RSS

Vì sao chúng ta đi Việt Nam (“Viet Nam: Why Did We Go?” – Avro Manhattan)

21 Jul

Phần trích…

Vì Sao Chúng Ta Đã Đi Việt Nam ?
Trần Thanh Lưu dịch cuốn
“Viet Nam: Why Did We Go?” Tác giả: Avro Manhattan

Chương 13

Vatican Cố Ngăn Chận Hòa Bình

Giáo Hoàng John XXIII Bác Bỏ Hiệp Định Geneva Trong Khi Một Tổng Thống Ca-tô Hoa Kỳ Theo Đuổi “Việc Cam Kết Vô Giới Hạn.”

► Việt Minh làm rối tung Giáo Hội Công Giáo ► Hiệp định Geneva là lời nguyền rủa cho Vatican ► Tại sao Vatican khuyến khích Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam ► Tại sao Diệm từ chối tổ chức một cuộc bầu cử “tự do” ► Tại sao Bắc Việt muốn có một cuộc bầu cử “tự do” ► Một Thượng Nghị Sĩ Mỹ đã nói gì về vụ này ► Ông Hồng Y dùng phi cơ quân sự của Mỹ ► Quân Mỹ là “lính của Chúa Ki-tô” ► Việt Nam được dâng cho Mẹ Mary Đồng Trinh ► Giáo hoàng thành lập một Giáo phận trong nước Việt Nam cộng sản ► Giáo Hoàng John XXIII ► Chủ thuyết Hợp nhất Giáo hội-đối chọi với-Chủ nghĩa Hiện thực ► Mafia Ca-tô Việt Nam và ba anh em ► Kennedy leo thang chiến tranh ► Cam kết “vô giới hạn” tại Việt Nam

Khi người Pháp bắt đầu tan rã dưới những đòn giáng dồn dập của quân Cộng sản Đông Dương, Giáo Hội Ca-tô hoan nghênh sự can thiệp của Hoa Kỳ kỳ vọng rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ sẽ giúp thúc đẩy việc chinh phục toàn vùng. Giáo Hội đã có mặt trên trận tiền chiến đấu một chiến dịch thụt lùi chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản.

Sự thành công về ý thức hệ và quân sự của Việt-Minh, và chính nghĩa của họ càng ngày càng được quần chúng ủng hộ đã làm đảo lộn những hy vọng của Vatican. Nó đã dẫn đến điều mà Vatican đã luôn luôn chống đối, kể cả việc chia đôi đất nước Việt Nam thành hai nửa – miền Bắc và miền Nam. Hiệp định Geneva đã thừa nhận việc chia cắt ấy, do đó đã trở thành lời nguyền rũa đối với những nhà chiến lược Vatican cũng như đối với các kẻ ủng hộ nó tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong khi Hoa Kỳ đành chấp nhận sự phân chia theo các điều khoản quân sự và chính trị, dù tạm thời, nhưng Vatican không bao giờ chịu như thế. Nó xem sự phân chia như là một sự thất bại nặng nề chẳng khác gì sự bại trận Pháp.

Tuy vậy, trong khi Vatican không chấp nhận sự phân chia đất nước, nó vẫn tiếp tục hợp tác và thực sự khuyến khích một sự can thiệp sâu rộng hơn của Hoa Kỳ, hay nhất là sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ để thúc đẩy một Việt Nam thống nhất, nơi mà một khi thắng trận thì cuối cùng là Giáo Hội cai trị ở ngôi tối cao.

Vatican không bao giờ chấp nhận sự phân chia Việt Nam, như dự kiến của Hiệp Định Geneva, vì tính kiên trì của các chiến lược chung của nó. Điều này có thể được xác định với việc theo đuổi bốn mục tiêu chính: (1) duy trì sự thống nhất của Việt Nam; (2) hoàn toàn loại bỏ chủ nghĩa cộng sản; (3) Ca-tô hóa cả nước; (4) tạo dựng nên một nhà nước Ca-tô toàn trị, để đạt được và duy trì ba mục tiêu trên.

Các bước này đã được thi hành trước khi xảy ra sự phân cắt để cụ thể hóa của một chính sách như vậy. Như chúng ta đã thấy, đó là Vatican, với sự tiếp tay của bộ phận vận động hành lang của Ca-tô Hoa Kỳ cầm đầu bởi Hồng Y Spellman, mà khởi điểm là đẩy Diệm lên cầm quyền. Bộ ba đầy quyền lực, được kể là Pius XII, Hồng Y Spellman và John Foster Dulles, đã đứng phía sau việc thiết lập của một chế độ bán-toàn trị ở Nam Việt Nam từ trong trứng nước. Chính bọn họ, trên thực tế, đã khuyên Diệm nên thách thức Hiệp định Geneva; từ chối mở các cuộc bầu cử như đã hứa với nhân dân Việt Nam, để xem nhân dân Việt Nam có muốn thống nhất đất nước hay không.

Chúng ta đã thấy những hậu quả thảm khốc do sự từ chối này đã báo trước cho Việt Nam và cả chính Hoa Kỳ. Các nỗ lực về sau để đạt được một số hình thức thông cảm với miền Bắc đã bị Tổng thống Diệm kiên trì thọc gậy bánh xe, theo sự cố vấn trực tiếp của Vatican và Washington. Trong tháng Bảy, 1955, theo Hiệp định Geneva, Diệm dự trù sẽ bắt đầu các cuộc tham khảo cho các cuộc bầu cử đã được định cho năm 1956: “Hội nghị tuyên bố rằng, riêng cho Việt Nam, việc dàn xếp những vấn đề chính trị trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập… cuộc bầu cử toàn quốc sẽ được tổ chức trong tháng bảy, 1956 dưới sự giám sát của một Ủy Ban Quốc tế… ”

Cộng hòa miền Bắc đã đưa ra đề nghị với Diệm rằng các cuộc hội nghị tham khảo tiền bầu cử nên được tổ chức. Những lời đề ghị đã được chuyển đến trong tháng năm và tháng sáu, 1956, tháng bảy, 1957, tháng năm, 1958 và một lần nữa trong tháng bảy, 1959. Lời đề nghị là mọi chuyện nên được thương thảo giữa miền Bắc và Nam Việt Nam, trên cơ sở “những cuộc bầu cử phổ thông tự do bằng phiếu kín.” Tất cả các đề nghị như vậy đều bị khước từ. Diệm từ chối để có cuộc bầu cử đã được ghi trong Điều 7 của Lời Tuyên Bố của Hiệp định Geneva. Hoa Kỳ hỗ trợ ông ta hết mình. Kết quả của việc từ chối như vậy đã đưa đến một cuộc nội chiến thảm khốc. Thượng nghị sĩ Mỹ Ernest Gruening, trong một diễn văn đọc tại Thượng Viện Hoa Kỳ ngày 9 tháng tư năm 1965, đã có điều này nói về nó. “Cuộc nội chiến ấy đã bắt đầu… khi chế độ Diệm – bởi sự thúc giục của chúng ta – đã từ chối thực hiện một điều khoản trong Hiệp định Geneva để tổ chức những cuộc bầu cử cho sự thống nhất của Việt Nam.” Sự lên án của vị Thượng nghị sĩ này là chính xác. Tuy nhiên những gì ông ta đã không nói đầy đủ cho Thượng Viện, và như thế cho cả toàn dân Hoa Kỳ biết, thực tế là những thủ phạm chính chịu trách nhiệm đối với các vi phạm về lời cam kết đã không được đề cập đến. Lý do đơn giản là bọn họ vẫn còn tích cực, hoạt động đằng sau, trong các hành lang của một cuộc ngoại giao bí mật, vượt ngoài tầm với của chính phủ.

Nó không thể nào khác được, một khi cuộc ngoại giao bí mật là con đẻ tư duy của một Giáo Hội từng theo đuổi những mục tiêu ý thức hệ để rốt ráo phóng đại mình lên trong lĩnh vực tôn giáo. Do đó, cách tốt hơn để chỉ đạo các chính sách của mình là nó phải biến một trong những đại diện của mình thành một chính trị gia xão quyệt tàn nhẫn, kẻ dù không bao giờ được bầu ra bởi bất kỳ cử tri người Mỹ nào, vậy mà đã có thể gây ảnh hưởng nhiều hơn bất kỳ cá nhân nào trong Hạ Viện, Thượng Viện, hay ngay cả chính phủ Hoa Kỳ trong việc điều khiển nền ngoại giao của Mỹ. Tên của một người như vậy là Hồng Y Spellman.

Vì thế Hồng Y Spellman đã được đồng hóa với Cuộc Chiến Việt Nam sau khi ông ta đã xuất hiện công khai trước khi giấu mặt trong nhiều năm cho những hoạt động thúc đẩy, ông đã trở thành hình mẫu quen thuộc của chính cuộc chiến tranh đến độ cuối cùng cuộc chiến Việt Nam đã được dán nhãn hiệu Cuộc Chiến Spellman. Điều này không phải là một tính từ khinh miệt. Nó là mẫu mực bằng lời của một vấn đề cụ thể. Hồng Y Spellman, ban đầu là phương tiện riêng của chiến lược đôi Vatican-Mỹ, dần bắt đầu đại diện cho chính sách lược Công Giáo Mỹ. Để đạt được hiệu quả ông được ủy cho chức quyền tượng trưng. Ông ta là đại diện quân đội-tôn giáo của cả hai quyền lực Ca-tô và quân đội vì ông đại diện cả hai, nên được mang danh là Tổng Tuyên Úy của Quân Lực Hoa Kỳ. Ông luôn bay trong phi cơ quân sự của Mỹ, thường xuyên thăm viếng quân nhân Hoa Kỳ tại Việt Nam, và nhiều lần tuyên bố, với sự chấp thuận riêng của cả Pius XII và J.F. Dulles, rằng quân Mỹ tại Nam Việt Nam là: “lính của Chúa Kitô.” Mà trong bối cảnh đó, đang là Hồng Y của Giáo Hội Công Giáo, có nghĩa là chiến sĩ của Giáo Hội Công Giáo.

Trong thời kỳ xung đột, trong khi phía Bắc đã cố gắng đạt được một số hình thức thỏa thuận với miền Nam, Vatican liền can thiệp hết lần này đến lần khác để ngăn chặn bất kỳ hình thức cảm thông nào giữa hai miền. Nó đã làm điều này qua việc sử dụng tôn giáo trắng trợn nhất. Chẳng hạn, trong kỳ Đại hội Mẹ Maria năm 1959 được tổ chức tại Sài Gòn, nó dâng toàn cõi Việt Nam cho Mẹ Đồng Trinh. Vụ hiến dâng đã được gợi hứng từ La-mã.

Điều này đã đóng kín vĩnh viễn bất kỳ khả năng hòa bình hợp tác giữa Bắc và Nam Việt Nam, sau khi hàng triệu dân Ca-tô đã tháo chạy, vụ dâng hiến toàn cõi Việt Nam cho Mẹ Đồng Trinh đã có những ẩn ý chính trị tệ hại nhất. Với họ nó có nghĩa một điều là: không hợp tác với miền Bắc. Năm kế tiếp, Vatican đã đi xa hơn nữa và ngay cả tiến một bước nghiêm trọng hơn. Đó là một nước cờ có tính toán, mà mặc dù bề ngoài thì có tính cách giáo vụ, nhưng vẫn có ẩn ý chính trị sâu xa nhất. Vào ngày 8 tháng Chạp năm 1960, Giáo hoàng đã thiết lập “một đẳng cấp mục vụ bình thường cho toàn cõi Việt Nam.” Qua đó, ông đã làm thêm một bước gan lì hơn, ông đã tạo ra một giáo phận ở ngay thủ đô của Cộng sản Bắc Việt.

Điều thực hiện này không phải do Giáo hoàng Pope Pius XII, kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản và là nhà thiết kế chiến lược tôn giáo-chính trị gốc cho Việt Nam, lúc đó đã qua đời vào năm 1958, mà lại do kẻ kế nhiệm là Giáo hoàng John XXIII, người khởi xướng chủ thuyết hợp nhất với Giáo Hội Ca-tô và thiện ý cho mọi người. Hậu ý Vatican xem toàn cõi Việt Nam không thể chia cắt, trong bối cảnh đó có nghĩa là miền Bắc phải được kết hợp với miền Nam, và được cai trị bởi một đứa con trai cưng của Giáo Hội.

Đúng mô tả thực tế phải là những đứa con trai, vì miền Nam Việt Nam bấy giờ đã trở thành lãnh địa chính trị của một gia đình, mà các thành viên đã chia chát đất đai và bộ máy chính quyến thành những phần trấn giữ để từ đó thiết đặt cái gông cùm Ca-tô lên một quần chúng không ưng thuận. Tổng thống Diệm không phải chỉ là thủ lãnh chính thức của chính quyền, mà ông còn cầm đầu một băng đảng thân thuộc bao gồm những giáo dân Ca-tô hăng say khác thường, nắm giữ độc quyền các phủ bộ quan trọng nhất của chính quyền. Một người em, Ngô Đình Luyện, cai trị phần đất của người thiểu số Chăm, một người em khác Ngô Đình Cẩn, thống lãnh miền Trung Việt Nam, như là một sứ quân từ thành phố Huế – trung tâm của Phật Giáo. Một người anh, Ngô Đình Thục, làm tổng giám mục Ca-tô ở Thừa Thiên. Lại nữa người em khác Ngô Đình Nhu, một lãnh đạo công đoàn, nắm Phong trào Cần Lao nửa bí mật, và giam đốc sở mật vụ kinh khiếp. Vợ của y, Bà Nhu được biết đến như là Con Rồng Cái. Cha của y thị đã trở thành đại sứ Hoa Kỳ. Rồi lại có cả hàng loạt cháu trai cháu gái và những kẻ khác – tất cả đều là giáo dân Ca-tô cuồng tín. Ngoài ra còn có bạn bè, sĩ quan quân đội, các quan tòa, các quan chức dân sự, tất cả đều là giáo dân Ca-tô, hành động nhịp nhàng với Giáo Hội Công Giáo và mục tiêu của nó. Bởi thế, nhìn từ góc độ này, các động thái của Vatican đều đáng kể nhất trong các lĩnh vực tôn giáo và chính trị.

John F. Kennedy, tổng thống Ca-tô đầu tiên của Hoa Kỳ, khi còn là Thượng nghị sĩ, Kennedy là một thành phần của toán vận động hành lang Ca-tô, đã thúc đẩy cho việc dựng lên một tổng thống Ca-tô ở Nam Việt Nam. Từ đầu 1954-55 ông ta đã hô hào sự can thiệp quân sự để giúp Pháp chận đứng sự tiên quân của Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Ông là công cụ trong việc đặt Ngô Đình Diệm vào chức Thủ tướng Chính phủ. Khi Kennedy trở thành Tổng thống, ông đã nhanh chóng leo thang sự dính líu quân sự của Mỹ trong việc hỗ trợ cho chế độ Ca-tô của Diệm. Về sau khi sự đàn áp Phật giáo đồ của Diệm bắt đầu bị dư luận thế giới lên án, Kennedy đã phải lựa chọn giữa việc hỗ trợ nỗ lực của Giáo hội mình hay thúc đẩy sự nghiệp chính trị của riêng mình. Ông đã phải chọn áp lực với Diệm làm giảm nhẹ việc đàn áp. Các tướng lãnh Phật tử của Diệm đã nhân cơ hội ám sát Diệm. Ba tuần sau đó Kennedy cũng ngã gục bi một viên đạn của kẻ sát thủ.

Điều này đã xảy ra như thế, không chỉ vì tình hình ở Việt Nam như một tổng thể, và ở miền Nam nói riêng, nhưng tương đương vì một sự cố không kém điều gỡ đã xảy ra đồng thời, ở ngay chính Hoa Kỳ. Chính phủ Kennedy đã kế nhiệm Tổng thống Eisenhower. Kennedy, nhà vận động và ủng hộ nồng nhiệt của Diệm, ra sức thúc đẩy chính sách mà ông đã hô hào khá lâu khi vẫn còn một Thượng nghị sĩ. Không phải là một sự ngẫu nhiên rằng ngay sau khi ông vào trong Nhà Trắng, Kennedy đã leo thang sự dính líu của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam. Đến cuối năm 1961, 30 ngàn người Mỹ đã được gửi đến Việt Nam để tham chiến, và do đó gián tiếp giúp giáo dân Diệm và chế độ Ca-tô của ông ta. Một sự khác biệt quá xa từ vỏn vẹn 1000 cố vấn Mỹ đã được gửi đi một cách ngần ngại bởi kẻ tiền nhiệm, Eisenhower. Kết quả là ván bài ” rủi ro hạn chế ” của Tổng thống Eisenhower đã được đột ngột chuyển qua thành “cam kết vô giới hạn” bởi kẻ đở đầu giáo dân Diệm, Tổng thống Ca-tô Kennedy. Đó là khởi đầu của sự dính líu thảm khốc của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam.

Thành công thế kỷ 21

I. Nhiệm vụ lịch sử

Với một dân số đông đảo, những con người cần mẫn và một địa lý thuận lợi, Việt Nam có tiềm năng của một nước lớn và giàu mạnh, giữ một địa vị quan trọng trên thế giới, vẻ vang cho dân tộc và có ích cho loài người.

Mặc dầu vậy hiện nay chúng ta chỉ là một trong những nước nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó chất vấn mọi người Việt Nam trước ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới.

Bẩm sinh mọi con người, dù thuộc chủng tộc nào, đều có những khả năng như nhau. Nh¨ững chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cách tổ chức xã hội. Trong những yếu tố đó tổ chức xã hội có tầm quan trọng vượt hẳn. Tổ chức xã hội tốt hay xấu, khéo hay vụng có thể thay đổi hẳn số phận của một dân tộc. Thế giới đã thấy nhiều quốc gia mặc dầu đất đai chật hẹp, tài nguyên ít ỏi mà vươn lên mạnh mẽ trong khi nhiều quốc gia khác tuy rất được thiên nhiên ưu đãi mà vẫn quằn quại trong cảnh nghèo đói. Chúng ta càng ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của tổ chức xã hội khi nhìn vào sự cách biệt hiện nay : bảy quốc gia phát triển nhất tuy dân số chỉ xấp xỉ 12% số người trên trái đất nhưng lại tập trung quá 2/3 tổng sản lượng của thế giới ; lợi tức của một người Nhật lớn gấp một trăm lần lợi tức của một người Việt Nam. Sự thua kém hổ nhục này một mặt bắt buộc chúng ta suy nghĩ về mình để tìm một lối đi cho mình, một mặt cho phép chúng ta tin tưởng rằng nếu tổ chức lại đất nước một cách hợp lý chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi cảnh nghèo đói và sẽ vươn lên mạnh mẽ.

Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội lịch sử.

Vào buổi rạng đông của thời đại mới, chúng ta, cũng như hầu hết các nước phương Đông, đã không ý thức được rằng đã đến lúc phải xét lại toàn bộ các giá trị và tập quán, phải đổi mới hoàn toàn cách suy nghĩ và tổ chức. Trong nhiều thế kỷ chúng ta đã hài lòng với khuôn mẫu xơ cứng Khổng Mạnh, bỏ mất óc sáng tạo và dẫm chân tại chỗ ; trong khi người Phương Tây, nhờ óc khách quan và phương pháp, nhờ biết xét lại và đổi mới không ngừng đã tiến lên mạnh mẽ, đã hơn hẳn phần còn lại của thế giới.

Vì không biết thích nghi kịp thời như một số quốc gia may mắn khác, chúng ta đã thất bại trước người Phương Tây, đã mất chủ quyền, đã phải chịu cái nhục bị đô hộ. Mất chủ quyền, chúng ta đã mất luôn khả năng hội ý với nhau để cùng nhau tìm một lối thoát cho đất nước, rồi từ đó dần dần mất luôn tinh thần đối thoại để dàn xếp những bất đồng.

Bước vào thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta phải giải quyết cùng một lúc hai vấn đề vô cùng khó khăn : giành chủ quyền dân tộc và thích nghi với một nền văn minh mới. Vì không đồng ý được với nhau trên một dự án quốc gia mới nên chúng ta đã xung đột với nhau ngay cả trên mục tiêu mà mọi người Việt Nam đều ao ước là lấy lại quyền tự chủ. Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội để giành lại độc lập và vươn lên khi chế độ thực dân sụp đổ sau Thế Chiến II. Chúng ta đã chia rẽ, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau, với kết quả sau cùng là phùải chuốc lấy một trong những chế độ độc tài tồi tệ nhất ; trong khi các dân tộc khác dù không tốn hay chỉ tốn rất ít xương máu cũng đã được độc lập, và trong nhiều trường hợp còn xây dựng được cả dân chủ. Sự thiển cận cũng đã khiến chúng ta lỡ mất một cơ hội lớn khi hòa bình được tái lập năm 1975.

Ngày hôm nay nhân dân ta cơ cực và chán nản, đất nước ta kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Các vấn đề kinh tế, xã hội, môi sinh, đạo đức, giáo dục, nhân mãn, v.v. chồng chất không được giải quyết càng ngày càng trở nên gay gắt hơn và chẳng bao lâu nữa có thể sẽ không còn giải đáp nếu đà băng hoại này cứ tiếp tục. Nước Việt Nam lúc đó có thể bị xóa tên khỏi danh sách các dân tộc có quyền nói tới hạnh phúc. Nhiệm vụ lịch sử của thời đại chúng ta là giải thoát dân tộc khỏi cảnh lầm than hiện nay và cứu đất nước khỏi nguy cơ bị thua kém vĩnh viễn.

Nguy cơ thua kém vĩnh viễn cũng là nguy cơ mất nước bởi vì trong thời đại này, khi ý niệm quốc gia dân tộc đang bị công phá từ mọi phía và đang bị xét lại, những quốc gia không đem lại được hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn cũng sẽ bị giải thể.

Con đường ra khỏi bế tắc và vươn lên của chúng ta là dân chủ đa nguyên và nhân quyền. Dân chủ để đặt những vấn đề một cách đúng đắn và chọn một cách đúng đắn những giải pháp và những người trách nhiệm. Đa nguyên để tôn trọng mọi khác biệt, và để thực hiện hòa giùải dân tộc sau những xung đột đẫm máu. Nhân quyền để phát huy sinh lực và sáng kiến của mọi người.

Lịch sử của mọi dân tộc đều chứng tỏ nhân quyền chưa bao giờ ngăn cản ai xây dựng đời mình và dân chủ chưa bao giờ cấm đoán một dân tộc nào tiến lên. Dân chủ đi trước và mở đường cho phát triển, phát triển củng cố và phát huy dân chủ. Đó phải là niềm tin căn bản của mọi người dân chủ Việt Nam.

Nhìn lại đoạn đường đã đi qua ta phải nhìn nhận rằng nguyên nhân của mọi đổ vỡ mà nước ta đã phải chịu đựng là chúng ta đã không đầu tư đủ suy nghĩ để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và để tìm ra hướng giải quyết. Ở mỗi thời điểm, chúng ta luôn luôn thiếu một dự án chính trị thích hợp với thời đại mới và hoàn cảnh đất nước. Cuối cùng chúng ta đã tàn sát nhau vì những ý hệ vay mượn mà chúng ta bảo vệ một cách đam mê hơn cả những dân tộc đã khởi xướng ra chúng.

Đầu tư suy nghĩ vào một dự án chính trị như vậy là điều mà chúng ta phải làm trước hết.

Tổ chức xã hội rõ ràng là chìa khóa của tiến bộ, là yếu tố quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc. Nhưng tổ chức xã hội không thể có bằng sự áp đặt máy móc một khuôn mẫu mà phải được hình thành sau một quá trình trao đổi, do sự gặp gỡ giữa trí tuệ và những thực tại lịch sử, địa lý, văn hóa, đạo đức của mỗi dân tộc. Muốn thay đổi tổ chức xã hội, trước hết phải thay đổi những giá trị nền tảng của xã hội.

Máu và nước mắt của nhân dân, những đổ vỡ của đất nước, sự tủi nhục vì thua kém buộc chúng ta rút ra một bài học dứt khoát là phải từ bỏ tâm lý nóng vội, từ bỏ óc độc quyền lẽ phải, chế ngự lòng đam mê để đối thoại và thỏa hiệp với nhau trong tinh thần tương kính. Thái độ lương thiện và xây dựng này xuất phát từ nhận thức rằng mọi người Việt Nam đều ràng buộc với nhau trong một thân phận chung : nếu đất nước chúng ta giàu mạnh cuộc sống của chúng ta sẽ khá hơn và tất cả chúng ta đều được kính trọng ; ngược lại nếu đất nước chúng ta nghèo khổ và lạc hậu, tất cả chúng ta đều bị coi thường, bất luận chúng ta thuộc thành phần nào, đảng phái nào, hay theo chủ nghĩa nào. Trong hoàn cảnh bi đát hiện nay, điều tốt nhất cho mỗi người cũng là điều tốt nhất cho mọi người.

Dự án chính trị này có tham vọng đóng góp vào một ý thức chính trị mới Việt Nam. Nó muốn được những người dân chủ Việt Nam đón nhận như một tài liệu để thảo luận. Thảo luận để đi đến kết hợp giữa những người cùng theo đuổi một lý tưởng chung là xây dựng một đất nước Việt Nam mà những con người hôm nay có thể chấp nhận và các thế hệ mai sau có thể tự hào.

Source: http://khotulieu.blogspot.com

Nguyên tác:

cross.jpg (7761 bytes)


cross1.jpg (4721 bytes)

http://www.reformation.org/vietnam.html

The Religious Beginnings of an Unholy War


The Shocking Story of the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam War


By Avro Manhattan

Avro Manhattan (1914-1990).

Avro Manhattan was the world’s foremost authority on Roman Catholicism in politics. A resident of London, during World War II he operated a radio station called “Radio Freedom” broadcasting to occupied Europe.

He was the author of over 20 books including the best-seller The Vatican in World Politics, twice Book-of-the-Month and going through 57 editions. He was a Great Briton who risked his life daily to expose some of the darkest secrets of the Papacy. His books were #1 on the Forbidden Index for the past 50 years!!

More About the Author:

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 21, 2011 in Chiến tranh Việt Nam

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: