RSS

Giê-su là ai? đã giảng dạy những gì? (4)

13 Jul

Chương II
Giê-su giảng dạy những gì?

“Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: “Ta”” (All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: “I”)

William Hirsch

Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rõ ràng.  Chúng nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới” (What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

Hermann Samuel Reimarus

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

Giám Mục John Shelby Spong

Qua những tài liệu có tính cách nghiên cứu và phân tích của một số học giả, chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như  ngoài các giáo hội Ki-Tô, được trích dẫn trong chương I, chắc quý độc giả đã có thể có một  nhận định cho riêng mình về sự khác biệt giữa nhân vật Giê-su lịch sử, con người thực của Giê-su, với nhân vật Giê-su của đức tin, một hình ảnh được tạo dựng bởi nền thần học Ki Tô Giáo, là như thế nào.

Câu hỏi tiếp theo “Giê-su là ai?” tất nhiên phải là “Giê-su giảng dạy những gì?”.  Giải đáp cho câu hỏi này thật ra không khó, vì tất cả nằm trong 4 Phúc Âm: Ma-thêu (Matthew), Mác-cô (Mark),  Lu-ca (Luke), và Giăng (John) trong Tân Ước.  Đây là nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất.  Những lời giảng về Giê-su của giới chăn chiên Ki Tô hay những sách vở do giáo hội xuất bản không thể tin cậy được, vì đó chỉ là những trích dẫn vụn vặt chọn lựa từ Thánh Kinh, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), và thường diễn giảng với luận điệu thần học một chiều, méo mó, ngụy biện, và thường không bao giờ nói đến những mâu thuẫn và phi lý trong Thánh Kinh, hay những đoạn trong Thánh Kinh trái ngược với hình ảnh của Giê-su do nền thần học Ki Tô tạo dựng lên..  Trước khi đi vào phần phân tích để kiếm ra một giải đáp cho câu hỏi trên, có lẽ chúng ta cũng nên biết đến bản chất và cốt tủy của Ki Tô Giáo, nhất là Ca-Tô giáo Rô-ma.

Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”.  Câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một khẳng định về đức tin Ca-Tô gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường.

Điều này thật là rõ ràng khi gần đây chúng ta thấy Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải công nhận là “không làm gì có thiên đường trên các tầng mây” và “không làm gì có lửa hỏa ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất”.

Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, giáo hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín.  Đa số tín đồ Ca-Tô không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của giáo hoàng.  Những thuộc hạ của giáo hoàng giải thích: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo.  Người ngoài giáo hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

Tuy rằng ngày nay Giáo hội đã dùng học thuật Ca-Tô, giải thích lại ý nghĩa của thiên đường và hỏa ngục với giới trí thức như những trạng thái của tâm, hiệp thông với Thiên Chúa hay xa lìa Thiên Chúa, nhưng khối tín đồ ở dưới vẫn ít biết đến điều này. Hơn nữa, quan niệm về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo không thể có một định nghĩa rõ rệt, khoan kể là quan niệm này đã phải thay đổi nhiều qua thời gian với hi vọng có thể phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Mặt khác, mỗi Thần giáo đều có quan niệm riêng về Thiên Chúa của tôn giáo mình.  Cũng vì vậy mà nữ học giả Judith Hayes đã viết một cuốn sách nhan đề “Chúng Ta Đặt Niềm Tin Vào Thiên Chúa! Nhưng Mà Là Thiên Chúa Nào?” (In God We Trust! But Which One?).  Giáo sư  Keith Hopkins thuộc Hàn Lâm Viện Anh Quốc cũng viết một cuốn mang tên “Một Thế Giới Đầy Những Thiên Chúa” (A World Full of Gods).  Và nữ tu Ca Tô  Karen Armstrong cũng đã xuất bản cuốn Một Lịch Sử Về Thiên Chúa (A History of God)  trình bày quan   niệm  về các Thiên  Chúa trên thế gian.  Những công cuộc nghiên cứu của các tác giả trên và lịch sử các nền văn minh khác nhau trên thế giới đã chứng tỏ Ki Tô Giáo chỉ là một tôn giáo thờ thần trong số nhiều tôn giáo hay truyền thống dân tộc thờ thần, trong thời đại mà con người chưa hiểu rõ nguyên nhân của những thiên tai hay hiện tượng thiên nhiên, cho nên tục thờ Thần ở đâu cũng có.  Do đó, lẽ dĩ nhiên là về bản chất, Thần của Ki Tô Giáo mà các tín đồ Ca-Tô, Tin Lành Việt Nam tôn lên làm Thiên Chúa cũng chẳng có gì hơn Thần của các tôn giáo khác, nếu không muốn nói là trong một số khía cạnh, thí dụ như về đạo đức và khoa học, còn kém hơn cả những người thường như chúng ta.  Điều này có thể chứng minh dễ dàng nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ và phân tích Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước.

Bình luận câu John 3:16 ở trên, học giả Lloyd Graham cho rằng “Chưa bao giờ có nhiều ngụy biện có tính cách dạy đời được buộc chung với nhau trong một câu ngắn ngủi như trên” (No greater number of didactic fallacies were ever strung together in one short sentence) vì Thiên Chúa không hề thương yêu thế gian, Thiên Chúa không ban cho thế gian bất cứ cái gì; ông ta không có “người Con duy nhất”, lòng tin không cứu được một ai, và không có cái gì gọi là cuộc sống đời đời. (God does not love the world; God does not give the world anything; he has no “only begotten Son”, belief will not save anyone, and there is no such thing as everlasting life)

Thật vậy, trừ phi chúng ta chỉ biết cầm cuốn Thánh Kinh, không hề đọc, và nhắm mắt cầu nguyện.  Nếu chúng ta mở mắt ra nhìn những cảnh khổ, cảnh bất công, cảnh con nít mới sinh ra đã bị khuyết tật hay chỉ là một quái thai v..v.. ở khắp nơi trên thế gian, kể cả trong các nước mà đa số dân chúng là tín đồ Ki Tô Giáo, thí dụ ở bên Anh có một gia đình Ca-Tô sinh ra một quái thai, hai thân dính liền nhau nhưng chỉ có một trái tim,thì không có cách nào chúng ta có thể chấp nhận  luận điệu thần học của Giáo hoàng John Paul II: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian..”  Chúng ta nên biết, theo niềm tin trong Ca-Tô giáo thì Thiên Chúa gồm những thuộc tính “toàn nhân”, nghĩa là vô cùng nhân từ, và “toàn năng”, nghĩa là làm gì cũng được.  Hơn nữa, một Thiên Chúa mà chỉ thương yêu những người tin mình thì thực chất chỉ là một ngụy Chúa, không xứng đáng để cho con người tin, đừng nói đến kính trọng và thờ phụng.  Sự hiện hữu của những cảnh khổ, những chiến tranh tôn giáo, những sự xấu ác ở trên đời là một nghịch lý mà từ xưa đến nay các nhà thần học Ki Tô Giáo không sao giải thích nổi để biện minh cho một Thiên Chúa Toàn Năng ” quá thương yêu thế gian”.  Lối giải thích nghe suôi tai đối với những tín đồ đầu óc mê muội nhưng lại có tính cách mạ lỵ đối với tư duy con người trong thế giới văn minh tiến bộ như ngày nay là: “đầu óc con người không hiểu được những ý định hay việc làm của Thiên Chúa”.

Phải chăng vì vậy mà James A. Haught đã đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, trang 324, như sau:

Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng thương yêu vô cùng không đứng vững.  Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ. 1

Thật tình tôi không hiểu tại sao trong thời buổi này mà vẫn còn có nhiều người tin ở một “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” trong khi những thực tế ở ngoài đời đã chứng tỏ là chẳng   làm gì có cái gọi là sự thương yêu của Thiên Chúa.

Hơn  nữa,  phân tích   ra thì  câu  trong Phúc Âm John  mà giáo hoàng viện dẫn ở trên hoàn toàn vô nghĩa và phi lý.  Vô nghĩa và phi lý ở chỗ chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và sống cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.  Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su đầu óc bất bình thường (out of his mind), cho nên  chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn.

Hơn nữa, trước khi Giê-su sinh ra đời thì nhân loại đã trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều triệu năm, trong đó có các thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su.  Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su?  Vậy tất cả cũng đều bị Giê-su luận phạt hay sao?  Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao?  Những người Việt Nam tân tòng Ca Tô Giáo có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế, phi nhân tính, phi lôgic  như vậy mà giáo hoàng nêu lên được trong thời đại này thì kể cũng lạ.  Điều lạ hơn nữa là các tín đồ vẫn còn tin theo cái tín lý quái gở đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng mình, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lý, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự  luận phạt của Giê-su.  Không những chỉ ích kỷ mà họ còn để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đã không còn chỗ đứng.  Trong thời đại mà các thần bình vôi, thần cây đa, thần hà bá v..v.. đã không còn ý nghĩa, tại sao họ vẫn còn có thể tin vào một “Thiên Chúa” của người Do Thái cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác gì những “Thiên Chúa” trong dân gian trên khắp thế giới?

Không phải chỉ có Giáo  hoàng  John  Paul  II  mới đưa ra luận điệu thần học có tính cách phi lô-gic như trên mà một cộng sự viên cao cấp của ông, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, cũng đưa ra một luận điệu thần học tương tự  trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng: “Chúng ta không được lựa chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi (sic) của Chúa.” hàm ý Chúa của ông Thuận sinh ra muôn loài nhưng lại chọn người này bỏ người kia tùy hứng, vì sự lựa chọn không đặt trên tiêu chuẩn luân lý, đạo đức.  Một Chúa như vậy thì thật ra có phải là Chúa hay không.  Những luận điệu thần học như vậy của Ca-Tô giáo thật ra chỉ để cho những người vốn không bao giờ xử dụng đến đầu óc, đến lý trí, hoặc mê mẩn về một cái bánh vẽ trên trời,  tin theo.  Đối với những người có đôi chút đầu óc và không cần đến một cặp nạng Thần quyền để lê lết trên cuộc đời thì đó chỉ là những luận điệu cực kỳ phi lý đã lỗi thời, làm sao có thể tin được?  Luận điệu thần học trên, Ca-Tô giáo thường dùng để biện minh cho một sự kiện: trong Thánh Kinh có nhiều nhân vật được Thiên Chúa chọn nhưng đạo đức rất tệ mạt, và trong lịch sử Ca-Tô Giáo có nhiều giáo hoàng được Thiên Chúa chọn, Thánh Linh hướng dẫn, nhưng lại là những người phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu như sát nhân, loạn luân và loạn dâm v..v.. (xin đọc cuốn Đức Tin Công Giáo của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, 2000, trang 174-180).

Khẳng định của 2 nhân vật cao cấp nhất trong hàng lãnh đạo Ca-Tô Giáo Rô-Ma cho chúng ta thấy ngay rằng bản chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô  Giáo Rô-Ma nói riêng, là một tôn giáo “cứu rỗi” chứ không phải là một tôn giáo “giác ngộ”.  Trọng tâm của một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” là vấn đề tin, loại “tin là một cách sống, chết, không cần biết, không cần hiểu”  như ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-tô, đã khẳng định trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng.  Loại tin này, người ngoại đạo gọi là “mù loà tin bướng tin càn”, nghĩa là chỉ tin những gì giáo hội dạy, bất kể những điều đó có đúng hay không, có hợp lý hay không, là sự thật hay chỉ là những luận điệu lừa dối, đã mất đi thời gian tính.  Thật vậy, thuyết thần học Ki Tô về sự cứu chuộc và cứu rỗi của Chúa Giê-su đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông.  Nhưng ngày nay, trừ những  giáo dân ít học và kém hiểu biết, có còn ai tin vào huyền thoại “tội tổ tông” nữa đâu.  Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II  ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII)  không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy.   Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác. 2

Tại sao các  nhà  thần học và  giám mục lại  từ  bỏ thuyết thần học về tội tổ tông?  Vì ngày nay, thuyết này không còn phù hợp với trình độ hiểu biết tiến bộ của nhân loại, hơn nữa lại còn chứa những mâu thuẫn mà không nhà thần học nào có thể biện minh được.   Tôi sẽ   trở  lại vấn đề “tội tổ tông” trong phần kết của cuốn sách này.

Khi chúng ta đặt câu hỏi “Giê-su giảng dạy những gì?” thì chúng ta đã giả định rằng Giê-su có đầy đủ tư cách của một ông Thầy, đã để lại cho hậu thế một giáo lý nhất quán và phổ quát.  Nhưng chúng ta không thể tìm thấy những thuộc tính này trong Ki Tô Giáo, vì với một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” thì vấn đề không phải là những tiêu chuẩn đạo đức hay những triết lý về nhân sinh mà tất cả chỉ tùy thuộc vào lòng từ bi (sic) của Chúa, như  TGM Nguyễn Văn Thuận đã khẳng định ở trên, và cốt tủy của đạo Chúa là tin vào Chúa chứ không liên quan gì đến những điều giảng dạy, nếu có, của Giê-su, như giáo hoàng John Paul II đã uẩn hàm ở trên.  Vậy thật ra, câu hỏi “Giê-su giảng dạy những gì” đặt ra hơi lạc đề, vì nó không mấy liên quan gì đến nhiệm vụ cứu chuộc hay cứu rỗi của Giê-su.

Để hiểu rõ vấn đề hơn, và để chúng ta có một khái niệm về vai trò của Giê-su trong một tôn giáo “cứu rỗi” như Ca-Tô giáo, tôi xin trích dẫn vài đoạn sau đây của Tiến Sĩ  George Dennis O’Brien, Giáo sư Triết,  Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn “Thần Ki-Tô Và Đường Xe Lửa ở New Haven.  Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành Công”.   Trong cuốn sách này, giáo sư O’brien đã phân tích cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” và một tôn giáo “giác ngộ” như Phật Giáo, trg. 101-108:

“Một tôn giáo “giác ngộ” tăng tiến trí tuệ tâm linh hoặc đạo đức của chúng ta bằng một giáo pháp nào đó.  Một tôn giáo “cứu rỗi” cải đổi đời sống của chúng ta bằng cách dẫn chúng ta sống đời sống của chúng ta trong một người khác.

…Khi bậc Thầy xuất chúng qua đời, giáo pháp của ông ta có thể tiếp tục sống.. Ông ta có thể có một giáo pháp như Tám Thánh Đạo (Bát Chánh Đạo. TCN) khiến cho cái trí tuệ chuyên biệt của ông ta tồn tại vĩnh viễn.  Ngay cả khi bậc Thầy không để lại một giáo pháp nào mà chỉ là mẫu mực của một trí tuệ tìm tòi và lý tưởng về tính Thiện, như Socrates, cái gương sáng của ông Thầy tồn tại và làm tiêu chỉ cố gắng cho những đệ tử sau này.   Tất cả những phương tiện trên để tiếp nối “đời sống của Sư Phụ”  đều có ý thức cao và được áp dụng rộng rãi…Nhưng cái khung truyện đó không phải là chủ trương của Tân Ước.  Không phải là giáo pháp của ông Thầy tồn tại, mà là chính “ông Thầy”.  Mà dù như vậy đi chăng nữa thì cũng không có “ông Thầy” mà chỉ có “ông cứu thế”.  Vì cách duy nhất để có một tôn giáo cứu rỗi là qua sự xâm nhập vào đời sống của tôi của một người có ý nghĩa lạ lùng khác, cái “người khác” này thật là cần thiết để cho câu chuyện có thể tiếp tục.  Không có sự “sống lại” thì không thể có chuyện để mà kể.

Do đó, tôn giáo cứu rỗi tùy thuộc ở “cải đổi”, “sống lại”, “thay đổi tận gốc rễ” trên căn bản một đời sống sống với một người khác.

…Trong một tôn giáo cứu rỗi, ta không thể đạt được một trình độ tâm linh cao bằng cách học hỏi về một chân lý nào đó, một sự kiện nào đó, một con người nào đó.   Tất cả những điều trên đều có tính cách giáo dục và cao quý, nhưng đó không thuộc một truyện phim thuộc loại cứu rỗi.  Trong câu chuyện về tội lỗi và cứu rỗi, con người tới một trạng thái mới bằng cách sống với một người khác.

Giêsu có hội đủ những tiêu chuẩn của những bậc Thầy xuất chúng về tâm linh không?  Không đâu.  Cái tiêu chỉ của sự siêu quần về tâm linh là con người phải là một bậc Thầy xuất chúng về tỉnh thức, về trí tuệ tâm linh, hoặc một tâm bình lặng.  Giêsu không phải là một ông Thầy, mà là một ông cứu thế.

Chúng ta hãy coi một bậc Thầy xuất chúng.  Socrates là một thí dụ tốt.  Socrates là một đại sư về tỉnh thức tâm linh.  Ông ta cho rằng ông không biết gì cả, chỉ đặt cho học trò vài câu hỏi có tính cách mưu mẹo, thách đố.  Socrates muốn chắc rằng học trò bám vào chân lý chứ không bám vào Socrates.

Đức Phật là một thí dụ về một bậc Thầy “tôn giáo” xuất chúng cũng có cùng giáo pháp tự chứng như Socrates.

Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ.  Người đã chứng được những chân lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khỏi khổ đau..

Tương phản với những bậc Thầy xuất chúng kể trên, chúng ta phải nói rằng Giêsu hiển nhiên hiểu lầm về vai trò    của một giáo pháp.  Giêsu không có học trò (hay đệ tử) mà chỉ có môn đồ (hay tông đồ).  Và điều này không phải là ngẫu nhiên.  Giêsu nói: “Kẻ nào “tin vào” Ta thì sẽ được sống đời đời.”  Không phải là tin vào giáo pháp của ta mà tin vào chính TA.  Lời tuyên xưng này không làm cho anh được cái giải thưởng giáo dục của E. Harris Harbison.  Cái mà Giêsu “biết” không phải là sự giác ngộ, Giêsu chỉ  biết Chúa Cha: “Chỉ có con mới biết Cha”, “Kẻ nào biết TA sẽ biết Cha”, “Chỉ có thể đến với Cha ta qua TA”.

Bất cứ Ki-Tô Giáo có thể là cái gì khác, có vẻ như là ở ngoài mặt rõ ràng đó là một tôn giáo thuyết giáo về sự cứu rỗi và một đấng cứu rỗi.  Trước khi chúng ta cảm thấy chán ngấy với ý tưởng này, điều quan trọng là chúng ta phải nhớ rằng hầu hết những chủ lực tinh thần lớn khác, không những là không thuyết giáo về sự cứu rỗi mà trong vài trường hợp, còn thực sự khinh ghét ý tưởng này.  Hồi Giáo là một trường hợp điển hình… Người theo Hồi Giáo thấy rằng cái khái niệm Ki-Tô về một đấng cứu rỗi đã làm hạ phẩm giá của cả đấng cứu rỗi lẫn người được cứu rỗi.

Để  sống  đạo  hạnh  và tiến  tới   Giác Ngộ,  con  người  cần những bậc Thầy chứ không cần tới các đấng cứu rỗi.  Sự khác biệt thật là quan trọng.  Xét về toàn diện, những tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng của người Mỹ ngày nay hơn.  Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những tôn giáo dựa theo Thánh Kinh.  Trước hết là những tôn giáo này có vẻ như là những con đường tâm linh tự lực  Điều này hợp với tinh thần độc lập và tự tin của người Mỹ.  Tuy rằng các bậc Thầy xuất chúng rất là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua một bên, và con người có thể tự học lấy.  Người ta không thể tự cứu rỗi trong tôn giáo dựa vào Thánh Kinh.  Lợi thế thứ nhì của các tôn giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp bỏ phần lớn cái mưu toan thần học.  Nếu thực sự có các Thần – và trong Phật Giáo có vẻ như là không hề có – thì vai trò của các Thần là những bậc Thầy hữu ích (nhưng có thể bỏ qua), hoặc là những lý tưởng hay những nhân vật gương mẫu.  Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm trong ông “Thầy – Cứu rỗi.” “  3

Sự phân tích ở trên của Giáo sư O’Brien rất phù hợp với nhận định của giáo sư đại học người Đức, Hermann Samuel Reimarus, trong thế kỷ 18.  Theo giáo sư Reimarus thì chúng ta có thể phân biệt một cách tuyệt đối những điều viết bởi các tông đồ và những điều giảng dạy thực sự của Giê-su.  Tất cả những điều giảng đạo của Giê-su nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới” (Albert Schweitzer, The Quest of the Historical Jesus, The MacMillan Co., New york, 1962, p. 16:  What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”). Sự phân tích trên cũng phù hợp với nhận định của William Hirsch về “cái Ta” của Giê-su: “Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: “Ta”” (All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: “I”), một cái “Ta” bắt nguồn từ căn bệnh hoang tưởng.

Vậy thật ra Giê-su không phải là một ông Thầy theo đúng nghĩa của một ông Thầy, do đó bàn về chủ đề “Giê-su giảng dạy những gì?” thì chỉ là cưỡng bàn về một chủ đề không thích hợp.  Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng phân tích những lời của Giê-su trong Tân Ước mà phần lớn là những lời khẳng định chứ không phải là thuyết giảng cho một giáo lý nhất quán.   Thực tế là chỉ có ít điều vụn vặt được trích dẫn ngoài toàn bộ những lời của Giê-su (out of context) để giảng cho tín đồ, những người ít khi đọc đến Tân Ước khoan nói đến chuyện có đầu óc nhận xét phân tích.  Nhưng ngay cả ít điều vụn vặt này cũng chẳng có gì là độc đáo vì chúng chẳng qua chỉ là sự cóp nhặt những điều đã có trong dân gian, trong các nền văn minh khác.  Các tín đồ không biết đến điều này, cho nên họ bị đưa vào cái rọ thần học chọn lọc và một chiều của giới chăn chiên mà không biết rằng mình đã bị nhồi sọ, nhất là sự nhồi sọ này được thực hiện từ khi tín đồ còn nhỏ, đầu óc còn như trang giấy trắng, một khi đã bị vấy mực đen vào thì rất khó tẩy sạch.

Vậy thì, Giê-su giảng dạy những gì?

Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát:

Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu.  Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ…  Một điều rõ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y  hệt của các tác giả Do Thái và dân gian. 4

Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không phải là sai.

Bây giờ chúng ta hãy đi vào chi tiết những lời giảng dạy của Giê su.

Trước hết, chúng ta hãy xét đến những khẳng định về “cái Ta” của Giê-su vì chính những khẳng định này đã được giáo hội khai thác để cấy vào đầu tín đồ từ khi còn nhỏ, tạo nên một đức tin không cần biết không cần hiểu.  Vì “cái Ta” của Giê-su bắt nguồn từ một tâm bệnh hoang tưởng như đã được chứng minh trong chương trên, cho nên trong Tân Ước có rất nhiều “cái Ta” tự tôn của Giê-su.   Sau đây chỉ là vài trích dẫn những lời của Giê-su trong Thánh Kinh với vài lời phân tích của tôi dựa trên lô-gic.

John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread of life)

John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light of the world)

John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện  (I am the good shepherd)

John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the resurrection and the life)

John 14:6:  Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and the life)

John 10:30: Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are one).

John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).

John 12:49:  Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào. (I have not spoken on my own authority; the Father who sent me has himself given me commandment what to say and what to speak)

Những khẳng định trên, và nhiều khẳng định khác về cái “Ta” của Giê-su trong Tân Ước, rõ ràng là bắt nguồn từ một căn bệnh hoang tưởng như chúng ta sẽ thấy trong phần phân tích sau đây.  Đó không phải là những lời dạy có tính cách giáo dục đạo lý.  Trong lịch sử nhân loại, chúng ta không hề thấy bất cứ một nhân vật nổi danh nào như Đức Phật, Đức Khổng Tử, Lão Tử, Socrates v..v.. tự quảng cáo cho “cái Ta” của mình nhiều và hoang đường như Giê-su.  Hoang đường vì không phải là sự thật, vì mâu thuẫn, và vì chúng trái ngược với con người thực của Giê-su như được mô tả trong Thánh Kinh.

Những “cái Ta” của Giê-su đã đặt trước chúng ta khá nhiều vấn đề, và bắt buộc chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoát, không thể nhập nhằng.

Thật vậy, Ta là Con Thiên Chúa khẳng định vai vế của Giê-su đối với Thiên Chúa, và lẽ dĩ nhiên hoàn toàn mâu thuẫn với Ta với Cha Ta là một.  Dù chúng ta có nhắm mắt tin bừa thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity)   Chúa Ba Ngôi của giáo hội Ca-Tô đưa ra nhiều thế kỷ sau khi Giê-su đã qua đời đi chăng nữa thì các câu trên cũng còn đưa tới vài vấn đề khác.  Thí dụ:

Chúng ta hãy xét đến câu John 12: 49 ở trên: Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào.

Thứ nhất, câu trên chứng tỏ Giê-su chỉ tự nhận, vì không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ đó là sự thật, là một sứ giả của Thiên Chúa, được sai xuống trần để nói cho dân Do Thái, tuyệt đối không phải cho dân Việt,  những gì mà Thiên Chúa muốn nói.  Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với lời tự nhận khác của Giê-su: John 10:30: Ta với Cha Ta là một.

Thứ nhì, nếu chúng ta chấp nhận câu John 12: 49 ở trên như là sự thực, thì những lời Giê-su nói đều là những lời của Thiên Chúa.  Mà Thiên Chúa thì không thể sai lầm, vì Thiên Chúa, theo niềm tin của các tín đồ Ki-Tô, là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, kể cả quá khứ vị lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia, mà giáo hội đã thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, khi họ chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân xác.  Điều  này khiến chúng  ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai.

Nếu những lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, thì vai trò Thiên Chúa của Giê-su có thể tạm chấp nhận được.

Nếu trong những lời nói và hành động của Giê-su có những sai lầm thì Giê-su không thể nào là Thiên Chúa.

Nhưng Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm.   Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới hạn của một người thường, ở trình độ của một người dân thường trong vùng dân Do Thái cách đây 2000 năm.  Và như vậy, Giê-su đã phạm tội nói láo và lừa dối, vì ông ta khẳng định rằng những lời nói của ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm.   Kết luận: Giê-su chỉ có thể đóng một trong hai vai trò: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai.  Vậy vai trò nào là vai trò đích thực của Giê-su?

Điều này không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc thì sẽ thấy ngay.  Chúng ta đã biết trong chương trên, bác sĩ  Nguyễn Văn Thọ cũng như học giả Rubem Alves, dựa trên Thánh Kinh, đều viết rằng Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh trong khi thực sự thì Moses không viết.  Huyền thoại về Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đã chết, trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính giáo hội Ca-Tô cũng phải chấp nhận. Bằng chứng?  Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đã chết từ lâu.  Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính mình chết?  Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh.  Vậy, nếu Giê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là Moses,  thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về những chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su, cho mình chính là  Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời đó chính là của Thiên Chúa?   Kết luận, những câu khẳng định về cái “Ta” của Giê-su chẳng qua cũng chỉ là những điều hoang tưởng bệnh hoạn, không khác gì những hoang tưởng của David Koresh, James Jones và vô số người khác trong thời đại này.

Thứ ba, nếu Giê-su tự cho mình chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa trong Cựu Ước, thì Giê-su lại bị kẹt trong vấn đề đạo đức.  Vì trong Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả như một vị Thần chiến tranh, ác độc, ghen tuông, ưa ủng hộ dân này chém giết dân kia.  Thật vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dạy dân Israel của Ngài  “Vậy các ngươi sẽ ăn cướp của người Ai cập” (Exodus 3, 22: So you shall plunder the Egyptians) và dân ngài đã tuân theo lệnh của Ngài như được kể trong Xuất-Ê-Díp-Tô (Exodus) 12, 35-36; Ngài dạy Moses: “Hãy báo thù dân Midian  cho dân Israel” (Numbers 31, 2: Take vengeance for the children of Israel on the Midianites), Moses tuân lệnh dạy dân mình: “Các ngươi hãy mang binh khí đi đánh dân Midian để trả thù cho Thiên Chúa” (Numbers 31, 3: So Moses spoke to the people, saying, “Arm yourselves for the war, and let them go against the Midianites to take vengeance for the Lord); “và chúng giao chiến cùng dân Midian, đúng như lời Chúa ra lệnh cho Moses, giết sạch mọi người Nam” (Numbers 31, 7: And they warred against the Midianites, just as the Lord commanded Moses, and they killed all the males); “Và dân Israel bắt tất cả đàn bà Midian, và con nhỏ của họ, và cướp hết thảy súc vật, bày chiên, và của cải của họ.  Chúng cũng đốt sạch những thành phố, thành trì mà dân Midian ở.  Và đem theo tất cả đồ cướp được, người và súc vật” (Numbers 31,  9-11: And the children of Israel took all the women of Midian captive, with their little ones, and took as spoil all their cattle, all their flocks, and all their goods.  They also burned with fire all the cities they dwelt, and all their forts.  And they took all the spoil and all the booty, both of man and beast).  Đọc tiếp những phần sau trong chương Numbers này chúng ta thấy Moses còn ra lệnh cho thuộc hạ giết hết đàn bà và con trai chỉ để lại trinh nữ.  Sau đó là mục chia chác những “chiến lợi phẩm”, Thiên Chúa cũng có phần như sau: 675 con chiên, 72 con bò, 61 con lừa, và 32 trinh nữ. Một Thiên Chúa như vậy có đáng để cho chúng ta kính trọng hay không, khoan nói đến việc thờ phụng.  Thờ phụng Thiên Chúa hay thờ phụng Giê-su thì cũng chẳng khác gì nhau vì Giê-su đã khẳng định ông chính là Thiên Chúa.  Phải chăng vì vậy mà Giám Mục John Shelby Spong đã thú nhận: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. (xin đọc Chương I, trang 84 ở trên.)

Như  trên  đã  nói,  trong  Thánh  Kinh  có  nhiều  chuyện chứng tỏ Giê-su sai lầm.  Sau đây là một chuyện điển hình: chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung.

Ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, kể chuyện này trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng như sau:

-Matthêu 21, 18-21:   Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường.  Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi.  Nên Người nói: “Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!”  Cây vả chết khô ngay lập tức.  Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: “Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?”  Đức Giêsu trả lời: “Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế.”

Rồi ông bình luận và chê triết gia và nhà toán học nổi tiếng hoàn cầu trong thế kỷ 20, Bertrand Russell, là không biết đọc Thánh Kinh như sau:

“Chẳng cần phải là nhà Kinh Thánh học ta cũng biết rằng đây là một lối giảng dạy bằng dụ ngôn, bằng tác động. (…) Đọc dụ ngôn mà không biết uyển chuyển đôi chút, thật sự đáng tiếc nơi một con người đặt nặng vấn đề ngôn ngữ như B. Russell.”

Ông Đỗ Mạnh Tri đã thiếu lương thiện trí thức, trích dẫn thiếu sót Thánh Kinh, bỏ đi đoạn trên nói về đầu đuôi câu chuyện dẫn đến chuyện cây sung.  Đoạn trên đó như sau:

“Thế rồi, khi Giêsu và các môn đồ tới Jerusalem, và tới làng Bethphage ở gần núi Olives, Giêsu sai hai môn đồ đi trước vào làng…..

…Giêsu đi thẳng vào đền thờ, đuổi hết những người mua bán ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền, và ghế của những kẻ bán chim bồ câu….

Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi Jerusalem, về trọ tại làng Bethphage đêm ấy.”

Và chuyện cây sung bắt đầu: Sáng hôm sau, trên đường trở vào thành phố, Ngài thấy đói bụng….

Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những người đã bị  nhồi sọ một chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có thể cho câu chuyện cây sung ở trên là “một lối giảng dạy bằng dụ ngôn”.  Một dụ ngôn thường là một câu chuyện về những nhân vật không dính dáng gì tới người đang kể chuyện hay những người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý.  Ở đây, Matthew kể chuyện về một nhân vật Giê-su có thật, mới chết trước khi Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 3, 40 năm, và câu chuyện có đầu có đuôi hẳn hoi.  Mặt khác, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không cho độc giả biết cái mà ông Tri cho là dụ ngôn của Chúa trong chuyện nguyền rủa cây sung dạy về cái gì?  Luân lý, đạo đức, cách xử thế đối với chúng sinh?  Tất cả đều không phải.  Câu chuyện về cây sung chẳng phải là một “dụ ngôn” mà đã nói rõ một điều: ai có lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra còn có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển?  Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có thể làm được bất cứ cái gì mà mình muốn.

Chỉ có điều, trong 2000 năm nay, người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có ông Đỗ Mạnh Tri,  nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những chuyện này.  Vậy phải chăng những lời của Giê-su trong “dụ ngôn” về cây sung chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm, và chỉ có những người không đội trời chung với lý trí, với suy luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hão của Giê-su.

Cũng vì vậy mà các chuyên gia phân tích Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:

Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.

Hủy diệt vô lý vĩnh viễn một cây ra trái ăn được.

Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ý.

Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có lòng tin là có thể thay đổi tình trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.

Nhưng vấn đề chính trong chuyện cây sung là, một chi tiết trong đó đã đương nhiên bác bỏ khả năng làm phép lạ của Giê-su như đi trên sóng, biến 1 ổ bánh mì thành 100 ổ bánh mì, biến nước thành rượu v..v..  Ngài là Thiên Chúa mà sáng ra Ngài lại đói như người thường.  Tại sao Ngài lại không biến cục đá ngoài đường thành bánh mì để Ngài ăn cho đỡ đói mà lại hi vọng vào vài quả sung lúc trái mùa?  Để rồi Ngài phải nổi quạu và nguyền rủa cây sung một cách phi lý?  Ấy thế mà các tín đồ có đầu nhưng không có óc vẫn tin rằng Ngài quả là Thiên Chúa “lòng lành vô cùng” và có khả năng làm nhiều phép lạ.

Như chúng ta sẽ thấy, nhiều bằng chứng ngay trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một cách bất thường v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự tôn của Giê-su như  “Ta với Cha Ta là một” hay “Ta là Con Thiên Chúa”, “Ta là con đường, là sự thật, là sự sống”   v..v.. được hay không?  Trong chương trên, tôi đã trình bày kết luận của nhiều học giả: Giê-su chỉ là một người thường, không hơn không kém, khoan kể là kiến thức và đạo đức của Giê-su không có gì đặc biệt, nếu không muốn nói là thấp kém so với rất nhiều nhân vật trong lịch sử thế gian.  Vậy mà Giê-su dám tự nhận:

John 8, 12: Ta là ánh sáng của thế gian. (I am the light of the world).

Ánh sáng gì của thế gian?  Ánh sáng soi sáng trí tuệ và đạo đức con người?  Tuyệt đối không phải.  Đó là ánh sáng, thật ra là sự u tối, của một đức tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Lịch sử thế gian cho thấy, vì tin vào “ánh sáng thế gian” của Giê-su, Ca-Tô giáo Rô-Ma đã chìm đắm trong bóng tối dày đặc của 2000 năm đầy tội ác và vẫn còn đang tiếp tục mưu toan lùa nhân loại vào cảnh tối tăm nô lệ cho một định chế thế tục độc tài tham lam vô độ mang danh nghĩa tôn giáo.

Trước khi đi vào chính những lời của Giê-su trong Thánh Kinh để tìm hiểu vấn đề Giê-su giảng dạy những gì, tôi hi vọng độc giả nhận thức rõ một điều.  Giới chăn chiên trong giáo hội Ca-Tô thường trích dẫn những điều vụn vặt trong Tân Ước mà họ cho đó là những lời hay ý đẹp của Giê-su để giảng dạy cho tín đồ, phần lớn những lời này thuộc loại khẳng định tự tôn, với mục đích đề cao, thần thánh hóa Giê-su trước đám tín đồ vốn không bao giờ đọc Thánh Kinh và cũng không đủ trình độ để phân biệt chân giả.  Họ không bao giờ đưa ra những câu chứng tỏ “lời nói không đi đôi với việc làm” của Giê-su.  Thực chất của Giê-su là chỉ nói ngon nói ngọt ngoài miệng, còn những hành động của Giê-su thì không bao giờ làm theo lời nói, trái lại còn trái ngược hẳn với những lời nói của mình. Do đó Giám Mục Spong đã phải đưa ra một nhận định: “Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su ở Nazareth là con người thiển cận, đầy thù hận, và ngay cả đạo đức giả릱uot; (xin đọc Chương I, trang 84).  Chứng minh?

1.   Chúa Giê-su dạy: ” Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán.” nhưng rồi chính ông lại đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lãnh đạo mù quáng và còn nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dãy trong Tân Ước.

Vậy trước khi phê phán họ, Chúa Giê-su đã lấy cây sà trong mắt mình ra chưa?

2.  Chúa Giê-su   dạy  môn  đồ  “phải  yêu  kẻ thù  và   cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con” (Matthew 5: 44), nhưng chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:

Giê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.,  và coi những người không tin và tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:

Luke 19:27 :   Hãy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

3.  Chúa Giê-su dạy: “Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống  hỏa  ngục”  (Matthew  5: 22)   nhưng  chính  Giê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:

Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

Matthew 12: 34:  Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn   độc, ác

như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

Vậy bây giờ Chúa Giê-su đang ở đâu?  Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?

4.  Chúa Giê-su dạy, Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn phục vụ người thì càng được tôn trọng… Ai tự đề cao sẽ bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ mình sẽ được nâng cao, nhưng chính Chúa lại tự tôn một cách quá cống cao ngã mạn như trong những câu tôi đã trích dẫn ở trên.  Cái tính khiêm tốn mà Giê-su dạy các môn đồ, Giê-su để vào đâu mà lại đưa ra những lời tự nhận quá huênh hoang như trên?

Nói tóm lại, khi tìm hiểu về thực chất con người của Giê-su, chúng ta cần giữ thái độ: “Đừng tin những gì các Linh mục nói về Giê-su trong các nhà thờ, mà hãy nhìn kỹ những gì Giê-su nói và làm trong Thánh Kinh”.  Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể có những nhận định trung thực và chính xác về Giê-su, do đó tránh được những sự mê hoặc của những luận điệu thần học về những thuộc tính thần thánh của Giê-su, một nền thần học của giới giáo sĩ đưa ra, chỉ cốt để tự tạo quyền lực thế gian trên đám tín đồ thấp kém, khai thác sự yếu kém tinh thần và lòng mê tín cả tin của họ.

Đi sâu vào vấn đề, xét về mặt trí tuệ cũng như đạo đức thì nhiều chuyện trong Tân Ước chứng tỏ tư cách của Giê-su còn kém cả nhiều người thường nữa.  Điều này chúng ta có thể chứng minh dễ dàng qua sự phân tích những lời và hành động của Giê-su trong Tân ước. Tôi cũng xin độc giả nhớ cho rằng, hầu hết những “lời giảng dạy” của Giê-su là những khẳng định hoang đường vô căn cứ  phản ánh những niềm tin của người Do Thái trong bối cảnh lịch sử và xã hội của dân tộc Do Thái cách đây 2000 năm. Cho nên ngày nay,  tuyệt đại đa số các bậc thức giả đã bác bỏ những khẳng định này, như   tôi sẽ chứng minh trong các phần sau.

Để độc giả có một nhận định rõ ràng về vấn đề “Giê-su giảng dạy những gì?”, tôi xin xếp những lời của Giê-su trong Tân Ước theo hai chủ đề chính: gia đình và quốc gia.  Sau đó tôi sẽ bàn đến “Bài Giảng Trên Núi”.   Ngoài ra, để cho đầy đủ hơn tôi sẽ đưa ra một số những lời lặt vặt khác của Giê-su ở trong Tân Ước để quý độc giả thấy rõ con người lịch sử Giê-su là con người như thế nào.

Source: http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/tcn_jesusII.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 13, 2011 in Uncategorized

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: