RSS

1000 Năm Tàn Sát & Man Rợ – Nhân Danh Chúa

23 Jul
1000 Năm Tàn Sát & Man Rợ – Nhân Danh Chúa
(1000 Years of Carnage & Barbarity in the name of Christ)
by Kenneth Humphreys
 
Thường Đức sưu tầm và dịch

“Kitô giáo quyết tìm một thế giới ma quỉ và xấu xa, và họ đã dựng nên một thế giới ma quỉ và xấu xa.”  triết gia F. Nietzsche

Thế kỷ thứ 10 – thế kỷ của dâm ô  (10th Century Obscenities) :

Các Giáo hoàng bị tra tấn , bị ám sát hoặc tra tấn đến tàn phế và giết chết kẻ đối nghịch… Khỏi cần thắc mắc, đây chính là tập hợp lãnh đạo – dù tu sĩ hay thầy giảng, là những kẻ đáng khinh miệt nhất trong lịch sử. Nói trắng ra, họ là những tên man rợ. La mã Cổ đại cũng không thể sánh với họ về sự đồi bại.” Theo Peter de Rosa, Vicar of Christ, trang 48.

Giáo hoàng John XII (955-964)

Giáo hoàng John XII ra đời từ sự loạn luân giữa Giáo hoàng Sergio III và đứa con gái mới 13 tuổi của ông ta, tên là Marozie. Nối nghiệp cha, Giáo hoàng John XII lấy mẹ làm người tình chăn gối. Năm 18 tuổi, Giáo hoàng John đã biến nhà thờ Lateran thành nơi dâm dật, đĩ điếm. Ông ta bị một hội đồng Catô buộc tội “phạm thánh, buôn bán chức tước, khai gian, sát nhân, ngoại tình và loạn luân” và bị truất phế tạm thời. Ông tìm cách trả thù bằng cách chặt chân tay những người chống mình. Nhưng sau đó Giáo hoàng John lại bị một người chồng trong cơn điên tiết giết chết khi bắt gặp giáo hoàng  đang làm tình với vợ mình.

Thế kỷ 11 – thế kỷ của kinh hoàng  (11th Century Horror) :

1009: Các hình tượng thờ phượng của đạo Hồi bị phá vỡ để thay thế các hình tượng thờ phượng của Công giáo La mã. Hàng thế kỷ đẫm máu giữa hai tôn giáo bắt đầu.

1095: Giáo hoàng Urban II kêu gọi người Franks đi xâm chiếm thế giới văn minh Hồi giáo, khởi đầu 5 thế kỷ chiến tranh chết chóc. Giáo hoàng Urban II xử dụng những kẻ cướp bóc thành những người chiến sĩ. Ông tuyên bố: “Phải biến những kẻ cướp của ngày qua thành những chiến sĩ hôm nay.”

1079: Công đồng La mã:

Xử tội Berengarius và các đệ tử theo ông, là những người không công nhận tín lý “bánh mì và rượu nho là máu, xương thịt của Chúa Giêsu.”

Tội ác trong thế kỷ 12  (12th Century Criminality) :

“Chiến sĩ thầy tu”: Các Hiệp sĩ Kitô chặt đầu người Hồi giáo khi vào tàn phá thành phố Antioch.

1118: Những người Kitô cuồng tín chiếm giữ thành Saragossa. Nền văn minh Hồi giáo ở Tây Ban Nha bắt đầu suy đồi.

1184: Công đồng Verona buộc tội người Waldens là ma quỉ, bước khởi đầu để rồi về sau buộc tội những người không tin đạo là dị giáo.

Thế kỷ 13 – thế kỷ của quỉ ám  (13th Century Wickedness) :

1204: Các thập tự quân Kitô đốt cháy, huỷ hoại thành phố lớn Constantinople.

1209: Giáo hoàng Innocent III khởi động chiến dịch Thập chiến Albigens chống lại dân Kitô Cathars ở miền nam nước Pháp. 7000 người bị tàn sát chỉ riêng Giáo hội La Madeleine.

1211: Thiêu sống những người dị giáo Waldens ở Strasbourg, mở đầu cho nhiều thế kỷ xử tội tàn ác.

Hiệp sĩ Tiu-tôn Đức (German Teutonic Knights) đi tàn sát xuyên qua các vùng Baltic, tiêu diệt các người Công giáo Balan, Chính thống Nga.

1231: Giáo hoàng Gregory IX hợp thức hoá các Toà pháp đình để xử tội các người dị giáo.

Thế kỷ 14 – thế kỷ của thảm họa  (14th Century Catastrophe) :

Giáo hội thù ghét y học nên để cho bệnh dịch huỷ diệt Âu châu

Buộc tội người Do thái là nguyên nhân gây nên bệnh dịch hạch (Tử thần Đen/ Black Death) nên đã thiêu sống hàng loạt người Do thái ở vùng Cologne.

Mưu toan thống trị thế giới?

– “Chúng tôi tuyên bố rằng sự cứu rỗi con người dưới quyền Giáo hoàng La mã là tuyệt đối”  – Giáo hoàng Boniface VIII, Bull Unun Sanctum, 1302

1311-12: Công đồng Vienne cho phép đàn áp dã man các Hiệp sĩ Templar (là những lính được tuyển mộ đánh thuê cho giáo hội đã trở nên những kẻ vô dụng).

1316-1334: Giáo hoàng John XXII là một người giàu có nhất thế giới đương thời và là vị giáo hoàng đầu tiên xiển dương về lý thuyết phù thuỷ. Ông ra sắc lệnh cho phép buộc tội người dị giáo dù đã chết. Năm 1320 ông ra lệnh Tòa pháp đình Pháp tịch thu tất cả mọi tài sản của những kẻ đã chỉ trích giáo hội và những kẻ buôn bán các tác phẩm nghệ thuật lén lút.

1347-50: Bệnh dịch hạch lan tràn khắp Âu châu, giết hại một phần ba dân số.

“Người Do thái bị thiêu sống khắp nơi từ Địa Trung hải cho đến nội địa nước Đức… người Do thái bị tra tấn để phải “thú tội” là đã gây nên hiểm họa bệnh dịch, bằng cách bỏ thuốc độc xuống các giếng nước, sáng chế từ da của một loại rắn độc gọi là basilisk…”  Theo N. Cantor, In The Way of the Plague.

Thế kỷ 15 – thế kỷ của ác tâm  (15th Century Malevolence) :

1411: Tu sĩ Vincente Ferrer (dòng Đa Minh) làm sống lại chiến dịch chống Do thái ở Tây Ban nha bằng cách tuyên truyền Do thái là “đạo quân của ma quỉ, chống Chúa, một thứ chủng tộc láu cá, sa đọa và đồi bại.”

1415: Linh mục John Huss ở Bohemia phê bình Giáo hoàng, dù đã được bảo đảm an toàn cá nhân, vẫn bị thiêu sống. Giáo hoàng Gregory XII tuyên bố: “Khi đối xử với bọn dị giáo, chúng ta không cần phải giữ lời hứa.

1415: Giáo hoàng John XIII “loại bỏ các sự buộc tội Người đại diện Chúa (Giáo hoàng) là ăn cướp, sát nhân, hiếp dâm, giao hợp hậu môn và loạn luân” – Gibbon, Decline and Fall of Roman Catholics.

1478: Liên minh với Vua Ferdinand Tây Ban nha, Giáo hoàng Sixtus IV thiết lập Tòa pháp đình : Người Do thái, Moors và dị giáo bị bỏ tù, tra tấn và bị sát hại liên tiếp mấy thế kỷ.

Giáo hoàng “ái nam ái nữ” Sixtus mặc dù bị bệnh giang mai, vẫn có nhiều con do sự loạn luân với chị của ông ta.

1486: Sau một lúc ngưng thiêu huỷ sách, hai tu sĩ dòng Đa minh Hendrix Kramer và James Sprenger cùng viết cuốn sách bán rất chạy là “Chiếc búa Phù thuỷ” (The Witches Hammer), là một trong những cuốn sách khát máu nhất của nhân loại. Theo Peter de Rosa, Vicars of Christ, trang 184.

Cuốn sách trên đã gây nên “nguồn cảm hứng” cho các vị thẩm phán, quan tòa ở Âu châu trong 3 thế kỷ liền, đưa tới sự sát hại hàng chục ngàn người vô tội.

1498: Nhà cải cách Savonarola (dòng Đa minh) đốt nhiều sách & vật dụng trang trí của người dị giáo, cuối cùng chính ông ta cũng bị thiêu sống sau khi phê bình sự sa đọa của Giáo hoàng Alexander VI.

Thế kỷ 16 – thế kỷ của hỗn loạn  (16th Century Mayhem) :

Tàn sát tập thể và nội chiến

Lời khuyên của tôi: Trước nhất, thiêu huỷ các nơi thờ phượng của chúng thành tro bụi, tạt lưu huỳnh vào người chúng, và tốt hơn hết là ném chúng vào lửa…”

– Martin Luther, “Về người Do thái và sự dối trá của chúng” (On the Jews and their lies, 1543)

1517: Martin Luther công bố 95 tiểu luận ở Wittenberg. Phong trào Cải cách biến Âu châu thành bãi chiến trường.

1716: Tu sĩ Johann Tetzel (dòng Đa minh) đập vụn các hòm chứa giáo hoàng dùng làm “thánh liệu” để bán cho người muốn được xá tội (linh hồn sẽ được giải thoát khỏi mọi tội lỗi).

1524: Luther khuyến khích sự dã man của các quân vương Đức đàn áp các cuộc nổi dậy của nông dân (Peasant’s Revolt) trong ròng rã hai năm.

Nhân danh Chúa đốt sách :

– Các tu sĩ  dòng Đa minh phục vụ vua Ferdinand thiêu rụi các sách thánh hiền của người Moor ở Tây Ban nha thành tro bụi. (Berruguete, thư viện Prado Museum, Madrid)

1559: Công bố Danh mục các sách bị Giáo hội La mã cấm đọc (mãi cho tới năm 1966 mới chấm dứt).

1563: Theo sau Công đồng Trent, Dòng Tên được tuyên dương là “Những người bảo vệ Đức tin”. Những người Hugguenots ở Pháp bị xử tội.

Thế kỷ 17 – thế kỷ của man rợ  (17th Century Barbarity) :

Nhân danh Chúa thiêu sống các “Phù thuỷ”

1634: Urban Grandier bị thiêu sống ở Loudun. Hồng y Richelieu minh họa lại cuộc sát nhân này.

1600: Nhà khoa học Giordano Bruno cho rằng không gian không có biên giới, mặt trời và các hành tinh chung quanh nó không dứng yên một chỗ đã bị buộc tội và sau 6 năm bị đày đọa ra trước Tòa pháp đình, bị thiêu sống.

1605: Những tên Công giáo cuồng tín mưu toan dùng chất nổ để tiêu diệt vua James I ở Anh.

1633: Nhà khoa học Galileo bị mang ra xử tội trước Pháp đình. Dưới áp lực đe dọa sẽ bị tra tấn và giết chết, ông bị ép phải quỳ gối để phủ nhận niềm tin của ông về lý thuyết Copernic (“heliocentric theory”: trái đất và các hành tinh khác quay chung quanh mặt trời, không phải mặt trời quay chung quanh trái đất. Lý thuyết này đối nghịch với thánh kinh về sự sáng tạo vũ trụ của Chúa). Galileo bị tuyên án tù chung thân (perpetual imprisonment), ông chết vào năm 1642. Giáo hội Công giáo La mã vẫn tiếp tục lên án ông đến 350 năm sau. (* điều chỉnh và bổ túc của người viết!)

1618-1648: Trung Âu tan tành sau cuộc chiến tranh 30 năm giữa Công giáo La mã và Tin Lành (đạo Phản thệ).

Thế kỷ 18 – thế kỷ của bất chính, vô đạo  (18th Century Scandal) :

Giáo hội Công giáo La mã biện hộ cho chế độ nô lệ, kỳ thị chủng tộc, khinh rẻ phụ nữ.

Kinh thánh là nguồn gốc biện minh cho chế độ nô lệ:

Các người con của Noê đã ra khỏi tàu là Sem, Kham và Yaphet. Kham là cha của Canaan. Ba người ấy là Con của Noê và dân cư tất cả trần gian đã (phát nguồn) từ họ.

Noê là nông dân đã khởi xướng việc trồng nho. Ông đã uống rượu nho và đâm say, và đã cởi truồng ra trong lều. Kham, cha của Canaan, thấy chỗ kín của cha thì ra ngoài kháo láo với hai anh nó. Nhưng Sem va Yaphet cầm lấy áo choàng và cả hai nâng áo đằng vai họ rồi đi giật lùi mà đến phủ trên chỗ kín của cha họ, mặt quay nghịch lại và không thấy chỗ kín của cha họ. Khi Noê tỉnh dậy mà biết được điều con út đã làm với ông, thì ông đã nói: “Canaan thật đồ chúc dữ! Nó hãy làm mạt nô suốt đời cho anh em nó.” Rồi ông nói: “Chúc tụng Yavê Thiên Chúa của Sem, và Canaan hãy làm nô lệ của nó. Xin Thiên Chúa phát gia (khuyếch trương) Yaphet, nó hãy ngụ trong lều trại của Sem và Canaan hãy làm nô lệ của nó.”   Theo bản dịch của linh mục Nguyễn thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu thế, 1976, trang 22, Lê-vi đoạn 10: 18-27.

Qua đoạn Kinh thánh được sáng tạo tào lao và vớ vẫn như trên đã là biện minh cho chế độ nô lệ tàn ác trong thế kỷ 18 cho đến thế kỷ 19.

Phần Anh ngữ trích từ Humphreys:

“And Noah awoke from his wine, and know what his younger son has done unto him. And he said, Cursed be Canaan; a servant of servants shall he be unto his brethren. And he said, Blessed be the LORD God of Shem; and Canaan shall be his servant.”

Một đoạn Kinh thánh khác trong sách Lễ tế (Leviticus) xác nhận có chủng tộc sinh ra chỉ để làm nô lệ:

Tớ trai, tớ gái thuộc về ngươi, chính nới các nước xung quanh các ngươi sẽ tậu lấy làm tớ trai, tớ gái. Và cả nơi con cái những người ngụ cư ở nhờ xứ các ngươi, những kẻ chúng đã sinh ra nơi xứ sở các ngươi: chúng sẽ là cơ nghiệp của các ngươi.”  (Dẫn như trên, theo bản dịch của linh mục Nguyễn thế Thuấn, trang 259, Le-vi 25:44)

Phần Anh ngữ từ Humphreys:

“As for your male and female slaves whom you may have: you may buy male and female slaves from the nations that are round about you. You may also buy from among the strangers who sojourn with you and their families that are with you, who have been born in your land; and they may be your property.”  Leviticus 25:44

1738: Giáo hoàng Clement XII lên án Tam Điểm và cấm ngặt tín đồ Công giáo La mã không được theo Tam Điểm.

1793: Cuộc thiêu sống “phù thuỷ” sau cùng xảy ra ở Poznen, nước Đức.

Thế kỷ 19 – thế kỷ của Ác quỉ (19th Century Evil) :

Giáo hội Kitô từ chối khoa học và các cải cách xã hội; các Giáo hội Truyền giáo tiếp tay  với chủ nghĩa thực dân.

1814: Hiệp hội Giêsu bị dẹp bỏ năm 1773 được tái lập. Tòa pháp đình lại tiếp nối cho đến năm 1834, Giáo hội truyền lệnh tiếp tục chế độ tra tấn cho tới năm 1917.

1844: “Luật bảo vệ Trẻ em” (Protection of Children Act) cho phép các đoàn truyền giáo của Giáo hội tự do bắt cóc các trẻ em bản xứ ở nước Úc.

1854:   Giáo hoàng Pius IX công bố tín lý Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội (Immaculate Conception) qua sắc lệnh Ineffabilis Deus.  Chiếc vải liệm Lộ đức (Lourdes) được tuyên xưng.

1864: Giáo hoàng Pius IX công bố tín lý Quanta curaSyllabus of Errors để chống lại các công trình khám phá của khoa học và các phương pháp nghiên cứu thuần lý. Đồng thời ông lên án chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa xã hội.

1870: Công đồng Vatican tuyên bố Giáo hoàng “không thể sai lầm”.

Các Hội đoàn Kinh thánh và truyền giáo Âu châu từ các quốc gia thực dân phá huỷ các nền văn hoá dân tộc thuộc địa

Thế kỷ 20 – thế kỷ của tàn sát chủng tộc  (20th Century Intiquity) :

Giáo hội Kitô liên minh với Phát xít, chống lại sự tiến bộ của khoa học và tự do cá nhân.

1907: Giáo hoàng Pius X lên án chủ nghĩa Hiện đại.

Giáo hoàng của Hitler: – Pius XII (1939-1958)

Hitler là một tín đồ Công giáo La mã, nhưng không bao giờ bị vạ tuyệt thông dù đã giết hại hàng triệu người; trong khi Martin Luther bị khai trừ chỉ vì dám dịch Kinh thánh sang Đức ngữ.

Giáo hội Catô La mã là người bạn của bọn Phát xít:

– Đức

– Tây Ban Nha

– Croatia

Thế kỷ 21 – thế kỷ đe dọa về sự vô luân  (21th Century Menace) :

Giáo hội Kitô là phạm trù của sách nhiễu tình dục trẻ em và tấn công tình dục người lớn

Vào ngày 21 tháng 3, 2000 Giáo hoàng John Paul II toan tính thanh sạch hóa tinh thần Giáo hội Công giáo La mã bằng cách xưng thú tội lỗi trong 2000 năm gây ra tội ác – trong gần 20 thế kỷ mang tội khủng bố, diệt chủng và sát nhân!

Thế nhưng câu chuyện vẫn chưa chấm hết:

Tội ác vẫn còn tiếp nối…

Giáo hội Catô La mã triệt bỏ 218 vị linh mục khỏi chức vụ trong năm (2002) vì tội sách nhiễu tình dục trẻ em, nhưng ít nhất cũng 34 vị bị tố cáo tấn công tình dục thì vẫn còn tiếp tục làm việc trong giáo hội.” Theo Reuters ngày 9 tháng 6, 2002.

Chống phá thai

Chống ngừa thai…

nhưng lại kiếm lợi nhuận qua sự đầu tư vào những công ty dược phẩm chế tạo thuốc ngừa thai.

Vatican còn là một xưởng chế tạo “Thánh”, năm 2003 lại có thêm một số “Thánh” mới.

Ngày 31 tháng 7, 2003, “Hội thánh bảo vệ Đức Tin” lên án việc kết hôn giữa những người đồng tính luyến ái, nhưng trái lại, chẳng bao giờ Vatican lên án những tu sĩ Công giáo sách nhiễu tình dục vô đạo với trẻ em.

 http://www.giaodiem.com

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: