RSS

AMEN! LÀ NHƯ THẾ ĐÓ

21 Jul

Từ các dòng tu, các Linh mục và Nữ tu Công giáo thường xuất hiện với một bề ngoài khổ hạnh để giảng đạo và làm các công tác giáo dục hoặc từ thiện. Nhưng đàng sau những tu viện kín cổng cao tường kia là cả một thế giới nhiều khi hoàn toàn đối nghịch với cái hình ảnh thánh thiện mà họ cố gắng phóng chiếu ra xã hội.

 Nhân dịp tác phẩm “Amen” của bà Jesme Raphael ra đời tại Ấn Độ vào tháng 2 năm 2009 vừa qua (một ấn bản Anh ngữ sẽ được nhà xuất bản Penguin Book phát hành quy mô hơn trên toàn thế giới vào mùa hè năm nay) mà nội dung đã là những tố cáo không thể phủ bác của một cuộc sống nhơ nhớp trụy lạc của một lớp người nam nữ mặc áo dòng, một số bạn đọc đã yêu cầu chúng tôi nhờ ông Trần Chung Ngọc thu thập thêm những dữ kiện để chứng minh một cách thuyết phục rằng những tố cáo của tác giả cựu nữ tu Jesme Raphael trong dòng tu Công giáo Carmel tại Ấn Độ không phải là một biệt lệ của một vài cá nhân trong một vài hoàn cảnh. Mà đó là kết quả đương nhiên và xảy ra nhiều lần của một hệ thống tổ chức tôn giáo với chức năng cao nhất là nô lệ hóa con người, cả thể chất lẫn tinh thần, trong một mớ tín điều dối trá. – GĐOL   

  AMEN !!

[LÀ NHƯ THẾ ĐÓ]

     AMEN là tên cuốn sách mới xuất bản cách đây vài tháng, viết bởi Nữ tu Công giáo Jesme Raphael. Năm ngoái (2008), Sơ Jesme Raphael đã rũ bỏ áo tu bước ra khỏi dòng nữ tu Công giáo Carmel ở Kerala, một tiểu bang ở Tây Nam Ấn Độ có nhiều tín đồ Công giáo nhất, sau 30 năm sống trong dòng tu này, với 26 năm là nữ tu (sister = sơ).  AMEN là cuốn Hồi Ký của Jesme Raphael kể lại chi tiết những chuyện động trời khủng khiếp trong dòng nữ tu này như: sự hiếp đáp khủng bố của các sơ bề trên, sự cưỡng bách tình dục của các linh mục đối với các nữ tu, tình trạng đồng giống luyến ái giữa các nữ tu v…v… [Amen: An Autobiography of a Nun, cataloging lurid details of bullying, sexual abuse and homosexuality in the oldest Catholic women’s order..].  Amen có nhiều nghĩa, nghĩa thường dùng trong Ki Tô Giáo là “So be it” để kết thúc những màn cầu nguyện.  Theo nghĩa này, tôi dịch thoát là “Là Như Thế Đó”.

   Trước khi đi vào chi tiết những tệ nạn trên ở trong một số dòng nữ tu của Công giáo, chứ không chỉ ở Kerala, tôi cảm thấy cần phải nhắc để các độc giả nhớ rằng: theo giáo lý của Công giáo dạy các tín đồ ngu ngơ của họ thì:  Giáo hoàng chính là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ), các linh mục đều là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), các nữ tu (sơ) đều là hôn thê của Chúa  (bride of Christ).  Còn các tín đồ, thường gọi là con chiên, thì khỏi cần phải nói vì ai cũng biết đó chỉ là một bầy đàn ngu ngơ hoàn toàn tuân phục các bề trên, nhắm mắt theo sự chăn dắt của những người chăn chiên (shepherds).  Và chính vì ngu ngơ nên mới có thể tin vào những điều bịp bợm lừa dối để tạo nên quyền lực cho giáo hội.  Hơn nữa, hiển nhiên là từ giáo hoàng xuống tới các con chiên, ai cũng phải qua cầu “bí tích rửa tội”, do đó trong người đã tràn đầy con Ma Thánh (Holy Ghost) mà người Công giáo Việt Nam thường gọi là Chúa Thánh Thần trong thuyết điên rồ toán học [mathematical insanity] “Ba Ngôi Thiên Chúa”, hay Thánh Linh. Con Ma Thánh này, một sản phẩm tưởng tượng phi vật chất, có nhiệm vụ hướng dẫn tâm linh tín đồ để tin Chúa, về với Chúa và làm những việc làm đẹp lòng Chúa. 

   Thật vậy, sách Giáo Lý Công Giáo của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên viết, trang 153:

   “Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn.  Người giáo hữu trở nên đền thờ Chúa ngự.”

   Nhớ kỹ những điều này thì chúng ta sẽ thấy, qua bài viết này, thực chất những giáo lý của Giáo hội Công giáo dạy tín đồ của họ là như thế nào, và các bậc chăn chiên đã làm những gì để đẹp lòng Chúa.

   Đối với nhiều độc giả, tác phẩm AMEN của sơ Jesme Raphael có lẽ là chuyện rất lạ nói về các nữ tu Công giáo mà chúng ta thường nghe người Công giáo Việt Nam ca tụng là “hiền”, “hiền như ma sơ”, nhưng đối với tôi thì chẳng lạ chút nào.  Vì tôi đã đọc cuốn “Những phanh phui khủng khiếp của Maria Monk; Những Chuyện Kín Che Dấu Trong Nữ Tu Viện” (The Awful Disclosures of Maria Monk; The Hidden Secrets of Convent Life, Senate, Random House UK Ltd., 1997), kể lại những chuyện khủng khiếp trong một nữ tu viện ở Montreal, Canada, tu viện Hotel Dieu Nunnery, trong đó nữ tu Maria Monk đã khám phá ra một thế giới ác mộng của những sự đồi bại tình dục.. Không có gì quá độ, không có gì bạo tàn mà các sơ bề trên hay các linh mục ở gần đó không làm .. Những Linh mục ác ôn coi các nữ tu không phải là các chị em tâm linh mà là những “gái bao” của riêng mình [Within the Nunnery walls Maria Monk discovered a nightmare world of sexual corruption…No excess, no brutality went unpractised.  The evil priests regarded the nuns not as their spiritual sisters but as their personal concubines].

   Cuốn “The Awful Disclosures” của Maria Monk, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1836, đã gây nên một làn sóng công phẫn về những chuyện động trời trong nữ tu viện Công giáo Hotel Dieu, thí dụ như: Các linh mục ở gần đó có lối riêng và kín đáo để vào tu viện bất cứ lúc nào và tự do làm tình với các nữ tu. Những đứa bé sinh ra liền được mang đi rửa tội để bảo đảm chúng sẽ được lên thiên đường rồi bóp mũi cho chết [All babies born of these illicit encounters, Monk claimed, were baptized before being killed and dumped in the basement].  Maria Monk cũng kể rằng, Sơ được các Sơ bề trên dạy là một trong những nhiệm vụ lớn lao của các nữ tu là phải tuân phục các linh mục trong mọi vấn đề, kể cả vấn đề phục vụ tình dục cho các linh mục [I must be informed that one of my great duties was to obey the priests in all things; and this I soon learnt, to my utter astonishment and horror, was to live in practice of criminal intercourse with them].   Tại sao?  Maria Monk được bề trên giải thích: “Vì không có các linh mục làm phép, chúng ta không thể được tha tội và phải xuống hỏa ngục.” [They, the priests, might be considered  our saviors, as without their service we could not obtain pardon of sin, and must go to hell]   Chúng ta thấy, chính sách tẩy não nhồi sọ của Công giáo thật là đáng sợ !

   Lẽ dĩ nhiên, vào thượng bán thế kỷ 19, quyền lực lớn lao của giáo hội Công giáo ở Canada đã tìm đủ mọi cách để phủ nhận sự phanh phui của Maria Monk.  Theo luận điệu của giáo hội Công giáo thì một số người Tin Lành đã được phép của Giám mục ở Montreal đến tu viện Hotel Dieu để điều tra sự thật và kiểm chứng những điều Maria Monk viết trong sách.   Lẽ dĩ nhiên, kết quả điều tra của những người Tin Lành này là không có một bằng chứng nào chứng tỏ là những điều Maria Monk phanh phui đã thực sự xảy ra. Nhưng những người Tin Lành Mỹ không chấp nhận kết quả điều tra này vì cho rằng cuộc điều tra là của những người thuộc Dòng Tên Công giáo  giả dạng làm Tin Lành [The American Protestants refused to accept these results, claiming that the investigation was biased because it had purposedly bên conducted by Jesuits disguised as Protestants]. Điều này có khả năng là đúng, vì trong thời đó và cho tới bây giờ, Công giáo rất ghét Tin Lành, luôn luôn cầu nguyện để cho những người Tin Lành đều đi xuống hỏa ngục, cho nên không làm gì có chuyện để cho Tin Lành vào một nữ tu viện của Công giáo để điều tra sự việc.  Dù sao thì vào thời điểm đó, chuyện Công giáo tìm cách bịt miệng Maria Monk cũng không phải là chuyện khó.  Nhất là, sau khi rời bỏ tu viện, cuộc đời của Maria Monk xuống dốc một cách thê thảm, cho nên tín đồ Công giáo phô trương nói rằng đó là kết quả phản đạo của Maria Monk, và tuyên bố là những phanh phui của Maria Monk đã đi theo Maria Monk vào cõi chết.  Tuy nhiên, Maria Monk chết nhưng chưa hết chuyện, vì tác phẩm The Awful Disclosures của Maria Monk đã được tái bản rất nhiều lần, và ấn bản mà tôi có là ấn bản mới nhất, xuất bản vào năm 1997 của Random House ở bên Anh.

   Một số nhà nghiên cứu tôn giáo hiện nay đã xét lại những kết quả điều tra tu viện Hotel Dieu của Công giáo và cho rằng những điều Maria Monk viết trong cuốn The Awful Disclosures không phải là không có cơ sở.  Tại sao lại có chuyện xét lại. Vì những phanh phui gần đây cho cả thế giới biết về những chuyện động trời trong giáo hội Công giáo như Linh mục loạn dâm với trẻ nít, cưỡng dâm nữ tu, nữ tu đồng giống luyến ái (lesbian), và những chuyện gian lận, hành hạ trẻ mồ côi trong một số viện mồ côi quản trị bởi các nữ tu “hiền như ma sơ”.  Sau đây là một số trường hợp điển hình.

   Trong những năm gần đây, nhiều bản tường trình cho thấy chi tiết về các vụ linh mục cưỡng dâm nữ tu trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Phi Châu, nhưng Vatican vẫn nằng nặc phủ nhận [Undeniably, the best reason to reconsider Maria Monk’s claims is based on modern revelations of victims and survivors of clergy sexual abuse. Reports (http://www.priestsofdarkness.com/nuns.html) in recent years have detailed extensive and global abuse of nuns by priests, which the Vatican has vigorously denied. Nuns, especially in Africa, have been even more vulnerable than before as they are deemed to be safe from AIDS.]

   Thật vậy, trong bài Hồ Sơ Về Sự Lạm Dụng Tình Dục Của Các Linh Mục Đối Với Các Nữ Tu [Documents Allege Abuse of Nuns by Priests], trên tờ New York Times ngày 21 tháng 3, 2001, viết bởi Chris Hedges, chúng ta có thể đọc những đoạn như sau:

   Những bản phúc trình mật của Giáo hội Công giáo La Mã trong thời gian 7 năm qua đã cho biết có nhiều trường hợp nữ tu (hôn thê của Chúa) bị các linh mục (Chúa thứ hai) cưỡng bách tình dục và các bề trên trong giáo hội đã bao che, không đáp ứng và không đưa ra biện pháp để kỷ luật những linh mục phạm tội. [Confidential Roman Catholic Church reports written over a period of 7 years allege numerous cases of sexual abuse of nuns by priests and a failure by church leaders to discipline the clerics who were involved]

   5 bản phúc trình viết bởi những viên chức cao cấp trong các dòng nữ tu  và một linh mục Mỹ, cho thấy sự lạm dụng tình dục của các linh mục đã xảy ra trong nhiều quốc gia, kể cả Mỹ.

   Các bản phúc trình viết rằng một số linh mục đã đòi hỏi các nữ tu ở dưới quyền phải phục vụ tình dục cho họ để đổi lấy một số ưu đãi đặc biệt.  Trong một số trường hợp, các linh mục làm cho nữ tu có mang rồi bắt họ đi phá thai. [The reports say some priests have demanded sex from nuns under their charge in return for favors.  In some instances priests are said to have impregnated nuns and the forced them to have abortions]

   Như thường lệ, sự bất lương của Vatican hiển lộ trong lời tuyên bố của Joaquin Navarro-Walls, phát ngôn viên của Vatican, rằng vấn nạn trên chỉ xảy ra giới hạn trong môt vùng địa dư [The Vatican spokeman, Joaquin Navarro-Walls, issued a statement saying the problem was confined to “a limited geographical region”] tuy rằng phúc trình chi tiết nhất là của Sơ Maura O’Donohue, một bác sĩ Công giáo, thành viên của cơ quan Medical Missionaries of Mary, dựa trên những dữ kiện thu thập được, đã viết rõ rằng vấn nạn trên đã xảy ra trong 23 quốc gia kể cả Mỹ, Ý và Ái Nhĩ Lan.  Sơ O’Donohue kể ra trường hợp ở Malawi, chỉ trong một dòng nữ tu đã có tới 29 nữ tu mang thai bởi các linh mục.  Khi Sơ bề trên phàn nàn với Tổng Giám mục của giáo xứ, thì Sơ bề trên này bị thay thế.  [Sister O’Donohue went on to discuss a case in Malawi, where 29 sisters in a single congregation “became pregnant by priests in the diocese.” When the sisters’ superior general complained to the archbishop, Sister O’Donohue wrote, she was replaced.  Sister O’Donohue wrote that she knew of similar cases in 23 countries, including the United States, Italy and Ireland.]

   Bản phúc trình của Sơ Maura O’Donohue còn đưa ra nhiều chi tiết chứng tỏ sự phá sản tâm linh và đạo đức trong cấp lãnh đạo của giáo hội Công giáo.  Trong bản phúc trình, Sơ O’Donohue đưa ra những trường hợp động trời, thí dụ như:

  • Linh mục đưa các nữ tu và con chiên đến nhà thương Công giáo để phá thai [Priests were bringing sisters (and other young women) to Catholic health institutions for abortion.]  Bác sĩ Công giáo bị áp lực của linh mục nên phải làm việc vô đạo đức này dù giáo hội cấm.
  • Một trường hợp đặc biệt là một linh mục mang một nữ tu đi phá thai và nữ tu này chết trong vụ này và linh mục trên đứng làm chủ lễ an táng [An example of a priest who had brought a sister for an abortion.  She died during the procedure and the priest officiated at the Requiem Mass]
  • Đối với các Sơ bị các linh mục làm cho mang thai thì linh mục thường chỉ bị khiển trách nhẹ – thí dụ như hai tuần lễ sám hối hay thuyên chuyển đi giáo xứ khác (để tiếp tục làm bậy như báo chí gần đây đã phanh phui), còn các nữ tu thì bị đuổi ra khỏi dòng tu. [The most disturbing incidents concerned sisters who became pregnant.  While the priests were usually given mild reprimands – for example, two-week retreat or transfer to another parish – the nuns were forced out of the order]

    Giáo hoàng Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin, đã nhận được bản phúc trình của Sơ O’Donohue năm 1998 về những vụ linh mục cưỡng bách tình dục các nữ tu nhưng hoàn toàn coi phúc trình đó như không có trước quần chúng, theo đúng sách lược của giáo hội từ thời Trung Cổ, tuyệt đối giữ kín những vụ linh mục bê bối trong vấn đề tình dục.  Ông ta có phải là “đại diện của Chúa trên trần” như giáo hội Công giáo tuyên dương hay không?

   Pope Benedict XVI, when was Cardinal Joseph Ratzinger

in charge of the Doctrine of Faith, acknowledged to receive

the 1998 O’Donohue Report of sexual harassment and raping

of women religious (nuns) and completely publicly ignored it

following an old practice of the Catholic Church  since the

Middle Ages of maintaining strict secrecy in dealing with

sexually abusive clergy.  Is he the representative of God on

Earth as the Catholic Church proclaims?

   Vấn nạn về phá sản tâm linh và đạo đức không chỉ thu hẹp trong giới giáo hoàng và linh mục mà còn xảy ra trong giới nữ tu, các hôn thê (bride) của Chúa, và dòng các “sư huynh” (Christian Brothers).  Trong cuốn The Awful Disclosures của Maria Monk có nói đến dòng tu của các “Grey Nuns”, các Sơ mặc áo xám, được gọi là các “Sơ của Bác Ái” (Sisters of Charity).  Cách đây ít năm, chương trình Prime Time của đài ABC cũng như chương trình Date Line của đài NBC đều đưa lên vụ kiện 1.2 tỷ đô-la [1.2 billion suit] của những trẻ mồ côi, nay đã trưởng thành, thường được biết là những “Trẻ mồ côi của Duplessis” (Duplessis Orphans).  Những đứa trẻ này trước sống trong những viện mồ côi ở Québec, Canada, quản trị bởi các “Sơ của Bác Ái”,  dưới triều Thủ Tướng Maurice Le Noblet Duplessis, một tín đồ Công giáo bảo thủ cực đoan.  Một số những đứa trẻ mồ côi trong số khoảng 3000 còn sống sót này, nay đã trưởng thành, đã lập nên một tổ chức để kiện chính quyền Québec và viện mồ côi St. Julian ở Québec, do các “Grey nuns” (Sisters of Charity) quản trị, về những hành động hành hạ độc ác, ngược đãi, lừa gạt của các Sơ đối với các em khi còn ở trong các viện mồ côi, với sự toa rập của chính quyền Công giáo Québec trước đây và bác sĩ Công giáo..  

   Đọc nội dung vụ kiện này và những bằng chứng mà các nạn nhân đưa ra chúng ta không thể tưởng tượng được là trong “hội thánh, thiên khải, tông truyền, duy nhất”, alias Công giáo, lại có thể xảy ra những chuyện tàn bạo vô lương tâm của tập đoàn Công giáo gồm từ Thủ tướng Công giáo ở Québec đến các linh mục, bác sĩ Công giáo, nữ tu Công giáo toa rập với nhau để làm thương tổn nặng nề đến tinh thần cũng như vật chất của nhiều ngàn trẻ mồ côi sống trong các viện mồ côi và các nhà thương Công giáo trị bệnh tâm thần.

Độc giả có thể đọc chi tiết đầy đủ về vụ “Duplessis Orphans” trong bài “Bác Ái Của Công Giáo Trong Hành Động” (Catholic Charity in Action) [http://www.lazyboysreststop.com/history-3.htm] và bài “Những Nữ Tu Công Giáo Ác Độc, Lừa Gạt Ở Mỹ Và Trên Khắp Thế Giới” (Abusive Nuns In The USA And Worldwide) trên trangnhà: http://www.ianpaisley.org/new_details.asp?ID=353. Ở đây tôi chỉ tóm tắt những nét chính và đưa ra một số sự kiện điển hình.

   Cách đây vài thập niên, trong những thập niên 1940-1960, Québec nằm trong tay Công giáo trên mọi phương diện, dưới quyền một ông Thủ tướng Công giáo: Duplessis.  Công giáo bao quản mọi vấn đề xã hội, trường học, nhà thương, viện tế bần v..v… [the Catholic Church operated all the schools, hospitals and social institutions (with the government’s consent)].  Và vì thế, thời kỳ Công giáo trị ở Québec này là một thời kỳ ô nhục, được gọi là thời kỳ “đại hắc ám” [This was the shameful period known here as ‘la grande noirceur’, “the great darkness.”…]  Đó cũng là thời kỳ mà có nhiều đứa con hoang được sinh ra, vì các nữ tín đồ tuyệt đối theo giáo lý của Công giáo, không chịu ngừa thai dù nghèo không đủ khả năng nuôi con, cho nên sinh con ra rồi bỏ rơi.  Nhiều ngàn những đứa trẻ [thousands of children] vô thừa nhận này được đưa vào những viện mồ côi hay nhà thương chữa trị tâm thần (nhà thương điên) quản trị bởi các “Sơ của bác ái” . [It was a time when practicing Catholic women eschewed the use of the few artificial contraceptive methods available to them..There were a great number of unanticipated and unwanted pregnancies throughout Canada during this period. To their credit, many women carried their babies to full term and then raised them as they were able. Abject poverty, and sometimes shame, forced others to give up their children to be cared for by social service agencies.]  Và chúng ta hãy xem các “Sơ của bác ái” sẽ đối xử với những đứa trẻ xấu số này ra sao trong khi điều các em cần nhất là tình thương..

   Thay vì tình thương, các em đã nhận được từ các “Sơ của bác ái” (Sisters of Charity) sự đánh đập, hành hạ, lạm dụng tình dục, dùng như là các nô lệ lao động, và một nền giáo dục thô sơ nhất, nếu có. [The care these children received was reminiscent of a Dickens novel. They were beaten, tortured, sexually abused, used as virtual slave labor and provided only the most rudimentary education, if any.]

   Bác ái trong hành động của một số Sơ là như vậy.  Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.  Vấn đề chính là các viện mồ côi hay “nhà thương điên” của Công Giáo được trợ cấp của chính quyền và liên bang (Federal).  Và chúng ta đã biết, tiền và tài sản là quan tâm số một của Công giáo ở mọi nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam.  Vào những thập niên 1940-1960, nhà nước trả cho các viện mồ côi $0.75 cho mỗi em bình thường (normal), và $2.75 cho mỗi em bất bình thường (mentally ill).  Do đó Thủ tướng Công giáo Duplessis đã dàn xếp với các giới chức Công giáo quản trị các viện mồ côi, và hầu như chỉ qua đêm, một số các viện mồ côi và trường học của Công giáo đã biến cải thành nhà thương điên [Apparently, Duplessis, and/or some others in his administration, reached an arrangement with the local Catholic authorities, who operated the orphanages. Virtually overnight, some of the orphanages and schools were transformed into psychiatric hospitals.].  Nhà thương điên thì phải có bệnh nhân điên thì mới có tiền của chính phủ, và một số các em bình thường đã được chuyển đến các nhà thương điên của Công giáo này [Children were shipped from orphanages to existing hospitals. These hospitals also were run by Catholic religious orders..]  Và để hợp thức hóa tình trạng, các bác sĩ Công giáo, được chỉ định bởi Thủ tướng Công giáo Duplessis, đã làm hồ sơ giả để chứng thực là các em này điên thật. [Doctors appointed by Premier Duplessis wrongfully declared many of them to be mentally ill].

    Chỉ vì sự sai biệt $2.00 cho mỗi đầu người mà cả ngàn các em lành lặn trở nên bất bình thường, dưới tay của Thủ tướng Công giáo, bác sĩ Công Giáo, và các “Sơ của Bác ái Công giáo”.  [Fewer ‘normal’ orphans and more ‘mentally deficient’ children meant more money for the religious orders].  Đặc biệt hơn nữa là tuy ở trong nhà thương điên, các em cũng bắt buộc phải lao động không công cho nhà thương [unpaid labor which the children were forced into during their stays in these asylums.]  Một trường hợp khác là chính quyền Québec đã trực tiếp chịu trách nhiệm biến cải nhà thương Công giáo ở Mont Providence, trước là một viện mồ côi do các “Sơ của bác ái” lập lên [an orphanage founded by the Sisters of Charity (Grey Nuns)], thành nhà thương điên.  Sự biến cải này đã giam khoảng 350 đứa trẻ bình thường trong một nhà thương điên [In the case of the Mont-Providence hospital, the Quebec Government is directly responsible for its conversion to psychiatric facility. This change led to the confinement of approximately 350 normal children in a psychiatric asylum. ]  Chính quyền Duplessis cũng như các dòng tu Công giáo đã kiếm được nhiều lợi nhuận bằng cách biến cải các viện mồ côi và trường học thành các nhà thương điên và xếp các trẻ em bình thường vào loại những em có bệnh nhân tâm thần. [Duplessis’ government gained financially from turning orphanages and schools into mental hospitals and reclassifying normal kids into mentally deficient patients. So did the religious orders that operated these facilities.

  Một hành động dã man khác của những sơ trông nom các nhà thương gọi là điên này là dùng những hình phạt hay biện pháp để kiềm chế những người điên thật đối với các em nhỏ: bó chặt các em trong những bộ áo đặc biệt, chữa trị bằng điện giật, cho thuốc quá độ, giam giữ trong những chuồng hẹp, và ngay cả giải phẫu những giây thần kinh óc [By being labeled mentally deficient they were subject to treatments such as being strapped into straightjackets, electroshock therapy, excessive medication, detainment in cells and even lobotomies.]  Tệ hại hơn cả là khi giữ các em đó lớn lên, không còn mang lại lợi nhuận, thì các em bị thảy ra ngoài.  Không có học vấn và với hồ sơ y tế ngụy tạo về tình trạng tâm thần, các em không thể sống một cách bình thường như những người trưởng thành khác.  [When no more financial gain could be achieved by keeping them, they are released from their dreadful existence behind those institution walls. With no education and false medical records they were well unprepared for adult life.] Ngay cả hồ sơ về tông tích gia đình của các em cũng bị hủy đi. [Even traces of their families have been snatched from them.]  Vì vậy, nhiều em chết trong viện mồ côi hay trong nhà thương được đưa đến bàn mổ của trường y khoa để cho các sinh viên học.  Có nhiều em chết một cách bất minh và trong nghĩa địa có những nấm mồ vô danh. Chương trình Prime Time của đài ABC nói đến những sự ngược đãi và ngay cả sát hại [mistreatment and even murder] trong các cơ sở “bác ái” này..  Một số các trẻ mồ côi trước sống trong các viện mồ côi đang vận động để khai quật những nấm mồ không tên tuổi này để tìm hiểu sự thật về cái chết bất minh của các em. [A group of orphans are fighting for the bodies of children to be exhumed from an abandoned Montreal cemetery in a bid to discover whether they were the subject of medical experiments. The group has hired a lawyer to ask a court for permission to dig up the bodies of the children, who were also orphans, and perform forensic examinations.]

   Điều đáng nói là ba giám mục ở Québec từ chối không nhận trách nhiệm, nói rằng không biết gì đến những chuyện này và tiếp tục ca tụng các Sơ là những thiên thần bác ái, phục vụ giáo hội để giúp những người xấu số.  Tại sao các giám mục lại không chấp nhận là họ đã sai lầm và giải quyết vụ các Trẻ Mồ Côi của Duplessis?  Lời giải thích là: “Nói láo và lừa dối không phải là điều xấu nếu làm để bảo vệ danh tiếng của Giáo hội Công giáo” [Lies and deceptions are not wicked when done in the name of the Catholic Church.]  Theo lời của một sử gia dòng Tên thì: “Nếu Giáo hoàng dù sai lầm mà ra lệnh làm những thói xấu hoặc cấm những đức tính thì Giáo hội phải tin rằng những thói xấu thì tốt và những đức tính thì xấu, trừ khi Giáo hội muốn phạm tội chống lương tâm Công giáo (nghĩa là chống đức vâng lời)” [If the Pope errs by commanding vices or forbidding virtues, the Church must believe that vices are good and virtues bad, unless it wishes to sin against conscience]

   Chắc sẽ có một số người Công giáo Mít, để bảo vệ “danh tiếng” của Giáo hội Công giáo thánh thiện tông truyền của họ,  cho rằng đó là chuyện ngày xưa, cách đây cả nửa thế kỷ.  Không hẳn vậy.  Chúng ta nhớ rằng vụ linh mục loạn dâm nổ ra ở Boston vào năm 1994.  Và phúc trình chi tiết của Sơ Maura O’Donohue  về các nữ tu, nạn nhân tình dục của các linh mục, cho Tòa Thánh là vào năm 1998.  Năm 2000, Ashley Hill, một nạn nhân tình dục của các Sơ (herself a past victim of abusive nuns) đã xuất bản cuốn “Những Thói Quen Của Tội Lỗi:  Một Sự Vạch Trần về Những Nữ Tu (Sơ) Lạm Dụng Tình Dục Đối Với Trẻ Con Và Với Nhau” [Habits of Sin: An Expose of Nuns Who Sexually Abuse Children and Each Other. Xlibris Corp; Aug., 2000] sau một công cuộc nghiên cứu và thu thập bằng chứng.  Ashley Hill cũng là sáng lập viên của một mạng lưới để bàn về vấn nạn “abuse-by-nuns”.

    Kết quả nghiên cứu của  Ashley Hill là nạn nhân tình dục của các Sơ đã xảy ra trên 24 quốc gia, kể cả Ái Nhĩ Lan, Gia Nã Đại và Úc. [Ashley Hill said that “during her research she heard from people claiming to be victims of sexually abusive nuns in 24 states, as well as in Ireland, Canada and Australia.]  Theo Ashley Hill thì đôi khi sự lạm dụng có tính cách ủy nhiệm, các nữ tu dễ dãi để cho các linh mục đến thăm cưỡng bách tình dục các nữ tu mà không can thiệp.  Tệ hơn nữa là một số nữ tu còn cộng tác với các linh mục trong những vụ cưỡng dâm này. [Sometimes the abuse would be by proxy, the nuns facilitating the lewd activities of visiting priests by failing to intervene. Worse still, some nuns actively cooperated with paedophile priests.]

   Có một câu tôi đọc, tuy không lấy gì làm lạ, nhưng có lẽ rất lạ đối với các tín đồ Công giáo Việt Nam, những người thường mang mẹ Teresa ra làm khuôn mẫu thánh thiện của Công giáo.  Đó là câu “Mẹ Teresa không phải là một nữ tu đầu tiên đã lợi dụng những hoàn cảnh khốn khổ của các nạn nhân của Mẹ để biến thành tiền” [Mother Teresa was not the first abusive nun to turn her victim’s plight into cash.]  Thật vậy, nếu chúng ta đã đọc Judith Hayes viết trong cuốn The Happy Heretic,  trang 69, thì có thể biết bộ mặt thật của nữ tu Teresa mà mọi người Công giáo ngu ngơ coi như bậc thánh như sau:

   “Nhân danh Thiên Chúa” bà Teresa đã thu được hàng triệu đô la rồi vội vàng dấu kín nó đi như một con sóc để dành thức ăn cho mùa Đông.  “Nhân danh Thiên Chúa”, bà ta cũng cải đạo nhiều người trước khi họ tắt hơi…  Tôi tự hỏi, trong cái tầm nhìn thô thiển của bà ta, có phải là bất cứ bà làm điều gì cho Thiên Chúa là để cho bà được điểm cao (như các em hướng đạo sinh đi bán bánh kẹo, ai bán được nhiều thì được đoàn trưởng gắn huy chương khen thưởng. TCN) trong đời sau.  Có lẽ đối với bà ta thế giới này không hề có một ý nghĩa nào, chẳng qua chỉ là cái mê hồn trận thách đố của Thiên Chúa để quyết định xem ai chiếm được mẩu tốt nhất trên thiên đường.  Nếu thật là như vậy thì chúng ta có thể giải thích,  vì không có gì khác có thể giải thích được, tại sao bà ta có thể nhẫn tâm ngồi trên nhiều triệu đô la như vậy trong khi trẻ con, ngay cả ở nơi bà hoạt động ở Ấn Độ, đang chết đói.  Điều này chống lại mọi giải thích hợp lý, và tôi thách đố bất cứ ai, từ Morphew cho đến chính giáo hoàng, có thể giải thích được sự kiện đó.

   [Teresa collected her millions of dollars “in the name of God” and then promptly hid them away like a squirrel readying for winter.  She also converted  souls “in the name of God”, many just before they expired… I wonder if, in her simplistic view of things, anything she did for God would earn her big-time brownie points in the afterlife.  For her, perhaps, this world had no meaning whatsoever, and was just some challenging religious maze, designed by God to determine who gets the best bits of paradise.  If so, it might explain, since nothing else can, how she could be so callous as to sit on those millions of dollars while children, even in her own part of India, were dying of starvation.  This defies rational explanation, and I challenge anyone, from Morphew to the pope himself, to explain it.]  Và Judith Hayes kết luận:

   Hiển nhiên là mục đích của bà ta là vơ vét tích tụ tiền bạc.  Để làm gì, ai mà biết được.

   [Apparently her goal was to hoard the money.  To what end, though, is anybody’s guess.]

   Độc giả có thể đọc chi tiết về bộ mặt thật của bà Teresa trong bài “Đâu Là Sự Thật…” của Trần Chung Ngọc đã đăng trên giaodiem.com trước đây.

    Những tệ nạn ô nhục của Công giáo không chỉ giới hạn ở Québec, mà còn xảy ra nhiều nơi trên thế giới.  Điển hình là vụ liên quan đến viện mồ côi ở Mont Cashel, Newfoundland, ở Đông Bắc Canada, do các sư huynh công giáo (Christian Brothers) quản trị.  “Christian Brothers” là một “dòng tu” (sic) Công giáo được thành lập ở Ái Nhĩ Lan và có chi nhánh ở nhiều quốc gia khác.  Chúng ta sẽ thấy khi Công giáo nắm quyền ở địa phương nào thì ở đó bất công và lạm dụng tràn ngập (cứ xem Spain của Franco, Việt Nam của Ngô Đình Diệm, và Phi Luật Tân của Marcos, ba chế độ Công giáo toàn trị trước đây thì rõ).  Khi một cuốn sách phanh phui ra những vụ lạm dụng tình dục của các linh mục và sư huynh ở Mont Cashel thì ngay cả Bộ Tư Pháp và các Sư Huynh Công giáo ở Newfoundland đều tìm mọi cách để che dấu và ếm nhẹm. [In 1990, Viking Press published a book that provided a detailed account of the discovery of sexual abuse perpetrated by Catholic priests at the RCC orphanage at Mount Cashel and the efforts of the Newfoundland Justice Department and the Christian Brothers to cover it up.]  Bộ Tư Pháp Newfoundland đã ra lệnh cấm phổ biến cuốn sách đó trong Tỉnh.  Năm 1996, 9 cựu sư huynh Công giáo vào tù ngồi vì những tội ác của họ ở Mont Cashel nhưng chẳng có mấy người ở trong tù ngay cả một phần đáng kể theo bản án của họ. [The Newfoundland Department of Justice banned the book in that province when it first came out . 9 former Christian Brothers were sent to jail for their crimes at Mont Cashel, but few of them serve even a significant portion of their sentences.]   Nội vụ ở Mont Cashel đã được quay thành phim, The Boys of St. Vincent, vào năm 1993, bởi đạo diễn John N. Smith.  Cuốn phim này có bán trong các tiệm bán phim.  Trong cuốn phim này chúng ta có thể thấy cảnh nhồi sọ các em như sau.  Các Christian Brothers ngày ngày hét vào tai các em và bắt các em lập lại nhiều lần câu: “Chỉ có Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa” [Our God is the only God].  Trên 30 “Brothers”, cựu “Brothers” và nhân viên thường ở Mont Cashel đã bị truy tố và kết án với trên 200 tội ác [Over thirty Brothers, former Brothers and lay staff have been charged and convicted with more than two hundred crimes.]

  Chúng ta cũng không nên quên là năm 2003, Peter Mullan đã viết và đạo diễn một phim có tên là “Các Sơ Magdalene” [The Magdalene Sisters].  Magdalene là một hệ thống các cơ sở của Giáo hội Công giáo Ái Nhĩ Lan lập lên để đày ải những em gái mà Giáo hội coi là không có đạo đức, ở đây các em phải lao động tốt không lương suốt đời.  Cuốn phim dựa trên những sự thật đã xảy ra ở cơ sở này.    Điều kinh khủng nhất, theo quan điểm của Mullan về các cơ sở Magdalene của Công giáo là các bậc cha mẹ đã bị xiết chặt trong móng vuốt của Giáo hội Công giáo cho nên đã trở thành đồng lõa trong việc đầy ải man rợ con cái của mình. [What is most horrific about Mullan’s look at the Magdalene asylums is that the Church had so strong a grip…that parents would be complicit in the barbaric treatment of their own children.]  Chúng ta hãy đọc vài nét về cuốn phim này.

  Đây là một cuốn phim thực sự quan trọng.  Báo của Vatican cho cuốn phim là một “sự khiêu khích có ác ý thù hận”.  Điều quan trọng đáng ghi là Vatican không cho là cuốn phim là chuyện bịa đặt.  Lên án một cuốn phim vì đã đưa ra sự thật?  Danh ngôn nói: “Quyền lực thì đồi bại.  Quyền lực tuyệt đối thì đồi bại tuyệt đối.”  Điều này có phải đã xảy ra trong nhiều cấp trong tôn giáo (Công giáo).  Cuốn phim này là về những phụ nữ bị coi là “vô đạo đức” theo tiêu chuẩn của giáo hội, bị cưỡng bách loại ra khỏi xã hội và cưỡng bách lao động trong những xưởng giặt bằng tay của giáo hội suốt ngày và mọi ngày để có thể lấy lại ân sủng của Thiên Chúa.  Hơn 30.000 phụ nữ đã là nạn nhân.  Họ bị đày ải vô thời hạn và không được trả công, tuy rằng xưởng giặt được trả tiền cho dịch vụ giặt.  Đó có phải là chế độ nô lệ không?  Hãy nhớ rằng, các phụ nữ đó không phạm một tội ác nào, họ chỉ bị giáo hội cho là không có đạo đức.

    [God vs. religion, by cdog1399 (movies profile) Aug 2, 2003:  This was such an important film. The Vatican newspaper called this film a “malicious and rancorous provocation.” It is important to note it was not called a fabrication. Condemnation of a film for telling the truth.?  As the saying goes,: Power corrupts, and absolute power corrupts absolutely.”  Is that not what has happened within many religious hierarchies ? This movie is about women considered “immoral” by the church’s standards being forced out of society and forced to work in a sweatshop doing laundry by hand all day every day to win back their favor with God. Over 30,000 women were victimized. They were sentenced for an undetermined time period and were not paid, although the facility was paid for the services rendered. Isn’t that called “slavery”? Keep in mind, these women had not committed any crime, they were just deemed immoral.]

  Chúng ta hãy xem tiêu chuẩn đạo đức của giáo hội Công giáo Ái Nhĩ Lan (Ai-len) trong vụ trên là như thế nào.  Cuốn phim đưa ra ba trường hợp điển hình và những hành động ác ôn (wicked) của các Sơ:

   Nạn nhân thứ nhất, em Margaret, bị một người anh em họ hiếp dâm trong một lễ cưới trong khi các ông linh mục ca những bài ca truyền thống Ái Nhĩ Lan.  Em kể ngay việc này với một phụ nữ, thay vì được ủng hộ em trở thành đối tượng của một âm mưu cho tên hiếp dâm chuồn ra khỏi lễ cưới và đưa em vào một cơ sở cứu tế Magdalene. [One, Margaret, is brutally raped by a cousin at a wedding while priests perform traditional Irish songs. Immediately telling a woman, instead of support she becomes the subject of a hasty conspiracy to spirit the rapist from the wedding and to place her in the Magdalene asylum.]

  Nạn nhân thứ hai là em Patricia sinh một đứa con mà không có chồng.  Cô ta bị áp lực của một linh mục phải từ bỏ đứa con và cô ta bị đưa ngay vào một cơ sở Magdalene. [One of the young women, the shy and angelic Patricia, has a baby out of wedlock. She is pressured by a priest to surrender the baby boy and then she, too, is hustled off to the asylum.]

   Trường hợp thứ ba là em Bernadette đang sống trong một viện mồ côi.  Tội của em là dám đứng trong hàng rào tán gẫu với mấy cậu con trai trong làng bị sắc đẹp của em quyến rũ đứng ở ngoài hàng rào.  Chỉ vì vậy mà em bị chuyển đi làm lao động trong cơ sở Magdalene. [The third victim is in an orphanage where she gets under the director’s skin for no other offense than she is pretty and boys from the neighborhood crowd a fence to call down to her. Transfer to the asylum follows.]

   Trên đây là những chuyện động trời liên quan đến một số linh mục và nữ tu trong giáo hội Công giáo ở trong một số cơ sở được gọi là bác ái của Công giáo trên hoàn cầu.  Chúng ta có thể thấy trên Internet tràn ngập những chuyện tương tự về Công giáo. 

* * *

   Bây giờ, chúng ta hãy trở lại cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael mới xuất bản vào tháng 2 năm 2009.

   Cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael chỉ là cuốn mới nhất trong một chuỗi dài những xì-căng-đan trong giáo hội Công giáo ở Kerala.  Sau đây là sơ lược một số phanh phui trong cuốn AMEN.

Khi Jesme Raphael là nữ tu (Sơ), Sơ khám phá ra là các linh mục thường cưỡng bách tình dục những thiếu nữ mới vào dòng tu. [Sister Jesme says when she became a nun she discovered priests were forcing novices to have sex with them]

   Có những liên hệ tình dục đồng giống luyến ái giữa các Sơ với nhau và bản thân Sơ cũng bị ép vào liên hệ tình dục này với một Sơ khác, được Sơ kia giải thích là để tránh mang thai[There were also secret homosexual relationships among the nuns and at one point she was forced into such a relationship by another nun who told her she preferred this kind of arrangement as it ruled out the possibility of pregnancy.]

   Sơ kể lại chuyện Sơ đi đến Bangalore để tu nghiệp về Anh ngữ, Sơ được một Sơ khác bảo hãy trú ngụ tại nhà một ông linh mục đạo đức. Nhưng khi Sơ đến nhà ga, ông linh mục đã chờ sẵn và ôm chặt lấy Sơ.  Đến buổi chiều, ông linh mục dẫn Sơ đến Lalbagh, nơi có những cặp trai gái hú hí với nhau sau những gốc cây và giảng đạo cho Sơ về sự cần thiết của làm tình.  Ông ta còn tả chân những chuyện có tính cách khiêu dâm của một số giám mục và linh mục với các nữ tu.  Sau đó ông linh mục đưa Sơ về nhà, định sờ soạng Sơ và khi Sơ chống cự thì giận dữ hỏi Sơ là đã ngủ với đàn ông chưa.  Khi Sơ trả lời là chưa thì ông ta tự cởi bỏ quần áo và ra lệnh cho Sơ cũng phải làm như vậy [In Bangalore for a refresher course in English, she writes, “I was told to stay at the office of a priest respected for his strong moral side.   But when I reached the station, he was waiting there and hugged me tight on arrival.  Later in the day, he took me to Lalbagh and showed me several pairs cuddling behind trees. He also gave me a sermon on the necessity of physical love and described the illicit affairs that certain bishops and priests had with the nuns”. Back in his room, he tried to fondle me and when I resisted, got up and asked angrily if I had seen a man.  When I said no, he stripped off his clothes and ordered me to do the same.]

   Sơ Raphael có bằng tiến sĩ và là hiệu trưởng của một trường đại học Công giáo. Khi Sơ hỏi cấp trên lập trường của Giáo hội về các đại học tự túc (self-financing colleges) và một số điều khác thì họ cho là Sơ có bệnh tâm thần và gửi Sơ đi chữa trị tâm thần và muốn giam Sơ vào nhà thương điên. Sơ kể vì những thắc mắc của Sơ mà cấp trên đã hai lần toan tính đưa Sơ vào nhà thương trị bệnh tâm thần.   Sơ viết, các nữ tu viện [convents] đã trở thành các “ngôi nhà để hành hạ” (houses of torture).  Có nhiều Sơ bị ngược đãi nhưng sợ không dám nói lên .  Giáo hội là một pháo đài kiên cố. [There are many nuns undergoing ill-treatment from the order, but they are afraid of challenging it.  The Church is a formidable fortress]

   Cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael đã bán hết ngay và chỉ nửa tháng sau ấn bản thứ nhì đã được xuất bản.  Cuốn sách đã được dịch ra vài thứ tiếng và có cả ấn bản bằng Anh ngữ.  Phản ứng của Giáo hội Công Giáo trước cuốn AMEN ra sao?  Stephen Alathara, Phó Tổng Thư Ký hội đồng Giám mục (Deputy Secretary of the Bishops council), nói: “Không thiếu gì những người chống tôn giáo trong xã hội Kerala.  Họ dùng cuốn sách này cho những hoạt động “chống xã hội”, “chống giáo hội”. [There is no dearth of antireligion people in Kerala society.  They are using this for their anti-social, anti-church activities.]  Và Linh mục Paul Thelakkat, phát ngôn viên dòng tu Syro-Malaba của Công giáo, phát biểu: “Sơ Raphael nên đặt vấn đề với giáo hội thay vì “phỉ báng các nữ tu sùng tín”.  Ông ta nói thêm rằng “Những tố cáo của Sơ Raphael không có gì đặc biệt nghiêm trọng.  Giáo hội không bao giờ tuyên bố là không có tội lỗi trong giáo hội.  Chúng tôi không phải là những thiên thần.  Chúng tôi là những con người bằng thịt và máu – do đó một vài sơ xuất hay thất bại có thể xảy ra.” [Raphael should have raised with the church instead of “maligning the life of religious nuns.” He added that Raphael’s allegations are “not especially serious”.  “The church never claims there’s no sin within the church,” he said.  “We’re not angels – we’re human beings of flesh and blood – so some omissions and failures can happen.”]

   Chúng ta thấy ngay những luận điệu xảo quyệt của Công giáo thường dùng để bào chữa cho những tội ác của giới chăn chiên trong Công giáo.  Thứ nhất, cái mũ đầu tiên là “chống giáo hội” và “chống xã hội” làm như chống giáo hội là một tội ác tương đương với chống xã hội.  Thứ nhì, đặt vấn đề với giáo hội để giáo hội giải quyết thì cũng như không đặt, vì kinh nghiệm cho thấy, Giáo hội sẽ có biện pháp để trừng trị những người dám đặt vấn đề với giáo hội.  Và thứ ba, khi muốn bịp đám con chiên ngu dốt thì giáo hội tuyên dạy linh mục là những “Chúa thứ hai” có quyền tha tội cho con chiên và cho con chiên lên thiên đường.  Nhưng khi các “Chúa thứ hai” làm bậy thì đó chỉ là những người thường như mọi người với máu và thịt, cho nên tội lỗi chỉ là chuyện bình thường.  Chúng ta nên để ý là Giáo hội không dám phủ nhận nội dung cuốn AMEN của Sơ Raphael vì tất cả những gì Sơ Raphael viết trong cuốn sách đều là sự thật, chỉ đưa ra những luận điệu lắt léo để bào chữa.

   Chúng ta hãy kể thêm vài chuyện ở Kerala.  Ngày 11 tháng 2, người ta thấy Sơ Josephine, 38 tuổi, chết ở trong phòng có vẻ là đã tự sát.  Giáo hội nói Sơ đang được chữa trị vì suy sụp tinh thần [under treatment for depression].  Nhưng dư luận quần chúng cho rằng Sơ tự sát vì không chịu nổi những sự hành hạ ở trong tu viện bởi các bề trên, và một nhóm dân đã tụ họp trước nhà, hét lên những lời tố cáo là sự ngược đãi đã làm cho Sơ phải tự sát. [shouted slogans alleging that harassment had led Sister Josephine to kill herself.]

   Ngày 11 tháng 8 năm 2008, một Sơ khác là Anupama Mary, 23 tuổi, treo cổ tự tử.  Trong di thư để lại, Sơ nói không thể chịu đựng được những sự quấy nhiễu của sơ bề trên [In what was her suicide note, she had said she could no longer withstand the senior nun’s harassment]

   Tháng 12 năm 2008, cảnh sát đã bắt giữ hai linh mục và một nữ tu liên can đến một vụ hiếp dâm và giết Sơ Abhaya vào năm 1992 mà Giáo hội đã tranh đấu để ếm nhẹm trong suốt 16 năm trời [In December 2008, Police arrested two priests and one nun in the Sister Abhaya rape-cum-murder case, which the Catholic church struggled to suppress for 16 long years]

   Giáo hoàng Benedict mới treo giò một Giám mục vì xì-căng-đan nuôi một phụ nữ 26 tuổi làm con nuôi ở trong nhà.

   Ở Mexico, vì chán ngấy với sự thường xuyên xúc phạm nhân quyền, với chuyện linh mục coi nữ tu như là các đầy tớ và là đối tượng tình dục khi cần, một số nữ tu đã gây nên một phong trào quốc tế để phản đối những sự lạm dụng tình dục của các linh mục đối với các nữ tu, không những chỉ đòi hỏi giáo hội phải trừng phạt những linh mục hiếp dâm nữ tu, mà còn đòi hỏi ở trong giáo hội phụ nữ phải được bình đẳng như phái nam. [Fed up with the constant abuses to human rights – that run from being utilized as simple “maids” up to suffering sexual violations from their religious superiors – the Mexican nuns started to integrate in a big international movement of protest that not only demands punishment for the rapist priests, but also demands that within the church, women have equal rights as men]

   Những chuyện tình dục bậy bạ của giới linh mục đi đến độ mà Quốc Hội Âu Châu phải lên tiếng lên án Vatican về những vụ Linh mục cưỡng bách tình dục các nữ tu.  Kiến nghị của Quốc Hội Âu Châu nói đến “trách nhiệm của Vatican đối với vấn đề vi phạm nhân quyền của các linh mục Công giáo.”

   [STRASBOURG, France – The European Parliament made an unprecedented attack on the Vatican, approving a motion blaming it for the rapes suffered by nuns in Africa in the 1990s. Some observers saw the nonbinding measure as an attempt to impede John Paul II’s visit to this institution.

   The parliamentary motion, on the “Responsibility of the Vatican in Regard to the Violation of Human Rights by Catholic Priests,” has no executive character but rather is intended as a “moral judgment.”]

   Những tài liệu trên về vấn nạn loạn dâm của một số linh mục và vô đạo đức tôn giáo của một số nữ tu đã đánh thẳng vào thực chất quyền lực và đạo đức của giới chăn chiên Công Giáo, cùng lúc cho thấy chính sách tẩy não của Giáo hội Công Giáo.  Vì sách lược tẩy não của Giáo hội, tạo cho tín đồ tâm cảnh hoàn toàn tuân phục bề trên (các giám mục, linh mục), chỉ vì mơ tưởng một cái bánh vẽ trên trời, và coi “linh mục là những Chúa thứ hai” nên mới có thể xảy ra hàng ngàn vụ linh mục cưỡng bách tình dục trẻ con và các nữ tu.  Theo thống kê năm ngoái thì đã có hơn 5000 linh mục bị truy tố về tội cưỡng bách tình dục trẻ em vị thành niên, và đây mới chỉ là con số khiêm tốn bắt đầu, vì ngày nào trên báo chí chúng ta cũng thấy những vụ mới bị phanh phui ra.  Trong số trên 11000 nạn nhân tình dục của linh mục Công giáo thì 78% trong lớp tuổi từ 11 đến 17, 16% từ 8 đến 10 tuổi, và 6%  là 7 tuổi hay nhỏ hơn.  Người ta không biết rõ số nữ tu bị linh mục cưỡng dâm là bao nhiêu, chỉ biết rằng đã xẩy ra trên 24 quốc gia, nghiêm trọng nhất là ở Phi Châu, vì ở đây các nữ tu an toàn hơn để tránh bệnh AIDS.   Người Mỹ đặt vấn đề: những linh mục trên là những kẻ cuồng dâm (sadists) hay là “Cha cũng như Chúa”? Chúng ta nên nhớ, trong “bí tích” truyền chức Linh mục, Chúa Thánh Thần đã vào ngự trong người của Linh Mục và hướng dẫn mọi hành động của ông ta, và Linh mục Vũ Đức ở Detroit gần đây cũng vẫn còn khẳng định trước đám con chiên đã bị tẩy não: Linh mục chính là “Chúa thứ hai”.

   Như vậy thì ai chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa, ác độc, vô luân v..v.. của một số giáo hoàng, alias “đại diện của Chúa”, giám mục, linh mục, alias “Chúa thứ hai”,  Sơ, alias “hôn thê của Chúa”, và vô số con chiên sau khi tất cả những người này đã rửa tội và được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn?  Đổ tội cho Sa Tăng chăng?  Nhưng như vậy thì rõ ràng là cả ba Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần họp lại cũng không chống nổi Sa Tăng, vậy bày đặt ra chuyện “toàn năng” với “cứu rỗi”, với “ban cho đời sống đời đời” v…v… làm gì?  Có phải chỉ là để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, không có đầu óc suy luận hay không?  Thật vậy, sự thật là chẳng có Chúa nào tới ngự trong tâm hồn người Ki Tô, vì nếu thực sự như vậy thì không làm gì có những chuyện tàn bạo, độc ác, vô luân, loạn luân trong giới chăn chiên và trong tín đồ.  Chẳng lẽ cả ba Chúa đã ngự trong người tín đồ mà lại xui khiến tín đồ làm ra những chuyện vô đạo đức để “vinh danh Thiên Chúa trên trời” hay sao?

   Nhưng không phải bây giờ người ta mới biết bộ mặt thực của giới linh mục.  Từ xưa, các học giả đã nhận định khá chính xác về các linh mục.  Xin nhắc lại ở đây nhận định về linh mục của một số danh nhân trên thế giới.

Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan:  Người nào đọc lịch sử giới Linh mục không đọc gì khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churchmen.)

John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh:  Công Giáo La Mã là một tôn giáo không gì hơn là sự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Christ himself.)

Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia AnhTrong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới Linh mục là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh:  Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).

Đại Văn hào Voltaire (1694-1778):  Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của các Linh Mục thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.)

Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng thống Mỹ:  Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty).

James Madison (1751-1836), Tổng thống Mỹ: Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét.  Hoa trái của Ki Tô giáo là gì?  Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới Linh mục, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ; sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial.  What has been its fruits?  More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

Napoléon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp:  Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood)

Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức:  Công giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được.  Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it.  The priest are the brokers for it)

Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo – và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster – and an extinguisher: the parson.) 

Giuseppe Garibaldi (1807-1882),  Nhà lãnh đạo Ý (Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Công Giáo, chỉ còn lại Vatican ngày nay): Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.) 

Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ:  Một thầy giáo giỏi có giá trị bằng1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.)

William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia Ái Nhĩ Lan:   Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Linh mục Công Giáo hay Mục sư Tin Lành,  đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên tên linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.)

Trần Chung Ngọc

4/2009
Source: http://giaodiemonline.com/2009/04/amen.htm

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: