhất là Tân ước.  Trong ánh sáng của sự phân tích Tân Ước này, nhiều nhà thần học đã cho rằng người ta chẳng biết được bao nhiêu về Giê-su.  Thí dụ, W. Trilling cho rằng “không có một ngày tháng nào trong đời sống của Giê-su” có thể được khẳng định và J. Kahl đoan quyết rằng điều duy nhất ta biết về Giê-su là ông ta “đã hiện hữu trong một thời điểm mà chúng ta chỉ có thể biết một cách đại khái”.  Nhiều học giả khác cho rằng việc tìm kiếm một Giê-su lịch sử là điều vô vọng..

Sự phân tích về con người Giê-su lịch sử được tôn trọng nhất ngày nay là của G. A. Wells.  Wells nhấn mạnh rằng những nghi vấn về giá trị lịch sử của Giê-su của ông phần lớn dựa trên những quan điểm của các nhà thần học Ki Tô và các học giả chuyên về Thánh Kinh.  Những vị này đồng thuận chấp nhận rằng các phúc âm được viết trong khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi Giê-su mãn kiếp và bởi những tác giả vô danh không đích thân biết đến Giê-su.  Theo Wells thì những vị trên cũng thừa nhận rằng trong những chuyện kể về Giê-su, phần lớn là truyền thuyết và những chuyện trong phúc âm được viết theo động cơ thần học của những tác giả.  Ngoài ra, những bằng chứng trong phúc âm thuần túy là của Ki Tô Giáo. 10

Trên đây chỉ là vài nhận định tổng quát về tiểu sử  không rõ ràng của Giêsu.  Sở dĩ những học giả nghiên cứu về nhân vật Giê-su đưa ra những nhận định như trên là vì họ đã dùng những phương pháp khảo cứu phân tích khoa học trên mọi khía cạnh liên quan đến con người Giê-su, thí dụ như đối chiếu cổ sử, phân tích cổ ngữ, phân tích từng câu từng lời trong Thánh Kinh v..v.. Đi vào chi tiết và dựa trên Thánh Kinh, chúng ta còn thấy rõ ràng là không có một căn bản nào có tính cách thuyết phục để cho những người có đầu óc có thể biết được Giê-su là ai để mà tin, vì trong Thánh Kinh có quá nhiều điều mâu thuẫn về con người lịch sử Giê su.  Những chi tiết về một phần nhỏ, trong khoảng 3 năm cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi 33 năm của Giê-su được mô tả trong bốn Phúc Âm Matthew (Mã Thi Ơ), Mark (Mác-cô), Luke (Lưu Ca) , và John (Gioan), và những thư viết cho tông đồ của Paul (Phao Lồ). Nhưng chính những chi tiết này: khi sinh ra đời, gia phả, thời gian gần 3 năm đi giảng đạo, khi chết, đều hoàn toàn mâu thuẫn nhau.  Vì chúng hoàn toàn mâu thuẫn nhau, chứ không phải là bổ túc cho nhau theo như luận điệu bào chữa của một số tín đồ được dạy như vậy mà không tự chính mình đọc Thánh Kinh với một đầu óc suy luận, cho nên, chúng ta không thể dựa vào đâu để tin chi tiết nào thật, chi tiết nào giả.  Sau đây, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong Thánh Kinh liên quan đến sự sinh ra và gia hệ của Giê-su để cho quý độc giả thấy rõ vấn đề.

Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng, ngày nay những người nghiên cứu Tân Ước,  ở trong cũng như  ở ngoài giáo hội, đều đồng ý với nhau ở những điểm sau đây:

1.  Những thư của Paul được viết vào khoảng 20 năm sau khi Giê-su chết và không hề viết gì về  cuộc đời của Giê-su: nơi sinh, nơi giảng đạo, nơi bị hành hình v..v.. và còn viết rằng Giê-su là con của Joseph và Maria, một người đàn bà (born of a woman).

2.  Trong 4 phúc âm thì phúc âm Mark được viết sớm nhất, vào khoảng 40 năm sau khi Giê-su chết, và Mark cũng không viết gì về sự sinh ra của Giê-su từ một trinh nữ cũng như về gia hệ của Giê-su.

3.  Hai phúc âm Matthew và Luke được viết vào khoảng cuối thế kỷ đầu, nghĩa là khoảng 70 năm sau khi Giê-su chết.  90 phần trăm nội dung là lấy của Mark và thêm vào đó chuyện Giê-su được sinh ra từ Maria đồng trinh và viết về gia hệ của Giê-su.  Thêm vào với mục đích gì, ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đã rõ.

4.  Phúc âm John được viết vào đầu thế kỷ thứ hai, có thể gần 100 năm sau khi Giê-su chết, và cũng không viết gì về sự sinh ra của Giê-su.

5.  Cả 5 tác giả trên đều không phải là tông đồ của Giê-su, không trực tiếp biết Giê-su là ai, cho nên chỉ viết lại những chuyện đồn đại theo ý kiến và chủ đích riêng của mình.

Như trên đã nói, trong Tân Ước chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke là nói về sự sinh ra của Giê-su.  Phúc Âm Matthew (MaThiêu) kể như sau, Matthew 1: 18-24:

Sự sinh ra của Giê-su Ki Tô như sau: Sau khi mẹ Giê-su là Mary đính hôn với Joseph, trước khi họ giao hợp cùng nhau, người ta thấy bà có mang với Thánh Linh.

Chồng nàng, Joseph, là người tốt bụng, và không muốn nàng bị nhục trước công chúng, định kín đáo từ hôn.

Nhưng khi ông còn đang suy nghĩ về quyết định này, bỗng nhiên, một thiên sứ hiện ra trong một giấc mộng, nói rằng, “Joseph, con dòng David, đừng có sợ, cứ lấy Mary làm vợ, vì cái thai nàng mang trong bụng là của Thánh Linh.  Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai, ngươi hãy đặt tên cho nó là Giê-su, vì nó sẽ cứu dân của nó khỏi tội lỗi.

Việc xảy ra đúng như lời Thần Ki Tô tiên đoán qua nhà tiên tri:

“Này, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và họ  sẽ đặt tên cho hắn là Immanuel”, có nghĩa là “Thần ở cùng ta”.

Joseph tỉnh giậy, theo lệnh của thiên sứ, cưới Mary làm vợ, nhưng không giao hợp cùng vợ cho đến khi Mary sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Giê su.

Còn phúc âm Luke 1: 26- 33 thì thuật lại chuyện sinh ra của Giê-su như sau:

Qua tháng sáu, Thần Ki Tô sai thiên sứ Gabriel vào thành Nazareth, xứ Galilee, đến một trinh nữ đã hứa hôn với một người tên là Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Tên người trinh nữ là Mary.

Thiên sứ nói: “Hãy hoan hỉ lên, hỡi người được đặc ân, Chúa ở cùng nàng, phúc cho người đàn bà như nàng.”

Nhưng khi Mary thấy thiên sứ, không hiểu thiên sứ nói gì, và những lời chúc tụng kia có nghĩa gì.

Rồi thiên sứ nói với nàng, “Đừng sợ, Mary, vì Thần đã ban đặc ân cho nàng.  Và này, cô sẽ mang thai, và sinh ra một con trai và đặt tên nó là Giê-su.   Đứa trẻ đó sẽ thành vĩ nhân, và sẽ được gọi là con của đấng tối cao; và Thần sẽ cho hắn ngôi vị của David.  Hắn sẽ cai trị dân Do Thái (hậu duệ của Jacob)  mãi  mãi, và  nước hắn cai trị  sẽ bất diệt.

Thông điệp như trên của Thần Gia-vê qua thiên sứ thật ra chỉ do Luke bịa ra để khuyến dụ dân Do Thái tin theo Giê-su, vì những điều thiên sứ nói về Giê-su hoàn toàn sai với sự thực.  Giê-su chẳng bao giờ cai trị dân Do Thái và dân Do Thái cũng chẳng bao giờ chấp nhận Giê-su là Vua của dân Do Thái giống như David khi trước. Không những thế, dân Do Thái thời Giê-su còn cho ông ta là kẻ phỉ báng Thần Gia-vê, tự xưng là con của Thần, là Vua của dân Do Thái, là vị cứu tinh của dân Do Thái v..v..  Và cho đến ngày nay, dân Do Thái, dân được Thần Gia-vê chọn lựa làm dân của Thần (chosen people), vẫn không chấp nhận Giê-su, vì vậy mà suốt 2000 năm nay, giáo hội Ca-Tô mới thù hận và tìm mọi cách để bách hại dân Do Thái.  Vậy, nếu chúng ta đối chiếu lời của Thiên sứ, thay mặt Thần Gia Vê, trong đoạn loan báo cho Mary ở trên, với thực tế, thì chúng ta phải kết luận là những lời “tiên tri” của Thần Gia-vê hoàn toàn sai, vì không hề xảy ra. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những thuộc tính toàn năng, toàn trí của Thần Gia Vê mà giáo hội đã cấy vào đầu tín đồ hay không? Mặt khác, đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta thấy rằng chuyện thiên sứ “báo mộng” cho Joseph xảy ra khi Maria đã có mang được 6 tháng, và Maria không hề nói cho Joseph biết cái thai trong bụng mình từ đâu mà ra.  Tại sao Maria phải dấu chồng khi mà bà được ân sủng đặc biệt của Thánh Linh khiến bà mang thai?

Nhưng ở đây, tôi sẽ không đi vào công việc phân tích những đoạn trên trong Thánh Kinh.  Sự phân tích này, tôi đã trình bày tạm gọi là đầy đủ trong Chương 2 của cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản cuối năm 2000.  Tôi trích dẫn những đoạn trên trong phúc âm Matthew và Luke chỉ để chứng minh một sự mâu thuẫn cùng cực trong hai phúc âm trên, khi Matthew và Luke kể về dòng dõi, gia hệ của Giê-su, cho rằng Giê-su thuộc dòng dõi vua David, những chi tiết hoàn toàn bất phù hợp với chuyện Maria mang thai của Thánh Linh ở trên.

Thật vậy, theo Matthew 1:1-17 thì các thế hệ tiếp nối giòng họ Giê-su từ vua David như sau:

David, Solomon, Rehoboam, Abijah, Asa, Jehoshaphat, Jehoram, Uziah, Jotham, Ahaz, Hezekiah, Manasseh, Amon, Josiah, Jeconiah, Shealtiel, Zerubbabel, Abiud, Eliakim, Azor, Zadok, Akim, Eliud, Eleazar, Matthan, Jacob, Joseph, Jesus.(tất cả là 27 thế hệ.)

Nhưng theo Luke 3:23-28 thì các thế hệ tiếp nối từ vua David tới Giê-su như sau:

David, Nathan, Matthata, Menna, Melea, Eliakim, Jonam, Joseph, Judah, Simeon, Levi, Matthat, Jorim, Eliezer, Joshua,, Er, Elmadam, Cosam, Addi, Melki, Neri, Shealtiel, Zerubbabel, Rhesa, Joanan, Joda, Josech, Semein, Matthathias. Maath, Naggai, Esli, Nahum, Amos, Matthathias, Joses, Jannai, Melki, Leci, Matthat, Eli, Joseph, Jesus. (tất cả là 42 thế hệ.)

Chúng ta nên để ý rằng, trong 2 danh sách trên kể về dòng dõi của Giê-su, chỉ có ba tên giống nhau (chữ đậm), còn thì hoàn toàn khác biệt,   và Matthew kê ra 27 thế hệ trong khi Luke kê ra 42 thế hệ.  Nếu những tên thế hệ đều giống nhau thì chúng ta có thể cho rằng Matthew bỏ sót, liệt kê cách quãng những thế hệ tiếp nối từ David đến Giê-su.  Nhưng rõ ràng là không phải vậy.

Một vài nhà thần học Ki Tô đã đưa ra một cách giải thích có tính cách ngụy biện nhưng không được thông minh cho lắm.  Đó là gia phả của Giê-su theo Luke là theo dòng họ mẹ, nghĩa là Maria, chứ không phải là dòng họ bố là Joseph.  Nghiên cứu về cổ sử và truyền thống Do Thái, các học giả đã bác bỏ lý luận ngụy biện này.  Thật vậy, cả Matthew và Luke đều ghi Giê-su thuộc dòng dõi cha là Joseph chứ không ghi Giê-su thuộc dòng họ mẹ là Maria.  Ngoài ra, luận điệu ngụy biện trên không hề để ý đến sự kiện là gia phả của Maria trong Luke, nếu thực là như vậy, lại nhiều hơn gia phả của Joseph tới 15 thế hệ, tính trung bình từ 20 đến 30 năm một thế hệ thì sự khác biệt này, bắt đầu từ vua David, là từ 300 năm đến 450 năm.  Nhưng khi hứa hôn với Joseph thì Joseph đã nhiều tuổi, còn Maria mới có khoảng 14, 15 tuổi.  Kết luận: dòng họ Joseph toàn những người sống dai, còn dòng họ Maria toàn những người chết non, chết yểu. Đó là những điều mâu thuẫn phi lý mà giáo hội không sao giải thích nổi.  Tuy vậy mà nhiều tín đồ Ca Tô Việt Nam vẫn tin và viết báo ngụy biện là gia phả của Giê-su trong Luke là theo dòng mẹ.

Vậy khi những tín đồ Ki Tô nói đến “Chúa tôi” thì “Chúa tôi” của họ là Giê-su nào, và Giê-su nào của Matthew, hay Giê-su nào của Luke?  vì cả Matthew lẫn Luke  đều viết Giê-su vừa là con của Thánh Linh vừa thuộc dòng dõi vua David, hai điều hoàn toàn mâu thuẫn có tính cách loại trừ hỗ tương, có cái này thì không thể có cái kia?  Có lẽ họ chẳng bao giờ bận tâm thắc mắc đến mâu thuẫn trên, vì Giáo hội dạy rằng, mọi thắc mắc về Chúa Giê-su là một trọng tội, phải bị đầy đọa nơi hỏa ngục trong ngọn lửa thiêu đốt vĩnh hằng.

Thomas Paine đã phân tích sự bất phù hợp trên  trong cuốn Thời Đại Lý Trí, một cuốn sách đã giữ một địa vị cao trong nền văn học Tây phương từ thế kỷ 19 đến nay, về nhân vật Giê- su:

Lịch sử Giêsu KiTô được viết trong 4 cuốn mà người ta cho là Matthew, Mark, Luke, và John viết. Chương đầu trong Matthew bắt đầu bằng gia hệ của Giêsu KiTô, và trong chương 3 của Luke cũng có gia hệ của Giêsu KiTô.  Nếu 2 gia hệ này phù hợp nhau, chúng cũng không chứng minh được là đúng vì đó có thể là một gia hệ đã được đặt ra; nhưng vì chúng mâu thuẫn nhau về từng chi tiết một, điều này chứng tỏ một cách tuyệt đối là chúng đều là giả.

Nếu Matthew đúng thì Luke phải sai; nếu Luke đúng thì Matthew phải sai; và vì không thể dựa vào đâu để tin ai đúng hơn ai, cho nên không dựa vào đâu để mà tin ai; và nếu chúng ta không thể tin được điều đầu tiên mà họ đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được những điều họ nói về sau?  Nếu chúng ta không thể tin họ về gia hệ của Giêsu mà họ đưa ra, làm sao chúng ta có thể tin được khi họ nói với chúng ta những điều kỳ lạ như Giê su là con của Thần sinh ra bởi một hồn ma, và một thiên thần đã bí mật loan báo sự này cho mẹ của Giêsu?  11

Lý lịch không rõ ràng của Giê-su, do đó, là một lợi điểm để cho Giáo hội khai thác và mê hoặc tín đồ, vì Giáo hội muốn giải thích thế nào cũng được, đặt ra chuyện nào cũng xong, và với phương   pháp nhồi sọ tín đồ ngay từ khi còn nhỏ, uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ thống quyền lực trong Giáo hội, tín đồ trở thành những người bị điều kiện hóa, không còn khả năng suy luận, chỉ còn biết tin theo một cách mù quáng mọi điều diễn giảng của Giáo hội, bất kể những điều này vô lý đến đâu, mâu thuẫn đến đâu, không hề thắc mắc.  Họ đáng thương hơn là đáng trách.  Và sự kiện thê thảm này không chỉ có trong đám tín đồ đầu óc thấp kém mà còn có thể thấy rõ trong một số được coi là trí thức, giữ chức vụ cao trong Ca-Tô giáo Việt Nam, nếu chúng ta đọc về đức tin Ca-Tô mà họ trình bày trong những bài viết hay tác phẩm của họ.   Sau  đây là một thí dụ điển hình:

Trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng: Các Bài Giảng Tĩnh Tâm Cho Đức Thánh Cha Và Giáo Triều Roma của TGM Nguyễn Văn Thuận, Công Đoàn Đức Mẹ xuất bản năm 2000, tác giả mở đầu cuốn sách bằng Bài Suy Niệm Dẫn Nhập: Gia Phả Đức Giêsu Kitô Đứng Trước Mầu Nhiệm Thiên Chúa, trang 25-34.  Tác giả Nguyễn Văn Thuận chỉ nhắc đến gia phả Giê-su trong Matthew mà thôi và đặc biệt là, để biện minh cho những sự kiện được viết trong Thánh Kinh là trong gia phả của Giê-su có nhiều người vô đạo đức, phi luân, tác giả đã đưa ra một luận điệu thần học có tính cách ngụy biện để biện minh cho những sự kiện không mấy tốt đẹp này.  Tác giả viết, trang 28:

“…sự chọn lựa của Thiên Chúa có tính cách nhưng không và đầy tình thương (??không hiểu tác giả muốn nói gì. TCN), không thể hiểu được theo những lý luận của lý trí.”

hàm ý dùng lý trí và lý luận thì không thể hiểu được Thánh Kinh, chỉ có đức tin Ca-Tô, nghĩa là tin vào những điều giáo hội giảng dạy về Thánh Kinh thì mới hiểu được Thánh kinh muốn viết gì và do đó hiểu được Thiên Chúa.  Viết như trên, ông Nguyễn Văn Thuận tưởng rằng như vậy là tôn vinh Thiên Chúa mà không biết rằng chính mình đang mạ lỵ Thiên Chúa. Đúng vậy, theo Ca Tô Giáo, Thiên Chúa “sáng tạo” ra con người theo hình ảnh của Thiên Chúa, nghĩa là có đầy đủ đầu óc và lý trí để có thể cảm nhận những điều mặc khải của Thiên Chúa.  Rồi Adam cưỡng điều cấm của Thiên Chúa, ăn một trái cây trên cây hiểu biết, do đó đầu óc con người đã trở thành không thua gì Thiên Chúa, có khả năng phân biệt Thiện Ác.  Nhưng tình thương qua những việc làm của Thiên Chúa con người lại không hiểu được bằng đầu óc hay lý trí.  Ai cũng biết những người không biết xử dụng đến đầu óc hay lý trí là những người ngu.  Vậy hóa ra việc làm của Thiên Chúa chỉ để cho những người ngu tin theo hay sao?  Vậy Thiên Chúa của những người ngu có giá trị gì đối với những người không ngu, nghĩa là biết xử dụng đến đầu óc và lý trí?   Luận điệu dùng lý luận của lý trí không thể hiểu được những việc làm của Thiên Chúa chẳng qua chỉ là luận điệu của thời sơ khai.  Bởi vì ngày nay, sự hiểu biết của con người đã vượt quá xa sự hiểu biết của Thiên Chúa như được viết trong Thánh Kinh.  Những kiến thức của con người ngày nay về khoa học, y học, vũ trụ học, sinh học v..v.. đã bỏ xa những kiến thức của Thiên Chúa trong Thánh Kinh.   Sự kiện này đã quá hiển nhiên, chẳng cần phải chứng minh.

Nhưng sự chọn lựa của Thiên Chúa mà chúng ta không thể hiểu được bằng lý trí là như thế nào?  TGM Nguyễn Văn Thuận giải thích: Abraham bỏ trưởng lập thứ, rồi đến Isaac, con của Abraham, cũng bỏ trưởng lập thứ, rồi đến Jacob, cháu của Abraham, cũng phế bỏ ba đứa con đầu, lập đứa con thứ tư là Judah, và tất cả sự chọn lựa trên là do “ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa”.  Ông giải thích thêm:

“Chúng ta không được lựa chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi (sic) của Chúa.”

Trước hết, chúng ta nên để ý là ông Nguyễn Văn Thuận đã “mượn” danh từ “từ bi” trong Phật Giáo để dịch chữ “grace” nghe cho nó có vẻ Việt Nam, chứ thực ra “grace” có nghĩa là ân sủng hay ân huệ mà Thiên Chúa ban cho loài người.  Nền Thần Học Ki-Tô đưa ra quan niệm là “Chúng ta được cứu rỗi chỉ bởi ân huệ của Thiên Chúa mà thôi” (Xin đọc, thí dụ, Karl Barth: We are saved “sola gratia” – “only by grace”, without any works of our own).

Ngoài các tín đồ không bao giờ cần đến đầu óc của mình, nếu có, và tuyệt đối tuân phục các cấp lãnh đạo trong Ca Tô Giáo, có ai nghe lọt  tai những lời   giải thích đầy tính cách huyền hoặc, ngụy biện và phi lý như trên?  Thứ nhất, chuyện bỏ trưởng lập thứ là chuyện thường tình thế gian, chúng ta thấy đầy dẫy trong lịch sử Tàu, Ta, những dân tộc không hề biết đến và không hề tin vào một Thiên Chúa hữu danh vô thực..  Vậy tất cả đều là ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa cả hay sao?

Thứ nhì, Thiên Chúa chọn lựa vì lòng “từ bi” (sic) thật hay sao?  Từ là cho vui và bi là cứu khổ.  Thiên Chúa bỏ người này, chọn người kia, bản chất đã là một hành động thiên vị, vì nếu bảo rằng đó là thể hiện lòng từ bi đối với người được chọn, thì đối với người bị loại bỏ một cách bất công Thiên Chúa đã thể hiện lòng gì? Mặt khác, Thiên Chúa lựa chọn tùy hứng, không dựa trên căn bản đạo đức hay công trạng, vậy thì chúng ta cứ việc làm ác rồi ngồi há miệng chờ quả sung từ bi của Thiên Chúa thì có được hay không?  Sau cùng, Thiên Chúa đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của Thiên Chúa (thuyết sáng tạo này ngày nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới của khoa học) thì mọi người đều phải bình đẳng trước Thiên Chúa, tại sao Thiên Chúa lại phải nhúng tay vào chuyện chọn người kế vị của vài ông vua Do Thái vô đạo đức? Tại sao Thiên Chúa lại vướng mắc vào cảnh “con yêu, con ghét” của người thường?

Viết   lên một câu  phi-lôgic  mà nội dung có tính cách mạ lỵ Thiên Chúa mà ông TGM  cũng viết  lên được   thì chúng ta phải hiểu đầu óc của ông TGM đã được giáo hội cho vào khuôn phép như thế nào?   Nói tóm lại, cách giải thích theo luận điệu Thần học của TGM Nguyễn Văn Thuận chỉ là một lối ngụy biện không thuận lý.   Điều này chúng ta có thể thấy rõ  nếu chúng ta đọc tiếp cách “giải thích một chiều” của ông.   Nơi trang 30-31, ông viết tiếp:

Nơi Đavit, người nổi danh nhất trong các vua đã sinh ra đấng Messia (nghĩa là Giê-su. TCN), sự thánh thiện và tội lỗi xen lẫn nhau: với nước mắt cay đắng, ngài xưng thú trong Thánh vịnh các tội ngoại tình và sát nhân, nhất là trong Thánh vịnh 50, một ca vịnh trở thành kinh nguyện thống hối thường được dùng trong phụng vụ của giáo hội..

Cả những phụ nữ mà Mathêu nêu tên trong đầu sách Tin Mừng của ngài như những người mẹ thông truyền sự sống, từ cung lòng phúc lành của Thiên Chúa, cũng gợi lên nơi chúng ta một sự xúc động.  Tất cả họ đều là những phu nữ ở trong những hoàn cảnh bất hợp lệ: Tamar là một phụ nữ tội lỗi, Racab là một gái mãi dâm, Rut là một người ngoại bang và về người phụ nữ thứ tư, người ta không dám nêu danh, và chỉ nói “đó là vợ của ông Uria”.  Người đàn bà đó chính là bà Betsabea mà vua Đavit  đã ngoại tình.

Tuy nhiên, dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội ác như thế đã trở thành một nguồn nước trong (sic), khi càng đến gần thời gian sung mãn: đến đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và đến Chúa Giêsu, Đấng Messia.   Nơi các Ngài tất cả các thế hệ được cứu chuộc.

Danh sách   những  người tội lỗi mà Mathêu nêu rõ trong gia phả của Chúa Giêsu không được gây gương mù cho chúng ta.  Trái lại, gia phả ấy tuyên dương mầu nhiệm Thiên Chúa.  Cả trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã chọn Phêrô, người đã chối ngài, và chọn Phaolô, người đã bách hại Ngài.  Vậy mà các vị lại trở thành cột trụ của giáo hội.   Trong thế gian, khi một dân tộc viết lịch sử chính thức của mình, họ thường nói về những chiến thắng đã đạt được, những vị anh hùng, hoặc sự cao cả của mình…Quả là một trường hợp duy nhất, đáng ngưỡng mộ và tuyệt vời, khi thấy một dân tộc không hề dấu diếm những tội lỗi của tiền nhân trong lịch sử chính thức của mình.

Chỉ bằng vào một đoạn văn ngắn ở trên, chúng ta đã có thể thấy rõ ràng đạo Ca-Tô Rô Ma đã thành công trong việc nhồi sọ, uốn nắn đầu óc tín đồ như thế nào, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao.  Cao như ông TGM Nguyễn Văn Thuận là cùng, nay đã lên đến tột đỉnh danh vọng của Ca Tô Giáo với chức Hồng Y, và sắp sửa lên làm Giáo Hoàng theo hi vọng của một số tín đồ có đầu nhưng không có óc.   Nhưng tôi xin hỏi ông vài câu:   Bằng cách nào mà dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội ác như thế đã trở thành một nguồn nước trong, thưa ông Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận?  Dù bà Maria và Giê-su có được môn thần học Ki Tô Giáo đôn lên thành những nhân vật thánh thiện thì cái “dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội ác như thế” luôn luôn vẫn là một dòng lịch sử tràn đầy tội lỗi và tội ác. Một cá nhân có thể ăn năn sám hối những tội lỗi của mình và nguyện sẽ không tái phạm những tội lỗi đó nữa, tâm hồn được yên ổn, nhưng tội lỗi vẫn luôn luôn là tội lỗi và vẫn phải gánh chịu nghiệp quả của những tội lỗi đó.  Một linh mục can tội cưỡng bức tình dục trẻ em có thể ăn năn thống hối để Chúa “rửa sạch tội lỗi” cho, nhưng vẫn phải vào tù để đền tội thế gian, và cái tội ông ta phạm vẫn được ghi trong hồ sơ cá nhân của ông ta.  Sự xóa bỏ tội lỗi của Chúa thật sự vô giá trị trước pháp luật thế gian.  Huống chi là những sự kiện lịch sử của một dân tộc, mà đây lại là dân tộc Do Thái, chẳng liên hệ gì tới dân tộc Việt Nam.  Trong hay đục thì cũng là lịch sử của dân Do Thái, và người Việt Nam chúng tôi chẳng có gì phải xấu hổ nếu nó đục, và cũng chẳng có gì phải hãnh diện nếu nó trong.  Thực tế thì dòng lịch sử Do Thái từ khi Giê-su sinh ra cũng chẳng lấy gì làm hãnh diện mà gọi là dòng nước trong.   Giáo hội Ca-Tô đã làm cho lịch sử  Do Thái đục ngầu máu và nước mắt trong chính sách bách hại dân Do Thái suốt 2000 năm, với cao điểm là Hitler, một tín đồ Ca-Tô không hề bị giáo hội tuyệt thông, đã tiêu diệt 6 triệu người Do Thái trong các lò sát sinh.  Giữa thế kỷ 20, Do Thái lập quốc và mở chiến dịch xâm chiếm cướp đất của khối Ả Rập, và ngay bây giờ, đầu thế kỷ 21, Do Thái đang áp dụng chính sách “cường quyền và bạo lực thắng công lý”.   Không những thế, Thiên Chúa trong Cựu Ước dạy “mắt đổi mắt, răng đổi răng”, nhưng ngày nay Do Thái lại leo thang thành “mắt đổi 10 mắt, răng đổi 10 răng” đối với dân Palestine.  Vậy dòng lịch sử đó trở thành trong ở chỗ nào?

Viết như trên, phải chăng ông Nguyễn Văn Thuận hi vọng có thể dùng một luận điệu thần học ngụy biện để thay đổi những sự kiện lịch sử đã ghi trong sử sách? Luận điệu này chỉ để nói cho những “bà lão công giáo nhà quê” của linh mục Thiện Cẩm ở Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm, và một số ở Houston, Bolsa, San Jose v..v.., ngoài ra ông định nói cho ai nghe?  Đây không phải là nơi phê bình văn phong hay tư tưởng, nếu có, của ông Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, nên sau đây tôi chỉ đưa ra vài nhận xét ngắn ngủi về đoạn văn trên để trình bày cùng quý độc giả thấy rõ thế nào là đầu óc của một tín đồ Ca-Tô Việt Nam, dù ở địa vị cao trong hàng Giáo Phẩm, và thế nào là luận điệu Thần học ngụy biện để lừa dối tín đồ.

Thứ nhất, trong lịch sử Do Thái, David được coi là người có công mở mang nước Do Thái và mang đến cho Do Thái một thời đại hùng cường.   Nhưng tư cách và đời sống của David thì không có gì có thể gọi là thánh thiện cả.  Hắn là một tên bạo chúa, hiếu sát và hoang dâm, tuy vậy đối với dân Do Thái hắn vẫn là một vị vua nổi danh trong Cựu Ước.  Tuy nhiên,   hắn không thể nào là “người nổi danh nhất trong các vua đã sinh ra đấng Messia (nghĩa là Giê-su. TCN.)” như TGM Nguyễn Văn Thuận đã viết, vì như tôi đã trích dẫn từ Thánh Kinh ở trên: từ  David tới Giê-su là 27 thế hệ theo Matthew, và 42 thế hệ theo Luke, cho nên chúng ta không thể dựa vào đâu để mà quyết định gia phả nào là của Giê-su.  Hơn nữa, điều khẳng định của ông Nguyễn Văn Thuận về vua David ở trên lại đương nhiên bác bỏ thuyết Giê-su là con của Thiên Chúa do Thánh Linh xâm nhập bất hợp pháp vào bà Maria mà sinh ra như sẽ được trình bày rõ hơn trong một đoạn sau.

David không những mắc tội ngoại tình với Bathsheba, vợ của Uriah, một tướng dưới trướng của David, mà còn dùng quyền lực cướp vợ của Uriah bằng cách gửi Uriah ra mặt trận với lệnh ngầm cho viên chỉ huy mặt trận là Joab phải làm sao để cho Uriah không được sống sót.  Tội lỗi của David thì đầy ra đấy, nhưng thánh thiện ở chỗ nào thì không thấy trong Thánh Kinh, và TGM Thuận cũng không cho độc giả biết David thánh thiện như thế nào.  Trong phần Phụ Lục, quý độc giả sẽ biết rõ hơn về nhân vật David trong Cựu Ước.

Thứ nhì,   trong Thánh  Kinh chẳng có chỗ nào viết là “với nước mắt cay đắng, ngài (từ “ngài” TGM Nguyễn Văn Thuận dùng để gọi một tên sát nhân hoang dâm vô đạo đức như David) ăn năn trong Thánh vịnh (Psalms) hay Thi Thiên các tội ngoại tình và sát nhân..”  “Thánh vịnh” là một tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ, ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic của  Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters, each as depressing as the next.), và “Thánh vịnh 50” là thơ của Asaph làm chứ không phải của David. Có lẽ ông đã lầm với “Thánh vịnh 51” vì Thánh vịnh này mới là những lời ăn năn thống hối của David rên rỉ cầu nguyện Chúa Cha (không phải là Giê-su) tha cho những tội ác đã phạm tuy thực tế cho thấy rằng chẳng làm gì có Chúa và Chúa cũng chẳng có quyền gì để mà tha tội (Psalm 51: 1-4:   Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa.  Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian-ác, và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi.  Vì tôi nhận biết các sự vi phạm của tôi, tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi.  Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa ..)  Có lẽ những lời ăn năn thống hối cùng Chúa này chỉ có một mục đích: đó là hi vọng được Chúa tha thứ để rồi sau khi chết sẽ được lên   thiên đường sống cuộc sống đời đời cùng Chúa.  Nhưng đó là niềm tin của những người Do Thái cách đây hơn 2000 năm.  Với trình độ hiểu biết của nhân loại ngày nay thì đến Giáo Hoàng John Paul II cũng phải thú nhận rằng chẳng làm gì có thiên đường trên những tầng mây, tất cả đều do tâm mà ra.   Vậy Thánh vịnh 51 đã trở thành lỗi thời vì chẳng có tác dụng gì thực tế.  Bám vào đó để mà “phụng vụ” thì chỉ là duy trì sự mê tín của thời bán khai.  Vả chăng, phạm tội với con người mà lại nói là chỉ phạm tội cùng Chúa thôi là điều mà thế giới ngày nay không thể chấp nhận.

Mặt khác,  ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đã chứng minh được rằng trong 150 bài “Thánh Vịnh”, chỉ có vài bài là được sáng tác trong thời đại của David, phần còn lại được sáng tác vào khoảng và sau thời kỳ lưu đầy (Exile).

Thứ ba, trong Thánh Kinh có 2 Tamar rất đặc biệt:  Tamar trong 2 Samuel 13: 11-14 là một thiếu nữ bị chính anh ruột của mình, Amnon, cưỡng hiếp. Tamar và Amnon đều là con ruột “ngài” David của TGM Nguyễn Văn Thuận.  Còn Tamar, người phụ nữ tội lỗi mà ông Thuận viết trong đoạn trên, còn đặc biệt hơn nữa: chồng chết, ngủ với em chồng; em chồng chết, ngủ luôn với bố chồng, sinh con cái.  Đó là những mẫu người mà TGM Thuận cho rằng được Thiên Chúa chọn với “ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa.”, mà không hề giải thích mầu nhiệm ở chỗ nào, phải chăng mầu nhiệm chỉ vì những người vô đạo đức phi luân này là tiền nhân của Giê-su?.  Chuyện Tamar trong Thánh Kinh, quý độc giả có thể đọc trong Sáng Thế 38.   Có nhiều đoạn  tôi không tiện trích dẫn, vì chúng tục tĩu dâm loạn,  đối ngược hẳn với nền luân lý Á Đông. Chúng ta cũng nên để ý là, Thiên chúa là Thiên Chúa của Do Thái, không dính líu gì tới dân tộc Việt Nam, vì ngay trong Thánh Kinh Thiên Chúa của Do Thái cũng không biết đến sự kiện là quả đất tròn.  Sự hiểu biết của Thiên chúa ở trong Thánh Kinh về trái đất rất hạn hẹp, chỉ có ở quanh vùng Trung Đông mà thôi.

Thứ tư, TGM Thuận viết “Chúa Giêsu đã chọn Phêrô, người đã chối ngài, và chọn Phaolô, người đã bách hại Ngài.” là sai, chứng tỏ rằng ông đã được “giáo hội dạy rằng” rất kỹ, và chưa từng đọc Thánh Kinh, vì Thánh Kinh đã viết rõ Giê-su tin rằng ngày tận thế sắp tới, ngay khi một số người cùng thời với Giê-su còn sống, vậy chọn Phê-rô để làm gì?  Rõ ràng chuyện Chúa chọn Phêrô là do giáo hội ngụy tạo để tự tạo vai trò kế thừa Phê rô và là đại diện của Chúa trên trần của các giáo hoàng.  Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một phần sau.  Mặt khác, PhaoLô không phải là tông đồ của Giê-su, PhaoLô chưa từng thấy Giê-su, làm sao mà bách hại Giêsu và làm sao Giê-su lại có thể chọn một người mình chưa từng biết?   Tôi đố quý độc giả tìm trong Thánh Kinh xem có chỗ nào viết là Phao Lồ bách hại Giê-su .

Thứ năm, sợ tín đồ mất niềm tin khi đọc kỹ Thánh Kinh, TGM Nguyễn Văn Thuận dạy tín đồ:

Danh sách những người tội lỗi mà Mathêu nêu rõ trong gia phả của Chúa Giêsu không được gây gương mù cho chúng ta.  Trái lại, gia phả ấy tuyên dương mầu nhiệm Thiên Chúa.

Mang cái bình phong “mầu nhiệm Thiên Chúa” ra để che đậy những điều có thể gây thắc mắc trong đầu óc tín đồ, TGM Thuận đã không lý gì đến những phần khác trong Thánh Kinh mà Giám Mục Spong đã nhận xét ở trên:

Chẳng có ai biết cha ông ta (Giê-su) là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ .

Phải chăng vì không đếm xỉa gì đến sự lương thiện trí thức, dùng lý luận thần học ngụy biện để lừa dối đám tín đồ thấp kém qua những điều giải thích hoang đường, phi lý trí v..v.. mà gần đây Tổng Giám Mục đã được thăng lên chức Hồng Y?  Khi xưa, người ta có thể mua chức Hồng Y bằng tiền bạc và quen thuộc.  Ngày nay, chức Hồng Y để cho những thuộc hạ của Tòa Thánh tuyệt đối trung thành với Giáo Hoàng và cách diễn giảng giáo lý của Vatican bất kể là những điều diễn giảng này mâu thuẫn, phi lý, và sai sự thực đến đâu.  Rất hiếm khi mà những chức vụ chỉ đạo trong giáo hội Ca-tô được tuyển chọn hay vinh thăng theo khả năng, trình độ hiểu biết và đầu óc cởi mở.  Trường hợp của ông Nguyễn Văn Thuận là một thí dụ điển hình.

Thật vậy, đoạn văn trong Matthew ở trên chẳng có gì là gương mù như ông Thuận đã nghĩ, và cũng chẳng có gì là “mầu nhiệm Thiên Chúa”.  Vì ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh đã hiểu tại sao Matthew lại nêu tên những người phụ nữ tội lỗi trong gia phả của Giê-su.  Sau đây là vài trích dẫn từ cuốn Sự Thực Phúc Âm của Russell Shorto:

Từ đầu thế kỷ 2, nhiều tác giả Do Thái, khi quan sát sự phát triển nhanh chóng của Ki Tô Giáo, đã ghi nhận rằng khuôn mặt thần thánh trong trọng điểm của Ki Tô Giáo (nghĩa là Giê-su. TCN) thực ra chỉ  là một đứa con hoang. ..Về phương diện kỹ thuật, ngay cả khi đọc Phúc Âm theo truyền thống, điều trên đúng là sự thực, vì Joseph, chồng của Mary, không phải là cha thực của Giê-su.   Đọc thật kỹ Matthew chúng ta có thể thấy điều trên rõ ràng…và Matthew đã đưa ra một kiến trúc thần học tinh vi để biến đổi một sự thật xấu xa thành một huyền thoại..

Một vấn   đề trong  gia phả  của Giê-su   đã  làm  bận tâm

những nhà thần học không ít trong nhiều thế kỷ là tên của các phụ nữ trong gia phả của Giê-su.  Tại sao chúng ta đọc thấy rằng: “Abraham là cha của Isaac, Isaac là cha của Jacob” v..v.. mà không thấy tên một phụ nữ nào xen vào, nhưng rồi chúng ta thấy “Judah là cha của Perez và Zerah, sinh ra bởi Tamar”, và “Salmon là cha của Boaz, sinh ra bởi Rahab,” và Boaz là cha của Obed, sinh ra bởi Ruth”, và David là cha của Solomon, sinh ra bởi “vợ của Uriah”?

Một nhóm học giả đã tìm hiểu trong 20 năm qua để tìm ra giải đáp cho điều thắc mắc này và họ đã khám phá ra rằng tất cả những phụ nữ được nêu tên trong gia phả của Giê-su đều là những người mang tai tiếng về vấn đề tình dục.  Nói cách khác, Matthew đã cố ý làm nhẹ bớt vấn nạn Giê-su là đứa con hoang bằng cách vạch ra rằng trong nhiều đời tiền nhân của Giê-su, đây là điều cần thiết để tiếp nối dòng dõi các vua Do Thái qua những nhân vật khác thường..  Là đứa con hoang, điều này có thể là một biểu hiện của sự danh giá (badge of honor). 12

Thứ sáu, TGM Nguyễn Văn Thuận ca tụng dân tộc Do Thái là “một trường hợp duy nhất, đáng ngưỡng mộ và tuyệt vời, khi thấy một dân tộc không hề dấu diếm những tội lỗi của tiền nhân trong lịch sử chính thức của mình.”  Người Việt Nam chúng tôi, khi đọc đến những chuyện tàn bạo, dâm ô, loạn luân v..v.., chiếm quá nửa cuốn Cựu Ước, về dân tộc Do Thái, thì không có cách nào có thể đồng ý với nhận định của ông Thuận.  Sử Trung Quốc cũng ghi lại những triều đại Kiệt, Trụ, Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên v..v  Đã là những sự kiện lịch sử của một dân tộc thì không có người này cũng có người kia ghi chép lại.  Do Thái cũng không ra ngoài lệ và tuyệt đối không phải là nước duy nhất chép lại trung thực những sự kiện lịch sử.  Cho nên chẳng có gì đáng ngưỡng mộ và cũng chẳng có gì gọi là tuyệt vời như chúng ta đã biết sơ về lịch sử Do Thái trong phần trên.   Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn về dân tộc Do Thái cổ xưa mà Thomas Paine đã viết trong cuốn Thời Đại Lý Trí như sau:

Nếu chúng ta có thể tự cho phép để cho rằng Đấng Toàn Năng đã phân biệt một quốc gia nào đó và gọi là Dân Được Ngài Chọn Lựa thì chúng ta phải cho rằng dân tộc đó là một gương mẫu cho phần còn lại của thế giới về hiếu kính và nhân đạo thuần khiết nhất, chứ không phải là một dân tộc của những kẻ côn đồ và giết người như là dân Do Thái cổ xưa, một dân tộc đồi bại vì phỏng theo những con quái vật và mạo danh như là Moses và Aaron, Joshua, Samuel và David, một dân tộc đã làm cho chính mình nổi bật hơn mọi dân tộc khác trên thế giới về sự man rợ và độc ác. 13

Vậy, đáng ngưỡng mộ và tuyệt vời ở chỗ nào? Có lẽ dân Do Thái, dân cưng mà Chúa Cha chọn làm dân của Chúa (chosen people), đáng ngưỡng mộ và tuyệt vời ở chỗ không chấp nhận Giê-su là “Chúa con”, là “đấng cứu thế”, nên bị giáo hội Ca-Tô vu cho tội giết Chúa và bách hại dân Do Thái suốt 2000 năm nay.  Những dân tộc như Việt, Mên, Lào v..v.. mà Chúa Cha không hề biết đến (xin đọc Augustine) không tin và chấp nhận Chúa Con thì là điều dễ hiểu, nhưng dân tộc Do Thái là dân Chúa Cha chọn (chosen people) mà lại không chấp nhận Chúa Con thì chúng ta phải hiểu rằng “Chúa Con” chỉ là một “ngụy Chúa” và những lời tự nhận như là “con của Thiên Chúa”, “vua của dân Do Thái” v..v.. thật ra chỉ bắt nguồn từ một hoang tưởng tôn giáo ở vào một thời đại mà quan niệm về quỷ thần tràn ngập dân gian.  Đây không phải là chỗ phê bình cuốn Chứng Nhân Hy Vọng của TGM Nguyễn Văn Thuận, nhưng có một đoạn nơi trang 293 tôi không thể bỏ qua:

Do quyền năng của Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm nhập thể cao cả được thực hiện.  Người Con ở trên Trời sống trong lòng Thiên Chúa Cha, tìm thấy ở dưới đất, nơi Đức Maria, một cung lòng xứng đáng với Ngài.  Là nữ tử của Thiên Chúa Cha, Đức Maria trở thành mẹ.  Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Hiền Thê của Chúa Thánh Thần.

Người con ở trên Trời?  Chỗ nào trên Trời?  Phải chăng ở phía trên cái vòm trời bằng đồng thau có những cánh cửa mở ra để cho mưa rơi xuống như được viết trong Thánh Kinh?  Hay là ở trong cái nhà ở trên trời, thiên đường, nơi Thiên Chúa ngự.  Nhưng chính giáo hoàng John Paul II cũng phải thú nhận “Không làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây”  TGM Thuận luôn luôn ở sát nách giáo hoàng mà không biết đến lời tuyên bố này hay sao?   Mặt khác, trái đất đâu có đứng yên?  Nó vừa di chuyển trong không gian xung quanh mặt trời với vận tốc trên một trăm ngàn cây số một giờ, vừa quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc quay khoảng 1600 cây số 1 giờ, vậy TGM Thuận có dám khẳng định “người con ở trên Trời” là ở chỗ nào trên trời hay không, hay đối với con người đứng yên trên trái đất, “người con ở trên trời” cũng phải đảo điên điên đảo theo định luật tương đối của mọi chuyển động?

Luận điệu thần học ngụy biện lý luận rằng: Vì nhãn quang của con người cũng như những dụng cụ quang học như kính thiên văn đều giới hạn nên không thể nào thấy Chúa được, nếu chúng ta có khả năng nhìn đến tận cùng không gian thì sẽ thấy Chúa ngự bên hữu Chúa Cha.  Luận điệu này ném thuyết Chúa Ba Ngôi, nghĩa là thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity), 3 là 1 và 1 là 3,  vào “Recycled Bin” .  Luận điệu này cũng mù tịt về khoa vũ trụ học vì không hề có một ý niệm gì về tận cùng không gian là bao xa?  Đại khái vào khoảng 15 tỷ năm ánh sáng.  Ánh sáng truyền trong không gian khoảng 300000 cây số trong một giây đồng hồ.  Chúa Giê-su mới chết cách đây 2000 năm.  Và dù ông ta có sống lại và bay lên trời với vận tốc của ánh sáng, vận tốc giới hạn của mọi vật chất, thì ông ta cũng chưa ra khỏi giải Ngân Hà, rộng khoảng 100000 năm ánh sáng.  Vậy bảo là sẽ thấy Chúa ngồi bên hữu Chúa Cha ở tận cùng không gian là nói bừa, nói bậy, không hiểu chút nào về vũ trụ và khoa học.

Tôi không muốn đi sâu vào đoạn văn trên của TGM Thuận mà chỉ muốn làm sáng tỏ một điều: đoạn này đương nhiên xóa bỏ đoạn nói về gia phả của Giê-su.  Giê-su không thể vừa là con của Chúa Thánh Thần, vừa là con của Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Mary không thể  là “Hiền thê của Chúa Thánh Thần”, có mang với Chúa Thánh Thần nếu chúng ta vứt bỏ tất cả neuron ở trong óc đi để tin rằng Chúa Thánh Thần (Holy Spirit) cũng có 23  nhiễm sắc tố (chromosomes) gồm cả hai loại X và Y để có thể làm cho bà Mary mang thai, rồi sinh ra Giê-su, nhưng Giê-su lại không phải là con của Chúa Thánh Thần mà lại là con của Joseph, thuộc dòng dõi Vua David như được kể trong gia phả trên. Viết lên một sự mâu thuẫn rối răm cùng cực mà TGM Thuận cũng viết lên được thì thực là tài.

Một thí dụ khác sẽ cho chúng ta thấy rõ đầu óc của các bậc lãnh đạo trong Ca-Tô Giáo ở Việt Nam đã được nhào nặn như thế nào. Trong cuốn “Trần Lục”, nhiều tác giả, xuất bản tại Canada, năm 1996, Đức Ông Trần Văn Khả cũng viết về Giê-su như sau, trang 269:

Trong Kinh cầu Thánh Giuse, chúng ta đọc như sau: “Ông Thánh Giuse là Cha Nuôi Con Đức Chúa Trời”;  Ngay sau đó Đức Ông viết: “Chúa Giêsu là dòng dõi Vua Đa-vít, mà Thánh Giuse là một thành phần (Matthew 1:16). “

Cũng như   TGM Nguyễn Văn Thuận, Đức Ông Trần Văn Khả nhắc lại những lời “giáo hội dạy rằng”, tin rằng tất cả những lời trong Kinh đều phải đúng, mà không hề suy nghĩ.  Thật vậy, nếu Giuse chỉ là cha nuôi của Giê-su thì dù cho Giuse thuộc dòng dõi vua David, Giê-su cũng không thể nào thuộc dòng dõi vua David.  Vì sao?  Vì Giê-su là hoa trái của sự “xâm phạm tiết hạnh” của Thánh Ma (Holy Ghost) vào Mary, một người đàn bà Do Thái đã có chồng là Joseph (Giu-se).  Vì vậy, Giê-su mới được gọi là Con Thiên Chúa và Giu-se mới được coi như là cha nuôi của Giê-su.  Đã là Con Thiên Chúa thì không thể thuộc dòng dõi vua David, dù cha nuôi của Giê-su là Giu-se thuộc dòng dõi vua David.  Tôi có cảm tưởng rằng TGM Nguyễn Văn Thuận, Đức Ông Trần Văn Khả cũng như nhiều tín đồ Ca-Tô khác,  được Giáo hội dạy sao thì cứ nhắc lại đúng như vậy mà không hề bận tâm suy nghĩ xem điều mình nói có hợp lý hay không. Sự hiểu biết của tuyệt đại đa số người dân Việt ngày nay đâu còn ở mức của những người dân đánh cá ở vài miền duyên hải Việt Nam cách đây vài thế kỷ, hay ở trong những “ốc đảo ngu dốt” (từ của Linh mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn “Thập Giá và Lưỡi Gươm”?)

Tuy nhiên tôi không phản đối TGM  Nguyễn Văn Thuận, Đức Ông Trần Văn Khả, hay bất cứ ai, nếu họ tin cả hai huyền thoại có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive) như trên cùng một lúc.  Vấn đề là, đầu óc của các bậc lãnh đạo Ca-Tô Việt Nam như TGM Thuận và đức ông Khả, mà còn như vậy thì không hiểu đầu óc của đám tín đồ thấp kém thì như thế nào?  Đối với tôi, nếu ai đó tin vào bất cứ một cái gì đó thì chúng ta có thể hiểu được, nhưng tin cùng lúc vào hai điều không thể nào cùng hiện hữu thì chỉ có những đầu óc đặc biệt Ca Tô được nhào nặn từ nhỏ mới có khả năng như vậy.  Và đây quả là một phép lạ trong việc đào tạo, uốn nắn đầu óc tín đồ Ca-Tô.  Nếu chúng ta có dùng lý trí để phê phán họ là mù lòa tin bướng tin càn thì họ vội lên tiếng lên án chúng ta là chống Thiên Chúa Giáo theo sách lược của CS.  Họ lên án như vậy vì đầu óc của họ chỉ nghĩ có một chiều.   Họ không thể nghĩ ra rằng, theo lý luận thần học của TGM Thuận ở trên, thì sự hiện hữu của CS cũng chỉ là để tuyên dương “mầu nhiệm  Thiên Chúa”, một điều mà chúng ta không thể nào dùng lý trí mà hiểu được.  Cầu mong làm sao họ gỡ được cái vòng kim cô xiềng xích trí tuệ ra khỏi cái đầu họ trước khi họ tính đến chuyện đối thoại với các tôn giáo khác.

Qua những tài liệu mà tôi vừa trích dẫn ở trên, chúng ta thấy ngay rằng, hình ảnh Giê-su mà Giáo hội Ca-Tô Rô-ma cấy vào đầu óc tín đồ, từ trên xuống dưới, nó xa sự thực như thế nào.  Làm sao mà Giáo hội có thể thành công trong việc nhào nặn đầu óc tín đồ đến độ họ không còn khả năng suy nghĩ.  Đó là vì Giáo hội đã sử dụng Học Thuật Ca-Tô (Catholic scholarship), phối hợp một nền thần học ngụy biện, dối trá với những văn kiện ngụy tạo, giả mạo.  Nguỵ biện vì lúc thì giải thích thế này, khi thì giải thích thế nọ, lúc thì giải thích suôi, khi thì giải thích ngược v..v..; dối trá vì không đúng với sự thật với chủ đích lừa dối; ngụy tạo, giả mạo là bịa đặt ra, thêm thắt vào. Học thuật này rất thành công đối với đám tín đồ ít học, đầu óc yếu kém.  Nhưng ngày nay, học thuật này đã không còn chỗ đứng trong thế giới văn minh, tiến bộ.   Thật vậy, ngày nay, nhiều học giả, trí thức, chuyên gia v..v.. đã phanh phui ra những thủ đoạn lừa dối của giáo hội Ca-Tô.  Thí dụ, Douglas Lockhart đã viết trong cuốn  Cái Mặt Đen Tối Của Thiên Chúa (The Dark Side of God) như sau:

Với khả năng phịa sử qua những tài liệu giả mạo trông như thật với dấu ấn của Giáo Hoàng, và lồng những tài liệu giả mạo này vào trong Giáo Luật, Giáo hội Ca-Tô đã tái tạo quá khứ của mình một cách có hệ thống để rồi cuối cùng tin vào những điều nói láo của chính mình. 14

Nữ học giả Helen Ellerbe viết trong cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô (The Dark Side of Christian History):

Cuốn Tự Điển Bách Khoa Ca-Tô cũng phải thừa nhận rằng “Trong mọi lãnh vực, sự giả mạo và thêm thắt vào cũng như sự ngu đần đã được tập họp thành trò tinh quái có hạng.” Dù rằng Giáo hội đã cấm không cho nghiên cứu thêm về nguồn gốc của các Phúc Âm, nhiều học giả đã chứng tỏ cả bốn Phúc Âm đều đã được xào xáo viết lại.  Trong khi Giáo hội tuyên bố rằng bản chất chân lý không thay đổi và chỉ được mạc khải một lần duy nhất, Giáo hội luôn luôn tìm ra lý do  để thay đổi chân lý đó. 15

Không phải là vô cớ mà Lockhart và Ellerbe đã viết như trên.  Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo đã phân tích Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước bằng những phương pháp hiện đại nhất, phối hợp nhiều bộ môn trong khoa học và nhân văn, để tìm ra những sự thực về lịch sử, nguồn gốc, tư   tưởng trong Thánh Kinh.

Trong lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-Ma có nhiều bằng chứng có thể dùng để chứng minh những nhận định  của Lockhart và Ellerbe ở trên.  Sau đây tôi chỉ đưa ra vài trường hợp điển hình.

Source: http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/tcn_jesusI.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 13, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: