RSS

TÌM HIỂU VẤN ĐỀ: HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI KHÁC TÔN GIÁO

21 Jul

TIN TỨC
Các cặp hôn nhân hỗn hợp gặp khó khăn trong đời sống tôn giáo tại Miến Điện
Các Đức Giám Mục Âu Châu báo động về làn sóng hôn nhân khác đạo tại Âu Châu 
Cuộc trao đổi ý kiến giữa Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Đức Cha Phạm Ngọc Khuê
HƯỚNG GIẢI QUYẾT CỦA CÔNG GIÁO
Thư hỏi của một nữ Kitô hữu và Trả Lời của Linh Mục Bùi đức Tiến (Australia)
Thư hỏi của một nữ Kitô hữu và Trả Lời của Linh Mục Đa Minh Trần Quốc Bảo
Ý Kiến của Linh Mục JB Vũ Xuân Hạnh Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
Thư trả lời của Linh Mục Phi Quang về đám cưới tại công viên
Hôn Nhân Với Người Khác Tôn Giáo, Nhà Thờ Chính Toà Saigon
Ngoại đạo có phải theo lớp Dự bị hôn nhân không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT CỦA PHẬT GIÁO
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Hoà Thượng Thích Như Điển
Thư Hỏi của Phật tử và trả lời của Tổ Tư Vấn Báo Giác Ngộ
Thư Hỏi của Phật tử và trả lời của Báo VT
Thư Góp Ý của Sư Cô Đoan Nghiêm
Thư Hỏi của Phật tử và trả lời của BBT TVHS
NHẬN ĐỊNH
Ban Biên Tập TVHS

CÁC CẶP HÔN NHÂN HỖN HỢP GẶP KHÓ KHĂN 
TRONG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO TẠI MIẾN ĐIỆN (MYANMAR)

MANDALAY, Myanmar (UCAN 14-7-2008) – Peter Tin Myint thừa nhận việc ông“sống trong tội lỗi” 30 năm nay là một bí mật mà ai cũng biết. Người Công giáo 60 tuổi này thường xuyên đi lễ tại nhà thờ Thánh Giuse ở Mandalay, cách Yangon 580 km về phía bắc, nhưng điều này vẫn không giải quyết được vấn đề.

Cách đây ba thập niên, ông Tin Myint kết hôn với một Phật tử theo nghi thức Phật giáo. Vì họ không làm lễ cưới trong nhà thờ, nên ông được coi là “sống trong tội lỗi”, và không thể rước lễ.

Khi đã ở tuổi xế chiều và lo sợ mình “sẽ không được mai táng theo nghi thức Công giáo”, ông Tin Myint cố khuyên vợ và cuối cùng cũng được bà đồng ý “kết hôn” theo nghi thức Công giáo. Theo luật, họ sẽ không được làm lễ cưới lại tại nhà thờ Thánh Giuse nhưng họ sẽ được làm phép giao.

Hôn nhân hỗn hợp hay khác đạo giống như chiếc xe đẩy chỉ có một bánh chạy được”, ông nói với UCA News hôm 27-6, ám chỉ nhiều người Công giáo ở đây kết hôn với người Phật giáo và vấn đề mà các đôi này gặp phải trong khi cố thoả mãn cả hai tôn giáo.

Linh mục John Mg San, chánh xứ Thánh Micae gần đó, thừa nhận vấn đề này không chỉ có ở một vài người. Ngài cho UCA News biết vấn đề hôn nhân hỗn hợp đang “nổi lên”. Có 23.605 người Công giáo trong số 15 triệu dân đa số là người Phật giáo trong tổng giáo phận Mandalay. Vị linh mục cho biết 50% trong số những người đi lễ đã có gia đình trong giáo xứ của ngài kết hôn với người ngoài Công giáo. Mặc dù ngài không thích làm lễ cưới cho những cặp khác đạo, nhưng những người Công giáo không kết hôn theo nghi thức Công giáo “sẽ sống trong tội lỗi”, ngài nói. Vì thế khi có thể là ngài làm lễ cưới cho họ.

Giống như ông Tin Myint, nhiều người khác thường xuyên đi lễ cũng không thể rước lễ do tình trạng hôn nhân của họ.

Hôn nhân hỗn hợp là một sai lầm đối với hầu hết mọi người do vấn đề họ gặp phải vì những bất đồng tôn giáo”, ông Tin Myint khẳng định và nói ông không thể sống đạo cùng với vợ. “Tôi cảm thấy buồn khi nghĩ về hoàn cảnh của mình, không thể rước lễ hay tham dự trọn vẹn Thánh lễ, nhất là Giáng sinh và Phục sinh”.

Đôi khi ông sợ vợ ông lôi kéo ông đổi đạo và lo ông “đang đi sai đường”.

Cha Ng San hiểu được cộng đoàn Công giáo thiểu số và thực hiện các quy định trong giáo luật cách linh hoạt. “Tôi chỉ khuyên những người Công giáo sống đạo cho tốt và không nên ép bạn tình theo đạo, hãy tôn trọng tôn giáo của bạn tình”, ngài nói. Nếu người Công giáo làm gương tốt, thì vợ hay chồng họ sẽ tôn trọng đạo Công giáo. Người Công giáo phải làm hết mình để nuôi dạy con cái theo giáo huấn Công giáo, ngài nói thêm.

Theo cha Mg San, nếu một người Công giáo giống như ông Tin Myint muốn làm phép giao trong nhà thờ, họ phải làm việc đền tội do cha sở ra, như lần hạt hay tham dự lễ Chúa nhật trong một thời gian. Sau đó hôn nhân của họ có thể được Giáo hội làm chứng và chấp nhận.

Ronald Naing Toe, 31 tuổi, thuộc giáo xứ Thánh Micae, kết hôn với một người Phật giáo cách đây ba năm, nói với UCA News rằng anh và vợ muốn được làm phép giao trong nhà thờ nhưng gia đình bên vợ không chịu.

Cho đến nay, giữa chúng tôi chưa có bất hoà về tôn giáo”, anh nói. “Chúng tôi tự do thực hành giáo huấn tôn giáo của mình và vợ tôi thường nhắc tôi đi lễ”. Nhưng anh lo lắng về hậu quả sau này nếu một ngày nào đó hôn nhân của họ đổ vỡ.

Cha Mg San cho biết ngài cũng lo lắng vợ chồng có thể sẽ không giữ lời hứa tôn trọng tôn giáo của nhau và cho phép vợ hay chồng và con cái hành đạo như trước khi kết hôn.

Giáo dân Paul Tun Lwin, 40 tuổi, kết hôn tại nhà thờ Công giáo và có con được rửa tội, nói với UCA News rằng vợ anh không cho con cái đi nhà thờ. “Khi bọn trẻ lớn lên, chúng có thể chọn nên theo tôn giáo nào”, anh nói.

UCA News

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC ÂU CHÂU LÊN TIẾNG BÁO ĐỘNG 
VỀ LÀN SÓNG HÔN NHÂN KHÁC ĐẠO TẠI ÂU CHÂU

Budapest – Trong hội nghị lần thứ 7 các Giám Mục miền Nam Châu Âu, các Đức Giám Mục Công Giáo trong vùng nhận định rằng phía người Công Giáo trong các hôn nhân khác đạo cần phải “có quyết tâm giữ vững đức tin và làm mọi điều có thể trong thẩm quyền của mình để rửa tội và nuôi dạy con cái trong đức tin Công Giáo”.

Các Đức Giám Mục đã đưa ra nhận định trên sau khi đồng ý với nhau về sự kiện ngày nay các vụ hôn nhân khác đạo đang là một thực tại “rất sống động” tại Đông và Nam Âu, nơi người Công Giáo, Chính Thống Giáo và Hồi Giáo sống chung với nhau, và hiện tượng này “đang lan rộng toàn Âu Châu như hệ quả của hiện tượng di dân rất mạnh”.

Các Đức Giám Mục nhấn mạnh rằng “truyền thống Công Giáo dành ưu tiên cho việc kết hôn giữa những người Công Giáo, không chỉ với quan điểm muốn bảo tồn và truyền lại đức tin Công Giáo, nhưng trên hết là vì lợi ích của chính những người liên hệ trong cuộc sống hôn nhân”.

Tuy nhiên, vì quyền lợi và những lý do thích hợp, “hôn nhân khác đạo được phép miễn là cô dâu và chú rể khẳng định họ sẵn lòng xa lánh nguy hiểm của việc từ bỏ đức tin và cam kết làm tất cả mọi sự để con cái họ được rửa tội và trưởng thành trong Giáo Hội Công Giáo”.

Về hôn nhân giữa người Công Giáo và người Chính Thống Giáo, các Đức Giám Mục ghi nhận rằng “hai bên có một nền tảng căn bản chung về đức tin, nhưng người Công Giáo và người Chính Thống Giáo không cùng chia sẻ quan điểm thần học về bản chất của bí tích hôn phối và hệ quả là cách nhìn của họ đối với giá trị và sự bền vững của hôn nhân và ly dị cũng khác biệt

Các Đức Giám Mục mạnh mẽ bày tỏ quan ngại sâu xa của các ngài trước các hôn nhân giữa người Công Giáo và Hồi Giáo. Theo các Đức Giám Mục các hôn nhân này đưa đến hàng loạt “những vấn đề trầm trọng và nguy hiểm”. Những vấn đề thường gặp phải là tình trạng bỏ đạo nơi những phụ nữ lấy chồng Hồi Giáo vì theo truyền thống Hồi Giáo, người đàn ông có những quyền lực áp chế rất mạnh; tình trạng thờ ơ tôn giáo; tách rời khỏi cộng đồng và mất đi căn tính của mình. Việc nuôi dạy con cái theo đức tin Công Giáo trong hôn nhân hỗn hợp với người Hồi Giáo khó khăn vô cùng. 
(VietCatholicNews 08/03/2007)

CUỘC TRAO ĐỔI Ý KIẾN 
GIỮA THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH 
VÀ ĐỨC CHA PHẠM NGỌC KHUÊ 

Trong dịp viếng thăm Toà Giám Mục Phát Diệm, nhân chuyến về thăm Việt Nam vào tháng 4 năm 2006,  Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có cuộc trao đổi về vấn đề hôn nhân khác tôn giáo với Đức cha Phạm Ngọc Khuê, Giám mục sở tại cùng với một số đông tín đồ Kitô Giáo vào ngày 30-4-2007 lúc 9 giờ sáng.

Thiền sư Nhất Hạnh cho rằng: 

một người có thể rất hạnh phúc khi có hai gốc rễ, một gốc rễ Cơ đốc giáo và một gốc rễ Phật Giáo. Hai cái đó không nhất thiết phải loại trừ nhau. Tại vì mình hẹp hòi cho nên mình mới thấy hai cái khác nhau chống đối nhau. Nhưng nếu mình vượt lên, thấy được hai truyền thống có thể bổ túc cho nhau thì mình sẻ có một thái độ cởi mở hơn”. 

Và Thầy đã đề nghị: 

khi hai thanh niên yêu nhau, một người thuộc về Cơ đốc giáo, một người thuộc về Phật Giáo thì cả hai gia đình nên cho họ cưới nhau với điều kiện hai bên công nhận truyền thống của người bên kia và nếu người con trai là Cơ Đốc Giáo và người con gái là Phật Giáo thì người con gái phải học thêm Cơ Đốc Giáo và người con trai phải học thêm Phật Giáo. Và đến ngày chủ nhật thì hai người cùng đi nhà thờ, đến ngày mồng một và ngày rằm thì hai người cùng đi Chùa”. (hết lời trích). 

Cha Phạm Ngọc Khuê, Tòa Giám mục Phát Diệm cho biết: 

Giáo hội không bao giờ ngăn chặn hai người nam nữ yêu thương và tiến tới hôn nhân với nhau, điều đó là chắc chắn thuộc về giáo luật, không ai có quyền ngăn cản tình yêu của họ, vì đó là tuyệt đối…  Tuy nhiên khi hai người quyết định yêu thương nhau thì đức tin của người tín đồ Ki Tô Giáo cũng như Phật giáo phải được tôn trọng bởi sự tự do của họ… Và cái việc họ được chịu phép rửa tội là hoàn toàn tự do. Cho nên giáo hội chỉ nói một điều này: Khi tiến tới hôn nhân thì hai người phải hứa là tôn trọng  quyền lợi của nhau và niềm tin của mỗi người, và không được vi phạm. Vì vậy về phía tín đồ tôn giáo khác phải cam đoan, có thể nói là tuyên thệ  tôn trọng niềm tin vì đó là lãnh vực thiêng liêng và tự do tôn giáo, không ai được can thiệp. Nếu họ giữ được như thế thì cuộc hôn phối đó được tốt đẹp và thành sự trước mặt Chúa và trước luật pháp”.  (hết lời trích) 

Tuy nhiên, trong thực tế thì không luôn luôn được xảy ra như vậy, nhất là hoàn cảnh của Việt Nam do chế độ phong kiến còn rơi rớt, “người nam có quyền hơn người phụ nữ”.  Chính vì vậy, Cha nói tiếp: 

Giáo hội đặt ra điều kiện này: nếu một người tín đồ tôn giáo khác, lấy người Công giáo, rồi sau đó người Phật tử, hay là người thờ ông bà không giữ lời tuyên thệ trung thành thì người tín hữu Công giáo có thể trình lên thẩm quyền nguồn Thánh tháo cái hôn phối mà người ta đã cam kết…”. (hết lời trích) 

Và cuối buổi gặp gỡ Thầy Nhất Hạnh đã đề nghị thêm là: 

hai bên giáo hội Công giáo và Phật giáo phải có những văn bản rõ rệt về vấn đề hôn nhân dị giáo này. Nếu tôi là pháp chủ Phật giáo Việt Nam thì tôi sẽ cho phép những người con trai hay con gái Phật giáo lấy những người con trai hay con gái Công giáo và hai người  được học truyền thống của nhau, hai người cùng đi nhà thờ một lần, hai người cùng đi chùa một lần, hai người cùng được rửa tội một lần và hai người đều được quy y..”.  (hết lời trích). 

Qua lời phát biểu của hai vị Tôn đức Phật giáo và Ki Tô giáo được trình bầy ở trên, chúng ta thấy rằng có một mẫu số chung trong vấn đề hôn nhân khác tôn giáo là cho tự do kết hôn giữa người khác Ðạo, nghĩa là Ðạo ai nấy giữ.  Tuy nhiên, giải pháp này còn bị giới hạn bởi thời gian do những đứa con ra đời về sau.  Chúng sẽ theo đạo nào. Theo đạo cha hay theo đạo mẹ hay theo cả hai. Và khi nào bắt đầu cho chúng theo, từ lúc mới sinh ra hay đợi đến lúc chúng trưởng thành đủ trí khôn mới cho quyền lựa chọn tôn giáo. 

THƯ HỎI CỦA MỘT NỮ KITÔ HỮU 
VÀ TRẢ LỜI CỦA LINH MỤC BÙI ĐỨC TIẾN (AUSTRALIA)

Thưa Cha, 

Con tên là NVN, hiện đang sống tại vùng St. Albans tiểu-bang Victoria. Con có một vấn đề xin Cha giúp cho ý-kiến, có lẽ đây không phải là một thắc mắc cha ạ! Để khỏi làm mất thì giờ quí báu của Cha, con xin đi thẳng vào vấn đề. 

Thưa Cha, con sắp sửa lập gia-đình trong dịp cuối năm này, người hôn-phu của con tên là T., không phải là người trong đạo công-giáo. Còn con thì công-giáo nhiều đời rồi. Khi bắt đầu quen nhau, chúng con đã chẳng có ý-định kết-hôn gì cả, nhưng càng ngày càng gần gũi nhau hơn và tình cảm càng nặng nề hơn, để cuối cùng chúng con phải quyết-định làm đám cưới. 

Khi đưa vấn đề ra trong gia đình thì gia-đình con phản đối dữ dội, cho rằng việc kết hôn với một người khác đạo như thế sẽ không mang lại hạnh phúc, sẽ dễ dàng đổ vỡ, con cái sau này sẽ lộn xộn, rồi gia-đình đưa ra nhiều thí dụ điển hình về những trường hợp gia đình vì hai vợ chồng khác tôn giáo mà đổ vỡ. Đầu tiên con chỉ biết khóc thôi, nhưng sau đó thì con tìm đủ mọi cách để biện hộ cho hoàn cảnh của con, nào là: cũng có những gia đình cả hai vợ chồng cùng một tôn giáo mà vẫn đổ vỡ, nào là: có những gia đình hai vợ chồng khác đạo mà vẫn hạnh phúc đầm ấm vui vẻ. 

Cuối cùng gia đình con xiêu lòng (chắc vì thấy chúng con thương yêu nhau quá chăng?) nhưng ra những điều kiện như sau: 

– Anh T. không được phép ngăn cản con trong việc giữ đạo, đọc kinh xem lễ và cầu nguyện. 

– Tất cả những đứa con sau này sẽ phải được rửa tội theo đạo Công giáo và phải được hướng dẫn giáo lý đàng hoàng. Với hai điều kiện này anh T. đều chấp nhận, nhưng theo con nhận xét hình như anh T. tự ái trong những yêu cầu này, vì mấy lúc sau này con thấy thái độ anh ấy có vẻ khác. 

Chúng con đang chuẩn-bị cho ngày cưới vào dịp cuối năm nay. Ba con cho biết hai điều-kiện về tôn giáo vừa nêu bên trên phải được thề hứa và tôn trọng đàng hoàng, nếu không, ba con sẽ không đồng ý và không tham dự đám cưới của chúng con. 

Thưa Cha, bây giờ con phải làm gì? Xin Cha giúp cho con vì con bối rối quá ! Con cũng chưa dám nói với anh T. vì việc phải thề hứa này nọ về vấn-đề tôn-giáo. 

Xin Cha giúp con. 

NVN. St. Albans 
Cứ loay hoay mãi khi đọc thư của NVN, sự loay hoay xoay vòng trong cái tên NVN. Cứ như sự thường “thông dịch” một cái tên viết tắt thì chữ V ở giữa phải được “dịch” là Văn và người mang tên NVN chắc phải là con trai hay đàn ông. Nhưng trong trường hợp này N.V.N là một cô gái, chẳng sao, ở thời đại này con gái có khả năng về “Văn” hay về “Võ” cũng không được coi là bất thường so với xã-hội Việt-Nam mấy chục năm về trước. 

NVN viết rằng đây không phải là thắc mắc mà chỉ là xin giúp ý-kiến. Theo tôi, đây là một thắc mắc hẳn hòi, và tôi xin giải đáp thắc mắc này: 

Điều luật 1086 qui định: “Hôn phối sẽ vô hiệu giữa một người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo hay đã được nhận vào Giáo hội và chưa công khai bỏ Giáo Hội với một người chưa bao giờ được rửa tội.” 

Nếu hôn-phối này muốn được hữu hiệu — khi cử-hành, phần người công giáo phải được Giáo-Hội ban “phép chuẩn” (Dispensation ). 

Về “phép chuẩn”, điều luật 1125 qui-định như sau: “Nếu có lý do chính đáng và hợp lý, Bản Quyền sở tại có thể ban phép chuẩn cho hôn phối hỗn hợp (khác đạo). Tuy nhiên, đừng nên ban phép khi chưa hội đủ những điều kiện sau đây: 

Bên công-giáo phải tuyên-bố sẵn sàng xa tránh mọi nguy cơ làm tổn thất Đức Tin, và hứa thành thật sẽ làm hết mọi sự có thể, để con cái được rửa tội và giáo-dục trong Giáo Hội Công giáo. 

– Vào lúc thuận lợi, phải cho bên không công giáo biết những lời hứa mà người bên công giáo phải giữ, để chính họ được thực sự ý thức về lời hứa và bổn phận của bên công giáo. 

– Cả hai bên phải được giáo huấnvề các mục đích và đặc tính cốt yếu của hôn-phối và không bên nào được loại bỏ các điều ấy. 

Qua hai điều luật trên đây tưởng đã quá rõ ràng trong hoàn cảnh hôn phối của N. và T. Để vấn đề không còn bị rắc rối. Tỉ như Ba của N. chưa hài lòng hay T. sẽ tự ái, tôi xin tóm lược như sau: 

– Trước khi cử hành hôn phối với T., N. phải xin “phép chuẩn” 

– Phép chuẩn này chỉ được Giáo hội cấp, nếu N. thành thật hứa là sẽ giữ đạo sốt sắng và làm hết mọi sự có thể để con cái được rửa tội và giáo dục trong Giáo-Hội Công giáo. 

– Bên anh T. sẽ không phải thề hứa gì cả. Anh chỉ được cho biết rằng người vợ của anh đã thành thật thề hứa những điều trên. 

– Cả hai người N. và T. nên được chuẩn-bị hôn nhân kỹ càng qua các lớp Dự bị Hôn nhân được tổ chức do Giáo-hội qua các họ đạo liên hệ. 

Để tránh các khó khăn khác, đề nghị N. nên đưa cho Ba đọc lời giải đáp này và nếu ông Cụ vẫn chưa thoả mãn, xin cứ nêu những ưu-tư khác, tôi sẽ cố gắng giúp trong khả năng hạn hẹp. 

Chúc N., T. và gia-đình có được nhiều hồng ân Chúa trong Mùa Phục Sinh này. Thân mến, 

Linh Mục Bùi đức Tiến
(http://buiductien.com/index_html)

THƯ HỎI CỦA MỘT NỮ KITÔ HỮU 

VÀ TRẢ LỜI CỦA LINH MỤC ĐA MINH TRẦN QUỐC BẢO

TRUNG TÂM MỤC VỤ DÒNG CHÚA CỨU THẾThưa cha, con có một người em trai quen với một cô gái không thuộc đạo công giáo. Hai người dự định lấy nhau. Cô này không muốn trở lại đạo mà chỉ muốn ‘đạo ai nấy giữ’. Gia đình con đã hết lời khuyên can nhưng hai người vẫn khăng khăng xin phép chuẩn để làm đám cưới khác đạo. Điều con thắc mắc là, ngay cả khi có phép chuẩn, hôn phối đó có thành sự không? Đó có phải là một bí tích thực sự không? Nếu không phải là bí tích thì làm sao đôi vợ chồng được lãnh nhận trọn vẹn ơn sủng của Chúa qua Bí tích Hôn nhân ? 

M. N

Trong câu hỏi này có 3 vấn đề được đặt ra: Việc thành sự (validity) của hôn nhân khác đạo, ý nghĩa hay giá trị bí tích của nó (sacramental value), và sự tiếp nhận ơn Thiên Chúa trong hoàn cảnh đó. 

Trước nhất, ta hãy xét về yếu tố thành sự. Từ ngữ ‘thành sự’ ở đây mang ý giáo luật. Nói rằng một hôn nhân thành sự theo giáo luật nghĩa là hôn nhân ấy hợp lệ theo quy định của giáo hội; nôm na ra, đó là một hôn phối hợp lệ, không bị rối rắm.

Theo giáo luật, người công giáo kết hôn với người chưa rửa tội thì hôn nhân ấy không thành sự hay bị rối. Theo khoản 1086 trong Bộ giáo luật hiện hành của giáo hội công giáo, nếu không muốn bị rối trong tình trạng ấy thì phải xin phép chuẩn dị giáo (dispensation for disparity of cult) của Đức Giám Mục địa phận.
Để được phép chuẩn cho hôn nhân dị giáo hầu ‘đạo ai nấy giữ’, khoản 1126 trong giáo luật cũng quy định phải có 3 điều kiện : a) Bên công giáo hứa phải giữ trọn đức tin của mình, đồng thời cố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin công giáo. b) Thông tri cho bên không công giáo biết những điều mình hứa và bị lương tâm ràng buộc. c) Cả hai phải được học hỏi về mục đích và đặc tính căn bản của hôn nhân theo giáo lý công giáo.

Khi đã được phép chuẩn, việc kết hôn giữa một người công giáo và một người không công giáo trở nên hợp lệ và thành sự.

* Thứ đến, hôn phối dị giáo có thật sự là bí tích không? 

Đây là một vấn nạn tế nhị và phức tạp hơn. Thật ra, các nhà thần học về bí tích và các nhà thần học luân lý cũng chưa đồng quan điểm với nhau để đưa ra một câu trả lời dứt khoát. Bên phủ nhận cũng như bên xác nhận đều có những suy tư rất hữu lý. Trong khi đó, vì là một suy tư thần học, huấn quyền giáo hội cũng không đưa ra một phán quyết rõ ràng nào về vấn đề này. Tóm lại, vấn đề này vẫn còn trong vòng tranh luận. 

Theo thiển ý cá nhân chúng tôi, nếu xét theo đúng nghĩa đức tin, hôn nhân giữa một tín hữu công giáo và người không phải Kitô hữu khó có thể được coi là một bí tích vì hai lý do sau đây. Lý do thứ nhất có tính cách giáo luật. Nếu hôn nhân đó có giá trị như một bí tích thực thụ thì điều đó sẽ đặt lại vấn đề về chính ý nghĩa của việc giáo hội phải ban phép chuẩn. Nghĩa là, nếu đó là một bí tích thì chẳng phải nại đến sự chuẩn chước của Giáo hội như một đặc ân. Còn nếu Giáo hội phải đặc biệt ban phép chuẩn thì hôn phối ấy phải là trường hợp ngoại thường, không phải là bí tích theo nghĩa thông thường.

Lý do thứ hai có tích cách thần học. Theo giáo huấn của tông đồ Phaolô trong thánh thơ gửi giáo đoàn Êphêsô (chương 5, câu 32), hôn nhân giữa hai Kitô hữu là một mầu nhiệm lớn vì nó phản ảnh và làm chứng cho tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chính do chức năng này mà nó mang ý nghĩa bí tích, và thật sự là một trong 7 Bí tích. Nhưng làm sao ý nghĩa này trọn vẹn được khi mà một trong hai người phối ngẫu không phải là tín hữu kitô. Vì một người ngoài kitô giáo không thể thi hành vai trò biểu tượng để phản ảnh mầu nhiệm Chúa Kitô. Họ cũng không bị lương tâm ràng buộc để thi hành vai trò ấy cách chính quy. Như vậy, chức năng chứng từ của hôn nhân này khiếm khuyết. Do đó, ý nghĩa bí tích của nó cũng thiếu vắng.

Phải nói thêm rằng, đây là ta đang bàn đến hôn nhân giữa một Kitô hữu và một người không phải Kitô hữu. Còn hôn nhân giữa hai người đều chưa biết Chúa (và dĩ nhiên, không bị ràng buộc bởi luật bí tích, mà chỉ bị ràng buộc bởi luật tự nhiên) thì vẫn được hiểu là một bí tích : Bí tích tự nhiên (natural sacrament). Đối với giáo hội công giáo, bí tích tự nhiên vẫn có giá trị (vì nó phản ảnh lòng thành tâm của hai người phối ngẫu). Nó vẫn có tác động ràng buộc (vì được thực hiện với lương tâm trách nhiệm của hai người).

* Vậy thì làm sao việc kết hôn giữa người công giáo và người ngoài Kitô giáo có thể đón nhận trợ giúp của Thiên chúa ? 

Theo giáo lý, chúng ta biết rằng mỗi bí tích đều nhằm ban cho ta Ơn sủng đặc biệt. Ơn ấy, ta chắc chắn được lãnh nhận qua việc cử hành nghi thức bí tích. Vì thế, người kitô hữu xác tín về niềm tin của mình sẽ mong ước cử hành hôn phối có bí tích, để biết chắc được lãnh nhận ơn sủng đặc biệt của bí tích này. Tuy nhiên, ta cũng không nên quên rằng Thiên Chúa khôn ngoan và tự do tuyệt đối. Mặc dầu thiết lập các bí tích thánh để ban ơn cho ta, Ngài cũng không để tình thương Ngài bị giới hạn trong các nghi thức. Ngài có thể ban ơn cho bất cứ hoàn cảnh nào, bằng bất cứ phương thức nào. ‘Thánh thần thổi đâu Ngài muốn’ (Jn. 3:18). Vậy điều thiết yếu là, trong mọi hoàn cảnh ta phải nỗ lực tiếp nhận ơn Chúa ban ở mức độ và điều kiện có thể nhất, hầu thi hành bổn phận của mình cách trung tín, hiệu quả. Nói cách khác, nếu có thể được, cặp hôn phối nên có cùng một niềm tin để cử hành chính bí tích hôn phối, và lãnh nhận cách cụ thể ơn trợ giúp cho đời sống vợ chồng. Trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng mà phải cử hành hôn nhân khi còn khác đạo, đôi bạn cũng cứ khiêm tốn mở lòng cầu xin để, bằng một cách nào đó, Chúa ban những ơn trợ giúp cần thiết. 

Linh Mục Đa Minh Trần Quốc Bảo, DCCT
(http://www.trungtammucvudcct.com/)
38 Kỳ Đồng, P.9, Q.3, Sài gòn 

Ý KIẾN CỦA LINH MỤC JB VŨ XUÂN HẠNH
TỈNH DÒNG ĐỒNG CÔNG HOA KỲ

Trước hết, phải nói ngay rằng, lập gia đình với người ngoài Công giáo vẫn có những thuận lợi riêng của nó, nhất là về mặt truyền giáo. Nhưng trong phần này, chúng ta tạm bỏ qua những thuận lợi. Đứng trên quan điểm của một linh mục đang coi xứ, trong công tác mục vụ của mình, không ít lần phải giải quyết những vấn nạn, trong đó đa phần là vấn nạn về hôn nhân – gia đình, vì thế, tôi muốn trình bày một chút trăn trở của mình về một khía cạnh thường gặp phải: Hôn nhân khác đạo.

Có lẽ vấn đề tôn giáo, đặc biệt là hôn nhân khác đạo, là vấn đề khó khăn không chỉ đối với các bạn trẻ, các bậc phụ huynh, và những ai có liên quan, nhưng còn là vấn đề lớn mà các mục tử nhiều khi lúng túng, không biết phải giải quyết thế nào cho tốt đẹp nhất, có hậu nhất. 

Không phải tất cả những người ngoài Công giáo lấy người Công giáo đều sẵn sàng chấp nhận gia nhập đạo, để cùng sống một lý tưởng của đức tin Công giáo. Nếu theo lập trường của Hội Thánh, không giải quyết cho hôn nhân khác đạo, chính người linh mục cảm thấy đau buồn cho anh chị em giáo dân của mình vì phải sống “rối”. 

Lúc này việc chuẩn khác đạo được đặt ra, nhưng vẫn không là cách giải quyết tối ưu. Bởi phép chuẩn là nút dây thắt gút, buộc người Công giáo phải chung thủy một vợ, một chồng suốt đời, trong khi luật này lại không có hiệu lực trên người ngoài Công giáo. Cho phép chuẩn hôn nhân khác đạo, sẽ giải quyết được vấn đề hiệp thông trong Hội Thánh đối với người Công giáo, nhưng lại gây thiệt thòi cho chính họ nếu đời sống vợ chồng bị rạn nứt. Hơn nữa, lời hứa của bên Công giáo “quyết bảo vệ đức tin khỏi mọi nguy hiểm và xúc phạm” trước khi được chuẩn, không dễ gì có thể giữ một cách trọn vẹn. Bởi người ngoài Công giáo phải sống gần ta. Lúc nào họ vui cùng ta thì không sao, nhưng khi họ buồn vì ta, họ có thể xúc phạm đức tin của ta bất cứ lúc nào, ta không dễ gì kịp ngăn cản hành vi hay lời nói của họ xúc phạm đức tin của ta.

Hiện nay, có nhiều linh mục “thông cảm” với người Công giáo lấy người ngoài Công giáo bằng cách cho họ một năm xưng tội, rước lễ một lần cách kín đáo. Làm như vậy, linh mục đứng về phía người lập gia đình, nhưng chính linh mục lại càng mất bình an, vì đi ngược giáo huấn của Hội Thánh. Rồi ai sẽ chịu trách nhiệm về cuộc hôn nhân khi chính người linh mục dám vượt qua lề luật Hội Thánh? Trong trường hợp, linh mục vượt qua luật Hội Thánh, nếu hôn nhân của hai người phối ngẫu không có vấn đề gì thì thôi, nhưng nếu “cơm không lành, canh không ngọt”, thì người linh mục càng mất bình an, càng giày vò lương tâm, vì cho dù không minh nhiên, nhưng cách mặc nhiên, linh mục đã cho phép họ lấy nhau qua nghĩa cử “thông cảm” của mình. 

Ngay cả khi bên không Công giáo chấp nhận gia nhập đạo đi nữa, thì đó cũng chưa phải là cách an toàn nhất để bảo vệ đức tin Công giáo. Bởi bên cạnh nhiều người có lòng tin chân thành, cũng sẽ có rất nhiều người theo đạo chỉ để được thành hôn với người mình yêu mà thôi. 

Thông thường, số đôi hôn phối không cùng tôn giáo, tỷ lệ hạnh phúc còn thấp (nhất là đối với người vợ là người Công giáo. Nói như thế, chúng ta không loại trừ nhiều trường hợp hôn nhân khác đạo vẫn có hạnh phúc, trong khi một số hôn nhân cùng đức tin Công giáo lại mất hạnh phúc), trừ trường hợp người Công giáo sống tình trạng mà dư luận cách chung gọi là “bỏ đạo”, để đẹp lòng chồng hay vợ của mình. Nhưng ngay cả khi người ta “bỏ đạo”, theo chồng hay vợ mình, thì sâu thẳm trong lương tâm, người bị coi là “bỏ đạo” vẫn mất bình an, vẫn bị nỗi buồn và sự tủi thân gặm nhấm suốt đời. Một người sống trong gia đình, bên cạnh chồng hoặc vợ con của mình mà suốt đời mang mặc cảm tội lỗi, suốt đời bị lương tâm cấu xé, làm sao mang lại hạnh phúc lớn nhất có thể cho gia đình, cho chồng, cho vợ, cho con cháu mình? 

Còn trường hợp linh mục dứt khoát không cho họ lấy nhau, hoặc họ đã lấy nhau, linh mục thực hiện đúng theo luật Hội Thánh đối với người “rối”, chắc chắn đôi hôn phối sẽ bất mãn với Hội Thánh, người bên ngoài Công giáo càng không có cái nhìn đúng về linh mục nói riêng, Hội Thánh nói chung. 

Vân vân và vân vân… Vô số những góc cạnh đặt ra đối với hôn nhân khác đạo và đối với chính các mục tử. Vì thế, đây là vấn đề không những không đơn giản, mà còn nan giải của thời nay, khi mà giới trẻ thoát ly gia đình quá sớm, va chạm với thế giới bên ngoài quá nhiều, tiếp cận quá dễ dàng mọi hình thức hoặc mọi phương tiện thông tin và hưởng thụ… Và hình như lấy chồng, lấy vợ ngoại đạo là trào lưu mới? Có khi một đôi bạn sống cạnh nhà nhau, cùng là Công giáo, thương nhau tưởng chừng không thể xa nhau được, đùng một cái, anh thanh niên bỏ đi lấy một cô vợ ngoại giáo tận đâu đâu đem về, chính cô người yêu cũ của anh thanh niên còn không hiểu nổi tại sao “anh ta chê mình”.

Cách nay chưa lâu, tôi nhận được từ người chịu trách nhiệm của một website lá thư của một bạn trẻ xin giúp ý kiến cho trường hợp của bản thân về vấn đề hôn nhân với người khác đạo. Chính lá thư này gợi hứng cho tôi nội dung của bài viết này. Tuy nhiên, với một bài viết đơn sơ thế này, chưa phải là câu trả lời hoàn hảo. Một mặt, với nội dung bài viết, có người đồng ý, và cùng chia sẻ; nhưng chắc chắn cũng sẽ có người không thể chia sẻ với quan điểm của tôi. Nhưng tôi tin rằng, nó vẫn có lợi cách này, cách khác cho người cần đến nó. Nghĩ như thế mà tôi đã viết.

Mặt khác, liên quan đến hôn nhân khác đạo còn có nhiều điều khác đặt ra như: Theo đạo là theo ai? Hội Thánh nói gì về việc chuẩn khác đạo? Có nên ban phép chuẩn khác đạo cách quá dễ dàng, nhanh chóng? Chuẩn khác đạo sẽ xảy ra mặt lợi, mặt hại nào? Theo đạo có phải là bỏ cha mẹ như nhiều người thường nghĩ?… Tất cả những lý do trên, khiến tôi không muốn đưa ra câu trả lời dứt khoát, mang tính áp đặt: được phép hay không được phép thành hôn với người ngoài Công giáo. Chỉ xin ghi chép một vài gợi ý từ suy nghĩ của bản thân, để người trong cuộc tự do tìm câu trả lời cho mình: Có nên lấy người ngoài Công giáo hay không?!!

Lm. JB Vũ Xuân Hạnh
Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave – Carthage, MO 64836
(http://www.dongcong.net/)
 

THƯ TRẢ LỜI CỦA LINH MỤC PHI QUANG 
VỀ ĐÁM CƯỚI KHÔNG TỔ CHỨC TẠI NHÀ THỜ 
HAY TẠI CHÙA MÀ Ở CÔNG VIÊN

Con thấy có một trường hợp trong họ hàng con và có những ý nghĩ của một số các bạn trẻ tại hải ngọai tương tự: cháu con( trai) là công giáo,lấy cô vợ không công giáo,chỉ làm hôn thú đời( judge) vì cô vợ không chịu học kinh,hay theo đạo công giáo, bố mẹ phía trai không chịu và muốn hai bên làm lễ cưới tại nhà thờ,và bố mẹ bên gái không muốn con mình học đạo công giáo, hay làm lễ nghi gì của công gíao,hai cô cậu tổ chức ăn mừng tại park vì nghĩ rằng như thế là fair cho hai bên, không vô chùa, không vô nhà thờ… con cái sau này để tự chúng quyết định theo đạo nào tuỳ chúng . họ hàng và bố mẹ phía trai không ai đi dự “đám” tại park, chỉ trừ vài em và 1 người chị,còn phía gái thì có bố mẹ ,và anh em thôi còn họ hàng họ cũng không đi vì không có lễ nghi phật giáo…đôi lần con có cắt nghĩa , phải trái ,nhưng cái cháu nói là quen nhau gần chục năm,có ngỏ lời cùng bố mẹ ,nhưng bố mẹ không chịu. cha nghĩ thế nào về trường hợp này, có cách nào giúp các cháu được không ? Các cháu sống với nhau như vậy thì lỗi phép công giáo như thế nào…

Lưu Chủ 
Ông Lưu Chủ thân mến, về trường hợp của đôi bạn trẻ đây là một trong nhiều trường hợp đáng tiếc tương tự đã xẩy ra do những ngộ nhận, hoặc thiếu sự hướng dẫn tường tận của các người có trách nhiệm. 

Theo luật của Giáo Hội thì bất cứ cuộc hôn nhân nào dù chỉ có một bên Công Giáo thì cũng phải tuân hành theo Giáo Luật về hôn nhân. Trường hợp của hai cháu nói đây là trường hợp hôn nhân dị giáo hay khác đạo. Người Công Giáo không được phép lấy người ngoài Công giáo không chịu phép Rửa tội. Tuy nhiên, nếu nhất định đi tới hôn nhân thì họ phải xin phép chuẩn (nơi tòa Giám Mục). Nếu không có phép chuẩn thì phép hôn phối bất thành. Để được phép chuẩn phải hội đủ các điều kiện sau đây:

Bên Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công giáo; 

Phải kịp thời thông báo cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết,để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo; 

Cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ (xem Giáo Luật các số 1086, 1125, 1126). 

Khi đã có phép chuẩn thì cũng có thể làm phép cưới trong nhà thờ hay tại một nơi khác thích hợp (xem Giáo Luật số 1118 §3). Các bạn trẻ đó nên gặp Cha Sở để ngài có thể hướng dẫn giải quyết vấn đề tế nhị này.

Linh Mục Phi Quang
Dòng Đức Mẹ đồng Công
(http://www.tinmung.net)

 

HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI KHÁC TÔN GIÁO
Nhóm PVHNGĐ 
(Nhà thờ Chính Tòa Sàigòn)

I.  Giáo Hội có cho phép hôn nhân khác đạo không ?

1.  Bối cảnh xã hội hiện nay: cả nam lẫn nữ đều giao tiếp cởi mở và rộng rãi hơn: đi làm, hoạt động xã hội… Tình yêu nẩy nở không phân biệt tôn giáo. Tôn giáo không ngăn cách được tình yêu. Tại Á Châu, Kitô giáo chỉ chiếm 3,2% (riêng Công giáo được 2,4%). Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiều hơn chút ít (khoảng 5%). Tỷ lệ quen biết là: cứ quen 10 người thì chỉ có 1 người là Kitô hữu. Do đó, nên coi việc hôn nhân khác đạo là chuyện bình thường, là một nhu cầu nhân bản. Vấn đề là phải hành xử sao cho thích hợp cả đôi bên. 

2.  Vấn đề này được đặt ra từ thời Giáo Hội nguyên thủy, được Phaolô coi là bình thưòng và chấp nhận dễ dàng với hy vọng: «… Chồng ngoại đạo được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hóa nhờ chồng có đạo… Thiên Chúa kêu gọi anh chị sống hòa thuận với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ» (1 Cr 7,12-16).

3. Trưóc đây, Giáo Hội rất khắt khe trong vấn đề này coi như một ngăn trở cấm hôn (tạp giáo) hay tiêu hôn (dị giáo) là vì có sự kiện: lấy chồng / vợ ngoại giáo thì dễ bị mất đức tin và cuộc sống chung khó hạnh phúc, dễ bị đổ vỡ. Lý do: bảo vệ đức tin, và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nhưng ngày nay não trạng và văn hóa con ngưòi đã đổi khác (tôn trọng phẩm giá, hiểu biết tôn giáo của nhau, có sự trưởng thành trong hôn nhân… nhiều hơn), nguy cơ trên đã giảm bớt, nên Giáo Hội đã đưa ra những luật lệ rộng rãi hơn. 

4.  Quan niệm thần học của GH về các tôn giáo đã thay đổi nhiều: Các tôn giáo không còn bị coi là tà giáo, mà là những môi trường cứu độ của Thiên Chúa. Theo CĐ Vatican II, những người trong các tôn giáo khác vẫn có thể được cứu độ nhờ sống theo truyền thống tôn giáo của họ. Tuy nhiên, theo đức tin Công giáo, thì Kitô giáo, nhất là Công giáo, vẫn là tôn giáo chính thống, là phương tiện bảo đảm nhất để được cứu độ (bảo đảm nhất chứ không phải là bảo đảm duy nhất). 

5.  Ngày nay, trên nguyên tắc, hôn nhân khác đạo không còn bị cấm hay bị coi là «húy kỵ» như ít lâu nay: chính Đức Phaolô VI đã ra tông huấn để phép chuẩn được chấp nhận dễ dàng hơn: người công giáo có thể lấy người ngoại một cách thành sự và hợp pháp. Tuy nhiên, tại VN, sự dễ dàng này chưa được áp dụng rộng rãi: những người lớn tuổi thường vẫn bảo vệ quan niệm cũ (cũng như trong nhiều chuyện khác, việc áp dụng thường bị chậm trễ hơn Giáo Hội toàn cầu: như thờ cúng tổ tiên, rước lễ trên tay, hội nhập văn hóa… ). 

6.  Việc kết hôn với người khác đạo dẫu sao cũng là chuyện không được khuyến khích, kết hôn với người cùng đạo vẫn hay hơn, dễ có hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, nếu vì hôn nhân mà làm cho người bạn mình tin và sống theo Chúa Kitô, thì cuộc hôn nhân đó có thể được khích lệ xét về mặt truyền giáo. Vì thế, nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta nên dùng chính cơ hội này để giúp cho người mình yêu tin và sống theo Chúa Kitô, gia nhập Giáo Hội Ngài. Đó là việc tốt đẹp nhất mình có thể làm được cho người mình yêu. Quan niệm Phúc âm hóa mới đặt trọng tâm làm ngưòi ta sống theo tinh thần Chúa Kitô hơn là nhắm làm cho người ta theo đạo mình (nhiều khi theo đạo mà không sống đạo). 

II.  Làm sao thuyết phục người bạn mình theo Chúa Kitô ?

1.  Phải khôn ngoan và tế nhị, tránh xúc phạm tới tôn giáo của họ, trái lại nên tỏ ra tôn trọng niềm tin của họ, đề cao những mặt mạnh của tôn giáo họ và nhấn mạnh những điểm tương đồng. Đồng thời nên cho thấy sự cần thiết của Kitô giáo trong việc cứu độ bản thân và xã hội. Tránh tranh luận hơn thua về tôn giáo. Các bậc cha mẹ nên tránh những phản ứng biểu lộ sự bất bình hay bất đồng ý về cuộc hôn nhân trước mặt người kia. Phải tạo cho người khác đạo ấn tượng tốt về đạo của mình. 

2.  Áp dụng câu «nhập gia tùy tục» để khuyến khích họ theo đạo, đồng thời cho thấy ý thức của người Kitô hữu về sự tối cần thiết của phần rỗi, khiến họ không thể từ bỏ niềm tin của mình (nhưng cũng không ép buộc người kia phải theo tôn giáo mình: theo Chúa Kitô phải tự nguyện theo, không thể ép buộc). 

3.  Phải chấp nhận tính cách tương đối trong động cơ ban đầu thúc đẩy họ theo đạo: có thể theo đạo chỉ để lấy vợ/chồng, chỉ để «nhập gia tùy tục», chứ không phải là do tin hay do được cảm hóa thực sự. Nhưng ít ra là họ có nhiều cơ hội để được cảm hóa, và các thế hệ con cháu của cặp vợ chồng ấy sẽ là Kitô hữu, được giáo dục theo truyền thống Giáo Hội. Việc cảm hóa là bổn phận phải làm sau. 

4.  Điều quan trọng tiếp theo là việc âm thầm cảm hóa bằng những gương sáng, bằng sự cầu nguyện hy sinh, bằng một đời sống Kitô hữu tốt đẹp trong bậc vợ chồng: «… dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở cung kính của chị em» (1 Pr 3,1-2). Do đó, phía bên công giáo phải cố gắng và hy sinh gấp đôi những phối ngẫu công giáo khác (về mặt giáo lý cũng như mặt sống đạo trong gia đình)

5.Vấn đề thờ cúng tổ tiên: Sống đạo Kitô giáo không có nghĩa là bỏ ông bà tổ tiên, Giáo Hội đã cho phép lập bàn thờ để kính nhớ ông bà tổ tiên: Tông huấn Plane Compertum (8.12.1939) của Đức Piô XII; Ngày 20.10.1964, Thánh bộ Truyền giáo một lần nữa cho phép các tín hữu VN áp dụng tông huấn trên; Thông cáo chính thức của HĐGMVN cho phép ngày 14.6.1965 và được 7 GM lập lại ngày 14.11.1974. Giáo Hội luôn khuyến khích thảo kính cha mẹ khi các ngài còn sống, cũng như khi đã chết: năng tưởng nhớ, cầu nguyện, dâng lễ, xin lễ, là những điều có ích lợi thiết thực cho người chết… 

III.  Phép chuẩn

A.  Nguyên tắc: 

Năm 1970, Đức Phaolô VI với tông thư Matrimonia Mixta (Hôn nhân hỗn hợp) đề ra những điều kiện dễ dàng hơn trong phép chuẩn, cho phép người Công giáo kết hôn với người ngoài Công giáo, một cách thành sự và hợp pháp, với các điều kiện: 

1.  Phía bên Công giáo phải tuyên bố sẵn sàng tránh những nguy hiểm mất đức tin, và thành thật hứa (buộc nhặt) sẽ hết sức lo liệu để con cái đã hay sẽ sinh ra được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công Giáo (miễn là hết sức, dù không thành công, nhưng vẫn phải tôn trọng sự hòa hợp và hạnh phúc gia đình mình)

2.  Phải cho phía bên không Công giáo hiểu rõ những điều bên phía Công giáo phải cam kết, để người ấy ý thức người bạn mình phải cam kết những gì và buộc phải làm những gì. 

3.  Phải cho cả hai bên biết các mục đích và hai đặc tính căn bản của hôn nhân (đơn hôn và vĩnh hôn) mà không bên nào được loại bỏ một đặc tính nào. Ngoài ra, cần dạy giáo lý cho bên Công giáo thật kỹ càng, giúp người ấy sống Đức Tin vững vàng, ý thức nhiệm vụ của mình, làm gương tốt… để nhờ đó người ấy sẽ cảm hóa, tạo niềm tin công giáo cho người bạn kia. 

B.  Hình thức pháp lý: 

1.  Bình thường, hôn phối của 2 người Công giáo (dù là tái kết hôn vì góa) phải được cử hành theo hình thức pháp lý thông thường, kèm theo hình thức phụng vụ, trong thánh lễ (hoặc ngoài thánh lễ khi có lý do chính đáng). 

2.  Hôn phối giữa một người Công giáo và một người không Công giáo (có phép chuẩn) cũng phải được cử hành theo hình thức pháp lý thông thường. Nhưng khi có lý do quan trọng thì Đấng Bản Quyền có quyền chuẩn, miễn là giữ được tính cách công khai cho tòa ngoài (TT Matrimonia Mixta). 

C.  Nghi thức phụng vụ: 

 1.  Nếu bên kia là người Kitô giáo không Công giáo, thì cử hành theo nghi thức ngoài thánh lễ, nhưng khi Đấng Bản Quyền đồng ý, thì được cử hành trong thánh lễ. Tuy nhiên, người không Công giáo không được rước lễ. 

 2.  Nếu người kia là lương (chưa rửa tội) thì theo nghi thức riêng (xem trong Sách Lễ Mùa Vọng, trang 354-356). Khi cử hành hôn phối khác đạo (có phép chuẩn), nếu có lý do chính đáng, có thể bỏ hình thức phụng vụ. 

IV. Phép giao

1.  Là một biện pháp kỷ luật thời xưa của Giáo Hội (nay đã bỏ), chỉ áp dụng theo tập tục tại Việt Nam, nhất là trong các giáo phận Đàng Ngoài, cho những đôi hôn phối ít xứng đáng vì đã làm gương xấu (như đã công khai sống chung với nhau, đã «mang bầu» rõ ràng trước khi kết hôn theo tôn giáo… )

 2.  Trong phép giao, nghi lễ hôn phối được cử hành theo hình thức pháp lý không kèm theo phụng vụ, nghĩa là cử hành ngoài thánh lễ một cách khiêm tốn âm thầm, không long trọng, không rầm rộ.
(http://www.maranatha-vietnam.net/)

NGOẠI ĐẠO CÓ PHẢI THEO LỚP 
DỰ BỊ HÔN NHÂN KHÔNG

Thưa Linh Mục Bùi đức Tiến, 

Trước hết, tôi xin thưa với Linh Mục, tôi không phải là người theo đạo Công Giáo, tôi cũng chưa bao giờ có ý định viết thư đến một Linh Mục đạo Công Giáo, chẳng qua vì người hôn thê của tôi thúc bách trong hoàn cảnh hôn phối của chúng tôi nên cuối cùng tôi quyết định viết thư đến Linh Mục.Thưa Linh Mục, tôi không đồng ý trong cách thế đạo Công Giáo Việt Nam sửa soạn cho những người muốn kết hôn (đạo Công Giáo Úc không lẩm cẩm như thế), thí dụ như phải học đạo lý hôn nhân trong vòng nhiều tháng liên tiếp. Tôi không phải là người trong đạo, tại sao lại cưỡng ép tôi theo học đạo? (tôi không có ý định gia nhập đạo Công Giáo). Dù không muốn tôi vẫn phải theo vì đám cưới của tôi (tôi kết hôn với một người Công Giáo) và vì nếu tôi không theo lớp học đạo, ông Linh Mục không chịu làm đám cưới cho chúng tôi. Thưa Linh Mục, tôi cũng không đồng ý trong cách xưng hô khi gặp một Linh Mục công Giáo, tôi không phải là người trong đạo tại sao lại bắt tôi gọi là cha xưng là con. Gọi một người ngang hàng tuổi tác với mình là cha và xưng là con tôi cảm thấy bị “đàn áp” về phương diện xã giao và không ổn trong cách xử thế. 

Thưa Linh Mục, còn nhiều điều khác nữa tôi chưa tiện trình bày trong lá thư thứ nhất này, xin Linh Mục giải đáp, giải tỏa những thắc mắc trên và nếu có thể xin Linh Mục cho biết tôi có thể làm lễ cưới trong nhà thờ mà không theo học lớp đạo lý hôn nhân không? và tôi có thể xưng họ đơn giản hơn khi tiếp xúc với các Linh Mục công Giáo không? 

Thư này được viết do ý của người hôn thê của tôi, theo tôi thấy cô ấy rất mến phục Linh Mục trong cách sống, cách cư xử và đặc biệt phần kiến thức của Linh Mục. 

Xin cám ơn Linh Mục. 

TVN, Resevoir, Victoria
Thưa anh TVN, 

Tôi tin rằng sau khi viết và gửi lá thư này cho tôi, anh cảm thấy thoải mái nhiều so với thời gian trước đó. 

Đọc thư anh, tôi có cảm tưởng rằng hình như anh có một chút “hằn học” với đạo Công Giáo chăng? Tôi có cảm tưởng như thế có thể là vì cách dùng chữ của anh. Thí dụ như, “Tôi không đồng ý… Tôi cũng không đồng ý… Còn những điều khác nữa…”. Thật ra, điều này cũng dễ thông cảm vì người Việt Nam càng sống ở Úc lâu ngày, phần tiếng Việt càng nghèo nàn đi! Nhưng cũng có thể anh “hằn học” thật sự và các từ ngữ đã được dùng một cách chính xác. Trong thư, anh muốn tôi giải đáp, giải tỏa những “không đồng ý” của anh. Thú thật, tôi không đủ khả năng để làm việc này, vì tôi chắc chắn một điều, đó là, trước khi “cưỡng ép” anh học “đạo lý hôn phối” vị Linh Mục nào đó cũng đã một phần giải thích cho anh lý do tại sao anh nên theo lớp “đạo lý hôn phối” này. Có lẽ để đáp lại tấm thịnh tình của anh đã viết cho tôi do ý của người hôn thê của anh, tôi xin chia sẻ với anh một vài ý tưởng thô thiển sau đây. Còn việc đồng ý hay không là do chính anh, sợ rằng tôi không giúp được. 

Việc chuẩn bị hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo: Điều luật 1058 của Giáo Hội Công Giáo qui định rằng: “Hôn phối của các người Công Giáo, cho dù chỉ một bên là người Công Giáo bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa (Divine Law hay Natural Law ), mà còn bởi luật của Giáo Hội nữa”. Luật của Giáo Hội điều 1063 qui định thêm rằng: “Các chủ chăn có bổn phận lo liệu chuẩn bị cho những vị thành niên, thanh niên thanh nữ và ngay cả người lớn trong việc chuẩn bị tiến tới hôn nhân bằng việc rao giảng, huấn luyện Giáo lý thích hợp…ngõ hầu các tín hữu được Giáo dục về ý nghĩa của hôn nhân Kitô Giáo và về nghĩa vụ của vợ chồng và của cha mẹ Công Giáo”. 

Khi áp dụng việc chuẩn bị này vào thực tế, các Linh Mục tổ chức những khóa Dự bị hôn nhân và khuyến khích những người sắp kết hôn tham dự. Trong những hoàn cảnh xã hội với nhiều nguy cơ tan vỡ gia đình, các Linh Mục tùy theo nhận xét khôn ngoan của mình, có thể bắt buộc tất cả hay một số người nào đó phải tham dự nếu muốn kết lập gia đình. Trong hoàn cảnh của người Việt Nam hiện tại trên đất Úc, đang phải hội nhập vào một xã hội mới với nhiều khác biệt về phong tục, tập quán, nhiều tập tục, truyền thống tốt lành của dân tộc đang trên đường mai một, trong số đó phải kể đến các nguy cơ đang đe dọa sự vững bền của đời sống gia đình. 

Các Linh Mục Việt Nam đang sống tại Úc vì thế, vì lợi ích của các tín hữu, có thể cân nhắc, đắn đo nhiều hơn khi đối diện với những người đang chuẩn bị hôn phối. Cũng nên nhớ một điều là việc cân nhắc đắn đo này đem lại lợi ích cho đôi hôn nhân chứ không đem lại lợi ích cho chính vị Linh Mục ấy. 

Trong trường hợp của anh, tôi nghĩ anh nên tìm hiểu và chuẩn bị “đồng ý” đi là vừa. Không phải chỉ về vấn đề tôn Giáo mà còn cả những khía cạnh khác nữa, từ người hôn thê của anh, vì dù muốn dù không khi anh đã quyết định lập gia đình với người ấy là anh phải chấp nhận việc sống chung với một người theo đạo Công Giáo suốt đời anh. Làm sao anh có thể tạo được hạnh phúc gia đình khi hai người lúc nào cũng không đồng ý với nhau được, ngay cả việc không đồng ý về lãnh vực tôn giáo. 

Vấn đề xưng hô với các Linh Mục công Giáo: Về vấn đề này, thú thật với anh, tôi cũng khổ tâm không ít và tôi nghĩ các Linh Mục khác chắc cũng vậy. Đó là trong nhiều trường hợp tôi cảm thấy khổ tâm khi một người đáng tuổi cha chú mình xưng họ với mình là con…Tự cảm thấy xấu hổ vì mình không xứng đáng, không tốt lành đủ để nhận sự chúc tụng đáng kính ấy. Nhưng biết sao được, sự việc đã có trong Giáo Hội Việt Nam bốn, năm trăm năm nay rồi. Theo lý luận kiểu “lô gích móc xích”, thì nếu mình không chấp nhận tập tục của một xã hội là mình bị đào thải khỏi xã hội ấy; Trong một xã hội có mười người chẳng hạn, một vấn đề thực sự khó chấp nhận, nhưng nếu chín người họ chấp nhận, chỉ còn một mình mình thì mình chơi với ai? 

Riêng về phần anh, anh cứ việc xưng hô với các linh mục theo ý anh. Danh từ nào anh cảm thấy thoải mái, hợp với xã giao và ổn thỏa thì anh cứ việc dùng. Một Linh mục có được người gọi là anh, là chú, là cậu chắc cũng vui thôi, còn về việc anh không theo lớp chuẩn bị hôn nhân mà vẫn muốn làm lễ cưới trong nhà thờ cũng có thể được, nếu anh tìm được một anh hay một chú Linh mục nào đó đồng ý giúp anh. 

Cuối cùng, nếu anh mua tờ báo có mục giải đáp này, anh đừng đưa cho người hôn thê anh đọc, sợ rằng cô ấy sẽ hết “mến phục” tôi mất. Chúc anh vui. 

Linh Mục Joseph Bùi-Đức-Tiến
Our Lady of Perpetual Help Church
14 Bedford Road, Ringwood 3134
AUSTRALIA
 

HƯỚNG GIẢI QUYẾT CỦA PHẬT GIÁO

Thiền sư Nhất Hạnh cho rằng: 

một người có thể rất hạnh phúc khi có hai gốc rễ, một gốc rễ Cơ đốc giáo và một gốc rễ Phật Giáo. Hai cái đó không nhất thiết phải loại trừ nhau. Tại vì mình hẹp hòi cho nên mình mới thấy hai cái khác nhau chống đối nhau. Nhưng nếu mình vượt lên, thấy được hai truyền thống có thể bổ túc cho nhau thì mình sẻ có một thái độ cởi mở hơn”. 

Và Thầy đã đề nghị: 

khi hai thanh niên yêu nhau, một người thuộc về Cơ đốc giáo, một người thuộc về Phật Giáo thì cả hai gia đình nên cho họ cưới nhau với điều kiện hai bên công nhận truyền thống của người bên kia và nếu người con trai là Cơ Đốc Giáo và người con gái là Phật Giáo thì người con gái phải học thêm Cơ Đốc Giáo và người con trai phải học thêm Phật Giáo. Và đến ngày chủ nhật thì hai người cùng đi nhà thờ, đến ngày mồng một và ngày rằm thì hai người cùng đi Chùa”. (hết lời trích). 

hai bên giáo hội Công giáo và Phật giáo phải có những văn bản rõ rệt về vấn đề hôn nhân dị giáo này. Nếu tôi là pháp chủ Phật giáo Việt Nam thì tôi sẽ cho phép những người con trai hay con gái Phật giáo lấy những người con trai hay con gái Công giáo và hai người  được học truyền thống của nhau, hai người cùng đi nhà thờ một lần, hai người cùng đi chùa một lần, hai người cùng được rửa tội một lần và hai người đều được quy y..”.  (hết lời trích). 

Ý KIẾN CỦA HOÀ THƯỢNG THÍCH NHƯ ĐIỂN 
(ĐỨC QUỐC)

Ðối với Ðạo Phật, Ðức Phật quan niệm rằng: “Không có sự phân biệt Tôn giáo và giai cấp, khi trong máu người cùng đỏ và nước mắt người cùng mặn“. Lời dạy ấy chứng tỏ rằng: Ðối với Ngài hay đối với Ðạo của Ngài – Ngài không phân biệt ai cả. Ai tin thì theo Phật, ai không tin Ngài cũng không sao. Câu nói ấy cũng chứng tỏ rằng: Ngoài Ðạo Phật, Ngài còn công nhận nhiều Ðạo khác nữa. Trong khi đó những Ðạo khác có tính cách cực đoan hơn, chỉ biết công nhận Ðạo của mình, còn những ai không tin mình đều là Ngoại Ðạo cả. Từ đó mới phát sinh ra chuyện khó khăn giữa một chàng trai Phật Tử đã quy y Tam Bảo đi yêu một cô gái theo đạo Thiên Chúa. 

Cuộc tình nào cũng đẹp nhưng cũng lắm đắng cay. Nếu chỉ có hai người không thì họ đã tự quyết định rồi; nhưng ngặt còn cha mẹ của hai bên và còn chuyện tương lai của con cái nữa. Có nhiều cuộc tình rất đẹp; nhưng đến ngày cưới lại tan vỡ, vì bên này không chấp nhận lễ nghi bên kia, hoặc bên kia không chấp nhận lễ nghi bên này. Thật ra thì Phật Tử chưa hiểu Ðạo vẫn có người cực đoan, mà con Chiên của Chúa cực đoan cũng không phải là ít.

Ðiều mà người Phật Tử phải nhớ là đã quy y Phật, Pháp, Tăng rồi thì dầu cho không gian và thời gian có thay đổi cũng không được quyền thay đổi Ðạo của mình. Ðổi Ðạo tức là đã phạm vào những giới mà mình đã phát nguyện lúc quy y Tam Bảo. Và Phật Giáo cũng không bắt buộc một người nào theo Ðạo của mình dưới bất cứ một hình thức nào cả. 

Một vị Tăng sĩ có thể đứng ra chủ lễ cho một đám cưới hai Ðạo khác nhau; nhưng chúng tôi đoan chắc rằng một vị Linh Mục Việt Nam không làm điều đó. Vì cho rằng chú rể hoặc cô dâu kia là người ngoại đạo. Nhưng đó chỉ là những vị Linh Mục Việt Nam bắt buộc như thế thôi, còn các Linh Mục Âu, Mỹ vẫn khuyên rằng đạo ai nấy giữ – nếu có đi chăng nữa là từ hồi xưa – lúc họ còn ít tín đồ- chứ bây giờ có lẽ vì bị sự chống đối của Tín hữu nên không thấy nói. 

Chúng tôi thấy Phật Tử của mình bị mất mát quá nhiều; vì một cậu Phật Tử đi lấy vợ theo Thiên Chúa hoặc một cô Phật Tử đi lấy chồng theo Thiên Chúa là sự đi chùa của cô hay cậu đó hoàn toàn trống vắng mà lâu nay quý Thầy không nói có lẽ còn nể tình, hoặc bảo rằng chuyện không đáng. Vì Phật Giáo không có chủ trương thâu nhận tín đồ cho lấy nhiều mà chỉ tự nơi tâm thôi. 

Nhiều Phật Tử có tâm đạo hay nói với chúng tôi rằng: “Nếu chỉ theo Ðạo Chúa để lấy được vợ thì sau khi lấy vợ xong con phải dẫn vợ về chùa, chứ không đi nhà thờ nữa”. Nhưng thông thường thì đàn ông theo đạo vợ hơi nhiều, chứ đàn bà ít theo đạo chồng – có lẽ niềm tin của các ông chồng còn yếu. 

Gần đây bên Giáo Hội Thiên Chúa có cho xuất bản bộ giáo luật mới có đề cập đến vấn đề hôn nhân giữa người khác Ðạo. Chúng tôi thấy rằng Giáo Hội Thiên Chúa giáo có cho tự do kết hôn giữa người khác Ðạo (nghĩa là Ðạo ai nấy giữ) nhưng đến đời con, cháu phải theo Ðạo Chúa. Chúng tôi nghĩ rằng đó cũng chỉ là tự do trong một giai đoạn ngắn thôi. Ðiều quan trọng là ở tương lai chứ hiện tại cũng không có gì đáng nói lắm. Chúng tôi thấy hơi lạ là bên Ðạo Thiên Chúa cứ bắt buộc người khác rửa tội mới được làm lễ nhà thờ. Trong khi đó Ðạo Phật thì không bắt buộc gì cả. Đạo ai nấy giữ. Nếu cứ tình trạng này thì con Chiên của Chúa cứ tăng dần mà Phật Tử càng ngày càng ít. Nên chúng tôi có một số ý kiến như sau : 

Việc viết lên bài này không nhằm đả kích giữa Tôn giáo này hay Tôn giáo khác mà chỉ nhằm mục đích nói rõ, nói thẳng cho người Phật Tử cũng như con Chiên của Chúa hiểu được Ðạo là gì  theo một Tôn giáo không phải là thay cái áo cũ mặc cái áo mới, mà theo một Tôn giáo là trọn đời của mình phải phục vụ cho một niềm tin cao thượng, giải thoát – chứ không phải theo một Tôn giáo để lấy vợ hoặc chồng rồi lại thôi không theo nữa. 

Chúng tôi thấy có nhiều gia đình sống không có hạnh phúc với nhau vì khác Ðạo. Nên chúng tôi khuyên những vị sắp lập gia đình nên tìm những người cùng Tôn giáo để kết hôn nhau vẫn hơn là khác Tôn giáo. Vì con cái của quý vị sẽ khổ sở, không biết nên theo Ðạo của cha hay Ðạo của mẹ. Người Phật Giáo luôn luôn quan niệm rằng Ðạo nào cũng tốt; nhưng cuối cùng người Phật Tử để bị đồng hóa trở thành con Chiên của Chúa hơn là con Chiên của Chúa trở thành Phật Tử. 

Chúng tôi cũng đề nghị với quý vị Linh Mục Việt Nam rằng: “Không nên bắt buộc những người Phật Tử phải bỏ Ðạo Phật để theo Ðạo Chúa. Vì điều đó Chúa cũng không dạy mà Phật cũng không muốn”. Chúng tôi chỉ trình bày sơ lược một số vấn để có liên quan về việc hôn nhân giữa người cùng Ðạo và khác Ðạo. Hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp tích cực của những bậc Tôn Túc, quý vị lãnh đạo tinh thần giữa Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo. (Thầy Thích Như Điển, Chùa Viên Giác-Đức Quốc) 
 

THƯ HỎI CỦA PHẬT TỬ 
VÀ TRẢ LỜI CỦA TỔ TƯ VẤN TẠP CHÍ GIÁC NGỘ (VIỆT NAM)

Con là một Phật tử thuần thành, gia đình con có truyền thống Phật giáo đều quy kính Tam bảo. Con thường xuyên đến chùa tụng kinh, học hỏi giáo lý. Vì hoàn cảnh riêng nên con phải lên thành phố học tập và làm việc. Trong thời gian này, con đã yêu một người con gái, cô ấy cũng rất thương con và chúng con có ý định tiến đến hôn nhân. Tiếc rằng, người yêu của con bắt buộc con phải theo tôn giáo của cô ấy và nói rằng đó là điều kiện để đi đến hôn nhân. Con không muốn mất cô ấy, khuyên cô ấy theo con thì con không có khả năng mà bỏ đạo thì con không thể.. 

TRẢ LỜI

Một trong những yếu tố cơ bản để cấu thành cuộc hôn nhân bền vững ngoài tình yêu là hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Trong hôn nhân, cố nhiên tình yêu vốn cực kỳ quan trọng song chỉ có tình yêu đơn thuần thì chưa đủ. Một tình yêu đúng nghĩa phải vượt lên tất cả những chướng ngại bằng bao dung, vị tha và đặc biệt là sự tôn trọng. 

Có thể các bạn thương nhau nhưng chưa thực sự đạt đến độ chín của tình yêu chân thật. Trở ngại lớn nhất giữa các bạn bây giờ là niềm tin tôn giáo mà tôn giáo và tín ngưỡng lại thuộc phạm trù thiêng liêng, vốn bất khả xâm phạm. Theo như tâm sự của bạn trong thư thì chính bản thân bạn cũng như người yêu của bạn cả hai đều có lập trường kiên định trong việc bảo vệ niềm tin của mình. 

Giữ vững niềm tin là điều tốt song éo le ở chỗ là tôn giáo hiện hữu trên đời để hướng thiện con người, giúp con người ngày một thăng hoa và tiến bộ trên phương diện đạo đức và tâm linh trong đó có vấn đề bảo vệ và xây dựng tình yêu chứ không phải làm chướng ngại, ngăn cách tình yêu. Vấn đề đặt ra ở đây là người yêu của bạn “thách cưới” bằng việc bắt buộc bạn phải từ bỏ tôn giáo của mình để theo tôn giáo của cô ấy. Nếu không thỏa mãn yêu cầu này thì hôn nhân chỉ là chuyện trong mơ. Chính yêu cầu này bộc lộ một điều rằng cô ấy quá ích kỷ, hẹp hòi; bảo vệ niềm tin một cách thiển cận, thiếu tôn trọng và yêu tôn giáo của mình hơn yêu bạn. 

Một khi lập trường hôn nhân của người yêu bạn nghiêng nặng về tôn giáo hơn là tình yêu đồng thời ra điều kiện cho bạn muốn đi đến hôn nhân với cô ấy thì  phải bỏ đạo, chính bạn cần phải sáng suốt cân nhắc và kiểm định lại quyết định hôn nhân của mình. Bởi lẽ, điều kiện trên đã cho thấy người yêu của bạn sẵn sàng hy sinh tình yêu để bảo vệ tôn giáo đồng thời lộ rõ sự thiếu tôn trọng, xúc phạm đến niềm tin tôn giáo thiêng liêng của bạn. 

Còn đối với bạn, dù yêu thương cô ấy và có dự định hôn nhân nhưng vẫn giữ vững lập trường kiên định về niềm tin tôn giáo của mình. Bạn đã có một quyết định đúng đắn và sáng suốt. Đạo Phật không chủ trương lợi dụng hôn nhân để quy nạp tín đồ đồng thời cũng không khắt khe đến độ cực đoan khi bắt buộc người chung sống với mình phải cải đạo. Người Phật tử, quy hướng đạo Phật xuất phát từ niềm tịnh tín, với ý thức tự giác và tự nguyện đồng thời rất tôn trọng tín ngưỡng và niềm tin của người khác. Do vậy, bạn cũng không cần người yêu của bạn từ bỏ tôn giáo của mình để theo bạn nếu không xuất phát từ tự giác và tự nguyện, nhưng đối với riêng bản thân bạn thì cần phải sáng suốt, không mù quáng và nhất là không đánh mất lòng tự trọng của người Phật tử, vốn dĩ cao quý và thiêng liêng. 

Đạo Phật là đạo giác ngộ, được làm người Phật tử là đã đặt chân lên thềm thang giác ngộ, đó là một trong những căn lành mà không phải bất kỳ ai cũng có được. Do vậy, nếu bạn không muốn trầm luân, đọa lạc trong đời này và đời sau thì phải giữ vững niềm tin của mình. Hôn nhân có thể đem lại cho bạn hạnh phúc trong một đời nhưng để đạt được hạnh phúc trước mắt vốn mong manh ấy mà phải thay đổi lý tưởng và niềm tin là một điều tệ hại nhất trong các điều tệ hại vì đánh mất chánh kiến nên chắc chắn bị đọa lạc ở những đời sau. 

Vẫn biết rằng nếu cùng một chí hướng và niềm tin thì rất tốt cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình song thực tế quan điểm của hai người hiện giờ thì điều ấy trở thành không thể. Giải pháp “đạo ai nấy giữ” dù còn nhiều giới hạn và trở ngại nhưng vẫn không có tính khả thi vì điều kiện bắt buộc để tiến tới hôn nhân của cô ấy là bạn phải bỏ đạo. Và đây cũng là tín hiệu rõ ràng nhất của vấn đề rằng chuyện tình yêu của các bạn còn một khoảng trống bất hòa khá lớn, chưa hội đủ các điều kiện cần và đủ cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Do vậy, nếu đi đến hôn nhân khi tình yêu cũng như quan điểm chưa đạt đến độ hòa hợp, chín muồi thì chắc chắn sẽ bất hạnh, đổ vỡ và chuốc lấy thất bại mà thôi. 

Người Phật tử luôn vận dụng trí tuệ để làm hành trang cho cuộc sống. Bạn phải luôn ý thức để quán niệm rằng hôn nhân (nếu may mắn) chỉ đem lại hạnh phúc một đời, còn Chánh pháp sẽ dẫn bước và soi đường cho bạn đạt đến hạnh phúc và an vui trong đời này và mãi mãi về sau. (Ban Tư Vấn TC. Gíac Ngộ) 
Cháu là một Phật tử thuần thành, áp dụng những lời Đức Phật dạy vào cuộc sống thực tiễn được nhiều lợi ích. Cháu đang làm việc cho một công ty nước ngoài và yêu thương một bạn gái theo đạo Thiên Chúa. Bạn này cũng như cháu rất ngoan đạo. Hơn một năm, tình cảm tụi cháu vẫn tiến triển tốt đẹp, bàn về tương lai xa chúng cháu đã thống nhất với nhau đạo ai nấy giữ. Nhiều người nói với cháu: “Hai đạo khó làm ăn, khó dạy con cháu, khó hạnh phúc…”. 

TRẢ LỜI : 

Đúng là trên thực tế có rất nhiều cặp vợ chồng đã không hạnh phúc chỉ vì họ theo hai đạo khác nhau. Tuy mỗi tôn giáo có một nền giáo lý khác nhau, mục đích tối hậu khác nhau nhưng vẫn có những điểm giống nhau trong quan niệm cuộc sống. Ví dụ như tôn giáo nào cũng khuyên tín đồ của mình nên siêng làm những việc lành và cố gắng lánh xa điều ác. Cho nên hai người khác đạo quyết định lấy nhau, họ đã tìm ra chỗ dung thông sau khi vượt qua biết bao cách trở: Đạo ai nấy giữ. 

Song, họ đã không hiểu hết lời tuyên thệ đó. Họ chỉ hiểu đơn giản khi lấy nhau rồi thì ai nấy cứ tiếp tục tín ngưỡng tôn giáo của mình, tự do cúng kiếng lễ bái hay những hình thức sinh hoạt khác mà một tín đồ cần phải thực hiện. Họ không hề nghĩ đến sự khác nhau giữa tư tưởng của hai tôn giáo là một trở ngại lớn. Càng là tín đồ thuần thành thì họ càng khó chấp nhận về quan niệm sống hay những điều chân lý của tôn giáo khác. Nếu như chân lý là một cái gì đó ở đằng xa, họ ít có dịp luận bàn đến thì những giáo lý áp dụng ngay trong đời sống hiện thực cũng không phải luôn luôn có điểm chung giữa hai tôn giáo. Vì ai cũng giữ cái “ngoan đạo” của mình mà không chấp nhận nhau rồi xảy ra việc tranh cãi và chê trích đạo của nhau là chuyện thường có. Nếu họ là những người hiểu biết, ôn hòa và nhường nhịn lẫn nhau thì với tình yêu sắt son cũng không khó xây dựng hạnh phúc gia đình. 

Song, đến khi có con lại là một vấn đề nan giải. Lời giao kết “đạo ai nấy giữ” thuở ban đầu ấy là dành cho vợ chồng, nhưng con của họ thì sao? Theo cha hay theo mẹ? Ai mộ đạo thì cũng muốn con mình theo đạo truyền thống của ông bà cha mẹ mình, phải tranh thủ hướng đạo cho con ngay từ nhỏ. Nếu cha mẹ khoáng đạt hơn thì lớn lên cho con tự quyền lựa chọn tôn giáo, nhưng nếu đứa con mặc dù đã đủ lớn khôn để nhận thức nên theo đạo nào lại ngặt nỗi sợ mất lòng cha hoặc mẹ thì càng rắc rối hơn. 

Đó là chưa nói đến hai họ, bên nội và ngoại, họ là những bức tường thành kiên cố khó mà vượt qua. Ngay từ khi cha mẹ chúng lấy nhau đã phải khổ sở lắm mới chinh phục được quan niệm “như đinh đóng cột” của nội ngoại, bởi những người theo đạo lâu năm họ cho rằng đó là một điều thương tổn đạo đức. Vì thương con mà họ đành ngậm ngùi chấp nhận, nhưng đến khi có cháu thì bất ngờ trong họ nảy sinh một sự chiếm hữu rất lớn, họ không thể “mất” thêm đứa cháu. Thật ra, tất cả cũng chỉ là quan niệm mà con người đã lỡ đặt ra và chấp chặt vào. Tôn giáo không hề có lỗi, bởi tôn giáo ra đời là để giáo dục con người hướng đến hạnh phúc trọn vẹn, chỉ tại con người bị bản ngã làm kẹt vào những quan niệm. Hai người khác đạo lấy nhau nếu muốn có hạnh phúc thì phải vượt lên những quan niệm đó. Còn chưa hiểu gì về tôn giáo của nhau, chưa tìm thấy được điểm chung để cố gắng hòa vào và điểm riêng để vượt ra khỏi thì nhất định sẽ rơi vào nghịch cảnh tan vỡ nếu vội vã lấy nhau. Không nên vì tình yêu quá độ mà lờ đi những hiểu biết về đạo của nhau. Phải thực sự hiểu giá trị đích thực của  cuộc sống là gì thì mới thấy được sự cần thiết của đạo, bằng không sẽ xem nó như một nỗi ám ảnh đọa đày. 

Giáo lý Đức Phật dạy chúng ta từ bi bình đẳng, độ lượng vị tha, nhu hòa nhẫn nhục… để thanh tịnh hóa nội tâm, chuyển hóa và trị liệu những tật bệnh phiền não chứ không hề khuyên chúng ta phải chết sống để bám giữ khư khư vào đạo mà không được phép tạm rời. Sống hình thức trong đạo mà không thực hành được những điều đạo đã dạy thì coi như hoàn toàn xa đạo, ngược lại không điều kiện để gần đạo hoặc có thể ở chung đạo khác mà vẫn sống tốt theo những gì đã được hấp thụ từ đạo của mình và còn tạo ảnh hưởng đến người đạo khác thì quả là một tín đồ thuần đạo, rất gần với đạo. Đó là lời răn nhắc của Đức Phật. Nhưng tư vấn đến đây, chúng tôi có ý định khuyên cháu khoan tiến xa hơn trong mối tình này, bởi chúng tôi vừa phát hiện ra cháu phát biểu nông nổi: “Chúa Jesus và Phật Thích Ca là một”. Dựa vào đâu là cháu dám nói càn như vậy? Cháu hiểu Phật Thích Ca là như thế nào và Chúa Jesus ra sao? Không nên vì muốn chuyện tình cảm của mình được trọn vẹn mà cẩu thả “sáp nhập” đại để tìm ra sự “dung hòa chân tình” trong tư tưởng của mình. Điều đó chứng tỏ rằng vì những lời cảnh báo của kẻ bàng quan và thấy người đi trước gặp thất bại nên cháu mới lo lắng băn khoăn chứ cháu chưa thật sự quan tâm đến vấn đề trở ngại của chính bản thân mình. Chúng tôi tán đồng quan điểm của cháu là cuộc sống là do bàn tay và khối óc của mình tạo nên, song sức mạnh của bàn tay thì có thể dễ dàng biết rõ chớ còn khối óc thì cần phải kiểm tra thật kỹ lại từng giây phút mới không lầm nhận về nó. Sự hiểu biết của con tim luôn nhạy cảm tìm sự thích nghi với hoàn cảnh và cũng bị tác động ít nhiều từ hoàn cảnh. Cháu không được phép chủ quan mà không chịu tìm ra chỗ gút của bài toán khó này thì về sau cháu sẽ hối tiếc vì không còn đủ sức để nhận diện nữa, lúc ấy chỉ còn biết đương đầu chấp nhận và thở dài mặc tùy số phận mà thôi. 
(Ban Tư Vấn TC. Gíac Ngộ) 
 

THƯ HỎI CỦA PHẬT TỬ 
VÀ TRẢ LỜI CỦA CÔ THUẦN NHÃ (HOA KỲ)

Em năm nay 20 tuổi, anh ấy 23, em quen anh ấy đã được 3 năm, tình cảm giữa em và anh ấy rất mặn mà, anh ấy đang học computer science, nhưng có một chuyện mà hai đứa em luôn đau khổ: em là người đạo Thiên Chúa, nhưng gia đình anh ấy theo đạo Phật, có nhiều lần anh đã muốn công khai chuyện tình cảm của hai đứa nhưng không dám vì gia đình của anh ấy không chấp nhận anh quen với người có đạo, bản thân anh cũng là con út trong gia đình, cho nên bây giờ hai đứa em quen nhau cứ phải lén lút, điều này làm em buồn lắm, gia đình em khó lắm, không chấp nhận em kết hôn với người ngoại đạo, thậm chí anh ấy đồng ý theo đạo mà ba em cũng còn không chấp nhận, chúng em không thể xa nhaụ 

Bây chúng em phải làm sao để hai gia đình chấp nhận, bản thân anh là người rất có trách nhiệm, là đứa con ngoan trong gia đình, anh ấy sẵn sàng theo đạo nếu gia đình chấp nhận, nhưng mãi mãi gia đình anh ấy không chấp nhận thì chúng em sẽ phải xa nhau mãi mãi ư, đời em đã thuộc về anh ấy, em không hề hối hận những điều em đã làm, nhưng em phải làm sao để gia đình cho anh ấy theo đạo, chẳng lẽ em cứ chờ đợi mòn mỏi hoài vậy, em và anh ấy yêu nhau là một cái tội ư, bây giờ em phải làm sao đâỷ Xin chi giúp em vớị 

TRẢ LỜI 

Phải nói thẳng một điều là cả hai gia đình, gia đình em và gia đình anh ấy của em, đều hẹp hòi, ích kỷ, không quan tâm đến hạnh phúc của con cái mà chỉ muốn chúng phải là những con cừu do mình chỉ huy, áp đặt, nếu chúng không làm đúng theo ý mình thì mặc kệ, cho chúng nó đau khổ. Họ không thèm quan tâm đến tình huống cặp tình nhân tre, quá yêu nhau, muốn sống chung với nhau nhưng phải lén lén lút lút, nếu người con gái có thai ngoài hôn nhân, rồi hậu quả sẽ ra sao, liệu mầm sống mới chưa kịp mở mắt chào đời kia có vì sự khắt khe của ông bà nội, ông bà ngoại mà đành trôi theo bàn tay nạo thai mà ngậm hờn dưới lòng cống không? 

Tuyệt đỉnh của tôn giáo là CHÂN THIỆN MỸ. Nhưng khi tôn giáo đã gom lại thành tổ chức thì đôi khi lại nẩy sinh ra những hạng người cuồng tín, làm những điều khiến cho tôn giáo của họ trở thành biến thể, đi xa cái chân thiện mỹ, mà trở thành một hình thức giống như là phe pháị Phe này muốn lấn lướt phe kia, tự cao về phe mình, không nghiên cứu giáo lý của tôn giáo khác để nhìn thấy được cái tuyệt đỉnh, cái CHÂN THIỆN MỸ mà giáo chủ của họ đã vì những điều đó mà hình thành tôn giáo của họ. Trái lại, cứ như con ếch ngồi dưới đáy giếng, nhìn lên thấy bầu trời nhỏ hơn cái chiếu, tưởng rằng chỉ có đạo của mình là hay nhất, không biết gì về các đạo khác, thậm chí, do không hiểu biết, đôi khi nói những điều vô căn cứ, hoang đường, thành ra như là nói xấu đạo khác vậỵ 

Căn bệnh trầm kha này đã và đang gây tai họa cho nhân loại qua các cuộc thánh chiến. Chỉ khi nào, hoặc là mọi người đều nghiên cứu thêm về các tôn giáo khác để hiểu biết và thông cảm nhau hơn, hoặc là không nghiên cứu thì cứ nên tôn trọng sự tự do tôn giáo, tự nhủ rằng vì mình thiếu hiểu biết, không thấy cái hay của các tôn giáo khác không có nghĩa là đạo khác xấu, mình có bổn phận phải << cứu vớt >>. Đừng nghĩ rằng chỉ có riêng những người theo tôn giáo mình là <<có đạo>>, còn các người không theo đạo của mình thì gom chung thành << người ngoại đạo >> cần được giáo dục để << theo đạo >>. Điều này phải cần đến sự tận tâm giảng dậy của các vị linh hướng có tinh thần cởi mở, hiểu biết rộng, và có tấm lòng từ bi, bác ái, thương xót cho cái kiếp người vốn đã đầy nỗi thống khổ, không nên lợi dụng tôn giáo để quàng thêm vòng dây kẽm gai lên đầu lên cổ tuổi trẻ nữạ 

Các em nên cố gắng học hành chăm chỉ để kiếm được việc làm, thoát được ảnh hưởng của gia đình về mặt kinh tế, rồi sau đó, hãy can đảm trình bầy hoàn cảnh thực sự của hai em, là hai em không thể xa nhau được, yêu cầu hai bên cha mẹ tác thành, nếu không, các em đã lớn, các em cũng có bổn phận đối với chính mình, các em có thể tự định đoạt đời các em. 

Về việc đổi đạo, em nên giữ sự tế nhị và hợp lý, không nên đem hôn nhân làm một áp lực bắt người khác đổi đạọ Hai em nên đạo ai nấy giữ.  Sau này, khi hai em sống chung, chính cung cách sống của các em sẽ nói lên tính ưu việt của tôn giáo mà các em chịu ảnh hưởng. Từ đó, tùy theo lòng kính quý của mỗi em đối với từng tôn giáo, các em vẫn còn dư thời giờ để đổi đạo, nếu muốn. Sự cưỡng bách không thể thấm sâu vào lòng người, mà lại phát sinh ẩn ức. Để xứng đáng đi vào lãnh vực tâm linh, mỗi người phải có tấm lòng thành khẩn, bước những bước hân hoan, tâm hồn sung mãn với những tư  tưởng khai phóng, không phải là những bước lầm lũi tủi hờn vì bị ép buộc. 
(Thuần Nhã ) 
 

THƯ HỎI CỦA KITÔ HỮU 
VÀ TRẢ LỜI CỦA BAN BIÊN TẬP TVHS

Con tên là Trung, cư ngụ tại tiểu bang Arizona, là một tín đồ Công Giáo cùng một người bạn đường và bạn đời cùng kết nghĩa vợ chồng. Tất cả mọi việc đều giải quyết thật ổn thỏa êm đẹp. Nhưng có một điều là con cái sau này thì làm sao? Theo Chúa hay Phật !! Thật là nan giải. Xin quý thầy cùng các bậc hiểu biết làm ơn giúp ý. Thành thật cảm ơn. Cầu xin ơn Trên trả công cho quý vị. 

TRẢ LỜI 

Theo như thư anh kể, anh, một người theo đạo Thiên Chúa Giáo và chị, một người theo đạo Phật đã yêu nhau và kết nghĩa vợ chồng, cùng chung sống hạnh phúc bên nhau. Sự kiện đó đã nói lên một thực thể đẹp và có thể là trong tương lai con cái anh chị cũng sẽ thừa hưởng được cái đẹp đó. 

Chúng tôi nghĩ rằng những cuộc hôn nhân như vậy sẽ tạo nên cơ hội tốt để hai người có thể học hỏi truyền thống tôn giáo của mỗi bên. Khi anh chị sanh các cháu, anh chị có thể khuyên các cháu theo cả hai truyền thống tôn giáo của cha mẹ hoặc là để cho các cháu được tự do học hỏi và lựa chọn, đừng nên bắt ép các cháu phải bỏ bên này mà theo bên kia, cũng đừng bắt buộc các cháu phải rửa tội hay phải quy y Tam Bảo trước khi các cháu tới tuổi trưởng thành. 

Cũng thế, trong đời sống gia đình, anh nên nói với chị, “Khi nào em đi chùa, nhớ cho anh đi với để chúng ta cùng cúng hoa lên Phật.” Chị cũng nên nói với anh: “Chủ Nhật tới anh hãy cho em đi nhà thờ với để cùng dự lễ cầu kinh với anh.” Thật là tuyệt đẹp, con cái cũng vậy, đứa nào thích đi chùa thì đi chùa, đứa nào thích đi nhà thờ thì đi nhà thờ, hay thích đi cả hai càng hay, hãy để chúng tự do lựa chọn, đừng ép buộc, đừng khuyến dụ. Trong cuộc sống hằng ngày hãy dạy các cháu những điều cơ bản mà cả hai truyền thống tôn giáo đều dạy là không làm các điều ác, làm các việc lành và hiếu kính cha mẹ. (1) 

Ðó là tương lai của con cháu chúng ta, bởi vì nếu chúng ta khác truyền thống tôn giáo, khác tư tưởng mà có thể sống với nhau đẹp đẽ như vậy, chắc chắn xã hội chúng ta sẽ không còn hận thù, xung đột và chiến tranh. Chúng ta sẽ sống an lạc, và hạnh phúc hơn trong tinh thần tự do, cởi mở vì không chấp trước bất kỳ một tư tưởng nào. Anh hay chị hay cháu hãy cứ là Phật tử hay là con của Thiên Chúa, cứ giữ những giá trị truyền thống sẵn có và luôn luôn mở rộng lòng đón nhận giá trị truyền thống khác của người bạn đời hay của con cái.  Không nên có tư tưởng hay tìm cách cải đạo (convert) của nhau. 

(1) Lẽ dĩ nhiên có những sự khác biệt quan trọng giữa đạo Phật và các đạo khác, mà trong đó đạo Phật có điểm “tự tịnh kỳ ý” nghĩa là phải “tự thanh tịnh tâm ý”. 

THƯ HỎI CỦA PHẬT TỬ 
VÀ TRẢ LỜI CỦA SƯ CÔ ĐOAN NGHIÊM 

Con lấy vợ là một người công giáo và con đã quyết giữ đạo của mình là đạo Phật. Con đã đọc quyển sách ” Living Budha, Living Christ” của Sư Ông Nhất Hạnh, con sống trong tinh thần tôn trọng tín ngưỡng, nhưng khi có con thì vợ con một mực không cho phép con đưa con của con lên Chùa, và trong nhà thì không chỉ thờ một mình Chúa. Điều này con cũng rất hiểu là vợ con bị kẹt trong perception, rất là khổ sở vì perception này. Con thì OK, Phật tại tâm thôi, nhưng con của con là của chung, con cảm thấy mình bị xử ép, và buồn lắm. Nhiều lúc muốn ly dị nhưng con còn nhỏ, hơn nữa ly dị vì tôn giáo thì không đúng con cũng đang bị kẹt trong perception là Phật và Chúa. Con muốn con của con biết nội ngoại tức biết hai gốc rễ tâm linh để sau này lớn lên không bị kẹt và sinh tâm kỳ thị. Xin quí thầy và sư cô giúp đỡ 

TRẢ LỜI 

Đọc thư anh xong, chúng tôi rất thương cho đứa trẻ. Nó đang là nạn nhân của tôn giáo. Anh chị có thấy điều này không? 

Nếu anh ‘quyết tử’ vì đạo Phật mà gia đình phải cắn đắn nhau, con anh phải chứng kiến cảnh cha mẹ nó giận hờn nhau, hơn thua với nhau vì tôn giáo, thì sự hy sinh hạnh phúc gia đình của anh cho đạo Phật có xứng đáng không? Sự hy sinh của chị cho đạo Công giáo có xứng đáng không? Nếu vì đạo Phật, vì đạo Công giáo, mà vợ chồng phải bỏ nhau để con trẻ bơ vơ, đói khát tình thương từ cha lẫn mẹ và mái ấm gia đình, thì đạo Phật đó chỉ làm khổ gia đình anh, đạo Công giáo ấy chỉ làm khổ gia đình chị, vậy thì anh chị muốn con mình theo đạo của mình để làm gì, rồi nó cũng sẽ gặp chuyện khó xử sau này y hệt như cha mẹ nó vậy thôi. Thầy chúng tôi thường nói: ‘Phật ra đời đâu phải để cho con của Phật khổ’. Xin anh hãy nghiệm lấy câu này để hiểu cho thật tường tận về gốc rễ tâm linh của mình. 

Anh và chị là vợ chồng với nhau. Khi thương nhau, hai người đã lấy đi hàng rào tôn giáo để đi đến hôn nhân hoàn toàn không kỳ thị. Vậy tình thương đó bây giờ đâu rồi? Tinh thần không kỳ thị đó đâu rồi? Tình thương đó là đạo Phật. Tinh thần không kỳ thị đó là đạo Phật. Đó là đạo Phật trong cuộc sống hàng ngày. Anh đã đánh mất đạo Phật như anh đã đánh mất tình thương cho vợ anh vậy. Chuyện của anh chị, gợi lại cho chúng tôi một câu chuyện khác, có thật: 

– Có một gia đình nọ có hai đứa con. Trong nhà chỉ độc nhất có một cái ti-vi, mà thằng lớn ưa coi phim cao bồi, thằng nhỏ ưa coi phim hoạt họa. Cứ đến ngày thứ bảy là chúng giành nhau cái ti-vi. Thằng lớn nói cái lý của thằng lớn: ‘Nó là em, nó không được cãi.’ Thằng em nói cái lý của thằng em: ‘Ảnh là anh mà ảnh không biết nhường nhịn em.’ Người cha muốn xử đề huề cho cả hai đứa, nhưng đứa nào cũng bảo cha xử ép chúng. Người cha thấy hai con không đứa nào lắng nghe đứa nào, không đứa nào nhường nhịn đứa nào, và tệ hơn cả là chúng không còn biết nghe đến lời can ngăn của ông nữa. Ông giận lên và quăng cái ti-vi đi. 

Đọc xong câu chuyện này, anh nghĩ gì? Anh tự nghiền ngẫm lại đi. 

Anh muốn con anh tiếp xúc với đạo Phật, thì anh phải cho con anh thấy tận mắt cái đẹp, cái lành, cái thật của đạo Phật qua đời sống hàng ngày của anh. Nếu con anh tiếp nhận được tấm lòng vị tha, bao dung, rộng lượng, hiểu biết lớn… của anh, thì nó sẽ thấy gốc rễ tâm linh của ba nó, ông nội nó rất giàu có. Và gốc rễ tâm linh đó sẽ ăn sâu vào lòng nó mỗi ngày mỗi ngày một cách rất âm thầm. Thành ra anh đừng lo rằng con anh sẽ mất gốc. 

Anh hãy tưởng tượng một cái cây chỉ sống trong chậu. Cây có lớn đến đâu đi nữa thì gốc rễ của nó cũng không thể vươn ra ngoài cái chậu. Nếu anh cho rằng, con anh đi chùa sẽ tiếp xúc được với gốc rễ tâm linh đạo Phật, thì chẳng khác gì cái cây ở trong chậu mà thôi. Đạo Phật có tầm vóc lớn lao hơn nhiều. Nó vượt ra ngoài không gian (khuôn viên chùa) và thời gian (từ ông bà truyền qua nhiều đời con cháu). Xin anh hãy nghiền ngẫm lại. 

Chúng tôi cũng muốn nhắc nhở anh chị nên nghĩ đến tâm trạng của một đứa trẻ. Đứa trẻ nào cũng muốn thấy cha mẹ chúng thương yêu nhau, sống hạnh phúc với nhau. Đối với chúng, Phật và Chúa đều xa lạ lắm. Chúng không tưởng tượng ra được Phật từ bi như thế nào, Chúa cứu thế như thế nào. Nhưng chúng thấy rõ, biết rõ là cha mẹ chúng sống như thế nào. Đứa trẻ sẽ thích đạo Phật nếu cha nó bao dung và rộng lượng như Phật, biết thương nó và mẹ nó; đứa trẻ sẽ thích đạo Công giáo nếu mẹ nó ngọt ngào và hiền dịu như thiên thần, biết thương nó và cha nó. Nếu anh và chị làm đúng vai trò của mình, thì đứa trẻ tiếp nhận hai gốc rễ tâm linh cũng dễ dàng như ‘ăn cơm Tàu mà ở nhà Tây’ vậy. Gia đình sẽ hạnh phúc hơn nhiều. 

Anh và chị có bảo đảm là đứa trẻ khi lớn lên sẽ theo đạo của mẹ nếu nó đi nhà thờ mỗi tuần từ khi còn bé thơ, hay theo đạo của cha nếu nó đi chùa mỗi tuần không? Theo chúng tôi thì vấn đề không phải ở chỗ cho cháu đi nhà thờ hay đi chùa. Vấn đề là: Nhà thờ có gì cung cấp cho cháu làm hành trang sau này khi cháu gặp khó khăn hay không? Nhà chùa có gì cung cấp cho cháu làm hành trang sau này khi cháu khổ đau, tuyệt vọng hay không? Xin anh suy nghĩ lại. 

Thư khá dài, chúng tôi xin dừng ở đây. Mong rằng với những dòng chữ này sẽ giúp anh chị thoát ly được ‘perception’ của mình để tìm lại được hạnh phúc thuở ban đầu. Hạnh phúc của anh chị là món quà mà đứa trẻ sẽ thích nhất, trân quý nhất. Cảm ơn anh đã để thì giờ đọc lá thư này.

NHẬN ĐỊNH

Hôn nhân khác tôn giáo thường dùng để chỉ về một hôn nhân mà hai người khác niềm tin tôn giáo kết hôn với nhau, thí dụ như Công Giáo và Phật Giáo hay Công Giáo và Hồi Giáo. Công Giáo và Tin Lành không thể coi là khác tôn giáo, vì thế không nằm trong phạm vi bài nhận định này. 

Ngày xưa, một số tôn giáo đã khắt khe ngăn cấm các tín đồ mình kết hôn với người “ngoài” tôn giáo. Sự cấm đoán như vậy dựa trên một kinh nghiệm, đó là sự khác biệt niềm tin tôn giáo, tạo nên những trở ngại có ảnh hưởng không tốt đến hạnh phúc lâu dài của hai người yêu nhau. Có những người Kitô Giáo lấy vợ hay chồng là Phật Giáo hay ngược lại, sau nhiều năm chung sống, đều cho rằng hôn nhân hỗn hợp là một sai lầm đối với họ do vấn đề họ gặp phải vì những bất đồng tôn giáo nhất là về việc giáo dục con cái trước tuổi thành niên, họ ví cuộc hôn nhân khác đạo giống như chiếc xe đẩy chỉ có một bánh chạy được. [1]

Mới đầu khi yêu nhau họ chỉ muốn sống chung với nhau mà không nghĩ tới hướng giải quyết khi hai người có con. Lời giao kết “đạo ai nấy giữ” thuở ban đầu ấy là chỉ dành cho vợ chồng, nhưng con của họ thì sao? Theo cha hay theo mẹ? Ai mến đạo thì cũng muốn con mình theo đạo truyền thống của ông bà cha mẹ mình, phải tranh thủ hướng dẫn cho con ngay từ khi còn bé nhỏ. Nếu cha mẹ thoáng hơn, cởi mở hơn thì khi tới tuổi trưởng thành cho con được tự quyền lựa chọn tôn giáo, quyết định số phận của cuộc đời, nhưng nếu đứa con, mặc dù đã đủ lớn khôn để nhận thức nên theo đạo nào, lại ngặt nỗi sợ mất lòng cha hoặc mẹ thì càng rắc rối hơn.  Thật là nan giải..

Đối với người Phật Giáo ngày nay, phần đông chủ trương đạo ai nấy giữ, cố gắng hiểu biết và tôn trọng tôn giáo của người phối ngẫu và không đem hôn nhân làm một áp lực bắt người phối ngẫu đổi đạo. Sự cưỡng bách hay khuyến dụ bỏ đạo không thể thấm sâu vào lòng người, mà lại phát sinh ẩn ức. Với con cái, không bắt ép chúng đi chùa hay đi nhà thờ, không ép buộc chúng phải quy y hay rửa tội mà đợi chúng đến tuổi trưởng thành, cho chúng tự quyền quyết định nên theo tôn giáo nào. 

Đối với người Công Giáo, trước thời Công Đồng Vatican II trong thập niên 1960, nếu một người Công Giáo quyết định lấy một người không-Công Giáo, Giáo Hội mạnh mẽ yêu cầu họ “trở lại đạo” trước khi làm đám cưới. Nếu người ấy không chịu “trở lại đạo”, thì họ được yêu cầu phải đồng ý nuôi nấng con cái trong đức tin Công Giáo. 

Ngày nay, trên nguyên tắc, Giáo Hội Công Giáo không bắt buộc sự “trở lại đạo” của người không-Công Giáo, cũng như người không-Công Giáo không bị bắt buộc phải đóng vai trò tích cực trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái trong đức tin Công Giáo. 

Tuy nhiên, thực tế cho biết, “theo giáo luật Công Giáo, người Công Giáo kết hôn với người chưa rửa tội (không-Công Giáo) thì hôn nhân ấy không thành sự hay bị rối. Theo khoản 1086 trong Bộ giáo luật hiện hành của giáo hội Công Giáo, nếu không muốn bị rối trong tình trạng ấy thì phải xin phép chuẩn dị giáo (dispensation for disparity of cult) của Đức Giám Mục địa phận. Để được phép chuẩn cho hôn nhân dị giáo hầu ‘đạo ai nấy giữ’, khoản 1126 trong giáo luật cũng quy định phải có 3 điều kiện : (1) Bên Công Giáo hứa phải giữ trọn đức tin của mình, đồng thời cố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin công giáo. (2) Thông tri cho bên không công giáo biết những điều mình hứa và bị lương tâm ràng buộc. (3) Cả hai phải được học hỏi về mục đích và đặc tính căn bản của hôn nhân theo giáo lý công giáo”.[2][3]

Thật ra, việc hôn nhân với người khác tôn giáo theo cách nhìn của những người Công Giáo cũng có những điểm tích cực nhất là trên phương diện truyền giáo, “nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta nên dùng chính cơ hội này để giúp cho người mình yêu tin và sống theo Chúa Kitô, gia nhập Giáo Hội Ngài…”[3] Đó là chưa kể đến việc truyền giáo cho con cái khi chúng nó ra đời. 

Xét hai quan niệm hay hai đường hướng giải quyết vấn đề kết hôn với người khác tôn giáo, giữa Phật Giáo và Công Giáo vẫn còn có nhiều điểm khác biệt, khó có thể dung hoà hay hiệp thông được.  Bên Công Giáo vẫn yêu cầu người Công Giáo muốn kết hôn với người ngoài đạo phải có “phép chuẩn” của Toà Giám Mục sở tại mới cho kết hôn và phải “cố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin Công Giáo. Bên Phật Giáo, ngược lại, không muốn con cái phải rửa tội mà không biết một chút gì về tôn giáo mình theo…và cũng không bắt buộc chúng phải quy y vì chúng còn quá nhỏ, không biết gì về Phật, Pháp, Tăng.

Vì thế, các bạn trẻ đang là Phật tử, đang là Kitô hữu sắp yêu, đang yêu và sẽ tính đến chuyện kết hôn với nhau hãy nghiên cứu thật kỹ quan niệm của cả hai bên về vấn đề này.  Nếu có đủ sáng suốt, đủ để thấy là mình không thể sống với một vài khác biệt nào đó của người khác, thì ngay tự bây giờ (trước khi kết hôn) thật quan trọng để thú nhận và bàn thảo kỹ lưỡng với nhau là có nên kết hôn hay không.  Nếu cần phải lựa chọn thì cách hay nhất (nếu có khả năng) vẫn là làm sao cả hai người và con cái ra đời về sau được sống trong tinh thần hiểu biết và quý trọng cả hai tín ngưỡng.  Phải hiểu đức tin Công Giáo cũng như đức tin Phật Giáo đều là những (không phải một) “viên ngọc vô giá” nên cần được chia sẻ cùng nhau giữa vợ chồng và con cái. Nếu như cảm thấy không đủ khả năng cam kết và cùng nhau thực hiện việc sống trong tinh thần hiểu biết và quý trọng tín ngưỡng của nhau thì hãy cùng nhau vui vẻ chấp nhận chia tay từ bây giờ để kết hôn với người cùng đạo, dù sao vẫn hay hơn và dễ có hạnh phúc hơn.

BBT/TVHS

http://old.thuvienhoasen.org/cusi-honnhankhactongiao.htm

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: