RSS

ÂM MƯU CỦA VATICAN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

21 Jul

ÂM MƯU CỦA VATICAN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mạnh Quang

– ► Những việc làm của Vatican sử dụng để đánh phá Việt Nam
– ► Chính sách chia để trị và âm mưu cướp chính quyền cúa Vatican ở Việt Nam
– ► Những âm mưu và kế hoạch của Vatican cướp chính quyền ở Việt Nam
– ► Kết luận về Giáo Hội La Mã và một số đề nghị

Khó ai có thể chối cãi được rằng, từ mấy thế kỷ vừa qua, Vatican đã có những hành động thù địch đối với tổ quốc và dân tộc ta. Đã từ lâu, đất nước chúng ta đã phải liên tục đối phó với những thủ đoạn và việc làm do Vatican chủ động đánh phá nước bằng trăm phương ngàn kế.

Vatican luôn luôn lợi dụng việc truyền giáo để lập những đạo quân nòng cốt làm lực lượng xung kích chuẩn bị cho mưu đồ đánh cướp chính quyền. Sau đó Vatican sẽ thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô và thi hành kế họach Ki-tô hóa dân bản địa bằng bạo lực như họ đã làm ở Âu Châu trong thời Trung Cổ, ở Châu Phi, ở Châu Mỹ La-tinh, ở Phi Luật Tân từ đầu thế kỷ 16, và ở Croatia trong những năm 1941-1945. Bước đầu họ dùng lợi lộc câu nhử những phần tử hạ lưu trong xã hội chạy theo bắt mồi mà trở thành tín đồ, rồi gom những con mồi này vào sống ở trong một khu vực riêng biệt gọi là “xóm đạo”, và đoàn ngũ hóa họ thành những đạo quân thứ 5.

Nhìn lại, chúng ta thấy từ đầu thế kỷ 19 đến nay, Vatican đã:

1.- Sử dụng nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô bản địa làm đạo quân thứ 5 và lực xung kích nòng cốt đánh cướp chính quyền.

2.- Liên kết với Pháp đem quân đánh chiếm và thống trị nước ta trong những năm (1858-1945.)

3.- Liên kết với Pháp để tái chiếm Đông Dương vào tháng 9 năm 1945 rồi chủ động đưa Bảo Đại lên thành lập chính quyền với dã tâm thi hành chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, chuẩn bị cho kế sách “dùng tín đồ Ca-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc tam giáo cổ truyền”.

4.- Liên kết với Hoa Kỳ đưa con chiên Ngô Đình Diệm lên cầm quyền với dã tâm duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi, biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt tách rời khỏi tổ quốc Việt Nam, rồi thi hành Kế Hoạch Ki-tô Hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực.

5.- Mấy năm gần đây, Vatican đang trở lại sử dụng nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô bản địa làm lực xung kích chờ cơ hội để đánh cướp chính quyền.

Tri bỉ, tri kỷ, bách chiến bách thắng. Do đó, muốn đối phó với Vatican hay phá vỡ những thủ đoạn và kế sách mà Vatican sử dụng để đánh phá đất nước ta, chúng ta cần phải biết rõ Vatican là một thế lực như thế nào. Có như thế, thì chúng ta mới có thể tìm ra phương cách đối phó hiệu quả.

Mục đích của chương sách này là làm cho độc giả thấy rõ (1) những việc làm bất chính, đại gian đại ác với những thủ đoạn và kế sách của Vatican đánh phá đất nước ta để tiên hành kế họach trên đây, và – (2) mối nguy hiểm cho nền văn hóa và văn minh nhân lọai gây ra bởi những gương xấu của giới lãnh đạo giáo hội và của giới tu sĩ của hệ phái tôn giáo này.

I. Vatican Huấn Luyện Tín Đồ Để Làm Lực Lượng Xung Kích Đánh Cướp Chính Quyền

Việc đoàn ngũ hóa tín đồ được thực hiện đồng loạt bằng nhiều phương cách: biến tín đồ thành những người bị điều kiện hóa, dùng những lời dạy lưu manh để nhồi nhét vào đầu óc họ. Chính sách ngu dân của Vatican đưa đến nhiều hậu quả tai hại. Các giáo sĩ được nuông chiều và bao che để sống đời hoang đàng, đưa đến tình trạng loạn luân, dâm loạn trong hàng giáo sĩ và chức sắc “hội thánh”. Phần này đề cập đến ảnh hưởng nặng nề do những gương xấu của các đại diện Chúa trong giáo hội Ca-tô.

A.- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ Thành Những Đạo Quân Nằm Vùng Chờ Giờ Hành Động

Tìm hiểu xã hội Ca-tô, chúng ta thấy rằng ngay khi vừa mới thâu nhân được một số tín đồ từ 4 hay 5 gia đình trở lên, các cán bộ truyền giáo Ca-tô liền tìm cách gom họ lại ở chung với nhau trong một khu xóm riêng rẽ gọi là xóm đạo hay làng đạo, sống riêng rẽ cách biệt hẳn với cộng đồng dân tộc. Việc làm này của Vatican có hai mục đích:

1.- Dễ dàng kiểm soát tư tưởng của tín đồ.

Gom tín đồ vào ở chung một khu vực biệt lập với cộng đồng dân tộc là một việc làm tam tứ tiện vừa dễ dàng kiểm soát được tư tưởng cúa tín đồ, vừa có thể thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ, vừa đễ dàng điều động khi hữu sự. Theo châm ngôn “dân ngu dễ trị”, Vatican biến tín đồ thành những người hoàn toàn bị điều kiện hóa giống như những con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Vấn đề này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh mô tả rất rõ ràng như sau:

“Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đòan ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới.)” [1]

2.- Để dễ dàng đoàn ngũ hóa tín đồ thành các đội ngũ.

Vatican lập ra vô số đội ngũ mà họ gọi là các đoàn thể hay hội đoàn như: Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Công Giáo Tiến Hành, Đạo Binh Xanh, Hội Các Bà Dòng Ba, Các Ca Đoàn với nhiều tên khác nhau, Hội Thánh Giuse Lao Công, Hội Các Bà Mẹ Công Giáo,… Trong thực tế, những đoàn thể hay các hội đoàn này được biến thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục đề vừa tiếp tay cho các đấng bề trên của họ trong các họat động tình báo, vừa nằm tiềm phục chờ lệnh trên để hành động.

B- Thi Hành Chính Sách Ngu Dân

Lịch sử cho thấy, một trong những kế sách hữu hiệu mà Vatican đã sử dụng để đánh phá nước ta là chia rẽ dân ta thành hai lọai người mà họ gọi là “dân có đạo” và “dân ngoại đạo”. Họ phỉ báng các tôn giáo và nếp sống văn hóa cổ truyền của dân bằng cả lời nói và hành động. Cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày, đặc biệt là Chương Bốn (gọi là Ngày Thứ Bốn) có tựa đề là “Những Đạo Vạy” của Linh-mục Alexandre de Rhodes là bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này. Đồng thời, Vatican còn sử dụng hàng binh đoàn gián điệp với danh nghĩa là các giáo sĩ hay các nhà truyền giáo đem những chuyện hoang đường láo khoét và dùng những “hoa ngôn xảo ngữ” để mê hoặc và phỉnh gạt những con mồi mà đa số là những người nhẹ dạ khiến cho họ nhắm mắt tin theo mà trở thành tín đồ Ca-tô. Ghê tởm hơn nữa là họ (các giáo sĩ Ki-tô) tìm mọi cách khơi động lòng tham lam ích kỷ của người đời, dùng những miếng mồi vật chất để câu nhử và dụ khị những phương đê tiện, hạ lưu, tham lợi và háo danh chạy theo bắt mồi, rồi làm nô lệ suốt đời cho Vatican. Họ gom những người tham lợi “theo đạo lấy gạo để ăn” này vào cư ngụ ở một khu riêng biệt gọi là các xóm đạo hay làng đạo như đã nói ở trên để dễ bề huấn luyện giáo dân theo kế hoạch mở mang nước Chúa một cách bất lương và bất chính.

Họ dạy giáo dân “phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.” [2]

Rằng “Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất, chỉ nên tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.”[3]

Họ thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến giáo dân thành những người hoàn toàn bị điều kiện hóa, giống như một thứ người máy để cho họ điều khiển. Để phỉnh gạt tín đồ và người đời, họ sử dụng cụm từ “chính sách đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo” làm bức bình phong che đậy cho chính sách ngu dân dã man này của họ. Tìm hiểu chính sách này của họ, chúng ta thấy rằng họ có chủ tâm kiểm soát chặt chẽ các bài học lịch sử thế giới và các bài học quốc sử (đặc biệt là các bài học quốc sử trong thời cận và hiện đại). Họ kiểm soát chặt chẽ các bài học trong môn sử, không để cho một bài học nào trong chương trình:

1.- có thể gây bất lợi cho tín lý Ki-tô, bất lợi cho những lời dạy bất minh và bất chính (như trên) của giáo hội,

2.- để lộ những việc làm tội ác của Vatican chống lại những phát minh khoa học, những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong gần hai ngàn năm qua.

3.- để lộ những hành động của Vatican có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến cái chết của gần 300 triệu nạn nhân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác bị sát hai trong gần hai ngàn năm qua. [4]

4.- để lộ những hành động của Vatican chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 16 cho đến ngày nay.

Chuyện bộ lịch sử thế giới do hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn và phát hành trong niên học 1955-1956 bị một ông linh mục “yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu”, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị “mạt sát là đầu óc đầy rác ruởi” và chính quyền Ngô Đình Diệm cho mật vụ đến rình rập tại nơi cư trú của tác giả Nguyền Hiến Lê là bằng chứng bất khả bác cho những vấn đề kiểm soát các bài học lịch sử như nêu lên ở trên [5]

C.- Một Số Trong Những Lời Dạy Lưu Manh Của Vatican

Một trong những thủ đọan lưu manh của Giáo Hội La Mã trong chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ mà họ gọi là “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo” là việc dùng những lời dạy phỉnh gạt cực kỳ lưu manh để nhồi nhét vào đầu óc tín đồ. Dưới đây là một số những lời dạy dỗ nặng tính cách phỉnh gạt và lừa bịp này:

1.- Niềm tin tôn giáo không cần đến sự can thiệp của khoa học và lý trí.

2.- Chỉ cần một niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể bứng cả trái núi quăng xuống biển.

3.- Vâng lời quý hơn của lễ.

4.- Không được nghe hay đọc sách của những người vô thần hay chống Chúa,

5.- Phải tuyệt đối trung thành với giáo hội.

6.- Phải triệt để tuân hành những lời dạy hay lệnh truyền của các đáng bề trên.

7.- Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết. (Chú thích 2 ở trên).

8.- Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa.

9.- Nếu các Cha có làm gì sai trái, thì đã có Chúa phán xét, là tín đồ ngoan đạo, không được “bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha,” vì như thế tức là “phạm thánh” và sẽ bị Chúa trừng phạt đày xuống hỏa ngục đời đời”.

10.- “Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.” (Chú thích 3 ở trên).

Ngoài những lời dạy lưu manh trên đây, Giáo Hội La Mã còn dạy dỗ tín đồ làm những việc đại nghịch bất đạo. Tài liệu do ông Hội Trưởng Học Hội Đức Jesus Ki-tô Phục Sinh ghi lại những lời dạy dỗ đại nghịch bất đạo này của giáo hội với nguyên văn như sau:

“Cộng Đồng Chung thứ 19 Tridentinô (Trentô 1545-1564), giáo hội đã ra tay củng cố “quyền giáo huấn” là một “chân lý tuyệt đối”. Công Đồng đã đưa tín lý và giáo điều vào các canon hình luật, một lời nói xúc phạm vào điều cấm của một canon là thụ án hỏa thiêu sống dễ như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v… trước tòa án của giáo hội. Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559 ) tuyên bố: “Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn.” Ví dụ canon thứ nhất nói về tội bị thiếu sống, viết: “Nếu bất cứ ai nói rằng, con người có thể tự biện minh trước Thiên Chúa bằng việc làm của chính nó, bất kể việc làm qua giáo huấn nhân bản tự nhiên, hay giáo huấn của luật, nhưng không qua ân sủng của Thiên Chúa, (không) thông qua Đức Jesus Kitô, nó phải tuyệt thông (let him be anathema)…Hàng trăm “canon anathema chi li vụn vặt như thế”, giáo điều được “huấn quyền tuyệt đối của Giáo Hội” đưa vào hình luật, giết hại cơ man nào là người trong 8 thế kỷ (năm 1232, Giáo Hòang Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition). Một phương ngôn của khoa thần học Roma là: “Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi”. Một Giáo Hội tự “tuyệt đối hóa” mình nắm cực quyền trên sinh mạng sống đồng loại như thế, người ta không thể nói đến dân chủ.” [6]

D.- Hậu Quả Của Chính Sách Ngu Dân Của Vatican

Hậu quả (Vatican gọi là thành quả) của chính sách ngu dân này là hầu hết các tín đồ Ki-tô ngoan đạo (cuồng tín) của Vatican, bất kể là thuộc quốc gia nào, đều mù tịt về lịch sử thế giới cũng như lịch sử Giáo Hội La Mã và Việt Nam quốc sử. Cũng trong chính sách ngu dân này, tín đồ trở thành các con chiên thực sự. Họ (con chiên ngoan) bị làm cho mất hết khá năng lý trí để phân biệt được sự khác nhau giữa sự kiện (facts) và ý kiến (opinons), giữa nguyên nhận và hậu quả, giữa thuận lý và nghich lý, giữa cái đúng và cái sai, giữa phải và trái, giữa đạo lý và tôn giáo (họ lẫn lộn, coi những tín lý Ki-tô và lời dạy của Vatican là những nguyên tắc đạo lý), v.v…. Họ không có đủ khả năng viết một bài khảo luận đúng nghĩa. Ho tin tưởng mãnh liệt rằng họ có thể đạt được mục đích bằng những thủ đoạn phỉnh gạt, lừa dối, bằng ngô từ đao to búa lớn, bằng bạo lực và bằng khủng. Trường hợp quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của Ông Nguyễn Gia Kiểng là một thí dụ. Tương tự như thế, những tác giả đạo Chúa như Lữ Giang (Tú Gàn), cựu thẩm phán Nguyễn Cần, văn sĩ hoạt náo Chu Tất Tiến, Nguyễn Văn Chức, Tôn Thất Thiện, Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Văn Lực, v.v… đều viết gian dối để biện minh cho nhân vật Ngô Đình Diệm, người đã dùng bạo lực để thực hiện giấc mộng cải đạo toàn quốc. Dù rằng họ biết rõ sự thực ông Ngô Đình Diệm là một “tên bạo chúa” vừa là phản thần, vừa là tam đại Việt gian”, nhưng họ vẫn viết sách, viết báo tôn vinh nó lên hàng “chí sĩ:” và “anh hùng dân tộc đã chết vì dân”.Đọc những tác phẩm của những tên văn nô trên đây và các tên văn nô Ca-tô khác, chúng ta sẽ thấy rõ vấn đề này.

Hậu quả lớn nhất của chính sách ngu dân này của Vatican là hầu như tất cả các tín đồ ngoan đạo (cuồng tín) đều có những đặc tính Ki-tô như sau:

1.- Tuyệt đối tin tưởng và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican.

2.- Tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.

3.- Vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. (Bằng chứng cho sự kiện này là những hành động phản quốc của tín đồ Ca-tô cuồng tín người Anh trong những cuộc chiến của dân tộc Anh chống lại các thế lực liên minh với Vatican trong những năm 1534-1691 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_15.php), những hành động của tín đồ Ca-tô cuồng tín người Pháp chống lại dân tộc Pháp trong thời kỳ Cách Mạng từ tháng 7 năm 1789 cho đến đầu thế kỷ 20 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt…/NMQtt_16a.php,
http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16b.php), và những hành động của tín đồ Ca-tô người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975, cũng như ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến ngày nay. Một vài bằng chứng khác bất khả phủ bác cho sự kiện (đặc tinh) này là
(a) khẩu hiệu “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô tổng thống” được lưu hành ở trong các cộng đồng Ca-tô người Bắc Kỳ di cư ở miền Nam trong những năm 1954-1963,
(b) lời hô hào “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” của Linh-mục Hoàng Quỳnh vào mùa hè năm 1964 để kêu gọi và dạy dỗ giáo dân phải theo đó mà hành xử. (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_17.php.), và khi ở thế thượng phong hay có quyền lực trong tay, họ tin tưởng mãnh liệt vào bạo lực để cưỡng bách những người khác phải làm theo ý muốn của họ.

4.- Ít nhất là đi nhà thờ một tuần một lần đọc kinh cầu nguyện sáng tối mỗi ngày.

5.- Coi tất cả các ông tu sĩ Ca-tô như là đại diện cho Chúa ngay cả vào những khi họ không làm lễ, và tin rằng các ông tu sĩ này đều có quyền năng giống như Chúa Bố Jehovah, Chúa con Jesus.

6.- Nặng lòng mê tín, dị đoan, thật lòng tin hết tất cả những chuyện hoang đường nhảm nhí trong kinh thánh cũng như những chuyện nhảm nhí và láo khoét do Giáo Hội La Mã bịa đặt ra, và các ông tu sĩ Ca-tô rao truyền hay phổ biến.

7.- Thiển cận, chỉ tin vào những chuyện hoang đường láo khoét của Giáo Hội La Mã đưa ra, nhưng lại khinh rẻ tất cả những lễ nghi cúng tế các vị thần của các nhóm văn hóa khác và cho là tà thần,.

8.- Dị ứng đối với tất cả tài liệu hay bản văn nào nói đến (1) những sự thật về mặt tiêu cực trong kinh thánh, trong tín lý Ki-tô giáo, (2) đời sống bê bối thối tha, loan luân, loạn dâm, cùng những hành động tham tàn bạo ngược, dã man của các giáo hoàng cũng như của giới tu sĩ Ca-tô, và (3) những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua.

9.- Hợm hĩnh, cao ngạo, lố bịch, trịch thượng, trong khi họ coi ông Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus là Thiên Chúa Tòan Năng, Toàn Thiện, có mặt ở khắp mọi nơi”, coi Giáo Hội La Mã là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”, là “HiềnThê của Thiên Chúa Làm Người” và tự phong là “dân Chúa”, nhưng lại coi các vị thánh tổ và các đấng thần linh của các tôn giáo khác là “tà thần” và “ma quỉ”.

10.- Nặng đầu óc chia rẽ và nặng tinh thần kỳ thị, phân chia giai cấp, khinh rẻ các tôn giáo khác là “tà giáo” hay “tà đao” và các thành phần thuộc các tôn giáo khác là những quân”mọi rợ” hay “dã man” hoặc “man di”.

11.- Nặng đầu óc thiên vị và bất công, luôn luôn cho rằng cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã đều tốt đẹp, đều cao cả, đều tuyệt vời, cái gì thuộc về các tôn giáo khác đều tầm thường, đều xấu xa và đều là tội ác. Nếu có người nào chứng minh các ngài mang chức thánh đại diện cho Chúa (linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y và giáo hoàng) làm bậy, sờ mó con nít, gian dâm với nữ tín đồ, hoặc là có những hành động gian ác tàn ngược mà họ không thể chối cãi được, thì họ lại đổ lỗi cho là bị quỷ ám (lưu manh và xảo trá)..

12.- Xun xoe, khúm núm và quỵ lụy đối với các đấng bề trên hoặc những người có thế lực hay quyền uy lớn hơn.

13.- Hợm hĩnh, vênh váo, nghênh ngang, làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng đối với những người lép vế, thế cô, nhất là đối với những người dưới cơ mà là những người thuộc các tôn giáo khác. Việc đòi hòi những người thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Da-tô khi họ muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của Vatican là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này. (Hoàn toàn không biết gì về ý niệm công bằng và cũng không có tinh thần tự do và dân chủ)..

14.- Hung dữ, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, tàn ác và dã man đối với những người thuộc các tôn giáo khác khi có quyền lực ở trong tay.(Bạo ngược và dã man).

15.- Nhập nhằng hay không có khả năng sử dụng lý trí để phân biệt được sự khác biệt giữa một bên là việc công và một bên là việc riêng tư (cá nhân), t giữa việc đạo và việc đời, giữa tôn giáo và chính quyền, giữa sự kiện và ý kiến, giữa nguyên nhân và hậu quả, giữa thuận lý và nghich lý, giữa đạo lý và tôn giáo, v.v…. Họ coi những tin lý Ki-tô và lời dạy của Giáo Hội La Mã hay của các đấng bề trên của họ là những nguyên tắc đạo lý. (Mất hết khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật).

16.- Tùy theo hoàn cảnh, phải cố gắng tối đa để thi hành nhiệm vụ biến cải những thành phần thuộc các tín ngưỡng hay tôn giáo khác theo đao Ca-tô bằng bất cứ thủ đoạn và phương tiện nào dù là bất chính, đê tiện, lưu manh, độc ác và dã man đến mức nào đi nữa họ cũng làm. Nhiệm vụ này được họ gọi là nhiệm vụ “làm sáng danh Chúa” hay “nhiệm vụ tông đồ”.(Siêu cuồng tín).

17.- Tỏ ra vô cùng sợ hãi Tòa Thánh Vatican, tán thưởng và khen tụng hết mình tất cả những lời dạy, quyết định và việc làm của Vatican. Tình trạng này đã khiến cho ngay cả một linh mục người Việt ở Việt Nam đã phải thốt ra lời chua chát “Toà Thánh đánh rắm cũng khen thơm.” [7] (Mất hết liêm sỉ, mất hết lòng tự trọng).

18.- Huênh hoang, khóac lác, khoe khoang làm ra vẻ thông kim bác cổ, làm ra vẻ như nắm vũng hết tất cả các vấn đề lịch sử rồi lên măt dạy đời, nhưng trong thực tế lại dốt đặc cán mai về lịch sử và kiến thức tổng quát. Nguyện do đã được nói rỏ trong A1 ở trên. Ở bậc tiểu và trung học, họ không được học lịch sử thế giới và quốc sử một cách trọn vẹn, rồi sau đó họ cũng không hề theo học ngành sử học ở bậc đại học, và cũng không bỏ thì giờ ra tìm đọc điều nghiên lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã và kinh thánh. Ấy thế mà họ mà lại dám lên mặt thày đời dạy bảo thiên hạ phương cách viết sử. Tiêu biểu cho hạng người này là Tôn Thất Thiện. Chúng ta hãy đọc những dòng chữ của ông Chính Đạo (một bút hiệu của sử gia Vũ Ngự Chiêu) viết về chuyện này:

”Tại hải ngoại, (Tôn Thất) Thiện tiếp tục chính sách đánh bóng chế độ Ngô Đình Diệm và đả kích những Tướng-lãnh làm đảo chính 1963. Thiện hay viết báo, dạy cách viết ”sử” hay phê bình ”sử” theo lối tuyên truyền nhồi sọ xưa cũ – dù chính Thiện có rất ít kiến thức về sử học.”[8].

Những đặc tinh Ki-tô trên đây cho chúng ta thấy rõ chính sách ngu dân và nhồi sọ của Vatican đã nhào nặn nhóm thiểu số người Việt theo đạo Ca-tô vốn là những người bình thường giống như những người Việt bình thường khác có đủ cả mọi nhân tính với những nếp sống văn hóa của nền đạo lý tam giáo cổ truyền của một quốc gia có mấy ngàn năm văn hiến thành hạng người vong bản, phản quốc, không còn biết liêm sỉ là gì nữa. Ta gọi họ là hạng người siêu cuồng tín.

Ngòai những đặc tính siêu ngu xuẩn trên dây, tín đồ Ca-tô cuồng tín còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu đậm bời các gương xấu và lưu manh của giới tu sĩ Ca-tô và của những tên văn nô đồng đạo của họ. Đặc tính lưu manh này được thể hiện ra qua những bài viết hay những ấn phẩm cúa những tên văn nô như Linh-mụcTrần Công Nghị, Linh-muc Phan Phát Huồn, Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Linh-muc Nguyễn Hữu Lễ, Linh-muc Phan Văn Lợi, Linh-mục Nguyễn Văn Lý, Linh-mục Đinh Xuân Minh, Lữ Giang, Nguyễn Gia Kiểng, Chu Tất Tiến, nguyễn Văn Lục, Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh, Nguyễn Học Tập, Trần An Bài, Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng, nhóm linh mục và giáo dân tác giả cuốn Trần Lục (Montréal, Canada: TXB, 1996),v.v…. Đọc các tác phẩm này, chúng ta thấy rõ cái đặc tính lưu manh này của chúng.

E.- Nuông Chiều Và Bao Che Cho Tu Sĩ Sống Đời Hoang Đàng Để Lấy Lòng Họ

Các nhà viết sử cũng như các chứng nhân và các nạn nhân tại các thuộc địa của đế quốc thực dân xâm lược có liên minh với Vatican như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Bỉ đều ghi nhân rằng vào những khi hành quân, quân lính của các đế quốc này được lệnh tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái, cướp của, giết người bừa bãi, đốt làng, đốt xóm, thiêu hủy mùa màng, thiêu rụi miếu đình, phá hủy chùa chiền và tất cả các nơi thờ tự thiêng liêng khác của người dân trong vùng mục tiêu. Đây là chủ trương của Vatican.

Trong những năm 1945-1954, người viết đươc chứng kiến những tóan lính đạo của Xóm Đạo Trại Táo, thuộc xã Tô Công, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình (trước năm 1945 gọi là tổng Tô Xuyên và bây giờ gọi là xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ) cũng hành động dã man và khốn nạn như vậy vào những khi chúng hành quân tiến vào các làng lương bên cạnh là các làng Tô Đê, Tô Hồ, Tô Xuyên, Tô Đàm, Tô Trang và Tô Hải. Mấy năm gần đây, khi xem cuốn phim Chiến Tranh Việt Nam – Những Điều Chưa Biết do tác giả Daniel Costelle biên soạn và do Isabelle Clarke đạo diễn (có thể liên lạc với Viet Nam Films, điện thọai số (714) 555-2515 để mua), người viết được nhìn thấy rõ quân lính Mỹ và quân lính của chính quyền miền Nam cũng có những hành động tàn ngược và dã man như vậy. Trong cuốn Hell In A Very Small Place – The Siege Of Dien Bien Phu (nói về trận đánh Điện Biên Phủ,) tác giả Bernard B. Fall cũng ghi nhận những người lính Việt Nam trong quân đội Liên Hiệp Pháp cũng như quân lính và nhân viên chính quyền bù nhìn Bảo Đại cũng có những hành động tàn ngược và dã man như vậy. Dưới đây là một đoạn văn trong cuốn sách này nói về những hành động ghê tởm của những người tự nhận là người Việt Quốc Gia trong thời Kháng Chiến 1945-1954i :

“Quân lính Việt Nam (lính Bảo Đại) trong cuộc thử lửa đầu tiên (ở Liên Khu V) hoặc là đã có những thành tích tồi tệ hoặc là cướp đoạt của cải. Theo sau là các viên chức hành chánh đổ tới vùng mới chiếm được lại cò tệ hơn cả đám quân lính (Liên Hiệp Pháp)” [“The Vietnamese troops who were to receive their baptism of fire in the beachhead either gave a poor account themselves or settles down to looting. The Vietnamese civil administrators who began to pour into the newly liberated areas were, if anything, worse than the military units.”[9]]

Có người cho rằng sở dĩ chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican có chủ tâm để cho quân lính hành động tàn ngược và dã man như vậy là vì đó là chính sách ưu đãi hay tưởng thưởng quân lính nhằm để khích lệ chúng hăng say chiến đấu cho tham vọng đế quốc bất chính đại gian đại ác của họ.

Vốn là đồng minh khắng khít với các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Bỉ và Mỹ từ đầu thế kỷ 16 (tùy theo từng thời kỳ và tình hình thế giới), Vatican đương nhiên là một thế lực cùng một giuộc với các đế quốc thực dân xâm lược này. Các nhà sử học đều khẳng định rằng, khi các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Bỉ và Mỹ chưa ra đời, thì Vatican đã có chính sách ưu đãi quân lính dưới quyền và giai cấp tu sĩ như vậy vào khi xua quân tấn công các dân tộc ở vùng Trung Đông và ở miền Nam nước Pháp từ cuối thể kỷ 11. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng chính sách ưu đãi quân lính và giai cấp tu sĩ áo đen của giáo hội bằng cách để cho chúng tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái, cướp của, giết người bừa bãi, đốt làng, đốt xóm, thiêu hủy mùa màng, thiêu rụi miếu đình, chùa chiền và tất cả các nơi thờ tự thiêng liêng khác của người dân trong vùng mục tiêu là chủ trương của Vatican.

Phần trình bày trên đây cho thấy rõ là bất kỳ quân đội xâm lăng nào có liên kết với Vatican hay có sự hiện diện của tín đồ Ca-tô ở trong đó cũng đều có những hành động tàn ngược và cực kỳ dã man, đặc biệt là ác tính hãm hiếp đàn bà con gái, vì đây là chủ trương và cũng là chính sách ưu đãi quân lính trong các đoàn quân thập tự chiến đấu cho tham vong thống trị tòan cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican. Chính sách dã man này đã được Vatican thi hành triệt để từ thế kỳ 4 cho đến ngày nay. Cái đặc tính tham tàn và man rơ này của Vatican cũng đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 13 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_13b.php) của tập sách này, và Chương 8, Phần II, sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã
(http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH08.php)

Vốn đã có chủ trương và chính sách ưu đãi quân lính như vậy, tất nhiên là đối với giai cấp tu sĩ áo đen, những cán bộ mẫn cán và trung thành nhất, Vatican cũng phải thi hành chính sách ưu đãi này đối với họ, và chính sách này là bất di bất dịch. Chính vì thế mà cả Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI (2005 -) đều chủ trương:

1.- Nuông chiều, dung dưỡng, bao che cho giai cấp tu sĩ cứ việc tiếp tục tận hưởng cái thú vui “hãm hiếp các trẻ em vị thành niên” và “dụ dỗ nữ tín đồ” cùng “hiệp thông cầu nguyện” với các ngài trong những cuộc “đi mây về gió” để cùng sản xuất con hoang, và

2.- Bảo vệ các ngài nếu chẳng may bị gia đình nạn nhân hay quần chúng phát hiện “các ngài” hiện nguyên hình thành những tên “hắc y dâm tặc”.

Bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này là gần đây nhất cả hai Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Benedict XVI đều ra lệnh cho các giám mục có thẩm quyền liện hệ phải giữ kín, không được báo cáo cho chính quyền thế tục biết rõ hồ sơ tội ác của các “ngài đại diện Chúa” đã bị cáo buộc về tội ác hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ.

● Bằng chứng bao che thứ nhất là bản tin có nhan đề là ”Vatican Đã Cảnh Cáo Các Giám Mục Ái Nhĩ Lan Không Được Báo Cáo Lạm Dụng Tình Dục…” với mấy đoạn chính yếu như sau:

“DUBLIN – Một lá thư năm 1997 từ Vatican cảnh báo các giám mục của Ái Nhĩ Lan không được báo cáo cho cảnh sát biết tất cả trường hợp nghi ngờ việc lạm dụng trẻ em – một tiết lộ mà nhóm các nạn nhân mô tả là “bằng chứng không thể chối cãi” cần thiết để chứng minh giáo hội đã thực thi trên toàn thế giới một nền văn hóa bao che tội ác của các linh mục ấu dâm.”. Nguyên văn: “DUBLIN – A newly revealed 1997 letter from the Vatican warned Ireland’s Catholic bishops not to report all suspected child-abuse cases to police — a disclosure that victims groups described as “the smoking gun” needed to show that the Vatican enforced a worldwide culture of cover-up.” [10]

“Lá thư có ý nghĩa quốc tế rất lớn, bởi vì nó cho thấy ý định của Vatican là để ngăn chặn báo cáo lạm dụng cho các cơ quan hình sự. Và nếu sự hướng dẫn ấy được áp dụng ở đây thì nó đã được áp dụng ở khắp mọi nơi,” Colm O’Gorman, giám đốc phân hội Ái Nhĩ Lan của cơ quan giám sát nhân quyền Ân xá Quốc tế nói.”[11]

● Bằng chứng bao che thứ hai là đoạn văn sử dưới đây nói về việc làm bất chính và gian ác này của đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI với nguyên văn như sau:

“Năm 2001, Giáo hoàng Bê-nê-đích đã viết một thư luân lưu gửi cho tất cả các Giám mục Công giáo để ra lệnh giữ “Bí mật cấp độ Giáo hoàng” về những tố cáo liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em. Ông đã ra lệnh cho các Giám mục phải gửi tất cả những hồ sơ đó về La-Mã, vậy thì ý kiến cho rằng ông không biết gì về chuyện linh mục loạn dâm qủa là một sự vô nghĩa lý. Lá thư nầy của ông không đề cập gì đến chuyện các Giám mục phải báo với cảnh sát về các kẻ lạm dụng tình dục nầy. Nhà thần học Công giáo đáng kính, ông Hans Kung đã nói là Giáo hoàng phải cùng chịu trách nhiệm về sự che dấu và Giáo hoàng Bê-nê-đích đã không có lời xin lỗi về sự thiếu sót của chính ông trong cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục các trẻ em.” [12]

Cũng vì có chính sách ưu đãi đặc biệt giai cấp tu sĩ như vậy, nhưng lại tàn ngược và dã man đối với các nạn nhân cũng là tín đồ của giáo hội, cho nên Vatican mới biên soạn những lời dạy lưu manh và khốn nạn như đã nói trong Mục A4 ở trên để cấy vào đầu óc tín đồ. Những lời dạy lưu manh này quả thật đã trở thành những bức tường thành kiên cố (1) vừa che đậy hàng rừng những chuyện sai lầm, hoang đường, huyễn hoặc, láo khoét, loạn luân, phi luân, dâm loạn, tham tàn, gian ác và dã man trong kinh thánh, (2) vừa để làm bức màn nhung che kín những rặng núi tội ác chống lại nhân loại, chống lại những phát minh khoa học, chống lại tư tưởng tiến bộ của các tôn giáo và nền văn hóa khác trong gần hai ngàn năm qua, và (3) vừa để làm những cái khóa để khóa miệng tín đồ không được hé miệng bàn tán những chuyện “các ngài đại diện Chúa” về những hành động tội ác sống đời bê bối, thối tha, loạn luân, lọan dâm, hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ như các cơ quan truyền thông quốc tế loan truyền từ đầu năm 2002 cho đến nay.

Hệ Lụy Của Việc Vatican Dung Dưỡng Và Bao Che Nạn Loạn Dâm:

Vì được bảo vệ bằng những lời dạy lưu manh như nói ở trên, giai cấp tu sĩ của Vatican càng được thể, càng lộng hành, càng tác oai tác quái, càng triệt để lợi dụng và khai thác tận tình lời dạy “Những gì Cha nói và hành động là Cha nói và hành động theo ý Chúa“ để mê hoặc con mồi “nai tơ” hầu thỏa con heo lòng khi lên cơn rửng mỡ. Sau khi đã thỏa mãn rồi, các ngài lo sợ nạn nhân của các ngài sẽ tiết lộ việc làm ô nhục này, các ngài chỉ cần nhắc nhở cho nạn nhân nhớ lại lời dạy của giáo hội rằng, “Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha, tức là bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu Chúa và sẽ Chúa trừng phạt đày xuống hỏa ngục đời đời”.và “Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết”. Ngọai trừ một vài trường hợp đã xẩy ra bất như ý, từ ngàn xưa lời hù dọa này của Vatican đã giúp cho các ngài “đại diện Chúa” làm cho nạn nhân khiếp sợ mà phải giữ kín miệng, không còn dám hé môi nói cho người ngọai cuộc được biết. Câu chuyện “Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!” là chuyện có thật trăm phần trăm đã xẩy ra ở Mỹ. Chuyện này đã được các cơ quan truyền thông loan truyền. Sách Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa ghi lại như sau:

“Đối với những thiếu niên của những gia đình ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng tình dục, chúng không dám về mách cha mẹ vì sợ bị cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lý học đã phỏng vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana bị tu sĩ lạm dụng tình dục. Các em cho biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm dọa: “Nếu tố cáo sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục” hoặc “mày phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ bắt mày!” Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đã khai:”Cha nói Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!”

Trong chương này có một chuyện đáng chú ý. Đó là chuyện của Cristine Clark thuộc giáo phận Joliet, Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học lớp giáo lý để rước lễ lần đầu thì cô đã bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm cô 14 tuổi, cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng vì sợ tội. Cha khẳng định giao cấu với cha không có tội vì đó là ý Chúa. Sau đó, Cristine không thể chịu đựng được nữa nên nói với cha mẹ ý định tố cáo nội vụ trước cảnh sát. Linh-mục Ed Stephanie thấy nguy nên trình sự việc với Tòa Giám Mục Joliet. Tòa giám mục này cho người đến trao cho gia đình Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng. Cristine ký giấy cam kết không tố cáo vào ngày 15/4/1988,. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị nhiều người khác tố cáo nên bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm 1992.” [13]

Theo dõi tin tức do các cơ quan truyền thông quốc tế loan truyền, quý vị sẽ thấy không phải chỉ có Linh-mục Ed Staphanie hiện nguyên hình thành một tên hắc y ác quỷ, mà đã có rất nhiều giám mục và linh mục đã trở thành những con quỉ dâm tặc như thế. Theo các tài liệu thống kê cho biết, trong mấy chục năm gần đây, chỉ riêng ở Hoa Kỳ, đã có tới 4,392 giám mục và linh mục biến thành những “hắc y dâm tặc” như vậy. Đọan văn dưới đây là bằng chứng cho sự kiện này:

“Theo bản sưu khảo thời gian từ năm 1950 cho đến năm 2002, có tới 4,392 vị hay 4% trong số 109,694 các ngài đại diên Chúa ở Hoa Kỳ đã bị cáo buộc về tội lạm dụng tình dục. Một vài vùng, tỉ lệ này cao hơn các vùng khác. Tổng số đối tượng nghiên cứu là 10,667 vụ trong 52 năm như đã nói như trêni, 17% nạn nhân của các ngài nói rằng anh chi em của họ cũng bị các ngài “xơi tái” như họ.Tính theo giới hạn bản nghiên cứu này, trung bình, mỗi năm ở Hoa Kỳ có tới 240 vụ, vào năm bắt đầu nghiên cứu là năm 1950 có 50 vụ, và cao nhất vào năm 1979, có tới 775 vụ, rồi lại giảm xuống dưỡi 50 vào năm 2002.” [14]

Bản văn trên đây chỉ nói về các linh mục Ca-tô Rô ma người Hoa Kỳ mà thôi. Riêng về các ngài đại diện Chúa người Việt, Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn cũng đã nêu đích danh những quí ngài đã trở thành “dâm tặc” ở trong hai tờ Tận Thế số Ra Mắt phát hành ngày 15/6/2002 và Số 2 phát hành ngày 15/7/2002, Trong số Ra Mắt ngày 15/6/200, nơi trang 27, Linh-mục Sơn viết:

“Những ai đã biết, đọc và nghe về những ác quỉ dưới đây mà còn cố tình bênh vực, bao che, ủng hộ, ca tụng và đi xem lễ do chúng làm, sẽ bị Đức Mẹ nghiêm khắc trừng phạt:.
A.- Nhóm ác quỉ thuộc Phụ tỉnh DCCT/VN hải ngoại: (Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hải ngoại): Nguyễn Đức Mầu, Châu Xuân Báu, Vũ Minh Nghiễm, Đinh Ngọc Quế, Nguyễn Văn Phan, Phạm Quốc Hưng, Nguyễn Tất Hải, Đinh Minh Hải, Phan Phát Huồn, Nguyễn Trường Luân, Trần Ngọc Bích, Nguyễn Đức Thành, Bùi Quang Tuấn, và thầy bẩn moi và quịt: Nguyễn Văn Mới.

B.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Los Angeles: Trần Công Nghị, Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Quang Hòa, Lê Sơn Hà, Chu Quang Minh, Vũ Thế Toàn, v.v…

C.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Orange County: Nguyễn Đức Tiến, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Ngọc Tuấn, Chu Vinh Quang, Nguyễn Văn Luân, Đỗ Thanh Hà, Vũ Tuấn Tú, Ngô Văn Trọng, Mai Thành Hân, Xuân Nguyên Hồ, Trần Văn Kiểm, Đinh Viết Thục, Bùi Công Minh, Nguyễn Trọng Tước, tức Nguyễn Tầm Thường, v.v…

D.- Những ác quỉ ở nhiều nơi: Đinh Đức Đạo (Đức Ông giám đốc văn phòng thờ quỷ Rôma), Phan Tấn Thành (giáo sư thờ quỉ Rôma), Cao Minh Dung (Đức Ông, nhân viên Bộ Ngọai Giao tòa… quỷ!), Nguyễn Văn Phương (Chủ Tịch Liên Đoàn thờ Qủy, Riverale, Georgia) Lê Xuân Thượng (Đức Ông thờ quỷ cái Trần Thị Liễu, (Houston, Texas), Đào Quang Chính (Houston, Texas), Nguyễn Ngọc Tư (Houston, Texas), Nguyễn An Ninh (Eastpointe, MI), Hoàng Xuân Nghiêm (Tổng Thủ Quỹ Liên Đoàn Thờ Quỷ, (Wyoming, MI), Phạm Văn Tuệ, Trần Cao Tường, Vũ Hân (Marrero, LA), Việt Châu (Chủ Nhiệm Nguyệt San Thờ Quỷ, Gretna, LA), Nguyễn Đức Huyên (Giám Đốc đền thờ Quỷ), Nguyễn Văn Dậu (giáo sư thờ Quỷ, Metairie, LA) Phạm Quốc Hùng (Wichita, KS), Phan Đình Cho (Gíao-sư đại học thờ quỷ, Washington DC), Nguyễn Thanh Long (Silver Spring, MD), Trần Quí Thiện (Arlington, VA), Nguyễn Huy Quyền (Glen Ellyn, IL), Trịnh Thế Hùng (Chicago, IL), Đỗ Quang Biên (hưu trí thờ quỉ cái: Mầu, San Diego, CA)… (Còn tiếp với vô vàn vố số ác quỉ nằm trong Chi Dòng Đồng Công ở Carthage, MO, đã lợi dụng Đức Mẹ để làm tiền trắng trợn từ 24 Đại Hội Thờ Quỷ Mammon, đã qua, và Đại Hội thứ 25 sắp tới. Chính Đức Mẹ sẽ đánh tan đại hội bịp này.)” Mẹ mang nhãn hiệu rỗng tuếch: “Sống Tin Giữa Dòng Đời”, trên đài Little Sàigon.” [15]

Trong tờ Tận Thế Số 2, nơi trang 31, Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn viết:

” Thật không ngờ một linh mục bệnh hoạn có thể trở thành một con người viết những điều mạnh mẽ như vậy, đó là chửi thẳng vào mặt ác quỷ Nguyễn Đức Mầu, kẻ dơ bẩn đã ăn nằm với không dưới 100 đàn bà mất nết từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ (đọc Thư LM Nguyễn Thanh Sơn gửi Cha Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở Roma, trong “Quyền Năng Đức Mẹ Diệt Trừ Satan III”) và ác quỷ Trần Công Nghị, kẻ dâm thú cũng đã “ăn nằm” với hàng trăm đàn bà hư đốn trên 35 năm qua, từ Việt Nam sang Roma, tới Hoa Kỳ, trong số đó có hai (2) ma nữ lõa lồ: CAO THỊ MỸ LỆ (từ năm 1975 tại Portland, Oregon), con gái Cao Đăng Tường, cháu “yêu dấu” của Cao Đăng Minh, Dòng Chúa Cứu Thế (tên này cũng đã có con trai khôn lớn), và hiện nay đang ăn nằm với “con điếm nhớp nhúa nhất thủ đô tỵ nạn)” là DIAMOND BÍCH NGỌC. Đôi song ca đã và đang hát rất mùi với nhau, trong chương trình lứa đôi Thiên Chúa và Đức Mẹ mang nhãn hiệu rỗng tuếch: “Sống Tin Giữa Dòng Đời”, trên đài Little Sàigon.” [16]
Xin quý vị độc giả tại các địa phương của các “đại diện Chúa” được nêu đích danh trong hai bản văn trên đây có thể kiểm chứng xem những hành động và tư cách của họ có như Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn đã tố cáo hay không. Tại tiểu bang Washington và Oregon nhiều người đã nhìn thấy rõ sự thật về linh mục Cao Đăng Minh quả thật là thần sầu quỷ khốc. Một độc giả ở New Orleans, Louisiana cũng cho biết sự thật kinh khủng về ông lãnh chúa áo đen Việt Châu. Các ông mang sắc phục áo chùng thâm Trịnh Thế Hùng ở Chicago và Đào Quang Chính ở Houston, Texas cũng đều được dân chúng tại đia phương biết rõ thành tích kinh tởm của họ. Đặc biệt là ông linh mục Nguyễn Hữu Dụ đã bị cảnh sát Houston (Texas) bắt gặp tại trận khi Ngài đang làm tình với nữ tín đồ Ng. T. V. (khẩu dâm: đưa cán cân tạo hóa vào miệng của người tình) ở một nơi công cộng (bãi đậu xe) vào ngày 14/12/1994. Nội vụ bị đưa ra Tòa án Harris County (Houston) mang số case number 945013. Trong phiên xử đầu tiên (21/12/1994) tòa ấn định số tiền bail (tại ngoại hầu tra) là 4 ngàn Mỹ kim. Đương sự bị phạt một ngàn Mỹ kim sau phiên xử lần thứ 2 (ngày 1/2/1995.) Điểm đặc biệt là vào thời điểm khi hành dâm như vậy, đương sự đã xấp-xỉ 75 tuổi (sinh ngày 20/3/1920). Có người cho biết khi bị đưa ra tòa, Ngài “đại diện Chúa” này đã có với bà V. một đứa con gái 16 tuổi.

Với tình trạng được cơ quan đầu não của Giáo Hội La Mã là giáo triều Vatican chủ tâm nuông chiều, dung dưỡng, bao che các ngài “hành lạc” vô tội vạ, rồi lại tích cực bảo vệ các ngài dù là các ngài đã bị nạn nhân tố cáo là hiện nguyên hình thành những “con quỷ dâm tặc” như vậy (bất chấp cả luật pháp của chính quyền thế tục tại địa phương), thì nạn nhân, thân nhân của các nạn nhân và nhân dân dưới quyền thực sự là rơi vào tình trạng tuyệt vọng, không còn biết trông cậy vào đâu để đem những thằng “ác quỷ áo đen” đã bị cáo buộc này ra trước ánh sáng công lý hầu đòi lại công đạo cho nạn nhân.

Tình trạng bất công, ngang ngược, chà đạp lên nhân quyền và hành động trịch thượng của Vatican bất chấp cả luật pháp của các chính quyền thế tục đia phương như vây đã khiến cho nhân thế giới vô cùng bất mãn, vô cùng bức xúc, và muốn phải làm một cái gì để cho tình trạng này không còn có thể tiếp tục xẩy ra được nữa. Cũng vì thế mà ngày 25/1/2011, qua các diễn đàn thư nhóm, ông Tuấn Phan (ddpghh@yahoo.com) mới đưa ra một đề nghị như sau:

“Từ lâu, tôi đề nghị với Giáo Hòang, Tăng Thống (*) đề ra luật khắc khe dành cho giới Tu Sĩ: Muốn làm Cha làm Thầy thì buộc phải DỨT CỦA NỢ, tức cái lủng lẳng, đeo đẳng suốt cuộc đời. Dứt của nợ sẽ có hai tác dụng lớn:

Về Đạo: Chứng tỏ Quyết Tâm làm môn đồ, đệ tử của Chúa và Phật, ban rãi Chánh Đạo cho thế gian, chọn nghề tu hành là lẽ sống cho tới…chết!

Về Đời: Ngăn ngừa được tiếng xấu xa trong Phật môn và Chúa môn, bảo vệ được tiết hạnh của giới nữ tín đồ. Tránh cho Giáo Hội hay tu sĩ đền số tiền lớn, hay bị tù.

Chi phí: Tính ra không hơn 100 đô la cho cuộc giải phẫu dứt của nợ. Nếu làm “đại trà” thì chi phí càng ít hơn nhiều. Trường hợp tu sĩ nữ thì sao? Áp dụng cách của các bộ lạc Phi Châu dành cho con gái của họ. Lưu Ý: Chỉ dứt của nợ với sự tự nguyện của đương sự lúc được 18 tuổi và over!!! -Tuấn Aet Phan

TB: (*) Tăng Thống là chức vị bị bọn Giặc Thầy Chùa GH/PGVNTN chôm, tự phong dựa theo nguồn gốc lịch sử Phật Giáo. 4 triệu đô hơn là cái giá sờ bóp của GTC thích Chánh Lạc, Chủ Chùa Như Lai ở Denver, CO.” [17]

Nhận xét: Bên Phật giáo xưa nay không hề có thế lực hay tổ chức toàn cầu nào nuông chiều, bao che và bảo vệ các nhà tu hành như trong hệ thống tu sĩ Ca-tô Rô ma giáo. Trái lại, danh dự của các tu sĩ Phật giáo trực tiếp nằm trong tay cư dân bản địa. Đó là cách chế tài tự nhiên và hữu hiệu từ ngàn xưa đến nay. Do đó, nếu có chuyên một nhà tu hành nào biến thành một “con quỷ dâm tặc” như trước hợp nhà sư Thích Chánh Lạc ở Colorado thì đó chỉ là chuyện riêng của cá nhân của “ông sư hỏ mang này” mà thôi và chính ông ta sẽ bị Phật tử ở tại địa phương tẩy chay, chứ không có quyền lực nào đem ông ta đến nơi khác và giúp đỡ để cho đương sự được tiếp tục hành nghề và tiếp tục biến thành “dâm tặc” tác oai tác quái gây nguy hại cho xã hội như “giới quạ đen” của Giáo Hội La Mã. Vì vậy mà người viết xin MIỄN không bàn đến vấn đề này bên Phật giáo..

Riêng về phía Ca-tô Rô ma giáo, thiết nghĩ rằng, “thiến“ là một biện pháp phòng ngừa rất hữu hiệu đúng như nhà cách mạng John Dickinson (1732-1808) người Mỹ đã nói:

“Ai là người (được) tự do? Những người (được) tự do? Không phải là những người mà chính quyền của họ hợp lý và công bằng, mà là những người mà chính quyền của họ bị kèm chế và kiểm soát đến nỗi không thể làm gì khác hơn là làm gì thì cũng phải làm sao cho hợp lý và công bằng.” (Who are free people? Not those whose government is reasonable and just, but those whose government is so checked and controlled that it cannot be anything but resonable and just”) [18]

Thế nhưng, biện pháp “thiến” của ông Tuấn Phan vừa có tính cách tàn bạo và phản nhân quyền, vừa không thể nào thực hiện được. Không thể thực hiện được là vì hầu hết các quốc gia hoặc là quyền lực của Vatican đứng trên quyền lực của chính quyền thế tục, họăc là chính quyền nằm trong tay của các nhà chính khách tính chuyện mị dân kiếm phiếu của các nhà thờ Ca-tô trong các kỳ bầu cử, cho nên không dám hiên ngang đứng thẳng người lên để đối đầu với Vatican (như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, Phi Luật Tân từ thế kỷ 16 cho đến nay, v.v…) . Trong khi đó thì chỉ có giáo hoàng hay Tòa Thánh Vatican mới có quyền lực làm như vậy. Nhưng khốn nỗi, chính Tòa Thánh Vatican lại có chủ trương nuông chiều, dung dưỡng, bao che và bảo vệ cho những thằng “dâm tặc áo đen” khốn nạn này để cho chúng cứ tiếp tục ngang nhiên tác oai tác quái như thế. Điều này chứng tỏ rằng đề nghị của ông Tuấn Phan sẽ không thể thực hiện được. Tuy nhiên, dù sao thì đề nghị này cũng nói lên tiếng nói bức xúc và căm phẫn của người dân (1) đối với Vatican đã có chủ trương khốn nạn như vậy) và (2) đối với bọn “dâm tặc áo đen” (đã lợi dụng cái danh nghĩa “đại diện Chúa” để hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ.

Người viết tôi trộm nghĩ đến một đề nghị khác có thể bảo vệ thanh thiếu niên nếu mọi người thực sự muốn diệt ác, phù thiện. Nếu đồng ý, chúng ta phải làm như thế này: Ở ngay những nơi nào có một hay nhiều thằng “dâm tặc áo đen” cư ngụ hay thường lui tới, chúng ta hãy đồng lòng dựng (cắm) một tấm biển lớn viết rõ ràng một dòng chữ đại khái như sau: “Trẻ em vị thành niên và chi em phụ nữ hãy coi chừng! Ở đây có bọn ‘hắc quỷ dâm tặc”.

Mong lắm thay!

F.- Tình Trạng Lọan Luân, Dâm Lọan Trong Giáo Triều Vatican Và Trong Giới Tu Sĩ Ca Tô”

Sách sử cho thấy rằng, các giáo sĩ Ca-tô hay các ngài “đại diện Chúa” không những mang chứng bệnh ưa thích hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ, mà còn mang chứng bệnh loạn luân, nhiều khi các ngài còn đè cả mẹ ruột của các ngài ra để hành lạc vào những khi các ngài rửng mỡ hay không kìm hãm được con heo lòng của các ngài. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ cái tính cách “ đạo cao đức trọng” và “rất thánh thiện” của các ngài trong nếp sống văn hóa Ki-tô giáo cao quý của xã hội của những người “được Chúa chọn”:
Giáo Hoàng Alexander II

“Năm 1064, một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta. Giáo Hoàng Alexander (1061-1073), không những đã không bãi chức của ông giáo sĩ này, mà vẫn còn để cho ông ta tiếp tục rước lễ. Ngài cho rằng ông giáo sĩ này đã không phạm tội có gia đình chính thức. Hai năm sau, một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột. Giáo Hoàng (Alexander) đã đối xử rất tử tế với ông giáo sĩ này và để mặc cho ông giám mục quản nhiệm địa phương tùy ý quyết định nên hay không nên để cho ông ta tiếp tục phụng vụ. Đối với Giáo Hoàng Alexander II (1061-1073), thông dâm hay loạn luân vẫn còn thích hơn là có một giáo sĩ chính thức có gia đình.” [19].

Đồng thời, vào thời còn có quyền lực chính trị ở trong tay, Tòa Thánh Vatican còn có chủ trương cấp giấy phép cho tín đồ mở “nhà chứa” để thu thuế, lấy tiền chi phí cho cuộc sống hoang đàng, ăn sài huy hoắc của các ngài. Đây là sự thực và sự thực này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Vicars of Christ viết:

“Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) can tội loạn luân (incest) ăn ở với chị (em) gái sinh ra đứa con trai tên là Pietro Riario và cũng là giáo hoàng đầu tiên cấp giấy hành nghề mở “nhà chứa” (nhà thổ)) tại Kinh Thành La Mã. Nhờ vậy mà mỗi năm, ông thu hoạch được 30 ngàn tiền ducats. Ông cũng thâu hoạch được những khoản tiền khá lớn bằng cách đánh thuế các tu sĩ nào muốn công khai sống với tình nhân (bạn gái). Tệ hơn nữa, ông còn làm tiền bằng cách bán giấy phép cho các ông nhà giầu được quyền “an ủi” các bà có chồng xa nhà, v.v…”[20]

Tình trạng này khiến cho người dân dễ dàng hiểu rằng “nhà chứa” cũng là “Nhà Chúa” và “nhà thổ” cũng là “Nhà Thờ”.

Song song với những việc làm hủy hoại văn hóa của xã hội loài người như trên, Tòa Thánh Vatican còn cho thiết lập thật nhiều dòng nữ tu và biến các dòng nữ tu này thành những “trung tâm hành lạc” để cho “các ngài đại diện Chúa” lui tới đi vào cõi mộng hưởng thụ những phút thần tiên“chơi vơi trên đỉnh tuyệt vời”. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Biết rõ chuyện này không ai bằng giới giáo sĩ Ki-tô. Cựu giáo sĩ Peter de Rosa ghi lại chuyện này như sau:

“Tình trạng nam nữ chung chạ bừa bãi lan tràn trong khắp các nam và nữ tu viện. (Thánh) Ivo Chartre (1040-1115) cho biết toàn thể các nữ tu viện chỉ là những nữ tù nhân mang danh là “các dì phước” mà thôi. Họ thường là những đứa trẻ bị gia đình bỏ rơi và thực sự đã trở thành những cô gái điếm.” [21]

“Trong thế kỷ thứ 9, nhiều tu viện là những sào huyệt của những người đồng tình luyến ái; nhiều nữ tu viện là những ổ điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay trong đó. Các sử gia nói rằng từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ, Tây Phương không giết các trẻ sơ sinh nhiều như vậy, ngoại trừ ở trong các nữ tu viện. Hội Nghị nhóm họp ở Aix- la- Chapelle vào năm 836 đã công khai thú nhận điều này. Về phần các ông tu sĩ Gia-tô thèm khát làm tình (giải quyết vấn đề sinh lý), họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của họ. Những trẻ sơ sinh do hậu quả của các vụ loạn luân thường bị chính các ông tu sĩ giết chết. Con số này rất nhiều và đã được một vị giám mục người Pháp ghi vào hồ sơ. tài liệu.” [22]

Cũng nói về đời sống loan luân, dâm loạn cúa bọn “hắc y dâm tặc” này, sử gia Jack T. Chick gọi bọn người lưu manh tự phong là “đại diện Chúa” đầu nậu trong giáo triểu Vatican là “Ổ Điếm Khải Huyền” (The deadly Roman Catholic Institution was the whore of Revellation”) [23] Đồng thời, sách Babylon Mystery Religion (Riverside, CA: Ralph Woodrow Evangelistic Association, Inc., 1981) của tác giả Ralph Woodroww dành hẳn Chương 12 (gồm các trang 91-99) với tựa đề là Papal Immorality, trong đó tác giả kể ra những màn kịch của trên dưới 20 giáo hoàng (“Đức Thánh Cha”) đại diện Chúa Kitô “ăn no rửng mỡ”, rồi “ấm cật dậm dật phao câu”, rồi thanh toán lẫn nhau bằng những thủ đoạn vô cùng kinh khủng mà tác giả cuốn sách này cho là “kinh khủng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người” (sheer horror has never been duplicated in the annals of human history). Dưới đây là đoạn văn nói về sự thật ô nhục này:

“Thêm vào những bằng chứng hiển nhiên cho chúng ta thấy rằng nhân cách và đức độ của rất nhiều ông giáo hoàng không xứng đáng đựợc gọi là giáo hoàng. Một số các ông giáo hoàng có những hành động hủ hóa, sa đọa, đê tiện và bỉ ổi đến nỗi ngay cả những người ngoại đạo cũng cảm thấy xấu hổ cho các Ngài. Các ông giáo hoàng thường hay phạm những tội ác như ngoại tình, làm tình một cách bất bình thường với đàn ông, bán thánh, hiếp dâm, giết người và say sưa tuý lúy. Những người thường cao rao là “Đức Thánh Cha”, là “Đại Diện của Chúa Kitô”, là “Giám Mục của các ông giám-mục” mà lại mang đầy những tội ác như vậy, nghe ra thật là rùng mình! Những ai đã thấu hiểu lịch sử của chế độ giáo hoàng và Giáo Hội La Mã đều biết rõ hơn ai hết, rằng không phải tất cả các ông giáo hoàng đều thánh thiện cả. “[24]

Tiếp theo đoạn văn trên đây, chương sách này còn nêu đích danh từng tên “đại diện Chúa” dâm tặc ngồi trong ngôi vị giáo hoàng trong “Tòa Thánh Vatican”. Trong số các giáo hoàng dâm tặc này, đáng kể nhất là Giáo Hòang Alexander VI (1492-1503).

Sách sử ghi lại rằng Giáo Hoàng Alexander VI (1492- 1503) và người con trai đầu lòng của ông ta là Hồng Y Cesare Borgia (1475-1507) cùng làm tình với người con gái ruột là Lucrezia Borgia (1480-1519) đến mang bầu và sinh ra một đứa bé. Các nhà viết sử không biết đứa con này là con của bố cô Lucrezia (Giáo Hoàng Alexander VI) hay là con của người anh ruột của cô ta (Hồng Y Cesare Borgia). Chuyện này được sách sử ghi lại như sau:

“Trong năm 1501, Tòa Thánh Vatican cho ban hành hai sắc lệnh liên hệ tới đứa nhỏ có tên là Giovanni Borgia. Theo sắc lệnh thứ nhất, đứa bé này được nhìn nhận là con của Cesare qua một cuộc làm tình (với Lucrezia) trước khi Cesare lập gia đình. Trái lai, theo sắc lệnh thứ hai, đứa bé này được nhìn nhận là con Giáo Hoàng Alexander VI. Trong cả hai sắc lệnh này, tên của Lucrezia không được nói tới, và có tin đồn cho rằng không có tài liệu nào chứng minh rằng Lucrezia là mẹ của đứa nhỏ này. Sắc lệnh thứ hai được giữ bí mật trong nhiều năm, và vì thế đứa nhỏ này được coi như là con của Cesare. Sự kiện này hỗ trợ cho việc Cesare trở thành Công Tước Xứ Camerino vào năm 1502, một vùng đất mà Cesare vừa chinh phục được, vì thế mà đưa bé Gionvanni Borgia được hưởng quyền con trưởng thừa kế của Công Tước Romagna. Tuy nhiên, sau khi Giáo Hoàng Alexander VI qua đời (vào năm 1502), đưa bé Giovanni về sống vơi Lucrezia ở Ferrara, tại đây nó được Lucrezia nhận là một đứa em cùng cha (Alexander VI) khác mẹ.”[25]‘

Cũng nên biết là Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) có tên thật là Rodrige Borgia sinh ngày 1/1/1431, bị đầu độc bằng rượu trong bữa ăn chiều ngày 6/8/1505, qua đời ngày vào18/8/1503] và người con trai đầu lòng của ông ta là Hồng Y Cesare Borgia sinh này 13/9/1475, bị thế lực thù địch đánh bại sau khi Alexander VI qua đời, bị cầm tù, rồi trốn sang Tây Ban Nha sống lưu vong, rồi bị nhốt giam và chết trong tù ở Tây Ban Nha vào ngày12/3/1507].

G.- Ác Tính Kinh Tởm Nhất Của Giới Người “Đại Diện Chúa”

Theo các nhà sự học thì tất cả những người lao vào học cái nghề làm linh mục đều có cái bản chất tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực. Sư kiện này được chính người trong cuộc kể lại như sau:

“Những người con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này. Tôi mồn một nhớ về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi, ý nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ đã như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác.” [26]

Về những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực có những ác tính xấu xa cực kỳ ghê tởm như thế nào đã được chúng tôi trình bày rõ ràng trong tiểu mục “Đặc Tính Của Những Người Theo Đạo”, Chương 6 ở trên.http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_06a.php.

Một trong những đặc tính xấu xa và cực kỳ ghê tởm này của giới tu sĩ áo đen là đặc tính ganh ghét, đố kị, tị hiềm rồi tìm đủ mọi cách mưu hại lẫn nhau (1) hoặc là triệt hạ uy tín hay thanh danh của nhau, (2) hoặc là kéo bè, lập đảng, củng cố thế lực, thanh tóan và tàn sát lẫn nhau để giành chiếm ưu thế hay độc chiếm quyền lực. Cái đặc tính ghê tởm này đã được người trong chăn Ki-tô là giáo sư con chiên Nguyễn Văn Trung ghi lại khá đầy đủ trong bài viết có tựa đề là “Một Số Tình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” và đã được đăng nơi các trang 115-125 trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa – Tuyển Tập 2 (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998), trong đó có mấy đọan với nguyên văn như sau:

“Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam, có “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Thực vậy, chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện.Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chiên chơi nhau thay vì chơi với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đọa trong Giáo Hội ngày càng tăng thêm.” [27]

Vấn đề các ngài đại diện Chúa “chơi nhau” tìm đủ mọi cách mưu hại lẫn nhau như thế nào đã được trình bày khá đày đủ trong tiểu mục “Những Ác Tính Của Thiến Chúa La Mã, Chương 7 cùng tập sách này: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_07.php#_ednref12

Cái ác tính ghê tởm ganh ghét, đố kị, tị hiềm rồi tìm cách “chơi nhau” sát ván cúa các ngài đại diện Chúa mới đây được ngài đại diện Chúa Phan Văn Lợi sử dụng triệt để “chơi” ngài đại diện Chúa Cao Minh Dung bằng hành động “rất thánh thiện” theo đúng “Lương Tâm Công Giáo”.

Ngài đại diện Chúa Phan Văn Lợi đã “chơi” ngài đại diện Chúa Cao Minh Dung như thế nào?

Ngài đại diện Chúa Phan Văn Lợi nói (tức là Chúa nói) công khai cho bàn dân thiên hạ biết rằng, “ngài đại diện Chúa Cao Đăng Dung là một đứa con rơi (hoang) của ngài đại diện Chúa Đỗ Thanh Châu và nữ tín đồ ngoan đạo Nguyễn Thị Yến”. Dưới đây là nguyên lời nói của ngài đại diện Chúa Phan Văn Lợi:

“Từ lâu nay ở tại Phủ Cam những người thân cùng với những người quen biết với Đức ông Dung cho hay rằng Đức ông Dung trên danh nghĩa là con của ông Cao Minh Hiếu và bà Nguyễn thị Yến. Con đầu. Nhưng mà trên thực tế, tôi cũng đã hỏi một người thân của Đức ông Dung là cậu ruột, thì người đó cho biết rằng Đức ông Dung không phải là con ông Hiếu. Mà là con của một ông thầy dòng, sau đó, ông thầy dòng đó ra khỏi dòng Thành Tâm, nhập địa phận Đà Nẵng, và làm Linh Mục. Đó là Linh Mục Đỗ Thanh Châu hay còn gọi là Đỗ Quang Châu, hiện thời đang sống tại Hoa Kỳ.” [28]

Nhận xét :

Với các đặc tính loạn luân, dâm loạn, mượn danh nghĩa là “đại diện Chúa” của giới linh mục và với tình trạng con hoang của các ngài để lại trong xã hội Ca-tô lên đến 40%, chúng ta có thể tin rằng, (1) lời Linh-mục Phan Văn Lợi tố cáo Đức Ông Cao Minh Dung là con rơi của Linh-mục Đỗ Thanh Châu là rất đáng tin, và (2) còn có rất nhiều trường hợp khác tương tự như trường hợp Đức Ông Cao Minh Dung trên đây. Nhà thơ hải ngoại Hồ Công Tâm có một bài thơ “Berger Tru Tắc Tiếng” ám chỉ một con chiên hoạt náo thuộc dạng con rơi như sau:

BERGER TRU TẮT TIẾNG
Cô bác thương tình cháu nó lai
Cháu nào biết bố cháu là ai
Cháu chưa thi đậu khoa Hành Chánh
Cháu mới học xong bậc Tú Tài
Suối Máu ăng-ten khoe tốt số,
Quận Cam đĩ đực ngỡ bô trai
Nhập băng Thiện Lé mồm tru tréo
Hễ nó hỗn hào cứ bợp tai

Dec. 11, 2010

Hồ Công Tâm [29]

Đó là vì nhân vật được gọi là “Tru Tắt Tiếng” trong bài thơ trên đây. Nhân vật này đã làm, đã nói những điều trái nghịch, chạm đến cả một nền văn hóa hiền lương của Phật giáo. Vì không phải là đề tài trong chương sách này, nên xin miền bàn thêm về vấn đề này. Thế nhưng, trường hợp Linh-mục Phan Văn Lợi thì lại khác. Chắc chắn là Linh-mục Phan Văn Lợi không bị áp lực nào bắt ông phải nói ra cái điều làm tổn thương đến thanh danh của Đức Ông Cao Minh Dung và Linh Mục Đỗ Thanh Châu.

Trong bối cảnh mà Linh Mục Phan Văn Lợi nói ra điều không đẹp này, cho dù lý lịch của linh mục Cao Minh Dung có đúng với sự thật 100% đi nữa, việc “nói xấu” này của Linh Mục Phan Văn Lợi cũng không thể nào chấp nhận được nếu chúng ta còn có chút lương tâm con người, nhất là vời truyền thống đạo lý tam giáo đồng nguyên của các dân tộc Đông Phương. Thiết tưởng không cần phải nói ra, ai cũng biết rằng hành động đó phát xuất từ lòng đố kỵ, ganh ghết, tỵ hiềm. Chỉ có hạng người vô liêm sỉ, vô giáo dục và mất dạy mới đem đời tư một người đồng nghiệp ra bêu riếu một cách công khai trước công luận như vậy, nhất là Đức Ông Cao Minh Dung không hề gây thù chuốc oán với cá nhân Linh-mục Phan Văn Lợi.

Thế nhưng, đối với “lương tâm công giáo”, biết đâu những hành động trên đây của Linh-mục Phan Văn Lợi vẫn được coi là hành động “vì Chúa”, đáng làm gương cho giới con chiên phải noi theo! Cả Linh-muc Phan Văn Lợi và Đức Ông Cao Minh Dung đều đựơc đào tạo theo tinh thần công giáo, đều theo học cái nghề làm linh mục, đều chịu ảnh hưởng sâu nặng của kinh thánh Ki-tô cả Cựu Ước và Tân Ước, đều thấm nhuần “lương tâm công giáo” và ”đưc tin Ki-tô”, đều được Tòa Thánh dung dưỡng, bao che và bảo vệ (khi bị tố cáo là can tội về dâm dục).

Tóm lại, giới tu sĩ Ca-tô khốn nạn như thế đó! Ấy thế mà trong xã hội Ca-tô, họ lại được coi là những người có đạo cao đức trọng, chiếm một địa vị độc tôn trong xã hội. Mỗi khi có tin loan báo về tang, hôn, hiếu, hỉ, họ đều sắp đặt lên hàng đầu của những người đáng kính trọng nhất trong xã hội. Đúng là cái xã hội của loài thú vật! Cái xã hội của những con người mà nhà báo Long Ân phải chua xót cho rằng đã bị bị cái tôn giáo của họ biến thành loài súc sinh:

“Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” [30]

Thực ra, Giáo Hội La Mã Vaticạn cũng đã công khai nhìn nhận tín đồ của giáo hội là loài súc sinh bằng cách gọi họ là “đàn chiên” (đàn cừu non), và gọi các ngài đại diên Chúa của giáo hội là “những người chăn chiên” hay “những người chủ chiên”. Họ đã mất không biết bao nhiêu công lao trong mấy trăm năm mới có thểbiến cải những con người Việt Nam với những nét đặc thù ăn sâu vào máu cốt như “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng” thành loài súc sinh với những đặc tính như đã nói ở trên.

Có thế thì Vatican mới có thể sử dụng họ làm lực lượng xung kích nòng cốt nằm tiềm phục ở ngay trong lòng dân tộc, chờ lệnh “hiệp thông cầu nguyện” nổi lên đánh phá tổ quốc và dân tộc ta như họ đã làm và vẫn làm như hiện nay.

Để có thể sử dụng những con người này làm những con thiêu thân liều chết chiến đấu cho mưu đồ đánh cướp nước ta làm thuộc địa, giáo hội lại phải sử dụng một số kế sách như sau:

Kế sách 1: Những “hoa ngôn xảo ngữ”

Quỷ quyệt, gian manh và xảo trá hơn hết là Vatican sử dụng những “hoa ngôn xảo ngữ” làm bức man nhung che đậy cho dã tâm thâm độc và dã man trong các chủ trương và việc làm vừa có cái bản chất thàm tàn và man rợ, vừa nặng tính cách phỉnh gạt và lừa bịp khiến cho tín đồ không còn nhận ra được chính họ đã bị Giáo Hội La Mã biến họ thành một thứ súc sinh (mà giáo hội cũng đã công khai gọi họ là đàn chiên), coi họ như là một thứ “tôi tớ hèn mọn” để dễ dàng lợi dụng, sai khiên và bóc lột học đến tận xương tận tủy. Vị bị chính sách ngu dân là cho họ ngu dốt không còn đủ lý trí để tìm hiểu sựu vật lại mang căn bệnh tham lợi và háo danh, cho nên khi được khóang cho những cụm từ nặng tính cách phỉng gạt và lừa bịp như “lương tâm công giáo”, “hồng ân Thiên Chúa,” “sẽ được Chúa trả công,” “thánh bổn mạng, thánh quan thầy”, “thánh tử đạo”, “sống đạo,” “đức tin công giáo”,“dân Chúa”, “dân có đạo”, “phép mầu”, “phép lạ”, “các phép bí tích”, “Đức Bà hiện ra,” danh Cha cả sáng, mở mang nước Chúa,” “làm sáng danh Chúa”, “thi hành nghĩa vị tông đồ”v.v… thì họ tưởng như là họ thực sự là “dân được Chúa Chọn” và “lúc nào cũng có Chúa ở bên cạnh chúng”. Tất cả đã làm cho họ không biết rằng với 18 đặc tính như đã nói ở trên,. tự họ đã làm mất hết nhân tính và không còn một chút gì làm liêm sỉ nữa.

Những thuật ngữ trên đây quả thực là hữu hiệu để đưa tín đồ Ki-tô vào cơn mê mơ về nước Chúa và đã được Vatican sử dụng liên tục ngay từ những ngày đầu khi các ông truyền giáo mới tới Việt Nam vào giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay.

Kế sách 2: Làm cho họ không nhìn ra cái đặc tính vong bản phản quốc.- Muốn làm được như vậy, giáo hội lại phải moi óc tím ra những cụm từ “người Việt quốc gia”, “chính quyền quốc gia”, “chính nghĩa quốc gia”, “chiến đấu cho tự do dân chủ” để làm bức màn nhung che đậy cái bản chất cốt lõi “Việt gian bán nước cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican “. Những cụm từ này bắt đầu được sử dụng nhiều nhất từ tháng 6 năm 1948 cho đến ngày 30/4/1975.

Kế sách 3: Làm cho những con người súc sinh này có một luồng sinh khí mới để thích nghi với hòan cảnh mới.- Muốn thực hiện được kế sách này, giáo hội lại phải moi óc tìm ra những “hoa ngôn xảo ngữ” mới thích hợp với hoàn cảnh mới ở Việt Nam sau ngày 30/4/1975. Vì thế, kể từ ngày này (30/4/1975), chúng ta lại thấy những cụm từ mới được Vatican sáng chế ra cho con chiên người Việt sử dụng như là “hiệp thông cầu nguyện”, “giữ vững lằn ranh Quốc – Công”, “tranh đấu cho hòa bình và công lý”, “tranh đấu đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam ”, “tranh đấu đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam”. Tất cả những cụm từ nặng tính cách “hoa ngôn xảo ngữ” này được nhóm thiểu số con cừu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” sử dụng như là một bứcbình phong che đậy cho những “hành động tập trung gây bạo loạn” phục vụ cho mưu đồ bất chính của Vatican tại Việt Nam từ năm 1976 cho đến ngày nay.

Trên đây là những quái chiêu của Vatican thực hiện ở Việt Nam để có thể sử dụng bọn người súc sinh cho mưu đồ bất chính, đại gian, đại ác đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa theo chính sách “chia để trị”, dùng người Việt đánh người Việt và đưa bọn súc sinh này lên nắm chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô, rồi tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa dân ta bằng bạo lực.

H.- Xã Hội Ca Tô Bị Ảnh Hưởng Nặng Nề Những Gương Xấu Của Các Ngài Đại Diện Chúa

Quy luật tâm lý và xã hội là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “cha nào con ấy”, “ác tính hay thói hư tật xấu thì dễ dàng được người đời bắt chước noi theo và thiện tính thì rất khó khăn tập thành thói quen”. Tín đồ Ca-tô được đào luyện thành những người coi các ngài đại diện Chúa như cha như mẹ, tất nhiên là họ cũng theo gương các ngài sống đời loạn luân dâm loạn; họ cũng theo gương các ngài để rồi có những thói quen tàn ngược, gian tham, man rợ, đội trên đạp dưới: Đối với những người có quyền thế, thì họ tỏ ra xun xoe, nịnh bợ. Đối với những người lép vế thế cô, thì họ làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng. Thực trạng này đã gây ra hậu quả khiến cho tín đồ Ca-tô mất hết cả tình thương giữa con người đối với con người, mất hết cả luân thường đạo lý. Thực ra, trong xã hội Ca-tô, không phải tất cả mọi tín đồ đều có những ác tính ghê tởm như trên. Chỉ có những tín đồ nào có trình độ học vấn khá hơn bậc tiểu học một chút và hay băng xăng tiếp xúc với các linh mục quản nhiệm họ đạo để kiếm chác một chút địa vị hay một chút danh hão như hội trưởng, đoàn trưởng trong các đoàn thể hay bất kỳ một chức vụ hoặc vai trò nào trong nhà thờ , trong giáo hội và hy vọng được đưa vào nắm giữ một chức vụ nào đó trong chính quyền mới là hạng người háo danh hay thèm khát quyền lực và mới là thứ người đáng ghê tởm hơn cả. Như vậy là trong cộng đồng Ca-tô, có hai hạng người. Hai hạng người này được học giả Charlie Nguyễn ghi nhận như sau:

“Chúng ta phân biệt hai loại người đối tượng: Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi mà gây nên rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giầu như dòng tu Đồng Công ở Missouri chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp Sĩ Đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến (các đoàn thể này – NMQ) thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của Linh-muc Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy, Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mải lo làm ăn chất phác, chỉ vì thiếu hiểu biết, (cho nên) họ đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết..” [31]

Không ai có thể phủ nhân được những ác tính ghê tởm như trên là do chủ tâm của Vatican tạo nên.

Tạo nên ra bằng các nào?

Bằng cách khơi động lòng tham lam ích kỷ của người đời rồi dùng những lợi lộc vật chất, những chức vụ trong chính quyền cũng như trong giáo hôij (dù chỉ là danh hão) để dụ khị và câu nhử những con mồi chạy theo bắt mồi rồi theo đạo hay lao đầu vào làm tay sai đắc lực cho Vatican Vì thế mà trong xã hội Ki-tô mới có quá nhiều hạng người khốn nạn như trên.

Khốn nạn hơn nữa là trong xã hội Ki-tô, hạng người khốn nạn này không phải chỉ có những thói hư tật xấu với những tội ác gây ra bởi căn bệnh tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực, mà còn có những tội ác làm bại hoai văn hóa và văn minh của nhân loại do ảnh hưởng bởi những chuyện loạn luân, phi luân trong kinh thánh cũng như do nếp sống loạn luân, phi luân, bất nhân, tham tàn và gián ác của các ngài đại diện Chúa mà ra. Nói cho rõ hơn, sở dĩ có tình trạng như vậy là vì thủ phạm của những tội ác ghê tởm này lại chính là các nhà lãnh đạo của giáo hội trong giáo triều Vatican và là giới tu sĩ của giáo hội nêu gương cho giấo dân noi theo. Điều quái đản là chính những tội ác này lại được giáo hội tích.cực bảo vệ, bất chấp cả luật pháp của các chính quyền thế tục tại các địa phương.Tình trạng này đã khiến cho con số những đứa con hoang trong xã hội Ca-tô do các ngài sinh sản ra chiếm một tỉ lệ hết sức lớn. Theo sách Vicars of Christ tỉ lệ con hoang do các ngài để lại trong xã hội Ca-tô lên đến 40%:

“Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 đứa con hoang là con của các ông tu sĩ.” [32]

“Về phần các giáo sĩ, họ bị cưỡng bách phải chọn lựa hoặc là được chính thức lập gia đình thì không được làm giáo sĩ, hoặc là được làm giáo sĩ thì không được chính thức lập gia đình. Cách chọn lựa hay nhất là làm giáo sĩ và sống chung với bạn gái mà không cần phải có hôn thú.” [33]

Chính vì tình trạng hủy họai văn hóa và văn minh có chủ tâm như vậy của Vatican mà văn hào Victor Hugo (1802-1885) mới nói rằng, “Trong mỗi làng đều có một bó đuốc soi sáng là ông thày giáo, và một kẻ làm tắt bó đuốc đó là ông linh mục trong làng.” (There is in every village a torch: the schoolmaster – and an extinguisher: the parson.” Và họcRobert G. Ingersoll (1833-1899), người Hoa Kỳ, cũng nóii ”Một ông thày giắo giỏi có giá trị hơn một ngàn linh mục.” (One good schoolmaster is worth a thousand preists.” [34]

Điều nguy hại hơn cả cho nền văn hóa và văn minh của nhân loại là các ngài đều nhân danh là những người “đại diện Chúa” để mê hoặc tín đồ và người đời. Thực trạng này đã khiến cho những ngu dốt dễ dàng bắt chước và sống theo cái nếp sống văn hóa loạn luân, phi luân, phi nhân, tàn ngược và cực kỳ man rợ trong đạo Ca-tô mà các ngài đại diện Chúa đã nêu gương cho họ noi theo. Đây là một sự thực đã xẩy ra và có thể xẩy ra rất nhiều ở trong xã hội Ki-tô. Một trong những trường hợp này (phải nói là cực kỳ ghê tởm) mới xẩy ra gần đây và được tờ The News Tribune (Tacoma, Washington) số ra ngày Thứ Năm 19/3/2009 đăng nơi trang A3 như sau:

“Tin từ Poelton Austria: Người cha nhận tội vì đã giữ con gái trong buồng giam trong nhiều năm: Hôm Thứ Tư (18/3/2009), ngồi trước vành móng ngựa, Josef Fritzl vội vàng nhận tất cả những tội ác – một đặc tính làm mọi người ngạc nhiên trong những tiết lộ cho biết ông ta đã cầm tù người con gái của ông ta cả 24 năm trong một buồng giam nơi mà ông ta đã hãm hiếp nạn nhân và sinh đẻ tới 7 người con rất là kín đáo. Tội ác này làm cho cả thế giới chú ý: Fritzl đã bình thản nhìn nhận tội ác trong đó có cả tội sát nhân (sát hại một trong 7 đứa trẻ này). Fritzl nói rằng ông ta xúc động khi nghe những lời khai đau khổ của người con gái của ông qua một cuôn băng ghi âm.

Fritzl, 73 tuổi, nhìn nhận hết tất cả tội ác nêu lên trong bản cáo trạng và nói với các quan tòa trong phiên xử rằng đó là những “hành động bệnh hoạn của ông ta.”[35]

Chuyện này cũng được Báo Sàigòn Nhỏ số 640 ra ngày 20/3/2009 tóm lược và dăng nơi trang 12 với nguyên văn như sau:
Josef Fritzl

“Áo: Kẻ loạn luân ra tòa.- (SGN – TH) – Josef Friztl giấu mắt sau chiếc kẹp tài liệu màu xanh và nói với luật sư: “Tôi sợ lắm” trước phiên tòa xử y về tội giam giữ và cưỡng hiếp con gái suốt 24 năm trời. Fritzl tiếp tục giấu mặt sau kẹp tài liệu này khi thẩm phán bắt đầu làm việc. Phiên tòa được bảo vệ an ninh nghiêm ngặt diễn ra ở thành phô St. Pollen cách thủ đô Áo 65 km, hôm nay. Fritzl bị buộc tội giết người, cưỡng hiếp, loạn luân, giam và bắt con gái làm nô lệ một cách bất hợp pháp….

Giới chức Áo cho hay Fritzl tống giam và liên tục cưỡng hiếp con gái – Elizabeth – trong gần một phần tư thế kỷ dưới căn hầm không cửa sổ mà ông ta xây ở thị trấn Amstetten. Elizabth sinh cho ông ta 7 đứa con, trong đó một đứa chết khi vừa mới ra đời. Công tố viện truy tố Fritzl tội giết người vì cho rằng đứa bé này có thể sống nếu y đưa nó đi bệnh viện.

Ba trong số những đứa con lớn lên dưới căn hầm ở Amstetten chưa từng thấy ánh nắng mặt trời cho tới tháng 4 năm ngóai (2008) khi vụ việc được phanh phui. Ba đứa khác được bà ngoại nuôi dưỡng ở căn nhà trên mặt đất. Những đứa bé này cùng với Elizabeth được điều trị tại bệnh viện tâm thần. Họ đang sống ở một nơi cách biệt và được đảm bảo an ninh.

Không một nạn nhân nào sẽ ra mặt làm chứng trước tòa. Thay vào đó, 8 thành viên bồi thẩm đoàn sẽ xem đoạn băng ghi lại lời khai của Elizabeth và một trong số những người anh của cô.” [36]

Không ai chối cái được tên tội đồ loạn luân và sát nhân Josef Friztl này sinh ra và lớn lên trong xã hội Ki-tô giáo và được “rèn luyện theo tinh thần công giáo” để sống theo “lương tâm công giáo” hay “đức tin Ki-tô”, nghĩa là sống theo tinh thần kinh thánh Ki-tô và sống theo nếp sống của các nhà lãnh đạo và tu sĩ Ki-tô. Kết quả là nó đã hành xử đúng như những tấm gương xấu loạn luân, phi luân và dã man như đã xẩy ra trong kinh thánh, trong giáo triều Vatican và trong giới tu sĩ Ki-tô như đã nói ở trên.

Dưới đây là một chuyện khác nữa cũng là một sản phẩm của nền đạo lý Ki-tô vị kỷ với đặc tính súc sinh mà người viết nghĩ rằng ở các xã hội theo tam giáo cổ truyền của Đông Phương chưa bao giờ có. Con người súc sinh này đã được các cơ quan truyền thông Hoa kỳ loan tin đầy đủ, trong đó có bản tin do tờ báo The Columbian (Vancouver, WA) số ra ngày 19/12/1994 nói sơ qua về hành động súc sinh của con người súc sinh này. Nguyên văn bản tin này như sau:

“Tội ác của tên tội đồ Jeffrey Dahmer thật là tàn ác ghê gớm hầu như là không thể nào xẩy ra trong một xã hội văn minh: giết người, băm chặt nạn nhân ra từng miếng mà còn ăn thịt cả 17 thanh thiếu niên nạn nhân. Cho nên không có ai tỏ ra thương sót khi hay tin nó bị đánh chết ở trong khám đường Wisconsin trong tuần này.”[37]

Tên tội đồ Jeffrey Dahmer sát hại 17 thanh thiếu niên, rồi chặt ra từng mảnh, đem chứa trong tủ lạnh để ăn dần. Sự kiện này làm cho nhân dân thế giới phải bàng hoàng không thể tưởng tượng được trong một xã hội văn minh như ngày nay lại có một chuyện kinh tởm ghê gớm như vậy! Ai cũng biết rằng thằng Jeffrey Dahmer sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong xã hội văn minh Ki-tô. Sự kiện này khiến cho người viết đặt ra vấn đề là những hành động tội ác kinh tởm và ghê gớm như vậy có phải là do ảnh hưởng của những lời dạy ở trong kinh thánh cũng như của những nếp sống loạn luân, dâm loan, tham tàn, man rợ của các giáo hoàng trong giáo triều Vatican và của các ngài “đại diện Chúa” ở khắp nơi trong các cộng đồng Ki-tô hay không?

Xin quý vị xem lại Chương 10 ở trên để biết thêm nhiều chuyện kinh tởm khác nữa.

II.- Chính Sách Chia Để Trị Và Kế Hoạch Của Vatican Để Cướp Chính Quyền Ở Việt Nam

Chính sách “chia rẽ” và “chia để trị” được Giáo Hội La Mã sử dụng trong kế hoạch thôn tính các vùng mục tiêu có lẽ khởi đầu từ thế kỷ 15 trong những năm ban hành các sắc chỉ hay thánh lệnh tự phong cho giáo hội có quyền ban phát cho các tín đồ lãnh đạo các cường quốc có đặc quyền đem quân đi đánh chiếm các dân tộc thuộc các tôn giáo khác làm thuộc địa và cưỡng bách họ phải theo đạo làm nô lệ cho Vatican. Qua nhiều thế kỷ, các chính sách “chia rẽ” và “chia để tri” này đã trở thành thói quen và cũng là bản chất của Vatican. Tìm hiểu sâu rộng hợn nữa, chúng ta sẽ thấy chính sách này bắt nguồn từ lời phán dạy nặng tính cách đại nghich bất đạo, háo chiến, khát máu và hết sức dã man của ông Chúa Con Jesus khùng khùng điên điên mà ra. Đây là sự thực lịch sử. Sự thực này được sách Matthew trong Tân Ước nói rõ như sau:

“Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là mang gươm giáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ”(“Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword.” “For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daugher-in-law against her mother-in–law.” “And a man’ s foe will be be of his own household.” “He who loves father or mother more than Me is not worthy of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of Me.” (Matthew 10:33-37).

Vì là bản chất, cho nên khi quyền lực của Vatican vươn đến Việt Nam, thì họ chia rẽ dân tộc ta thành hai khối người gọi là “dân có đạo” (dân Chúa) và “dân ngoại đạo” để kỳ thị và chống đối lẫn nhau. Sự thật này được ghi lại trong sử. Sách Vatican Xin Lỗi và Thú Tội viết:

“Trọng tội của Giáo Hội không phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.” [38]

Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, họ thi hành chính sách chia để trị bằng quái chiêu đưa Bảo Đại lên cầm quyền, diễn trò hề thành lập chính quyền Quốc Gia với ý đồ dùng người Việt đánh người Việt, rồi tiến đến việc đưa một tín đồ Ca-tô lên cầm quyền để thi hành kế hoạch Ki-tô hóa dân ta từ trên xuống và bằng bạo lực. Đoạn văn sử dưới đây hé mở cho chúng ta thấy dã tâm thâm độc này của Vatican::

“Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:

“Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trướcngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính].”[39]

Đưa Bảo Đại lên cầm quyền chỉ là bước 1 trong kế hoạch Ki-tô hóa dân ta từ trên xuống và bằng bạo lực.Người viết xin tóm lược quái chiêu này của Vatican như sau:

Bước 1: Dùng Người Việt Đánh Người Việt.

Đó là kế sách gom góp và lôi cuốn những thành phần Việt gian đã từng tiếp tay cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican trong những năm 1858-1945 và những thành phần lưu manh xu thời thành một thế lực gọi là “người Việt Quốc Gia”. Mục đích của thế lực này là chống lại cuộc kháng chiến của toàn dân dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh. Đồng thời, họ lại sơn phết, tô vẽ cho cại tập đoàn Việt gian này bằng cụm từ “Người Việt Quốc Gia” là những người chiến đấu cho “chính nghĩa quốc gia” dưới quyền lãnh đạo của ”chính quyền Quốc Gia”. Tẩt cả những cụm từ này đều do Vatican sáng chế ra để làm bức bình phong che đậy cái bản chất Việt gian bán nước của nhóm thiểu số cừu non (con chiên) “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa, “giữ đạo chứ không giữ nước” và “bọn lưu manh xu thời” đã cúi đầu gục mặt đi theo Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican chống lại đất nước và dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến lúc bấy giờ.

Tiếp theo đó, Vatican lại còn sáng chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ để làm biểu tượng tranh đấu cho bọn phản quốc siêu vô liêm sỉ này. Thực ra, ai cũng biết rằng, trước tháng 6/1948 những cụm từ quái đản này chưa hề có trong ngôn ngữ và lịch sử Việt Nam. Sự kiện này cũng được sách Việt Nam 1945-1995 ghi lại rõ ràng như sau:

“Danh hiệu Quốc Gia Việt Nam (QGVN) được sử dụng từ ngày 5/6/1948, sau khi Cao Ủy tại Đông Dương Émile Bollaert và Thử Tướng Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân ký bản thống cáo chung tại Vịnh Hạ Long nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. Sau khi Bảo Đại bị truất phế trong cuộc trưng cầu dân ý 23/10/1955, nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thành lập ngày 26/10 và quốc hiệu “Việt Nam Cộng Hòa” (VNCH) được dùng để chỉ chính thể ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975.”[40].

Mùa xuân năm 1954, lịch sử Việt Nam bước vào khúc quanh vô cùng quan trọng. Chiến thắng của Quân Đội Kháng Chiến Việt Minh ở Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954 khiến cho Pháp phải nghiêm chỉnh thương thuyết với chính quyền kháng chiến ta tại Hội Nghị Geneve 1954, công nhận chủ quyền độc lập của dân tộc ta và rút quân về nước. Tình trạng này khiến cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican bị khai tử. [Cũng nên biết liên minh xâm lược này được hình thành vào giữa thập niên 1850 [trong thời Hòang Đế Napoléon III (1852-1870)].

Vốn đã từng lăn lộn trên sân khấu chính trị từ thế kỷ 4, cho nên, ngay từ khi Cộng Đảng Trung Hoa đánh bại Quốc Quân Trung Hoa và hoàn toàn làm chủ Hoa Lục vào cuối năm 1949, Vatican đã nhận thức được rằng gió đã đổi chiều, rằng Pháp sẽ rơi vào tình trạng “ốc không mang nổi mình ốc”, và sớm hay muộn cũng phải cuốn gói ra đi. Vì có chủ tâm bám chặt lấy thân xác Viêt Nam như loài đỉa đói và vì thấy Pháp không còn đủ sức mạnh quân sự để bảo vệ khối tài sản kếch sù và quyền lực đã cướp đoạt và cưỡng chiếm của dân ta trong những năm 1862-1954, tháng 8 năm 1950, Vatican đưa ra một kế hoạch gồm hai kế sách:

Kế sách 1: Ra lệnh cho chính quyền Bảo Đại ban hành Dụ Số 10 vào ngày 6 tháng 8 năm 1950 để hợp thức hóa việc tẩu tán khối bất động sản kếch sù bằng cách chuyển nhượng cho các tu sĩ Ca-tô người Việt đứng tên.

Kế sách 2: Cho người dẫn Ngô Đình Diệm đến Mỹ giao cho Hồng Y Spellman dùng ảnh hưởng để vân động những con chiên có thế lực trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ đưa tên tam đại Việt gian họ Ngô này về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. Nhờ ảnh hường của Hồng Y Spellman ở Mỹ khá mạnh, cho nên Ngô Đình Diệm đã được chính quyền Mỹ chọn làm con bài đưa về Việt Nam cầm quyền để làm tay sai cho cả Mỹ và Vatican. Cà hai thế lực này đều có dã tâm muốn duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi vá coi miền Nam như một quốc gia riêng biệt. Hoa Kỳ muốn biến miền Nam thành tiền đồnngăn chặn ngọn triều Cộng Sản đang dâng trản phủ kín gần hết lục đia Trung Quóc và lan xuống vĩ tuyến 17. Vatican thì muốn biến miền Nam thành một quốc gia theo đạo Ca-tô qua tiến trình kế họach Kitô hóa bằng bạo lực và hy vọng trong vòng 10 năm thì toàn thể nhân dân miền Nam sẽ bị cưỡng bách phải theo đạo Ki-tô hết. [41]

Bước 2: Tiến Hành Kế Họach Ki-tô Hóa Nhân Dân Miền Nam Bằng Bạo Lực.

Việc vận động Hoa Kỳ đưa con chiên cuồng tín Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền được coi đã hoàn thành xong bước đầu. Kể từ đây, Vatican chỉ lo việc củng cố quyền lực bằng cách thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô, dùng nhóm tín đồ Ki-tô người Việt làm thế lực nòng cốt và lực lượng xung kích, rồi tiến hành chính sách Ki-tô hóa dân ta bằng bạo lực. Những kế sách này được tiến hành hết sức thô bạo ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1955-1963, bị khựng lại từ ngày chế độ bạo trị Ngô Đình Diệm bị lật đổ vào ngày 1/11/1963, và lại được tiến hành vào tháng 9 năm 1967, khi họ đưa được con chiên Nguyễn Văn Thiệu lên cầm quyền. Trong thời gian từ tháng 9/1967 cho đến đầu tháng 4 năm 1975, việc tiến hành Ki-tô hóa ở miền Nam không đến nỗi quá trắng trợn như những năm 1954-1963. Nó được tiến hành tương đối khôn khéo hơn, công khai, hay kín đáo tùy theo hoàn cành từng địa phương và tùy theo hoàn cảnh của từng đối tượng bị chiếu cố. (Những người thuộc các tôn giáo khác muốn lập gia đình với người yêu là con chiên của Vatican đều bị đòi phải theo đạo bằng áp lực tình yêu. Đặt điều kiện cải đạo trong lúc tiến đến hôn nhân là một cách hết sức trắng trợn, không có một chút gì gọi là âm thầm và kín đáo cả. Chắc chắn là từ thán g 7 năm 1954, hành động cưỡng bách nạn nhân phải theo đạo theo “kiểu lưu manh” như không thể xẩy ra lở miền Bắc vĩ tuyến 17,

Hậu quả của kế họach Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực của chính quyền Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1963 là gần hơn 300 ngàn người dân miền Nam bị sát hại, nhiều trăm ngàn người khác bị bắt giam, bị tra tấn, bị hành hạ đến mang tật nguyền, và Phật giáo bị bách hại hết sức thô bạo.[42]

Ngô Đình Thục – Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu) – Ngô Đình Cẩn
Năm nhân vật chính của gia đình nhà Ngô trong chế độ đạo phiệt và gia đình trị 1954-1963.

Vì thế mà toàn thể nhân dân thế giới hết sức kinh hoàng và cực kỳ ghê tởm chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm. Cuối cùng, ngọn lửa căm hờn của quân dân miền Nam đã thiêu rụi cái chế độ đạo phiệt Ca-tô cực kỳ tham tàn, cực kỳ man rợ này, anh em tên bạo chúa Ngô Đình Diệm bị quân dân miền Nam lôi ra đập chết vào khỏang lúc 7 giờ sáng ngày 2/11/1963. và các nhà viết sử đã ghi nhận rằng Ngô Đình Diệm là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.[43]

Cuôc chiến kéo dài 21 năm trời với không biết bao nhiêu tổn thất về sinh mạng và tài sản. Sự tổn thất này vừa do những vũ khí hiện đại nhất của Hoa Kỳ gây ra, vừa do chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực của Vatican và chính quyền đạo phiệt Ngô Đình Diệm gây ra. Cuối cùng, vì không có chính nghĩa, cho nên nhân dân thế giới cũng như nhân dân Mỹ đã lên án và chống đối chính quyền Mỹ hết sức mãnh liệt về việc theo đuổi và tiến hành cuộc chiến này. Những hành động chống đối này được thể hiện ra qua các phong trào phản chiến ở ngay chính quốc Mỹ và ở khắp nới trên thế giới. Đối diện với áp lực mãnh liệt như vậy, chính quyền Mỹ buộc phải thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền Hà Nội tại Hội Nghi Paris (1968-1973), bằng lòng rút hết quân về Mỹ để mặc cho người Việt Nam giải quyết vấn đề thống nhất đất nước của người Việt Nam.

Theo Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27/1/1973, Mỹ phải bắt đầu rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam vào ngày thứ 61 kể từ ngày hiệp định này được ký kết. Tin Hoa Kỳ và chính quyền Hà Nội đồng thuận ký Hiệp Định Paris 1973 để chấm dứt chiến tranh làm cho cả Vatican và chính quyền Sàigòn rúng động và mất hết tinh thần. Toàn bộ nhân viên cao cấp trong chính quyền Sàigòn từ tổng thống, thủ tướng, các tổng bộ trưởng, cho đến các tướng lãnh nắm quyền chỉ huy các ngành công an, cảnh sát, mật vụ cũng như các sĩ quan cấp tướng, cấp tá, cấp úy nắm quyền chỉ huy tại Bộ Tổng Tham Mựu, các quân đòan, sư đoàn, trung đòan, tiểu đoàn và đại đội đều hoảng hốt kinh hoàng, tìm cách cuốn gói đào nhiệm, bỏ lại nhân viên và quân lính dưới quyền như rắn mất đầu. Nhờ vậy mà quân đội miền Bắc đã có thể hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thống nhất đất nước một cách quá mau, ngòai dự tính của các nhà lãnh đạo chính quyền miền Bắc.

Riêng về Vatican, chúng ta nhớ lại, vào năm 1950 vì lo sợ Việt Minh đại thắng và sẽ tịch thu hết tất cả bất động sản Giáo Hội La Mã tại Việt Nam, Vatican mới ra lệnh cho chính quyền Bảo Đại ban hành Dụ số 10 vào ngày 6/8/1950 để hợp thức hóa việc tẩu tán khối bất động sản khổng lồ mà Vatican đã cưỡng đọat và ăn cướp của dân ta trong những năm 1862-1945 (như đã nói ở trên). Lần này (vào đầu năm 1975) cũng vậy, vì lo sợ miền Bắc chiến thắng và tân chính quyền sẽ tich thu hết tất cả của tài sản của họ, Vatican liền lo tẩu tán tất cả các động sản, nhất là những khối tiền kếch sù nằm trong các nhà ngân hàng ra khỏi miền Nam để khỏi bị tân chính quyền quốc hữu hóa. [44]

III.- Tóm Lược Những Âm Mưu Và Hành Động Của Vatican Đánh Phá Việt Nam

Những hoạt động của Vatican đánh phá Việt Nam có thể được chia ra làm hai giai đoạn: trước và sau ngày 30/4/1975

A.- Những Âm Mưu Và Hành Động Đã Đánh Phá Việt Nam Trước Ngày 30/4/1975

Như đã trình bày ở trên, chủ trương của Vatican đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa nằm trong Sắc Chi Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Để có thể thực hiện được chủ trương bất chính, bất nhân và dã man này, ngay sau khi ban hành sắc chỉ ặn cướp trên đây, Vatican đã sai phái hàng binh đoàn gián điệp chuyên nghịệp với danh nghĩa là các nhà truyên giáo đến Việt Nam thi hành các điệp vụ thâu thập các tín tức tình báo chiến lược gửi về Vatican điều nghiên, đúc kết thành một kế họach đánh chiếm Việt Nam. Sau đó, ho gửi các tay thuyết khách đến tận kinh thành Paris, tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Pháp trổ tài uốn lưỡi Tô tân thuyết phục chính quyền Pháp liên kết với giáo hội đem quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa đề cùng cướp đoạt tài nguyên và cùng cưỡng bách dân ta làm nô lệ.

Để giúp cho mọi người nhìn thấy rõ bàn tay của Vatican trong các sách lược cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp và siêu cường Hoa Kỳ hầu cưỡng chiếm nước ta làm thuộc địa và nộ lệ hóa dân ta trước đây, chúng tôi xin làm bản tóm lược những chủ trương và những việc làm của Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu cho đến những năm gần đây.

1.- Chủ trương đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cưỡng bách dân ta phải theo đạo Ki-tô làm nô lệ, chính là Vatican. Xin xem lại Chương 3 ở trên:http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php.

2.- Đặt ra kế hoạch đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa cũng là Vatican. Xin xem lại Chương 4 ở trên: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php.

3.- Dạy dỗ tín đồ bản địa bất tuân lệnh các vua nhà Nguyễn, xúi giục những thành phần bất mãn với triều đình Huế và tín đồ bản địa nổi loạn gây rối rồi nhẩy vào làm cố vấn chỉ đạo cho loạn quân trong mưu đồ cướp chính quyền cũng là Vatican. Xin xem lại Chương 17 ở trên: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_17.php

4.- Chủ tâm xúi giục những vụ nổi loạn như trên khiến cho triều đình nhà Nguyễn phải ban hành những luật cấm đạo, rồi rêu rao rằng chính quyền Việt Nam bách hại Thiên Chúa Giáo và lấy đó làm cái cớ để vận động chính quyền Pháp liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa cũng là Vatican. Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong bài viết “Nguyên Nhân Đưa Đến Việc Triều Đình Huế Ban Hành Lệnh Cấm Đạo”. Bài viết này có thể đọc online trên sachhiem.net:http://sachhiem.net/NMQ/VANHOAXD/NMQvh00.php

5.- Vận động Pháp liên kết với Vatican và xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng cướp đọat tài nguyên, cùng nộ lệ hóa dân ta và cùng bóc lột dân ta đến tận xương tận tủy khiến cho dân ta rơi vào thảm họa chết đói tới hai triệu người cũng là Vatican.

6.- Dựa vào quyền lực của chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican để cướp đoạt tài nguyên, đặc biết là đã cưỡng chiếm của dân ta một khối lượng bất động sản khổng lồ cũng là Vatican.Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 29 có nhan đề là “Cướp Chùa, Chiếm Đất Xây Nhà Thờ Và Cướp Đoạt Ruộng Đất Của Nhân Dân”, Mục X, Phần III, sách Lịch Sử Và Hô Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH29.php

7.- Vận động Tổng Thống Chính Phủ Lâm Thởi Charles de Gaulle bổ nhậm cựu Linh-muc Georges Thierry d’ Argenlieu giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương vào ngày 17/8/1945 để lo việc điều động Đoàn Quân Viên Chinh Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tái chiếm Đông Dương nhằm phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Giáo Hội La Mã và thực dân tư bản Pháp tại Việt Nam cũng là Vatican.

8.- Chủ trương đưa Bảo Đại thành lập chính quyền làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican để thi hành chính sách chia để trị, dùng người Việt đánh người Việt chuẩn bị cho bước kế tiếp dùng tín đồ Ki-tô bản địa để cai trị và cưỡng bách đại khối nhân dân ta vốn sống theo nếp sống văn hóa cổ truyền phải theo đạo Ca-tô cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Mục III với tựa đề là “Giải Pháp Bảo Đại”, trong Chương 2 “Tính Cách Thuận Lý và Nghịch Lý của Một Chính Quyền “(sách Chân Dung “Người Việt Quốc Gia”). Mục này có thể đọc online trên sachhiem:http://sachhiem.net/NMQ/ChanDungVNCH/QMN02a.php.

9.- Chế biến ra các cụm từ “Người Việt Quốc Gia” để làm cái phao cho nhóm thiểu số vong bản phản dân tộc “thà mất nức chứa không thà mất nước”, “giữ đạo, chứ không giữ nước” cùng đám tàn dư vua quan phong kiến lỗi thời triều đình Huế và bọn lưu manh xu thời Việt gian cố cựu bám lấy như một liều thuốc an thần làm nhẹ cái mặc cảm tội ác “phản quốc, bán nước cho quân cướp ngoại thù” cũng là Vatican. Thế nhưng, tất cả mọi người Việt Nam đều biết rằng “những kẻ tự nhận là “người Việt Quốc Gia” chính là những kẻ trong suốt chiều dài lịch sử đã từng đứng trong hàng ngũ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican (1858-1954) và sau này lại làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican (1954-1975) vừa qua.

10.- Chế biến ra lá cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng cho chế độ bù nhìn do chính Giáo Hội La Mã dựng nên theo chính sách “chia để trị” “dùng người Việt đánh người Việt” cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 4 với tựa đề là “Đi Tìm Ý Nghĩa Thực Sự Của Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ (sách Chân Dung Người Việt Quốc Gia). Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net:http://sachhiem.net/NMQ/ChanDungVNCH/QMN04.php.

11.- Ngồi ở hậu trường, đạo diễn cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại ban hành Dụ số 10 vào ngày 6 tháng 8 năm 1950 để chuyển nhượng cho tu sĩ áo đen người Việt đứng tên tất cả khối bất động sản khổng lồ do các giáo sĩ người Pháp đứng tên cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bầy đầy đủ trong Chương 60 có nhan đề là “Những Tính Toán Của Vatican trong năm 1950” (Phần VI, sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tộ Ác Của Giáo Hội La Mã.) Chương sách này có thể đọc onlỉn trên sachhiem.net:http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH60-1.php. Khối tài sản khổng lồ này đã được nêu lên trong Mục 6 ở trên.

12.- Vận động Hoa Kỳ dùng bom nguyên tử để giải vây cho Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican bị khốn đốn tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong mùa xuân năm 1954 cũng là Vatican. Vấn đề này đã được sử gia Avro Manhattan nói rất rõ ràng nơi trang 72, chapter 9 trong cuốn Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publixations, 1984). Chương sách này đã được ông Trần Thanh Lưu chuyển dịch sang tiếng Việt và đã được đưa lên trang nhà sachhiem.net. từ ngày 3/5/2009: http://sachhiem.net/LICHSU/AVRO/YdidwegoV_009.php

13.- Vận động Hoa Kỳ liên kết với Vatican đưa Ngô Đình Diêm về cầm quyền ở Việt Nam trong mưu đồ duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi rồi biến miến Nam thành một quốc gia riêng biệt để tiến hành kế họach Kitô nhân dân miền Nam bằng bạo lực cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng triong Chương 60, Mục XVIII, Phần VI, sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH60-1.php.

14.- Ngồi ở hậu trường, đạo diễn cho chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực theo chỉ tiêu trong muời năm sẽ cưỡng bách toàn thể nhân dân miền phải theo đạo Ki-tô hết cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong các trang 127-131, Chương 2, sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên 2004) và được nói lại một các tổng quát trong Mục IX “Một Số Những Việc Làm Tàn Ngược của Ông Diệm”, Chương 63 có tựa đề là Ngô Đình Diệm: Con Người Và Tội Ác”, Phần VI, sách Lịch Sử Và Hồi Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.

15.- Khi chính quyền Hoa Kỳ đưa ra chương trình cải cách ruộng đất (đã được phác họa sẵn, lấy ruộng đất của các địa chủ lớn bán rẻ cho nông dân đê tranh thủ nhân tâm) yêu cầu chính quyền Diệm thi hành bắt đầu vào tháng 7 năm 1956, thì Vatican ngồi ở hậu trường bày mưu cho chính quyền Ngô Đình Diệm tránh né không rớ tới 370 ngàn mẫu Anhmà Vatican đã cướp đoat của dân ta trong những năm 1862-1954. Vấn đề này đã được sử gia Joseph Buttiinger nói rất rõ ràng trong hai trang 932-933, Chapter XII, Volume II, sách Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A Praeger, Publisherss, 1967), và cũng đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 70 với tựa đề là “Bảo Quản Khối Tài Sản Khổng Lồ Của Vatican và Nỗ Lực Kinh Tài Bất Chính”, Phần VI, sách Lịch Sử Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.

16.- Ngồi ở hậu trường xúi giục con chiên Ngô Đình Diệm hồ hởi tán đồng quân đội Hoa Kỷ sử dụng vũ khí hóa học gọi là chất độc Da Cam rải xuống rừng cây, đồng ruộng và xóm làng cư dân ở ngòai vùng kiểm soát chinh quyền Sàigòn cũng là Vatican. Hậu quả của việc làm dã man này đã gây nguy hại cho dân ta hết sức là ghê gớm. Sách Chất Độc Da Cam ghi lại sự kiện này như sau:

“Ngày 30/11/1961, Tổng Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn..” [45]
“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.” [46]

Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Mục IX với tựa đề là “Một Số Những Việc Làm Tàn Ngược Của Ông Ngô Đình Diệm” (Chương 63, Phần VI, sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã). Mục này có thể đọc online trên sáchhiem.net:http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH63_1g.php.

17.- Ngồi ở hậu trường bày mưu cho chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức buôn thuốc phiện lậu, biến Tòa Đại Sử Miền Nam tại thủ đô Lào thành cơ sở thâu mua thuốc phiện sống, dùng nhân viên và phương tiện của chính quyền chuyển hàng hóa lậu này về Sàigon, rồi (1) biến chế thảnh thuốc phiện chín đem phân phối cho 2,500 (hai ngàn năm trăm) tiệm hút ở Sàigòn – Chợ Lớn, và (2) cung cấp cho tổ chức tội ác quốc tế biến chế thuốc phiện sống này thành bạch phiến có cở sở tại Marsaille (Pháp) cũng là Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 91 có tựa đề là “Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy”, Mục XXIII, Phần VI, sach Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH91.php. Nhờ có dịch vụ kinh tài bất chính này và nhiều dịch vụ kinh tài bất chính khác mà anh em ông Ngô Đình Diệm mới có thể chuyển 18 tỉ Mỹ kim gửi các nhà ngân hàng nước ngoài. Sử gia William J. Lederer viết trong sách Our Worst Enemy như sau:

“Ngoài sự tăng lên rõ rệt về số vàng dự trữ của Sàigòn, theo các mật báo viên người Thụy Sĩ và người Trung Hoa của tôi, từ năm 1956, một số người Việt Nam (quyên thế) đã chuyển 18 tỉ Mỹ kim vào các nhà ngân hàng ngoại quốc. Sau đó không bao lâu, qua một người hùn vốn kín miệng, tôi được biết bà Ngô Đình Nhu đã mua một ngân hàng lớn hàng thứ nhì tại kinh thành Paris, trả bằng tiền mặt.”[47]

Ấy là chưa kể những khỏan tiền kếch sù khác mà chính quyền Ngô Đình Diệm trao cho Trần Đình Trường đem sang La Mã nộp cho Vatican hàng năm.[48] Ngoài ra, còn nhiều khoản tiền và tài sản kếch sù khác mà chúng tôi đã trình bày trong Chương 19, sách Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954 -1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000).

18.- Ngồi ở hậu trường đạo diễn cái trò hề “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm” vào năm 1967 để biến thằng bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm thành “nhà ái quốc đã chết vì dân” cũng là Vatican.

19.- Phong thánh cho 117 tên tội đồ chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam vào ngày 19/6/1988 để khích lệ nhóm thiểu số con chiên người Việt hăng say nhắm mắt tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội La Mã chống lại nhân dân và chính quyền ta hiện nay cũng là Vatican.

Ôn cố tri tân. Thiết tưởng rằng 19 việc làm chống lại đất nước ta trên đây của Vatican trong quá khứ cũng đủ cho chúng ta suy nghĩ và nhìn ra được âm mưu và thủ đoạn của Giáo Hội La Mã trong dã tâm sử dụng bọn giáo sĩ và tín đồ Ca-tô người Việt từ ngày 30/4/1975 đến nay và trong tương lai.

B. Những Âm Mưu Của Vatican Đã Và Đang Đánh Phá Việt Nam Từ Ngày 30/4/1975

Các thế lực xâm lược Vatican, Pháp, Mỹ và các chính quyền bản địa làm tay sai cho các thế lực này đều phi chính nghĩa, đều đi ngược lại với trào lưu tiến hóa của nhân loại, đều phản lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam và đều bị toàn thể nhân dân ta thù ghét thấu xương. Vì thế mà nhân dân ta mới phải quyết tâm liều chết chiến đấu cho tới cùng để đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và thống nhất cho đất nước. Cuối cùng dân ta đã đại thắng, các liên minh xâm lựợc trên đây đều phải cuốn gói ra đi.

Từ cuối thế kỷ 18 cho đến cuối thập niên 1970, có khá nhiều thế lực ngọai quốc hoặc là đơn lẻ hoặc là liên kết với nhau xâm lăng đất nước chúng ta:

1.- Năm 1784, do lời yêu cầu của Nguyễn Ánh, triều đình Xiêm La (Thái Lan) sai hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 300 chiến thuyền tiến vào lãnh thổ Việt Nam. Chúng đã chiếm được các vùng Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít và Sa Đéc. Nhưng khi tiến đến Rạch Gầm và Xòai Mút (gần Mỹ Tho) thì bị quân dân ta dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyền Huệ (của triều đình Tây Sơn) đánh cho không con manh giáp, rồi phải tranh nhau mà chạy trốn về Xiêm..

2.- Năm 1789, 280 ngàn quân Thanh dưới quyền chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị tràn vào Việt Nam với mưu đồ đưa Lê Chiêu Thống về làm vua bù nhìn cho chúng và đã tiến sâu vào đến Thăng Long, nhưng chỉ mấy tuần lễ sau bị quân dân ta dưới quyền chỉ huy của Vua Quang Trung đánh tan trong mấy trận hỗn chiến chớp nhoáng khiến cho toàn bộ quân Thanh hốt hoảng chen chúc nhau mà chạy và Tôn Sĩ Nghĩ cũng mất vi kinh hồn, hối hả chạy trốn để thoát thân, giống y hệt như quân lính thập tự miền Nam Việt Nam tháo chạy trong những ngày tử 11/3/1975 – 30/4/1975.

3.- Gần cuối thập niên 1850, do nỗ lực thuyết phục của Vatican qua những tay thuyết khách cự phách áo chùng đen như Linh-mục Le Grand de la Liraye, Linh-mục Huc, Giám-mục Pellerin, Tổng Giam Mục Bonnechose địa phận Rouen (Pháp) và con chiện ngoan đạo có thế lực là Hoàng Hậu Eugénie, Hoàng Đế Napoléon III (1852-1870), đồng ý liên kết với Vatican đem quân tấn chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị, cùng cướp đoạt tài nguyên, cùng nô lệ hóa dân ta. Nhờ có các đạo quân thập tự bản địa nằm tiềm phục nổi lên tích cực tiếp ứng, cho nên Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican đã dễ dàng đại thắng, cưỡng bách triều đình nhà Nguyễn phải buông súng đầu hàng và cúi đầu nhận chịu làm bù nhìn cho giặc. Thế nhưng:

Dù vua quan đã hàng rồi,
Dân còn quyết chiến đuổi người ngọai bang.

Dân ta vẫn liên tục tổ chức các lực lượng nghĩa quân kháng chiến đánh đuổi giặc thù, lớp người này ngã xuống thì lớp người khác dứng lên tiếp nối, tình trạng này đã khiến cho liên quân giặc ăn không ngon ngủ không yên.

4.- Sau Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), Nhật Bản vươn lên hàng cường quốc ở Á Châu, đem quân tấn chiếm Mãn Châu và các vùng ven biển Trung Quốc. Đầu thập niên 1940, Nhật lại đem quân tấn chiếm các nước Đông Nam Á Châu. Ngày 23/9/1940, Nhật cưỡng bách chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tại Đông Dương phải ký thỏa hiệp theo đó thì Nhật được quyền đem 6 ngàn quân đến trú đóng ở phía bắc sông Hồng, được quyền sử dung các đường giao thông và các phi truờng đáp ứng cho nhu cầu quân sự. Số quân Nhật trú đóng ở Đông Dương dần dần tăng lên đến 60 ngàn vào đầu năm 1945. Trong thời gian 9/1940-3/1945, Nhật vẫn để cho Liên Minh Pháp – Vatican nắm giữ công việc quản lý nền hành chánh. Nhưng rồi vì tình hình biến đổi, chiều tối ngày 9/3/1945, Nhật hất cảng Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ra khỏi chính quyền, bắt giam các viên chức và quân đội liên minh giặc này, một số trốn chạy thoát thân. Bộ máy cai trị của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tại Đông Dương bị sụp đổ hoàn toàn.

Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Theo lệnh của Đồng Minh, quân Nhật phải ở yện tại chỗ, chờ quân đội Đồng Minh đến giải giới rồi sẽ được cho hồi hương về Nhật. Nhân cơ hội này, lực lương nghĩia quân kháng chiến của nhân dân ta có danh xưng là Mặt Trận Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và cụ Hồ Chí Minh vùng lên cướp chính quyền từ trong tay người Nhật vào ngày 19/8/1945, thành lập chính quyền với quốc hiệu là Việt Nam, danh xưng của chế độ là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, với quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, và công bố Bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 2/9/1945.

5.- Theo quyết định của Hội Nghi Yalta (nằm trên bán đảo Crimea thuộc Nga) vào tháng 2 năm 1945 và Hội Nghi Postdam (gần Bá Linh) từ 17/7 đến 2/8/1945), quân đội Anh sẽ đảm nhiệm việc giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, và quân đội Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch sẽ lo việc này từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.

Hội Nghi Yalta tháng 2 năm 1945 và Hội Nghi Postdam tháng 8 năm 1945

a).- Tại miền Nam, ngày 12/9/1945, một số đơn vị quân Anh đổ bộ vào Sàigòn để thi hành nhiệm vụ giải giới quân Nhật. Điều đáng buồn là quân Anh lại bao che và giúp đỡ cho một số đơn vị Liên Minh Xâm Lược Pháp- Vatican cùng đổ bộ vào Sàigòn. Rồi sau đó mấy ngày, với sự tiếp tay của quân Anh, đạo quân xâm lược Pháp – Vatican này gây hấn tấn công đánh bật chính quyền ta ra khỏi thành phố Sàigòn, mở màn cho cuộc chiến tái chiếm Đông Dương kéo dài cho đến tháng 7 năm 1954.

b.)- Tại miền Bắc, vào khoảng giữa tuần lễ thứ hai của tháng 9 năm 1945, 180 ngàn Quốc Quân Trung Hoa đem theo một số đảng viên Việt Cách và Việt Quốc vượt biên giới tiến vào Việt Nam theo hai ngả đường Lạng Sơn – Hà Nội và Vân Nam – Hà Nội, rồi từ đó tiến xuống vĩ tuyến 16 để làm nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật. Cái khốn nạn của đạo quân Tầu ô này là giúp đỡ và hỗ trợ cho hai đảng Việt Quốc và Việt Cách đánh phá và chiếm chính quyền của nhân dân ta tại các địa phương trên đường từ hai ngả đường từ Lạng Sơn và Lào Cai về tới Hà Nội, gây nên hỗn loạn hết sức tai hại gần như biến thành nội chiến. Khốn nạn hơn nữa là chúng ỷ thế mạnh, hà hiếp cả chính quyền (mới được thành lập với hai bàn tay trắng) và nhân dân ta bằng những hành động thổ phỉ, đánh đập nhân dân, hãm hiếp đàn bà con gái và cướp đoạt tất cả những gì chúng có thể cướp đoạt được.

Thàng 6 năm 1946, cả quân Anh và Quốc Quân Trung Hoa đều bắt đầu rút ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sau khi Liên Quân xâm lược Pháp – Vatican đã đánh chiêm các thành phố lớn ở phía nam vĩ tuyến 16 và rải quân ở nhiều nơi ở phía bắc vĩ tuyến 16. Ỷ vào vũ khí tối tân, ỷ vào các đạo quân tinh nhuệ, và ỷ vào sự tiếp tay của các đạo quân thập tự bản địa của Vatican nằm tiềm phục ở trong các xóm đạo, Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican tìm đủ mọi cách gây hấn tấn công chính quyền ta ở Hải Phòng, Hà Nội và ở nhiều nơi khác. Cuối cùng, chính quyền và nhân dân ta không còn thể tiếp tục nhịn nhục được nữa, đành phải chấp nhận chiến tranh. Chiều tối ngày 19/12/1946, chính quyền trung ương Việt Nam rút ra khòi Hà Nội, kêu gọi toàn dân kháng chiến và quyết tâm chiến đấu cho đến khi quân cướp xâm lăng phải cuốn gói ra đi.

Sau chín năm chiến đấu trong muôn vàn khó khăn và gian khổ, cuối cùng quân dân ta đã đại thắng trong trận đánh quyết định tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hơn 11 ngàn quân lính còn lại trong số 16 ngàn liên quân giặc Pháp – Vatican trú đóng tại đây phải kéo cờ trắng đầu hàng. Sau thảm bại quân sự này, chính quyền bảo thủ thân Vatican của Thủ Tướng Joseph Laniel (1889-1975) thuộc đảng MRP (Mouvement Républicain Populaire) của con chiên ngoan đạo Georges Bidault (1899-1983) bị quốc hôị Pháp bất tín nhiệm vào ngày 18/6/1954, ông Pierre Mendès- France (1907-1982) của Đảng Xã Hội Cấp Tiến (Radical Socialist Party) được đưa lên thành lập tân nội các với chủ tâm tách rời chính quyền ra khỏi ảnh hưởng của Vatican, chuẩn bị cho việc thương thuyết nghiêm chính với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Geneve, tiến đến việc công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam và rút quân về nước. Cuối cùng, tân chính quyền Pháp đã hoàn thành được nhiệm vụ lịch sử trọng đại này.

6.- Pháp rút quân về nước, Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tan vỡ. Vì có chủ trương bám chặt lấy Việt Nam như loài đỉa đói, Vatican quay ra tìm cách cấu kết với Hoa Kỳ, cho người đưa con chiên Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động các chính khách con chiên có thế lực trên sân khách chính trị Hoa Kỳ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả Vatican và Hoa Kỳ.

Dã tâm của Vatican là duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạnh chia đôi. Ý đồ của Hoa Kỳ là biến miền thành tiền đồn chống lại làn sóng cộng sản đang dâng tràn phủ kín cả Hoa Lục và lan xuống vĩ tuyến 17. Hành động can thiệp trắng trợn vào nội tình Việt Nam và phản tiến hóa này của Vatican và Hoa Kỳ đã gây nên cuộc chiến vô cùng tàn khốc giữa một bên là Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican cấu kết với đạo quân đánh thuê của Liên Minh Xâm Lựợc Pháp – Vatican để lại và một bên là đại đa số nhân dân Việt Nam dưới quyền lãnh đạo tối cao của chính quyền miền Bắc. Cuối cùng, vì không có chính nghĩa, vì áp lực của nhân dân Mỹ và của nhân dân thế giới, chính quyền Mỹ phải thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền miền Bắc tại Hội Nghi Paris 1968-1973, tìm giải pháp rút quân về Mỹ, và bằng lòng để cho người Việt Nam giải quyết các vấn đề nội bộ của người Việt Nam. Quân Mỹ rút về Mỹ rồi, chính quyền bù nhìn Sàigòn và đạo quân đánh thuê của Mỹ ở miền Nam bị bở rơi, bơ vơ như những đứa con hoang để rồi rã ngũ tan hàng. Nhờ vậy mà miền Nam lại trở về với Việt Nam, tổ quốc ta lại được thống nhất Nam Bắc một nhà.

7.- Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chính quyền Trung Quốc tung ra mấy đạo quân hùng mạnh gồm 600 ngàn quân với 550 xe tăng, 480 đại pháo và 1260 súng cối tràn qua biên giới tiến vào tấn công và tàn phá các tỉnh vùng ven biên Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai. Nhưng cuối cùng, sau hơn hai tuần lễ, bị sức chống cự vô cũng mãnh liệt của quân dân ta và vị dư luận nhân dân thế giới lên án kịch liệt, ngày 5//3/1979, chính quyền Trung Quốc phải hạ lệnh cho các cánh quân xâm lăng này rút lui về nuớc.

Qua phần tóm lược trên đây, chúng ta thấy rõ là các đế quốc xâm lăng Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến nay, tất cả đều thảm bại, đều phải cuốn gói ra đi, rồi sau đó, sớm hay muộn, cũng đều nối lại tình thân với Việt Nam, đều giúp đở chính quyền và nhân dân ta tái thiết đất nước, mở mang giáo dục, phát triển kinh tế, diệt đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí và mức sống. Chỉ riêng có Vatican vẫn còn tiếc rẻ Việt Nam, vẫn còn cố gắng bám chặt lấy thân xác Việt Nam, và vẫn còn sử dung bọn giáo sĩ và nhóm thiểu số con chiên bản địa đánh phá Việt Nam để cướp chính quyền trong mưu đồ thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô theo tinh thần sắc lệnh Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1454) như đã nói rõ trong Chương 3 ở trên.

Thực trạng này cho chúng ta thấy rõ, Giáo Hội La Mã hay Vatican là một thế lực siêu lưu manh. Nhận xét về đặc tính lưu manh này của Vatican, sử gia Loarine Boettner viết:

“Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp). [49]

Chủ trương muốn duy trì miền Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi khiến cho chính quyền miền Bắc ở vào cái thế không thể nào làm khác hơn là phải phát động chiến tranh để thống nhất đất nước, đem giang sơn về một mối, và cho mãi tới ngày 30/4/1975, nhiệm vụ lịch sử này mới hoàn thành. Như vậy là cho mãi tới ngày 30/4/1975, nhân dân ta mới thực sự tống cổ được tập đoàn tay sai đắc lực của Vatican ra khỏi lãnh thổ. Nhưng vì đã có chủ trương bám chăt lấy thân xác Việt Nam như loài đỉa đói, cho nên, cho đến ngày nay Việt Nam vẫn còn là mục tiêu cho Vatican chiếu cố để đánh phá.

Nhờ đã đoàn ngũ hóa hơn 6 triệu tín đồ thành những đạo quân thập ác nằm tiềm phục trong các xóm đạo rải rác trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, nhờ đã biến nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô này thành những hạng người súc sinh với 18 đặc tính Ki-tô như đã nói ở trên, Vatican có thể hành xử như một con cáo già và đang tiến hành quái chiêu “quậy cho nước đục để thả câu” như nó đã từng làm trong thế kỷ 19. Thế nhưng, thời thế ngày nay đã khác. Ngày nay, con cáo già này không thể sử dụng quái chiêu vận động một cường quốc hay siêu cường nào đó liên kết với nó rồi đem quân đánh chiếm nước ta làm thuộc địa để cũng thống trị, cùng cướp đoạt tài nguyên, cùng chia nhau lợi nhuận và cùng nô lệ hóa dân ta như trước kia nó đã liên kết với Pháp hồi thế kỷ 19. Vì thế mà cái “giáo hội khốn nạn” này chỉ có thể vận động dư luân quốc tế vào hùa với nó để mạnh tay bắt chẹt chính quyền ta phải nhượng bộ và thỏa mãn những yêu sách bất chính và ngược ngạo của nó.

Vì được tòa Thánh Vatican nuông chiều và bảo vệ triệt để (như đã trình bày ở trên), cho nên bọn tu sĩ áo đen càng lộng hành, càng tha hồ sống đời hoang đàng, càng tác oai tác quái, càng hiếp dâm trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ mà không sợ bị điệu cỏ ra trước pháp đình để trả lại công đạo cho nạn nhân. Chúng đã trở thành hạng người đại lưu manh, mất hết lương tâm và mất hết nhân tính. Đây là sự thực, sự thực được sách sử do một tác giả đã từng theo học nghề làm linh mục kế lại như sau:

“Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát xuất từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.” [50]

Khốn nạn hơn nữa là bọn “hắc y dâm tặc” này đã mất hết tình quê hương và dân tộc mà đành lòng gục mặt lao đầu vào những việc làm chống lại dân tộc và tổ quốc như ông cha chúng đã từng làm trong quá khứ. Ngày nay, chúng lại còn tiếp tục làm như vậy nữa. Cũng vì thế mà nước ta vẫn còn tiếp tục bị bọn quạ đen và con chiên bản địa của “cái tôn giáo ác ôn” này đánh phá bằng trăm phương ngàn kế theo kế sách “quậy cho nước đục để thả câu” giống như họ đã là trong thế kỷ 19 để lật đổ triều đình Nhà Nguyễn. Những vụ nổi loạn do chúng chủ động như (1) vụ Nhà Thờ Vinh Sơn (ở Sàigòn xẩy ra vào năm 1976) do Linh-mục Nguyễn Quang Minh chủ trương và Linh mục Nguyễn Hữu Nghị làm cố vấn, lối kéo các con chiên cựu sĩ quan quân đội miền Nam như Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Xuân Hùng nhập cuộc, (2) vụ nổi loạn đòi chiếm tòa nhà công sở số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội từ ngày 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 do Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục và điều khiển, (3) vụ nổi loạn đòi chiếm Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội từ ngày 15/8 cho đến ngày 22/9/2008 cũng do Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục và điều động, (4) vụ nổi loạn ở xã An Bằng (Huế) kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến tháng 1/2009, (5) vụ nổi loạn ở Nhà Thờ Tam Tòa (Hà Tĩnh) trong năm 2009, (6) vụ nổi ở Đồng Chiêm, Hà Tình, (7) Vụ nổi loạn owr Cồn Dầu (Đà Nẵng) khởi loạn vào tháng 5/2010, tất cả là những bằng có bất khả phủ bác về ý đồ đại gian đại ác của Vatican trong dã tâm đánh phá và cướp chính quyền tại Việt Nam hiện nay. Quan trọng hơn nữa là Vatican còn đạo diễn cho “bọn quạ đen” bản địa thành lập cái gọi là Khối 8046 với chiêu bài là tranh đấu đòi tự do tôn giáo, đòi tư do và dân chủ cho Việt Nam. Nhân tiên đây chúng ta cũng nên biết sơ qua về những thành viên của cái “Khối 8406” ma nớp này:

1.- Linh-mục F.X Lê Văn Cao,Thừa Thiên – Huế,
2.- Linh-mục Giuse Hoàng Cẩn, Thừa Thiên – Huế
3.- Linh-mục G. Nguyễn Văn Chánh, Thừa Thiên – Huế,
4.- Linh-mục Nguyễn Hữu Giải, Thừa Thiên – Huế,
5.- Linh-mục Nguyễn Đức Hiếu, Bắc Ninh,
6.- Linh-mục Gk Nguyễn Văn Hùng, Thừa Thiên – Huế,
7.- Linh-mục G..B. Nguyễn Cao Lộc, Thừa Thiên – Huế,
8.- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Bắc Ninh,
9.- Linh-muc Tađêô Nguyễn Văn Lý, Thừa Thiên – Huế,
10.- Linh-mục G.B. Lê Văn Nghỉêm, Thừa Thiên – Huế,
11.- Linh-mục Đa Minh Phan Phước,Thừa Thiên – Huế),
12.- Linh-mục Giuse Cái Hồng Phượng, Thừa Thiên – Huế,
13.- Linh-mục Augustinô Hồ Văn Quý, Thừa Thiên – Huế,
14.- Linh-muc Giuse Trần Văn Quý, Bùi Chu,
15.- Linh-muc Phaolồ Ngô Thanh Sơn,Thừa Thiên – Huế,
16.- Linh-mục Têphanô Chân Tín (Sàigòn),
17.- Mục-sư HTTL Ngô Hoài Nở, Sàigòn
18.- Mục-sư HTTL Nguyễn Hồng Quang, Sàigòn,
19.- Mục-sư HTTL Phạm Ngọc Thạch, Sàigòn,
20.- Cừu non Luật-sư Nguyễn Văn Đài, Hà Nội,
21.- Cừu non Lê Thị Công Nhân, sinh tại Gò Công, trú quan tại Hà Nôi.[51]
Và nhiều cừu non (con chiên) khác.

Trong số 118 thành viên đầu tiên của Khối 8406 có tới 16 linh mục và 3 mục sư. Điều này cho chúng ta thấy rõ vai trò hay bàn tay đạo diễn của Giáo Hội La Mã hay Vatican trong cái tổ chức chính trị ma nớp này.

Có người cho rằng tổ chức chính trị này là của người dân Việt Nam mà ngẫu nhiên họ là tu sĩ và tín đồ Ki-tô mà thôi. Xin thưa rằng nói như vây là ngụy biện và nói láo. Hầu hết những thành phần then chốt của tổ chức chính trị ma nớp này là linh mục. Theo Linh-mục Trịnh Văn Phát, thì linh mục chỉ được làm những gì Giáo Hội chỉ định hay cho phép mà thôi. Dưới đây là nguyên văn của lời linh mục Phát viết:

“Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với giáo hội vì tôi là người của giáo hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của giáo hội.” [52]

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Từ lời nói trên đây của Linh-mục Phát, chúng ta có thể kết luận rằng Tòa Thánh Vatican đã chủ mưu và âm thầm ra lệnh cho thành lập cái gọi là “Khối 8406” này. NẾU Vatican không âm thầm ra lệnh cho các linh mục Việt Nam phải làm như vậy, THÌ làm sao các ông linh mục Việt có tên trong danh sách trên đây dám tham gia vào cái tổ chức chính trị ma nớp này?

Nhìn vào gốc gác của các thành phần trong nhóm Thông Luận và Khối 8406, chúng ta thấy rằng:

1.- Hầu hết các thành viên của cả hai tổ chức này đều là tu sĩ và con chiên của đạo Ki-tô.

2.- Họ là những người hoặc là ông cha của họ hoặc là chính bản thân họ đã từng cấu kết các thế lực xâm lược Vatican, Pháp hay Mỹ.

3.- Họ vẫn là những con chiên ngoan đạo (khác với các giáo sĩ con chiên đã thức tỉnh như Linh-mục Trần Tam Tình, ông Charlie Nguyến, ông Giuse Phạm Hữu Tạo, v.v… ). Vì thế, họ, luôn luôn tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, chỉ biết sống theo quan niệm trật tự “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống ” và bảo nhau rằng “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”.

Với những thành phần như vậy, một người có kiến thức trung bình không cần phải học lên đến bậc trung học cũng dư biết cái tổ chức này chỉ là công cụ cho Vatican dùng để đánh phá chính quyền và nhân dân ta trong mưu đồ phục hồi quyền lực tại Việt Nam mà thôi!

Có một điểm vô cùng tiếu lâm trong cái trò hề của Khối 8406 này là với hầu hết các thành phần đều là những người mang quốc tịch Vatican, nhận Vatican là tổ quốc” và trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay, ông cha họ và chính bản thân họ luôn luôn kề vai sát cánh với quân cướp ngoại thù chống lại dân tộc và tổ quốc ta. Ấy thế mà ngày nay, họ lại nhân danh là “người Việt Quốc Gia” nêu cao khẩu hiệu “giữ vững lằn ranh Quốc Công”, “tranh đấu đòi tư do tôn giáo, đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam.” Như vậy quả thật là một trò hề vô cùng trơ trẽn. Trong cái trò hề này, người viết thấy có một vài điểm đáng nói:

Thứ 1: Về chuyện đạo diễn cụm từ “Người Việt Quốc Gia” và đạo diễn cái trò hề “tranh đấu để giữ vững lằn ranh Quốc – Cộng”.- Người xưa thường nói, “ôn cố tri tân” hay “lấy quá khứ mà đoán ra tương lai”. Cái lý lịch mang quốc tịch Vatican và quá trình bán nước cho giặc của họ từ mấy đời vừa làm nô lệ cho Vatican, vừa bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Mỹ để đánh phá dân tộc và tổ quốc Việt Nam đã cho nhân dân ta biết rõ họ là những thằng Ca-tô Việt gian phản quốc từ trong bản chất. Những tội ác phản quốc này của họ đã được sách sử ghi lại rõ ràng và bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng biết như vậy. Ấy thế mà ngày nay họ lại lớn tiếng “nhân dânh là người Việt Quốc Gia” “quyết tâm chiến đấu để giữ vững lằn ranh Quốc Công” thì quả thật là một trò hề cực kỳ trơ trẽn, và chỉ có những hạng người vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ mới có thể làm như vậy!

Thứ 2: Về chuyện Vatican tranh đấu đòi tự do dân chủ cho Việt Nam: Vatican là một quốc gia theo chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chính siêu phong kiến (sacerdoral monarchy” theo đuổi tham vọng bá quyền mưu đồ thống trị toàn cầu với chủ trương dùng bạo lực cướp chính quyền thiết lập đạo phiệt, rồi cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo để làm nô lệ cho giáo hộ (đã được nói rõ ở trên), và chính Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) đã từng trẳng trợn:

“Gọi tự do báo chí là “thư tụ do tai hại nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi.” [53]

Bản chất của Vatican là phản tiến hóa và phản dân chủ như vậy. Ấy thế mà Vatican lại đạo diễm cho bọn ác quỷ dâm tặc áo đen và con chiên người Việt tranh đấu đòi dân chủ và đòi tự do cho Việt Nam. Như vậy thì rõ ràng Vatican là một thế lực vô địch về lưu manh trong lịch sử loài người!

Thứ 3: Về chuyện Vatican tranh đấu đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam: Từ ngàn xưa, Giáo Hội La Mã và tin đồ Ca-tô không hề bao giờ công nhân quyền tự do tôn giáo của các thành phần thuộc cãc tôn giáo khác. Thực tế là như vậy và sách sử cũng ghi nhận là như vậy. “[54]

Và cho tới ngày nay, ở trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như ở trong nước, vấn đề cải đạo qua hôn nhân vẫn còn nhức nhối cho các bậc cha mẹ muốn giữ gìn truyền thống gia phong. Trong trường hợp các nạn nhân bị đòi hỏi phải cải đạo mà không chịu nghe theo, thì hạnh phúc lứa đôi của họ sẽ bị nhà thờ Vatican phá vỡ bằng đủ mọi thủ đọan hiểm độc. Hậu quả có thể đưa đến thảm trạng đau thương, một trong hai người hay cả hai người vì quá thất vọng mà quyên sinh. Cũng vì thế mà trong buổi Hội Thảo Liên Tôn Việt Mỹ được tổ chức tại San José, California vào ngày 15/10/1994, Bà Ngọc Tuyết Tiên đã phải nghẹn ngào nói cho mọi người biết rằng:

“Tôi rất đau buồn suốt mấy chục năm qua khi thấy những mối tình duyên bất thành giữa nhiều đôi trẻ, phần lớn do cha mẹ Thiên Chúa Giáo quá khắt khe buộc dâu, rể theo các đạo khác phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội; đã có nhiều trường hợp đôi bạn trẻ phải ly di hoặc quyền sinh.” [55]

Thực trạng là như vậy! Ấy thế mà từ năm 1976 đến nay, Vatican cũng như giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô người Việt lại lớn tiếng cao rao rằng họ “tranh đấu đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam”. Như vậy,VGiáo Hội La Mã quả thật một là tập đoàn của những hạng người vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ.

Thứ 4: Về chuyện Vatican lớn tiếng cao rao tranh đấu đòi nhân quyền cho Việt Nam: Nói đến nhân quyền là nói đến quyền làm người và phải nói đến những cá nhân và tổ chức hay thế lực ở thế thương phong hay có quyền lực phải tôn trọng cái quyền làm người của người dân hay những kẻ dưới quyền như đã được nêu lên trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền ngày 26/8/1789 do Quốc Hội Pháp công bố vào ngày này trong đó có điều khỏan: “Quyền tự do tư tưởng và tự do hành xử tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm .” (Freedom of thought and religion should be guaranteed). Xin xem lại Chương 16 ở trện:http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16a.php.

Nhất sự bất tín, vạn sự bất khả tín. Sách sử đều ghi lại rõ ràng là từ khi được Hoàng Đế Constatnine (280-337) cho ra đời vào giữa thập niên 310 cho đến nay, Giáo Hội La Mã chưa hề bao giờ tôn trọng cái quyền quý báu này của tín đồ và của nhân dân dưới quyền. Như đã trình bày ở trên, giáo hội đã không tôn trong các quyền tự do dân chủ, tư do báo chí, tự do hội họp, tự do ngôn luận, không tôn trong quyền tự do tôn giáo của những người thuộc các tôn giáo khác, thì làm sao có thể tôn trong nhân quyền của người dân được? :

Đã không hề tôn trọng nhân quyền của người khác mà cái loa tuyên truyền của Vatican và bọn văn nô cừu non người Việt vẫn cứ lớn tiếng cao rao rằng họ “cương quyết tranh đấu đòi nhân quyền cho người dân Việt Nam”! Như vậy thì quả thật là không có hạng người nào lại điêu ngoa xảo trá và trơ trẽn bằng bộ máy tuyên truyền của Vatican và bọn văn nô cừu non người Việt!

NÓI RẰNG Vatican, tu sĩ và tín đồ Ca-tô người Việt tranh đấu đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận và tự do nhân quyền cho Việt Nam, THÌ có khác nào nói rằng, những con quỉ dâm tặc áo đen (hắc y dâm tặc) như đã nói ở trong Mục A6 là những người đạo cao đức trọng không?

NÓI RẰNG Vatican, tu si và tín đồ Ca-tô người Việt tranh đấu đòi tự do ton giáo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận và tự do nhân quyền cho Việt Nam, THÌ có khác nào nói rằng, cácgiáo hoàng dâm tặc như các Hoàng John XII (955-963), Giáo Hoàng Leo VIII (963-964), Giáo Hoàng Benedict IX (1033-1044), Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415), Giáo Hoàng Pius II (1458-1464), Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484), Giáo Hoàng Innocent VIII (1484-1492), Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503), v.v… là những giáo hoàng thánh thiện, trong trắng, suốt đời chừa hề hãm hiếp một người phụ nữ nào cả!

NÓI RẰNG Vatican, tu sĩ và tín đồ Ca-tô người Việt tranh đấu đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ, tự do ngôn luận và tự do nhân quyền cho Việt Nam, THÌ có khác nào nói rằng, tên bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm với cả một khu rừng tội ác chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam là một nhà anh hùng ái quốc đã chết vì dân không?

Phần trình bày trên đây cho mọi người thấy rằng Vatican cũng như tập đoàn giáo sĩ trong Giáo Hội La Mã và tòan bộ bọn văn nô cừu non người Việt, tất cả đều là hạng người cực kỳ xảo trá, chuyên môn diễn trò “vừa ăn cướp vừa la làng” một cách vô cùng trắng trợn! Họ đã quên rằng chính Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI đã có những hành động bưng bít, bao che và bảo vệ các ngài “đại diện Chúa” phạm tội hiếp dâm các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ. Đặc biệt là đã có một người Anh đã truy tố và đưa đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI ra trước tòa án nhân quyền quốc tế để đòi trả lại công đạo cho các nan nhân của bọn hắc y dâm tặc khóac danh nghĩa là “đại diện Chúa”? Vấn đề này đã được nói rõ trong Tiểu Mục A5 ở trên. Xin xem các links nói về vấn đề này: http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TinYahoo03.php vàhttp://www.cnn.com/2010/OPINION/09/1…ope/index.html

Cái loa tuyên truyền của Vatican quả thật là siêu việt đúng như ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Học Hội Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh đã ghi nhận:

“Hàng ngàn năm, để bưng bít và che dấu 7 chương tội đối ngọai và 1 chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Roma phải đạt đến chő cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa… Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngòai nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây “vạn lý trường thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật “núi tội thành con chuột” , “kẻ cướp mặc áo thày tu” và “quỷ Satan có diện mạo ông thánh.” [56]

Thiết tưởng rằng trong lịch sử loài người, chưa có một thế lực tôn giáo nào lại có giới tu sĩ miệng lưỡi điêu ngoa, xảo trá, quỷ quyệt trơ trẽn và vô liêm sỉ đến như thế!

► ● ◄

Tất cả các vụ nối lọan được sắp đặt với những trò hề “hiệp thông cầu nguyện” đòi “công lý và hòa bình”, đòi “tự do tín ngưỡng”, đòi “tự do dân chủ”, đòi “tự do tôn giáo”, đòi “nhân quyền cho Việt Nam” của họ đều có chủ tâm đánh lạc hướng, vừa làm cho quần chúng không còn để ý đến dã tâm đòi chiếm đất đai của nhân dân ta cho Vatican, lại vừa tạo nên tình trạng bất ổn theo sách lược “quậy cho nước đục để thả câu” để rồi thừa thắng xông lên cướp chính quyền. Dã tâm của Vatican là như vậy. Nhưng tất cả đều bị thất bại trước chính sách cứng rắn của chính quyền được sự ủng hộ tích cực của đại khối nhân dân.

Sau những thất bại trên đây, Vatican thay đổi chiến lược chứ không chịu bỏ cuộc. Vatican tạm thời xuống nước làm hòa với chính quyền ta, dùng Giám Mục Ngô Quang Kiệt làm con dê tế thần để hy vọng chính quyền ta sẽ nhân nhượng chấp nhận những yêu sách của họ trong các cuộc thương thuyết mong được thiết lập bang giao giữa Việt Nam và Vatican, đặc biệt nhất là các yêu sách sau đây của họ được chính quyền ta chấp nhận:

1.- Đòi mở các trường tiểu và trung học tại Việt Nam để trồng người chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài cướp đoạt chính quyền tại đất nước ta.

2.- Đòi thiết lập và nắm quyền điều hành các cô nhi viện để biến các trẻ em mồ côi thành hạng người vong bản, phản quốc và sẽ được điều vào các đạo quân xung kĩch nằm vùng chờ khi có lệnh truyền của Vatican thì chúng sẽ vùng lên:

a.) – Hoặc là khởi loạn đánh phá và cướp chính quyền để thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô (papacy) như cuộc khởi loạn của (1) Lê Văn Khôi (1833-1835) có Cố Du (Marchand) làm cố vấn chỉ đạo), (2) của Tạ Văn Phụng (1858-1863), do Giám-muc Retord chỉ đạo,

b.) – Hoặc là tiếp tay cho quân cướp xâm lăng liên minh với Vatican như đã xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975. Khi đó, chúng sẽ hành động không khác gì những tên Việt gian đại ác như Trần Bá Lộc, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Hữu Độ, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Vũ Đức Khâm (Quần Phương, Nam Định), Nguyễn Kim Điện (Phú Nhai, Nam Định), Lương Huy Hân (Ngưỡng Nhân, Giao Thủy, Nam Định), Mai Đức Tín (Phương Xá, Đông Quan, Thái Bình), Vũ Đức Luật (Kiến Xương, Thái Bình), Hoàng Quỳnh, (Phát Diệm, Ninh Bình) Mai Ngọc Khuê (Bùi Chu và Tán Chau, Tân Bình Gia Định), Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yến Cà Mâu), Nguyễn Bá Lộc (Cái Săn, Kiên Giang), Trần Đình Vận (Dốc Mơ, Xuân Lộc), Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Lễ, v.v…

3.- Đòi trả lại các khoản bất động sản mà họ đã cướp đọat của dân ta từ năm 1862 cho đến 1954 trên tòan lãnh thổ và cho đến ngày 30/4/1975 ở miền Nam vĩ tuyến 17. Những khỏan bất động sản này đã bị chính quyền ta thâu hồi lại sau tháng 10/1954 ở phía bắc vĩ tuyến 17, và sau ngày 30/4/1975 ở miền Nam vĩ tuyến 17.

4.- Đòi nắm độc quyền bổ nhậm các linh mục và giám mục ở trong lãnh thổ Việt Nam mà không cần phải có sự chấp thuận của chính quyền ta.

Xét cho cùng, không phải chỉ có Việt Nam là quốc gia nạn nhân bị Vatican sử dụng các chức sắc trong giáo hội và giáo dân cuồng tín để đánh phá hay đòi chính quyền phải thỏa mãn những yêu sách ngược ngạo như trên, mà trong quá khứ, đã có rất nhiều quốc gia ở trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Đức, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua, Nhật Bản, Trung Hoa, v. v… cũng đã từng bị Vatican sử dụng bọn “quạ đen dâm tặc” và tín đồ Ca-tô bản địa gây rối và đánh phá như vậy, và đã từng gây nên chiến tranh nội bộ, làm cho nhân dân nước họ lâm vào thảm cảnh lầm than khốn khổ điêu đứng trăm bề. Cuối cùng, chính quyền của họ đã phải cương quyết dùng những biện pháp mạnh, thẳng tay cắt đứt quan hệ ngoai giao với tập đoàn đầu nậu lãnh đạo Giáo Hội La Mã trong giáo triều Vatican và trừng trị nghiêm khắc những bọn quạ đen và tín đồ Ca-tô bản địa còn ngoan cố chỉ biết nhắm mắt cúi đầu tuân lệnh Vatican hay luật đạo của họ mà không cần biết rằng “quốc có quốc pháp, gia có gia qui”. Xin xem lại các Chương 15, 16, 17, 18, 19 và 20 ở trên.

IV.- Lời Kết Luận Và Một Số Biện Pháp Ngăn Chặn Âm Mưu Lấn Lướt Để Cướp Chính Quyền Của Vatican

Phần IV này gồm có hai mục: Phần kết luận về Giáo Hội La Mã và phần đề nghị một số biện pháp để phá vỡ âm lân lướt của Vatican rồi cướp chính quyền ở Việt Nam.

A.- Lời Kết Luận Về Các Họat Động Của Giáo Hội La Mã Có Hại Đến Nền Văn Hóa Và Việc Trị An Nước Nhà

Qua hơn hai mươi năm tìm hiểu về (1) kinh thánh (Ki-tô), (2) những lời phán dạy, (3) việc làm của Giáo Hội La Mã và (4) cung cách giói tu sĩ và tín đồi xử (a) với nhau, (b) với những người thuộc các tôn giáo khác, (c) với những người thân thương của họ thuộc khác tôn giáo và (d) với tổ quốc, dân tộc, người viết nhận thấy:

1.- NẾU mọi người đều sống đúng theo:

a.- Lời phán dạy ghi trong các sách như:euteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5,31:1-54), Leviticus 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4 và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20).

b.- Lời Chúa Jesus đã phán dạy rằng, “Ta đến đây để cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ và con dâu chống lại mẹ chồng”.

c.- Lời Vatican dạy rằng, “Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v… trước tòa án của giáo hội”, và

c.- Lời Giáo Hoàng Paul IV .phán dạy rằng, “Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn.”

THI xã hội Loài người sẽ như thế nào?

Chắc chắn là nên văn hóa và văn minh của lòai người sẽ không còn nữa và tất cả sẽ là một xã hội súc sinh. Xã hội Ca-tô là như thế đó!

2.-: NẾU mọi người đều triệt để theo gương các nhà lãnh đạo giáo hội hay các giáo hoàng, các vị chức trong giáo triều Vatican và các ngài đại diện Chúa khác của giáo hội như các hồng y, tổng giám mục, giám mục, đức ông, linh mục và các sư huynh, cũng hành xử đối với nhau như đã trình bày trong ba Tiểu Mục I:6, I:7 và I:8 ở trên, THÌ xã hội lòai người sẽ không khác gì cái xã hội của loài súc sinh.

Một vài sự thật bất khả phủ bác để chúng ta suy nghiệm:

1.- Không ai chối cái được rằng các giáo hoàng như Sixtus III (432-340), Sergius III (904-911), John XII (955-963), Leo VIII (963-964), Boniface VII (984-986), Benedict VIII (1012-1024), Benedict IX (1033-1045), Innocent III (1198-1216), Boniface VIII (1294-1303) John XXII (1316-1334), Sixtus IV (1471-1484), Alexander VI (1492-1503), Paul III (1534-1549), Paul IV (1555-1559), v.v … đều là những người sống đúng theo những lời phán dạy trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước như đã nói ở trên, cho nên họ mới trờ thành những giáo hoàng súc sinh như vậy! …

2.- Không ai chối cãi được rằng tất cả các bọn “giám mục, và linh mục” đã được nêu đích danh trong chương sách này hay bị giáo dân tố cáo là đã hiếp dâm các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ đều là những người sống đúng theo những lời phán dạy trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước như đã nói ở trên, cho nên họ mới trờ thành những “hắc y dâm tặc” (dâm tặc á đen) như vậy?

3.- Không ai chối cái được rằng cung cách hành xử của giới tu sĩ và tín đồ Ca–tô người Việt mà tiêu biểu là những tên như Trần Bá Lộc, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Thục, Nguyện Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi,. Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cần, Hoàng Quỳnh, Vũ Đức Khâm (Phú Nhai, Nam Định), Lương Huy Hân ( (Ngưỡng Nhân, Giao Thủy, Nam Định), Mai Đức Tín (Phương Xá , Đông Quan, Thái Bình), Vũ Đức Luật (Cao Mại, Kiến Xương, Thái Bình), Nguyễn Quang Ân (Thân Thượng, Kiến Xương, Thái Bình), Nguyễn Kim Điện (Phú Nhai, Nam Định), Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Tân Bình, Gia Định), Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yến, Cà Mâu), Nguyễn Bá Lộc (Cái Sắn, Kiên Giang), Đinh Xuân (Phú Thọ Hòa, Tân Bỉnh Gia Định) cho chúng ta thấy họ quả thật là những người đã sống đúng theo,những lời phán dạy (1) trong Cựu Ước, (2) trong Tân Ước, (3) của Giáo Hội La Mã, và (4) của Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559. Vì thế mà họ đã trở thành hạng người súc sinh gục mặt cúi đầu câm tâm làm việt gian bán nước cho Liên Minh Xâm Lược Pháp- Vatican và Liên Minh Xâm Liược Xâm Lược Mỹ – Vatican trong suốt cuộc đời của họ như vậy. Quả thật họ đã hành xử không khác gì hạng súc sinh..

Chính vì tình trạng này mà nhà báo Long Ân mới đưa ra nhận xét:

“Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr 340.

Phần trìunh bày trên đây cho mọi người thấy răng Giáo Hội La Mã đã (1) biến giới tu sĩ và tín đồ Ca-tô thành hạng súc sinh và (2) làm nguy hại đến nền văn hóa và văn minh của nhân loạ. Cũng vì thế mà hầu như tất cả các dân tộc đã có kinh nghiệm với Giáo Hội Là Mã đều căm phẫn và thù ghét Giáo Hội La Mã đển tận xương tận tủy. Họ thù ghét Giáo Hội La Mã bao nhiêu, thì tất nhiên là họ còn thù ghét giới tu sĩ của giáo hội gấp bội phần vì rằng họ là những người nắm quyền chỉ huy và hăng say trong nhiệm vụ biến giáo dân trở thành hạng súc sinh . Nói chung,, tất cả mọi việc làm trong Giáo Hội La Mã từ việc lợi dụng và khai thác những chuyện hoang đường, huyễn hoặc, láo khóet, những việc làm gian tham, tàn ngược, man rợ, phản nhân luân, phản khoa học, phản văn minh như ở trong kinh thánh cũng như trong tín lý do giáo hội bịa đặt ra từ ngày 20/5/325 (ngày Hội Nghi Nicaea khởi nhóm) cho đến ngày nay đều là tu sĩ Ca-tô cả. Tóm lại, giáo hội là giới tu sĩ Ca-tô, và giới tu sõ Ca-tô là giáo hội. Còn kinh thánh cũng như tất cả tín đồ trong giáo hội và tất cả các chính quyền đạo phiệt tay sai tại các quốc gia địa phương chỉ là công cụ hay phương tiện cho họ sử dụng để cho họ theo đuổi mưu đồ bá quyền thống tri toàn cầu và nô lệ hóa nhân lọai hầu thỏa mãn tham vọng bất chính đại gian đại ác của họ mà thôi.

Họ (giới giáo sĩ Ki-tô hiện nay) có vào khoảng trên dưới 600 ngàn người mà người Pháp gọi là “bày quạ đen”. Tin tức loan truyền liên tục từ đầu năm 2002 cho đến nay cho chúng ta thấy rõ bày quạ đen này được các giáo hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI (2005 – ) chủ trương nuông chiều, dung dưỡng và bao che cho những hành động hiếp dâm các trẻ rước lễ và nữ tín đồ để lấy lòng họ với ý đồ khích lệ họ khiến cho họ hăng say làm việc hết lòng cho giáo hội. Vì thế mà họ mới lộng hành, tác oai, tác quái, hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ, khinh thường pháp luật thế quyền địa phương, chà đạp lên nhân quyền của tín đồ và nhân dân dưới quyền và không còn biết liêm sỉ là gì nữa. Quả thật là họ đã trở thành một thứ “ác quỉ dâm tặc”, “hắc y ác quỉ” (dâm tặc áo đen).

Như đã nói ở trên, ngay từ thời Trung Cổ, bọn hắc y dâm tặc này đã sinh sản rá một số lượng con hoang quá lớn, chiếm tới 40% trên tổng số con hoang trong xã hội Ca-tô. Ngày nay, với chính sách nuông chiều và bao che một cách trắng trợn gần như công khai của giáo triều Vatican (mà rõ rệt nhất là cả Giáo Hoàng John Paul II và đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI) đã liên tục cố gắng tối đa để bảo vệ họ khi họ bị nạn nhân tố cáo (bằng cách giữ kín hồ sơ tội ác của họ, không báo cáo cho cảnh sát biết). Vì thế mà bọn ác quỉ áo đen này càng lộng hành hiếp dâm các trẻ em vị thanh niên và dụ dỗ nữ tín đồ. Với tình trạng như vậy, chắc chắn là các “ngài đại diện Chúa” sẽ để lại cho các cộng đồng Ca-tô lúc nhúc những đứa con hoang. Với cái đà này, có thể là 100% con hoang trong các cộng đồng Ki-tô đều ra con rơi của bọn dâm tặc áo đen này cả, Như vậy, hiển nhiên là có rất nhiều trường hợp như trường hợp Đức Ông CMD và Berger Tru Tắc Tiếng. Tất cả đều do giới tu sĩ Ca-tô này gây ra cả.

Cũng nên biết rằng chính bọn ác quỉ dâm tặc khốn nạn này đã:

1.- Biến cái “đạo Ki-tô Do Thái” hay “Giáo Hội Ki-tô Do Thái” nguyên thủy thành cái đạo mà văn hào Voltaire gọi là “cái tôn giáo ác ôn”, học giả Henri Guillemin gọi là “cái giáo hội khốn nạn”, và học giả Charlie nguyễn gọi là ”đạo bịp”, “đạo máu”.

Họ biến đồi bằng cách nào?.

Xin thưa là bằng (a) chủ trương “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”, (b) “chính sách bất khoan dung” đối với các tôn giáo và nền văn hóa khác, (c) cấu kết với các cường quyền địa phương và các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ để củng cố quyên lực hầu có thể tiếp tục lao vào hố sâu tội ác chống lại nhân loại..

2.- Quyết tâm thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ để biến tín đồ của cái “cái giáo hội khốn nạn” này thành hạng người mất hết nhân tính và trở thành hạng súc sinh mà chính tập đoan đầu sỏ “ác quỉ dâm tặc” trong giáo triều Vatican của cái “đạo bịp” này cũng đã công nhận như vậy và gọi họ là “con chiên” (cừu non), đúng như nhà báo Long Ân đã nhận xét: như trên.

Do đó, vì tiền đồ của nền văn minh nhân loại mà nhân dân thế giới đều thù ghét, đều ghê tởm, đều chống lại và “đào tận gốc, trốc tận rễ” “cái giáo hội khốn nạn” này như nhân lọai đã làm đối với chế độ quân chủ chuyên chính phong kiến trung ương tập quyền trước đây. Xin xem lại toàn bộ Phần III gồm cách Chương 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 ở trên.

Các dân tộc nạn nhân Âu Châu, Nam Mỹ, Bắc Phi, Trung Phi, Trung Đông, Nhật Bản và Trung Quốc đã và đang tiến hành kế sách khử diệt cái “cái tôn giáo ác ôn” này và đã thành công như ý muốn của họ. Chỉ còn riêng có Việt Nam vấn phải lấn cấn với cái “giáo hội khốn nạn” này và băng đảng “hắc y ác quỉ dâm tặc” của nó. Thiết tưởng rằng chính quyền ta phải theo gương các quốc gia như đã nói ở trên mà thẳng tay khử diệt cái vấn nạn “đạo bịp” và “bọn quạ đen dâm tặc” này cho tới khi cái nhiệm vụ lịch sử này được hoàn thành.

Muốn được như vậy, chúng ta phải có kế họach và kế sách trường kỳ và nhất quán để cương quyết làm cho cái vấn nạn này không thể này tái sinh được nữa. Thiết tưởng rằng lời nói quan Thái Sư Trần Thủ Độ nói với Vua Lý Huệ Tông (1211-1225) rằng, “Nhổ cỏ, phải nhổ cho hết rễ” là một bài học vô cùng quý giá phải được áp dụng vào trường hợp này:

Chúng ta có thể ví (1) toàn bộ Giáo Hội La Mã như một cái cây, (2) toàn bộ hơn 600 ngàn giáo sĩ (giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục, đức ông, linh mục và sư huynh) là gốc và rễ, (3) tín đồ là thân cây, cành cây, ngọn cây và lá cây. Bứng được cái gốc và những cái rễ của nó đi, thì toàn bộ thân, ngọn, cành, lá của cái cây này đều phải khô héo và sẽ không còn đứng vững được nữa, rồi phải ngã xuống nằm kềnh ra trên mặt đất để cho người ta cắt vụn ra thành từng khúc hay mảnh vụn, giống như ông Tây Môn Báo đã khử diệt bọn đồng cốt và thày cúng ở đất Nghiệp Đô, nước Ngụy (Trung Quốc) trong thời Tiền Tần, giống như các dân tộc Anh, Pháp, Mễ Tây Cơ, Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Cuba , v.v… đã làm đối với “cái giáo hội khốn nạn” này như chúng tôi đã trình bày trong các Chương 15, 16, 18, 19 và 20 ở trên.

B.- Đề Nghị Một Số Biện Pháp Ngăn Chặn Âm Mưu Lấn Lướt Của Vatican

Là con dân của dân tộc Việt luôn luôn đau đáu hướng nhìn về Tổ Quốc, mong mỏi đất nước được an bình và phồn thịnh, người viết xin thành khẩn đề nghị các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam hiện nay:

1).- Theo gương Trung Quốc:

a.- Cương quyết không thiết lập bang giao với Vatican: Lý do đã được trình bày đầy trong Chương 2 (Phần I) ở trên.

b.- Tiến hành thành lập một Giáo Hội Ki-tô Việt Nam độc lập, tách khỏi Giáo Hội La Mã, và đồng thời (a) kiểm soát chặt chẽ những người hành nghề tu sĩ Ca-tô, (b) sử dụng những biện pháp cứng rắn để đối phó với những tu sĩ và giáo dân vẫn còn ngoan cố tiếp tục thần phục Tòa Thanh Vatican.

c.- Cương quyết không để cho Vatican hay các nhà thờ Ki-tô mở trường học tại bất cứ nơi nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam để tránh cho con em chúng ta không bị chính sách ngu dân và nhồi sọ của Vatican biến thành hạng người vong bản, phản quốc, phi luân và loạn luân giống như những chuyện trong kinh thánh cũng như trong cuộc sống hoàng đàng loạn luân và phi luân của các giáo hoàng cũng các giáo sĩ Ki-tô như đã nói ở trên.

d.- Cương quyết không cho Vatican thiết lâp bất kỳ một viện mồ côi hay cô nhi viện nào trên lãnh thổ Việt Nam. Lý do: Nếu để cho họ thiết lập các cô nhi viện thì các trẻ em cô nhi này sẽ bị họ nhào nặn thành hạng người mất gốc chỉ biết trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo hội La Mã và sau này chúng sẽ trở thành những tên lính xung kích nội trùng của Vatican nằm tiềm phục trong nhân dân và sẽ liều chết chiến đấu chống lại tổ quốc và dân tộc ta.

e.- Tuyệt đối không trả lại cho Vatican một khỏan bất động sản nào mà trước đó đã được thâu hồi.

f.- Tuyệt đối không để cho Vatican tự ý bổ nhậm các linh mục và giám mục mà không có sự chấp thuận của chính quyền ta.

2).- Theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789:

a.- Quốc hữu hóa toàn bộ bất động sản của Vatican kể cả các trường học, nhà thương, tu viện, chủng viện và tất cả các cơ sở khác, chỉ để lại cho mỗi họ đạo (xóm đạo hay làng đạo) một ngôi nhà thờ, sân trước (giới hạn) và 1 căn nhà cho lịnh mục hay giám mục quản nhiệm cư trú.

b.- Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ Ca-tô với nội dung giống như bản hiến chế mà chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã ban hành, trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng trước pháp- luật giống như tất cả người dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và nước Việt Nam, chứ không phải trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã.

3).- Theo gương Nhật Bản trong thế kỷ 17: Trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng chiêu bài tôn giáo để gây bạo loạn, mưu đồ lật đổ chính quyền và rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam.

4).- Theo gương nứớc Anh: Ban hành một đạo luật cấm, không cho tuyển dụng tín đồ của Vatican vào các chức vụ trong các cơ quan công quyền, không tuyển mộ họ vào làm việc bất kỳ cơ quan nào trong chính quyền cũng như trong quân đội.

5).- Theo gương nước Mễ Tây Cơ: Ban hành một đạo luật cấm các tu sĩ của Vatican, không cho hành nghề dạy học và không được mặc áo tu sĩ ở ngoài Nhà Thờ.

6).- Theo gương Hoa Kỳ: (a) Thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, cổ võ, giúp đỡ khích lệ việc in ấn, phát hành và phổ biến rộng rãi những sách báo và tài liệu văn học, khoa học, lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã (miễn là không chống chính quyền). (b) Đưa vào chương trình học ở bậc trung học môn học quốc sử và lịch sử thế giới, nâng cao thời lượng và nâng cao môn học này lên thành môn học chính, ngang hàng với các môn Quốc Văn, Toán và Khoa Học, giống như ở các trường trung học ở Hoa Kỳ. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8 ở trên.

7).- Theo gương nước Nga và nhiều nước khác: Ban hành một đạo luật công nhân đạo Phật và các tôn giáo khác được tự do họat động ở Việt Nam, ngọai trừ đạo Ki-tô La Mã và đạo Tin Lành.

8).- Nâng cao phẩm chất các giáo viên phụ trách dạy môn sử bằng cách:

a.- Mở các khóa học bổ túc hay tu nghiệp để cho họ có cơ hội học hỏi mở rộng kiến thức về lịch sử, đặc biệt về lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã,

b.- Cung ứng đầy đủ và phổ biến rộng rãi các tài liệu lịch sử thế giới và các tài liệu lịch sử có liên hệ đến vai trò hay những hành động của Vatican trong những cố gắng ngăn chặn những bước tiến hóa của nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, giống như các thư viện tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới.

c.- Đặt ra giải thưởng hàng năm về các tác phẩm biên khảo lịch sử với những đề tài về những cuộc tranh đấu của nhân Âu Châu và nhân dân thế giới chống lại Giáo Hội La Mã hay Vatican để đòi lại quyền làm người và bảo vệ chủ quyền của đất nước cùng sự sinh tồn của dân tộc.

Người viết xin tình nguyện gửi tặng thư viện dành cho Ban Sử tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội hết tất cả các sách và tài lỉệu lịch sử thế giới và tài liệu lịch sử có liên hệ đến Giáo Hội La Mã mà người viết hiện có và đang dùng để biên soạn tập sách này cũng như bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội và các tập sách khác (đã và đang tiếp tục đưa lên sachhiem.net) để cho các anh chị em sinh viên Ban Sử và mọi người ham đọc sử có tài liệu sử dụng.

Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang

ngày 3/2/2011

(tức ngày 1 Tết tháng Giêng năm Tân Mão)

Source: http://www.vietartist.com/showthread.php?p=8427307

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 21, 2011 in Kt-tô giáo-Công giáo

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: