RSS

50 NĂM CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM (Phần cuối)

23 Jul

DIỄN VĂN

   của THƯỢNG TỌA VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÒA ĐẠO

Đọc trong dịp lễ An vị linh cốt cố Thượng Tọa Thích Thiện Lai và cầu siêu Cố Đại Đức Thiện Ân, Thích nữ Khất sĩ Liên Tập, Nhất Chi Mai, Chiến sĩ Trận Vong, đồng bào nạn nhân chiến cuộc quá cố (28.6.1970).

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thưa …

Đã 25 năm khói lửa, chiến cuộc Việt Nam mỗi ngày một lan rộng dưới nhiều hình thức. Nó không còn là một cuộc chiến trong nội bộ Nam Bắc, mà nó bị các thế lực vô minh chủ chiến quốc tế lợi dụng khai thác để trở thành một cuộc thế chiến thu hẹp.

Việt Nam đã mất chủ quyền, Dân tộc đã bị xô đẩy cuốn hút theo các thế lực chủ chiến hiện nay. Những chính thể tiếp nối sau triều đại họ Ngô không có thực quyền đã bị ngoại bang dựng lên để làm bình phong cho âm mưu chủ chiến.

25 năm khói lửa, chiến tranh, Dân tộc ta đa số là Phật tử đã phải chịu biết bao nhiêu chết chóc, đau thương,  hàng triệu người dân hiền lành, chấc phát, nhất là thanh niên trai trẻ đã gục ngã, tiếp theo một sự phá sản toàn diện tự vật chất đến tinh thần, nền Văn minh cổ truyền của Dân tộc bị chà đạp, mọi công trình xây dựng của tiền nhân đều bị tàn phá. Thế mà các chính quyền đã qua và hiện nay không chịu nhìn vào thực tại điêu tàn đổ nát của xứ sở. Những nỗi thống khổ của Dân tộc phải chịu đựng suốt ¼ thế-kỷ. Chính quyền chỉ biết dựa vào thế lực ngoại bang trong âm mưu mở rộng chiến tranh để thống trị độc tôn và làm giàu, mà không nghĩ đến sự sống còn của Dân tộc. Chính sự mù quáng đó đã gây ra đầy rẫy sự bất công tham nhũng. Dân chúng chết vì bom đạn, vì đói khát quá nhiều lại còn phải chịu thêm bao nhiêu sự bất công phi lý và sưu cao thuế nặng của nhà cầm quyền. Vô lý nhất là dân chúng hiện nay đang đói khổ rên siết vì sưu cao thuế nặng, vật giá leo thang phi lý, mà chính quyền lại một lần nữa xô đẩy dân chúng vào con đường bần cùng hóa thêm, qua cái biện pháp được gọi là “chấn chỉnh kinh tế tài chánh” mị dân, giả dối đã gây sóng gió không ít tại quốc hội trong mấy ngày qua và đã làm cho dân chúng ta thán oán hờn; mất sự tin tưởng ở nơi chính quyền.

Trước tình cảnh điêu linh thống khổ của Dân tộc, Giáo Hội không thể nào điềm nhiên tọa thị, mặc cho những thế lực vô minh thao túng. Dân tộc Việt Nam không thể nào cứ mãi chịu hy sinh một cách vô nghĩa để những phe phái chủ chiến quốc tế ngồi thủ lợi. Sự tồn vong của Dân tộc gắn liền với sự tồn vong của Đạo pháp.

Giáo Hội đã nhất quyết đứng lên đòi Hòa Bình cho đất nước, nói lên niềm thao thức thiết tha nhất của Dân tộc. Đòi hỏi sự sống, chén cơm, manh áo của đồng bào. Giáo Hội nhất quyết đứng lên vận động đòi hỏi Hòa Bình cho toàn dân. Mặc dù Giáo Hội phải chịu bao nhiêu sự khủng bố, đàn áp chụp mủ của chính quyền và các thế lực vô minh chủ chiến. Qua bao năm sóng gió, những âm mưu tiêu diệt Phật-giáo để bóp chết nguyện vọng thiết thực của dân chúng, nhưng Phật-giáo vẫn không bị tiêu diệt mà ngược lại Phật-giáo vẫn tồn tại và hiện diện với Dân tộc này qua 2000 năm lịch sử đấu tranh  để tự tồn và nêu cao tinh thần bất khuất của tiền nhân. Bồ Tát Quảng Đức đã dũng mãnh thắp lên ngọn đuốc hào hùng để đốt cháy cả một chế độ vô minh.

Ngọn lửa thiêng của Nhất Chi Mai, của Ni cô Liên Tập, và Thích Thiện Lai đã bùng cháy lên để soi sáng cho nền Hòa Bình Việt Nam. Họ đã nói lên niềm khát vọng Hòa Bình của 17 triệu dân miền Nam, không phải bằng lời mà bằng thân xác của mình. Không ai có quyền xuyên tạc, chụp mủ những sự hy sinh cao cả ấy, cũng như cuộc vận động Hòa Bình của Giáo Hội.

Những kỳ thị, khủng bố, đàn áp Phật-giáo trong nhiều năm qua dưới mọi hình thức, nhất là chính quyền đã dùng những tay sai giáo gian lừa Thầy phản bạn để khuynh đảo Giáo Hội, tạo ra vụ án Hiến chương Phật-giáo, tàn sát Tăng Ni Phật tử tại Việt Nam Quốc Tự, tấn công Cô nhi Viện Quách Thị Trang mới đây, nhất là cái chết thê thảm của Đại Đức Thích Thiện Ân đã tố cáo tội ác của chính quyền và các tay sai. Dù có bị phá hoại đến mức độ nào đi nữa, Giáo Hội cũng cố gắng khắc phục mọi khó khăn thử thách, để dấn thân thể hiện tinh thần truyền thống bất khuất của Dân tộc, đòi hỏi chủ quyền Quốc Gia và Hòa Bình Độc lập cho xứ sở.

Thưa Quý Vị,

Hôm nay, lễ cầu siêu cố Thượng Tọa Thiện Lai, Ni Cô Liên Tập, Phật tử Nhất Chi Mai đã tự thiêu cho Hòa Bình Việt Nam và chiến sĩ đã hy sinh bỏ mình ngoài trận mạc, cũng như đồng bào nạn nhân chiến cuộc quá cố, Giáo Hội cũng nghiên mình trước anh linh chư Thánh Tử Đạo đã hy sinh cho Đạo pháp và nền Hòa Bình Việt Nam, cầu nguyện cho hương linh chiến sĩ, đồng bào nạn nhân chiến cuộc không phân biệt tôn giáo, đảng phái, màu da, chủng tộc, bên này cũng như bên kia vĩ tuyến, đã bỏ mình trong cuộc chiến sớm siêu sinh Cực Lạc và cầu nguyện cho Giáo Hội và Dân tộc Việt Nam sớm thoát khỏi gông cùm của các thế lực vô minh chủ chiến hiện nay.

Đây là lần đầu tiên, không những chỉ có Giáo Hội Trung Ương mà các cấp Giáo Hội, Tu Viện khắp toàn quốc đồng nhất loạt tổ chức lễ cầu siêu này theo tinh thần truyền thống tín ngưỡng của Phật-giáo trong mùa Vu Lan sắp tới.

Một lần nữa, Giáo Hội long trọng tán dương, sự hy sinh cao cả của chư Thánh Tử Đạo, cũng như anh linh chiến sĩ, đồng bào tử nạn và hồn thiêng đất nước gia hộ cho Dân tộc đau khổ này sớm vượt khỏi cảnh điêu linh tang tóc hiện nay.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

VĂN TẾ THƯỢNG TỌA THIỆN LAI
Đọc trong dịp lễ an vị linh cốt cố Đại Đức
(thất thứ ba 28.6.1970) tại Ấn Quang.

Than ôi!
–     Nhịp Thời tiết đã quyên gào bến nước, trông ra sắc máu tràn lan:
Dấu Pháp luân còn khói ngất thành mây, ngó xuống trần ai vẩn đục.
–     Ai người tóc bạc, lệ như sương kết đọng u hoài;
Ai kẻ đầu xanh, mắt rực lử trào dâng cảm xúc.
–     Nẻo luân hồi tiếng mỏ tiếng chuông:
Nghĩa giải thoát như kêu như giục.
Nhớ Đại Đức xưa:
–     Phẩm giá đài Sen: Phong nghi rừng Trúc.
–     Non côi sông Vị, loạn thế độc thư:
Phú Nhuận, Vũng Tàu trung niên lánh tục.
–     Cây trăm thước vướng chi vòng huyễn ảnh, riêng mơ xuất định nhập thiền:
Hoa bốn mùa dâng trọn nén lương tâm, sá kể thưa hồng rậm lục.
–     Từ đó sớm hôm kinh kệ, 15 năm đời sống như gương;
Ai hay non nước biển dâu, muôn vạn nổi ruột đau từng khúc.
–     Phố phường trơ trẻn, đọa lạc thân tâm;
Vườn ruộng xác xơ, tương tàn cốt nhục.
–     Lưỡi cày khung cưỡi, bom đạn lưu ly,
Nét chữ lời ca, gông xiềng tù ngục.
–     Năm màu cờ gợn sóng, Tam Bảo chứng minh;
Chín tầng tháp nghiêng lai, chúng sanh thôi thúc.

Cho nên:
–     Một sớm giữa sân chùa thanh tịnh, hiến cuộc đời giữ vẹn bấy nay:
Bảy năm sau ánh lửa Từ Bi, làm ngọn đuốc cháy lên kịp lúc.
–     Trước là nguyện cúng Dường chư Phật, độ khắp Ta Bà thế giới, may ra nghiệp chướng san bằng:
Hai là mong hội ý toàn dân, nêu cao đại nghĩa Hoà Bình, đau tiếp thân phàm ngã gục.
–     Hồn kia nuơng khói, về với Chân Như
Xương ấy thành than, vạch nên Di chúc.
–     NHẤT CHI MAI năm nọ, hiện Phật tâm bốn bể đã truyền thông:
Phổ Quang Tự giờ đây phát hỏa lệnh 10 phương càng chỉnh túc.

Và đến hôm nay:
–     Tiết vừa hạ chí, giao tiếp nắng mưa:
Lễ vận Cầu siêu, quang chim nhĩ mục.
–     Hai mươi năm hoảng hốt nghiệp duyên:
Mấy chục triệu mê lầm họa phúc.
–     Nghe chăng đâu đó? Giúp Mê hà theo Giác ngạn, ai tham sân khoảnh khắc hãy hồi âm;
Nhủ xuống gần xa trong Giáo Hội ngoài Quốc dân, gương trí tuệ thiên thu còn cảm phục.
Sài Gòn ngày 28.6.1970
VŨ HOÀNG CHƯƠNG

VĂN TẾ CHIẾN SỸ VÀ ĐỒNG BÀO CHIẾN NẠN
Đọc trong diệp lễ cầu siêu chiến sỹ và đồng bào nạn nhân chiến cuộc quá cố ngày 28.6.1970 tại chùa Ấn Quang.
Than ôi!
–     Tiết hạ chí khói sương mờ loãng, trông lên cõi phúc thấy càng xa;
Mùa chiến tranh bom đạn tơi bời, ngoảng lại bể oan đâu đã lấp.
–     Ôi thịt xương một thuở chia lìa:
Cho máu lệ hai phương tràn ngập.
–     Chẳng riêng đây Gia Định Sài đô;
Mà khắp nẻo phố phường thôn ấp.
–     Nào những ai: tuổi xanh thế hệ tay kiếm, tay cờ;
Nào những ai: tóc trắng thời gian bước cao bước thấp.
–     Nào những ai: cày cuốc, bán thân, thợ thuyền, lao động, từng dấn thân trong buổi khó khăn;
Nào những ai: sinh viên, ký giả, công chức, quân nhân, quyết dựng nước giữa cơn nguy ngập.
–     Ải địa đầu,khu giới tuyến, thỏa cánh bằng tung gió, khoác nhung y mấy độ gian nan;
Vùng chiến thuật, bãi sa trường, liều da ngựa bọc thây, ruổi vũ hịch đòi phen khẩn cấp.
Ai ngờ:
–     Hỏa lực vô tình; Thiên cơ mạc cập.
–     Là thôi: một kiếp người xong;
Thấy đó ba hòn đất lấp.
–     May còn nhận diện, trách chi vùi lẹ, vùi nông:
Rủi chẳng toàn thây, sá kể chôn nghiêng, chôn sấp.
–     Huống hồ lại: xác phơi rừng vắng, không cách thăm dò:
Huống hồ lại: xương rắc hầm sâu, khó bề thu thập.
Ô hô ! Thương thay!
–     Mưa nắng dãi dầu: Tang thương dồn dập.
–     Vết xóa chưa mờ; gió lên càng gấp.
–     Trăng sao rụng xuống, ngàn cây rên rĩ âm thanh;
Đêm tối tràn ra, lửa đón mơ hồ dáng dấp.
Hôm nay đây:
–     Tiếng chuông gọi chín phương uổng tử, đã ngậm hờn bao độ lang thang;
Mảnh hồn theo mười loại chúng sinh, hãy trở bước về đây tụ tập.
–     Ơn Bồ Tát khói thơm giòng Chính đạo, phép chuyển nhiệm màu;
Lễ cầu siêu mưa ngọt nước dương chi, hoa bay tới tấp.
Hỡi các vong hồn!
–     Tín đồ nhất niệm, đó cùng đây sao có thể cách chia;
Thế giới tam thiên, sinh với tử lẽ nào đâu vướng vấp.
–     Thân sau đã giác, thì siêu thăng Lạc thổ Niết Bàn;
Nước cũ chưa quên, hãy cầu nguyện Thanh bình Độc lập.
Sài gòn, ngày 28.6.1970
VŨ HOÀNG CHƯƠNG

ĐIẾU VĂN
Đọc tại chùa Ấn Quang
Nhân dịp lễ Quốc Khánh 1.11.1970

–     Trời kỷ niệm mây dâng cờ Phật-giáo;
Đất trầm tư mạch chuyển bóng Già Lam
–     Nhắc nhở chúng ta: bảy năm trước đây, cũng ngày MỘT tháng MƯỜI MỘT:
Đã từng nổi dậy: cao trào cách mạng, giữa miền Nam nước Việt Nam.
–     Hởi ôi!
Bão tố lên từ mùa Pháp nạn;
Khổ đau gieo khắp chốn thiền am.
–     Cố đô Huế;
Chùa Từ Đàm.
–     Tiếng khóc thét bầy trẻ thơ đã ngất;
Mà dã tâm phường hung dữ chưa cam.
–     Chỉ vì sức mạnh
Cấu kết Lòng Tham.
–     Đủ tàn nhẫn phơi xương đổ máu:
Thừa mưu cơ giăng bẫy giựt giàm.
–     Cho đến khi: quanh bóng hỏa quang, linh hồn nhân loại ngẩn ngơ: Nam Mô Bồ Tát Thích Quảng Đức;
Rồi từ đó: trong liều độc dược, ý thức quốc gia sôi nổi; men say thế hệ Nguyễn Tường Tam.
–     Un ùn ký giả, sinh viên, dân cày, dân thợ;
Lớp lớp điều tra, theo giõi, bị bắt, bị giam.
–     Đàn áp chẳng ngày nào không có;
Độc tài chẳng việc chi không làm.
–     Tức nước vỡ bờ, sóng sông hừng hực;
Ngóng chim về tổ, rừng cây đăm đăm.
–     Lửa Từ Bi sáng rực chín mười phen, nêu gương trí dũng;
Lời thuyết pháp vang xa ngàn vạn nẻo, gỡ mối hờn căm.
–     từ Hạ qua Thu, Đông, nghiệp chướng vơi dần tiếng Quốc;
Từ Thành đến Tỉnh, Ấp, Duyên may nõn lại tơ tằm.
–     Giải oan, bao nổ lực:
Cứu khổ, một phương châm.
–     Thiện căn vững ở lòng dân, thế tất phải toàn dân đều giác ngộ;
Hà chính ác hơn loài cọp, lẽ nào ư chuồng cọp mãi giam cầm!
–     Mộc đỡ có nhân hòa, chiến sĩ thoắt vùng lên,
quân đội thoắt xông lên, kìa lung linh Hòn Ngọc Viễn Đông,
son sắc đã ghi bao chứng tích:
Hành trang sẵn Phật pháp, hy sinh quyết không sờn,
đấu tranh quyết không mỏi, nghe phơi phất cánh Bè Nam Hải,
gió mây còn gợi sóng mãi dư âm.
–     Nay miền Nam nước Việt Nam, dâu biển tràn qua mấy lớp:
Lại ngày MỘT tháng MƯỜI MỘT : nắng mưa vừa tròn bảy năm.
–     Bâng khuâng nhịp mõ;
Bát ngát hương trầm.
–     Ngừng đó trăng sao, trên nẽo luân hồi chuyển kiếp;
Nghe chưa hồn phách, dưới chân Bồ Tát giáng lâm?
–     Gốc Nghĩa Nhân cành Bắc như cành Nam, bao ngày
qua đương đầu với uy vũ Cường quyền, trước mưu
mô Bạo chánh, nên dứt buổi gió gào mưa thét, suy tư
vừa lắng đọng, mới có phen rung ánh sáng huyền vi,
khoảnh khắc ấy nở tươi hoa Tự Chủ;
Sóng Cách Mạng lớp sau kế lớp Trước, những ai đó
hiến thân vì đại nghĩa Quốc Gia, để hoằng dương
Đạo pháp, thì giữa cơn lửa cháy dầu sôi, thịt xương
dầu hủy diệt, vẫn không ngớt làm chất men xúc tác,
nghìn thu sau gắn chặt khối Đồng Tâm.
Phù Giang
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Sài đô ngày 25 tháng 10 tây lịch 1970

TIỂU SỬ
Ni Cô Khất Sĩ LIÊN TẬP

Ni Cô LIÊN TẬP tục danh là Lê Thị Gái, sanh ngày 1.4.1946 tại tỉnh Thừa Thiên. Ni Cô sanh trưởng trong một gia đình trung lưu, cha là Lê Văn Dụ, mẹ là Trần Thị Thiu. Cô có 5 anh em, một người anh và 3 em trai, duy có một mình cô là gái.

Sanh trưởng trong một gia đình Đạo Phật, cô thường đi lễ chùa và quy y đầu Phật từ khi còn thơ ấu. Trong những lần tới lui lễ bái ở chùa, cô đã được nghe Quý Thầy, Quý Cô giảng dạy giáo lý. Vốn có căn tu, cô đã sớm ý thức cuộc đời là đau khổ, vô thường, con người cứ mãi trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Vì thế, đã nhiều lần cô muốn trốn khỏi cõi đời phồn hoa giả tạo để dấn thân vào cửa Phật, quyết chí xuất gia cầu Đạo giải thoát. Nhưng gia đình có một mình cô là gái, nên bổn phận của cô còn nhiều, đối với cha mẹ và đàn em nhỏ dại.

Nhưng vì chí xuất gia quá mạnh, cô quyết bỏ cuộc đời ô trược, gởi thân vào chốn am thiền, sớm mõ chiều chuông, cầu thầy học đạo. Lòng mong ước đã thành, ngày 20.5.1965, cô đã từ bỏ lớp áo phấn son hương sắc, thế phát xuất gia cầu đạo. Thực hành hạnh đầu đà của đức Phật, cô đã quấn y thọ bát khất thực, sớm hôm tinh tiến tu hành học đạo.

Đến năm 1968, thấy cảnh tang tóc đau thương, cửa nhà ta nát, con mất cha, vợ mất chồng, bao nhiêu trẻ thơ vô tội đã lầm than đói khát, thiếu cơm, thiếu áo, do biến cố Mậu Thân gây ra. Không thể nào làm ngơ trước cảnh bơ vơ lạc lõng của những trẻ thơ khờ dại, cô đã tiếp tay với quý Thầy, quý Cô tập trung những cô nhi chiến nạn về tịnh xá Ngọc Ninh nuôi dưỡng.

Thời gian hơn 2 năm qua, không quảng gian lao, không từ khó nhọc, cô đã tận tình chăm sóc nuôi dưỡng, cố gắng mang tình thương để an ủi số phận hẩm hiu của những đứa trẻ ngây thơ vô tội bị chiến tranh cướp mất mẹ cha. Nhờ đức tánh điềm đạm, vui vẻ tận tình, mà cô đã được các em tôn xưng là Hiền Mẫu.

Thời gian thấm thoát trôi qua, bao nhiêu cảnh đau thương tang tóc cứ tiếp tục xảy ra, cứ tiếp tục đè nặng trên mái đầu vô tội của lớp tuổi thơ ngây. Chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt, mỗi ngày mỗi lan rộng từ thành thị đến thôn quê, từ nước này đến nước nọ, đã làm cho cô đau lòng xót dạ không thôi. Đã nhiều lần Cô tâm tình với những người thân thích, nếu tiêu hủy thân xác này, mà có thể chận đứng được sự lan rộng chiến tranh thì Cô sẽ vui vẻ chấp nhận sự hy sinh.

Với niềm thao thức suy tư sẵn có, khi được tin Việt Nam Quốc Tự bị một bọn người tay sai của ngoại nhân tấn công bắn giết, đánh đập, bắt bớ một số chư Đại Đức Tăng Ni và Phật tử một cách tàn bạo trong đêm 4 rạng ngày 5.5.1970; Cô tỏ ra đau xót và biểu lộ suy tư nhiều hơn nữa về sự đau khổ pháp nạn triền miên của Giáo Hội.

Tiếp đến khi nghe tin Giáo Hội công khai đứng ra vận động Hòa Bình, chấm dứt chiến tranh cho Việt Nam, và đòi hỏi những vấn đề cơm áo, và những nguyện vọng chính đáng của mọi giới đồng bào cũng như của Giáo Hội. Cô thấy không còn lúc nào đáng phải hy sinh, để đóng góp công lao cho Dân tộc và Đạo pháp bằng lúc này.

Niềm thao thức đã thúc đầy cô hành động … thế rồi, 4 giờ sáng ngày 4.6.1970, cô đã tình nguyện đem thân làm đuốc để soi sáng cho nền Hòa Bình Việt Nam và sự bình an cho Giáo Hội. Với sự hy sinh này, Cô mong rằng sẽ làm thức tỉnh lương tâm những ai đã cố tình xô đẩy Dân tộc đến bến bờ diệt chủng và những ai đã cố tình phá hoại Đạo pháp.

ĐÁM TANG NI CÔ LÊ THỊ GÁI TỰ THIÊU

————————Ì————————

DIỄN HÀNH PHẢN CHIẾN

Nhiều biểu ngữ kêu gọi Hòa Bình.

Những bài điếu Văn tiễn đưa đầy nước mắt.

 PHAN RANG (HT)–Trong bầu không khí thực sự căng thẳng của Thành phố, lễ an táng Ni Cô tự thiêu Liên Tập (tức Lê Thị Gái) đã cử hành vô cùng long trọng lúc 8 giờ sáng ngày 9.6 tại Phan Rang, với sự tham dự của Hòa Thượng Thích Trí Thủ đại diện Hội đồng Viện Hóa-Đạo, Ni trưởng Huỳnh Liên thuộc Giáo Hội Khất Sĩ VN. Dân biểu Tôn Thất Hiệu và chủ tịch Hội đồng tỉnh Ninh Thuận cùng các đoàn Thanh niên Phật tử và Tăng Ni từ Nha Trang, Cam Ranh vào.

Những biểu ngữ đầy kích động kêu gọi Hòa Bình và cầu nguyện cho Giáo Hội PGTN đã bị chính quyền Ninh Thuận cấm treo trước đó, vẫn được đồng bào dự lễ an táng trưng cao lên, theo sau linh cữu, … Đám tang khởi hành từ chùa GHPGTN diễu hành qua các đường phố chính Trưng Nữ Vương rồi ra Thống Nhất đi thẳng đến nghĩa trang Phật-giáo, cách thành phố độ 2 cây số với cảnh sát áo trắng dẫn đầu.

Nhiều đồng bào dự đám tang có mang theo cả bịt nylon và chanh để phòng ngừa lựu đạn cay.

Trước khi hạ huyệt, nhiều điếu Văn đã được đọc lên bi thương, áo não, làm cho đồng bào mũi lòng.

“Cô làm đuốc tuệ soi đường, để dắt dẫn kẻ mê mờ trong đêm tối”

(điếu Văn của đại diện GHPG Ninh Thuận)

Đặc biệt trong buổi lễ an táng là bài điếu Văn đầy nước mắt của một em bé mồ côi độ 12 tuổi đại diện cho hơn 100 em bé mất cha mẹ vì cuộc chiến, được đưa vào nuôi nấng tại cô nhi viện Nhất Chi Mai, thuộc tịnh xá Ngọc Ninh (GHPG Khất Sĩ) nơi Ni Cô tự thiêu Liên Tập (tức Lê Thị Gái) tu hành … Em vừa khóc vừa nói “Vì sao chị ra đi? Một là vì sứ mạng Hòa Bình, hai là vì tình thương Đạo pháp…”

Chị tình nguyện phục vụ cho Cô Nhi Viện Nhứt Chi Mai, mà em là một cô nhi đã được hưởng trọn tình thương của chị. Ai ngờ phần số của em lại bị mồ côi một lần nữa. Mất chị từ nay chúng em mất cả cánh tay siêng sắn, giọng nói ngọt ngào, ánh mắt từ bi, nụ cười hiền dịu…

“Ai làm tang tóc thê lương
Ai làm cho cảnh tang thương rả rời
Chiến tranh ơi!   chiến tranh ơi!
Cướp cha cướp mẹ, thiệt thòi tuổi thơ”

Tiếp lời Ni Cô Trưởng Huỳnh Liên thuộc GHPG Khất Sĩ VN đã bước lên ca tụng đức hạnh của Ni Cô tự thiêu Liên Tập. Song Sư Cô đã đọc bài thơ phản chiến:

“ Vào biển lửa, cứu người trong lửa.
Lửa chiến tranh và ngọn đuốc Hòa Bình
Trách ai làm cho Dân tộc điêu linh
Để tu sĩ phải thiêu mình trong lửa đỏ.
Thương dân chúng chịu lầm than khốn khổ
Đêm lẫn ngày bom nổ thịt xương tan
Đốt đốt mãi cho dân tình khủng khiếp
Nhà còn đâu mà thân thích còn đâu
Kẻ phanh thây, kẻ lòi ruột nát đầu
Xương chất núi, máu đào trào suối nóng.
Ta phải đứng lên đòi lẽ sống.
Lửa thiêu thân cho đuốc sống động tình
Lửa thiêu thân cho Dân tộc Hòa Bình
Xin thức tỉnh người mình xin thức tỉnh,

Nhân đây, tưởng cũng nên ghi lại bài thơ nhan đề “khóc bạn” của nữ tu sĩ Tiểu Hoa, thấy viết trên chiếc bản đen đặt tại góc phòng Tịnh Xá Ngọc Ninh mà 4 câu cuối là trích của Nhất Chi Mai.

Kính dâng hương hồn Ni Cô Liên Tập:

Được tin chị nằm xuống
Đầu óc tôi quay cuồng
Mặt trời chiếu bổng lớn
Tôi rụng rời châu thân

Đêm nguyện cầu thao thức
Hàng cây buồn lao xao
Lớn lên trong lửa đạn
Cô từ giả tôi sao?

Hai mươi năm chinh chiến
Cô chịu đầy gian nan
Một đời ôi ngắn ngủi
Một đời cho quê hương

“Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng u minh
Xin tình người thức tỉnh
Xin Việt Nam Hòa Bình”

(Công luận số 728, thứ sáu ngày 12.6.1970)

TIỂU SỬ 

Phật tử QUÁCH THỊ TRANG

Quách Thị Trang 15 tuổi, sinh năm 1948, tại làng Cổ Khúc, quận Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Thân phụ Trang là Ông Quách Văn Bội, thân mẫu là Bà Hà Thị Vân. Cả gia đình đều tin theo Phật-giáo.

Trang có 6 anh em: anh cả là Liên, anh thứ là Choát, đến chị Nhung, rồi đến Trang và hai em trai.

Đến năm 1954, sáu anh em Trang cùng mẹ vào nam. Riêng thân phụ Trang bị kẹt ở lại miền Bắc và 3 tháng sau, mẹ con Trang được tin đã từ trần.

Vào Nam, gia đình Trang ở vùng Chí Hòa, sống quần tụ trong niềm hòa thuận và trong nguồn tin chánh pháp. Mẹ Trang thì tảo tần buôn bán, còn anh em Trang thì tiếp tục học hành.

Riêng về Trang đã tỏ ra một đứa con hiếu thuận. Trang luôn luôn nghỉ đến Mẹ và làm vừa lòng mẹ. Còn đối với anh chị và các em, Trang vẫn trên kính dưới nhường.

Từ bé, Trang đã là một Phật tử của gia đình Phật tử Minh Tâm. Ngày ngọn cờ 5 sắc thân yêu bị triệt hạ, Trang bỏ ăn, bỏ học và khóc mãi! Trang nói với chị em:Phật-giáo mà chết thì tôi cũng chết”. Và liền sau đó, hằng ngày, Trang đến chùa Xá Lợi, Ấn Quang để nghe các Thầy giảng và nhận các bản tin tức đem phổ biến cho đồng bào. Rồi Trang cũng tuyệt thực, cũng cầu nguyện. Tóm lại, với sức nhỏ bé, có thể làm tất cả những gì được thì Trang đã làm hết cho Phật-giáo. Trang nói:”Nếu có chết vì Đạo thì Trang cũng đành”.

Ngày 20.8.1963, các chùa bị tấn công, Tăng Ni và Phật tử đều bị bắt hết, Trang khóc rất nhiều! Trang nghĩ: “Các Thầy đã chết, đã chết hết rồi!” Cơn đau khổ và tuyệt vọng cực độ đã làm cho Trang như mất hồn. Trước mắt Trang, đất trời như sụp đổ, cùng với sự sụp đổ của những ngôi chùa, những tượng Phật, những bàn hương. Người ta tính tiêu diệt niềm tin Dân tộc! Người ta tính tiêu diệt nước Việt Nam! Vô lý quá rồi, oan ức quá rồi! Trang nhìn một vài bộ mặt điềm nhiên bên đường, mà nghe tức tối trong lòng.

Đến ngày 24 thì Trang và Yến nhận được tin cho hay: sáng mai sẽ có một cuộc biểu tình ở chợ Bến Thành, để tranh đấu cho các Thầy. Hai người bạn thấy phấn khởi hẳn lên. Họ thấy giữa sự nguy hiểm của hành động và sự đau khổ của bất lực, thà chọn cái thứ nhất có ý nghĩa hơn, và có lợi ích hơn.

Tối lại, Trang đến nhà Yến vừa khóc vừa mừng chung với Yến. Trang nói: “Ngày mai tụi mình đi biểu tình. Nhưng không cho mẹ Trang biết, vì sợ mẹ sẽ ngăn cản. Trang chỉ cho chị Nhung biết thôi”.

Suốt đêm ấy, Trang gần như không ngủ. Trang thao thức bên niềm mừng vui là sắp được góp một chút gì cho Đạo thân yêu của Trang.

Sáng ngày 25, Trang dậy thật sớm, ăn mặc xong rồi xin phép mẹ đến nhà bạn chơi và rủ Yến cùng đi. Hai chị em đến nơi hẹn với Yến, rồi cùng nhau đi Taxi đến chợ Bến Thành.

Trong khi đứng chờ đợi, từ cửa hông chợ, một đám người ùa ra như nước chảy. Những người đi đầu cầm biểu ngữ:

               “Hãy giết chúng tôi đi

               Vì chúng tôi là con Phật”

Ba thiếu nữ nghe lòng bừng dậy như sóng cả. Họ nhìn nhau ba cặp mắt sáng ngời, và cầm tay nhau chạy vào hàng ngũ.

Đoàn biểu tình vẫn đi tới, vượt qua khỏi mặt tiền chợ Bến Thành. Trong lúc đó, bóng dáng hung thần của cảnh sát chiến đấu, gầm gừ hiện ra chận lối trước mặt họ. Chợt nghe hai tiếng súng nổ, Yến quay lại nhìn: thấy Trang mặc áo ngắn đã ngã gục trên đường nhựa. Bên Trang là một cảnh sát ác ôn, tay cầm súng mới vừa giết người xong. Lúc ấy vào sáng ngày 25.8.1963.

Đây là hình ảnh cuối cùng của Quách Thị Trang đã hy sinh đời mình cho Dân tộc và Đạo pháp. Và hình ảnh đó, trong lòng Dân tộc sẽ còn sống mãi nghìn thu!

                           (Lược tríchBáo Hải Triều Âm số 19)

THẾ HỆ QUÁCH THỊ TRANG

Ngày này năm ngoái (25.8.1963), nữ sinh Quách Thị Trang đã bị tay sai khát máu của Nhu Diệm bắn ngã trong cuộc biểu tình chống chế độ độc tài của gia đình họ Ngô, do sinh viên và học sinh tổ chức tại cổng trường Diên Hồng. Cùng đi với Quách Thị Trang có trên hàng trăm sinh viên và học sinh khác, nhưng Trang có diễm phúc chết giữa thanh thiên, bạch nhật, chết để sống mãi trong lòng chúng ta, trong tình yêu thương và cảm phục, chết để thành chất liệu củng cố, gắn chặt hàng ngũ một thế hệ thanh niên, thế hệ Quách Thị Trang.

Trang và những người bạn khác đồng hành của Trang trong chuyến đi vào lịch sử với hai bàn tay trắng và một lòng son, không phải không biết trước rằng: mình đi là đi ra chổ chết. Nhưng không một ai lùi bước, vì thế hệ Quách Thị Trang không muốn sống thêm nữa trong một xã hội tối tăm nhục nhã trong sự tàn ác, gian manh, bất công, dối trá của một tập đoàn mất hết cả nhân tính–tập đoàn Nhu–Diệm-Cẩn Lệ Xuân–không một ai lùi bước vì bầu nhiệt huyết của Thanh niên nung nấu lòng họ. Không một ai lùi bước vì tiếng gọi của Tự Do, bình đẳng, thiết tha hơn bao giờ hết. Vì bàn tay ngoắt vẫy của tình thương tới tấp nập, dồn dập quyến rũ hơn bao giờ hết. Không một ai lùi bước vì họ muốn tiến lên, tiến lên để viết trang sử mới cho thế hệ của họ, thế hệ Quách Thị Trang.

Nhưng trang sử mới vừa viết được mấy dòng đầu thì Quách Thị Trang đã trở thành người thiên cổ !, và bây giờ, có những bàn tay lông lá dơ bẩn muốn bôi đen tất cả, muốn lật lại trang lịch sử cũ của thời Nhu Diệm.

Chắc chắn thế hệ Quách Thị Trang, với truyền thống anh dũng, Quách Thị Trang sẽ kiên quyết bất cứ bằng giá nào chận đứng những bàn tay gian ác ấy lại. Và họ sẽ thắng, chắc chắn họ sẽ thắng vì lịch sử không thể đi lui.

Nguyện cầu anh linh Quách Thị Trang phù hộ cho thế hệ Quách Thị Trang chóng thành công, trang sứ mạng tiếp tục viết trang sử mới.

(Hải Triều Âm số 19)

TIỂU SỬ
Phật tử PHAN VĂN HOÀ và NGUYỄN VĂN PHÁT

Phan Văn Hoà 18 tuổi, sanh ngày 20.10.1946 tại Cát Lư, Văn Lâm, Hưng Yên, Miền Bắc. Từ trần ngày 1.9.1964 (tức ngày 25.7 Giáp Thìn).

Nguyễn Văn Phát 27 tuổi, sanh 1937 tại Quận 4 Chợ lớn. Tư trần ngày 31.8.1964 (tức ngày 24.7 năm Giáo Thìn).

Đám tang của Hòa và Phát cử hành rất trọng thể vào ngày 6.9.1964 và an táng tại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi Sài Gòn (Báo Hải Triều Âm ra ngày 10.9.1964 số 21, thuật đầy đủ chi tiết).

Sau đây là điếu Văn đọc trong đám tang của HÒA và PHÁT.

ĐIẾU VĂN của Thượng Tọa

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên Phật Tử

Hai con

Hòa!

Phát!

   Trên đời này, nếu có một cuộc tranh đấu được gọi là “Thần thánh” thì đó là cuộc tranh đấu của ánh sáng chống lại bóng tối. Vì chỉ có cuộc tranh đấu ấy mới phục vụ cho sự sống. Và cũng chỉ có cuộc tranh đấu ấy mới xây dựng Văn minh cho nhân loại. Vì vậy cần phải luôn luôn nêu cao ngọn đuốc để phát huy ánh sáng, cho ánh sáng chan hòa khắp mọi nẽo. Nếu có một giây lát nào đó, ánh sáng ngưng chiếu, thì tức khắc bóng tối tự lan ra rất nhanh, để thiêu hủy tất cả.

Hòa, Phát hai con!

Hai con đã chết đi để bảo vệ những nguyện vọng yêu nước xứng đáng của các con. Hai con chết để cho Tổ quốc, Đạo pháp được sống.

Bên kia cõi Cực Lạc, hai con hãy hãnh diện đã được làm bó đuốc ấy. Phát ra ánh sáng, Hòa và bóng tối. Chính nghĩa mà hai con và bạn bè của hai con đã bảo vệ, sẽ có hàng vạn triệu người khác sẽ kế tục, cũng như hai con đã kế tục Quách Thị Trang và bạn bè Quách Thị Trang.

Chết cho sự sống, tức là chết để mà sống. Tên hai con sẽ vĩnh viễn sáng rực trong lịch sử của Dân tộc và Đạo pháp, bên cạnh những Thích Quảng Đức, những Quách Thị Trang. Nhiệm vụ thiêng liêng của người trai thế hệ, hai con đã làm xong với đời cũng như với đạo, hai con đã đền xong nợ! Còn vinh dự nào cao cả hơn! Quang cảnh trang nghiêm tưng bừng mà những người đồng đạo và đồng bào hai con, đang hiện tiền để dành cho hai con là bằng chứng hùng hồn nhất.

Thác là thể phách, còn là tinh anh.

Hai con sẽ sống mãi mãi, sống vĩnh viễn trong lòng Đạo pháp và Dân tộc, bên cạnh chư Thánh tăng và chư Liệt sĩ. Và ngày 27.8.1964 là ngày chống bạo tàn, rồi cũng sẽ chiếu sáng rực rỡ như hai ngày 25.8 và 11.6.1963.

Than ôi! Cuộc nhân thế khác gì giấc mộng, cơn tỉnh, cơn mê! Kiếp phù sinh như thể cuộc cờ, lúc bày lúc xóa! Khiến con người sống cũng như không, mà thác cũng như không!

Thôi hai con hãy yên lòng an nghĩ nơi miền Cực Lạc; việc nước việc nhà đã có muôn người thay con lo liệu. Thầy thay mặt Giáo Hội gởi đến hai con tất cả những niềm thương tiếc mến trọng của những người ở lại.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật.

Cầu chư Phật gia hộ hai con và thân quyến hai con.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

TỔNG VỤ THANH NIÊN

06.9.1964

ĐIẾU VĂN

Của PHẬT GIÁO HÒA HẢO

   Kính thưa Thượng Tọa Viện Trưởng, Quí vị Thượng Tọa Đại Đức, Tăng Ni trong Giáo Hội.

   Kính thưa toàn thể Quí vị Quan Khách.

   Kính cùng toàn thể đạo hữu thân mến

   Hôm nay, chúng tôi tới đây, đại diện tinh thần cho toàn thể tín đồ Phật-giáo Hòa Hảo trong nước, và đặc biệt cho 10000 tín đồ Phật-giáo Hòa Hảo có mặt trong đám tang này, để nói lên mối xúc động chân thành và sâu xa trước cái chết đau đớn và dụng cảm của hai Phật tử đã biết hy sinh vì chính pháp và vì quyền lợi sống còn của Dân tộc, đang bị sức mạnh bạo tàn phản bội.

Chẳng những hai cái chết này, đã biểu lộ cái tinh thần nhẫn nại, chịu đựng không thiếu cương quyết trong chủ trương tranh đấu của Giáo Hội ta, mà còn sáng tỏ cái truyền thống anh dũng bất khuất của toàn thể Dân tộc Việt Nam của mọi tầng lớp xã hội Việt Nam và của tinh thần đoàn kết nhất trí trong thế hệ thanh niên Việt Nam.

   Qua lịch sử Dân tộc, Phật-giáo đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt, để trở thành khuôn khổ trong nếp sống hằng ngày, nên quyền lợi của Dân tộc thực đã gắn vào quyền lợi của Giáo Hội trong mọi cuộc đấu tranh chính trị để bảo vệ Dân tộc, dân chủ và tự do, cũng như mọi công bằng xã hội. Ý thức như vậy, thì hai cái chết này không chỉ do động lực tôn giáo thúc đẩy, mà chính do lòng yêu nước vì dân, mà hai thanh niên này đã hy sinh.

   Như ai nấy đều thấy rõ, mọi sự hy sinh từ trước, để đả phá độc tài, áp bức là của toàn dân, nên Phật-giáo thấy rằng mình đấu tranh không phải chỉ cho riêng Giáo Hội, mà thực ra cho cả Dân tộc. Bởi vì Phật-giáo thấy rỏ tự do công bằng xã hội là tự do công bằng của đạo Phật, mà người Phật tử cần phải bảo vệ liên kết xã hội. Thế cho nên hai cái chết này là một sự hy sinh nữa, để đóng góp thêm vào những hy sinh từ trước đến nay của các vị Liệt sĩ, các Thánh Tử Đạo trong công trình tranh đấu công bình, tự do, dân chủ của toàn dân.

   Nói như thế, tôi muốn xác định ở đây sự đồng tình và ngưỡng mộ của toàn thể Phật-giáo đồ Hòa Hảo, đối với hai liệt sĩ này đã ngã gục xuống trong các vụ bạo hành vừa qua của những phần tử phản động, chúng bám lấy chút ưu quyền đặc lợi, mà độc tài bất công đã mang lại cho chúng.

   Nói tóm lại, đâu là quyền lợi của Dân tộc, thì ở đó là quyền lợi của Phật-giáo, và ai đã chết cho quyền lợi của Phật-giáo, tức là chết cho quyền lợi của Dân tộc, vì Dân tộc. Trước những hy sinh cao quý đó, chúng tôi xin quý vị Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, quý vị quan khách và đông đảo quý vị đạo hữu tại đây, hãy cầu nguyện cho tinh thần Phan Văn Hòa và Nguyễn Văn Phát bất diệt trong lòng Dân tộc, cầu nguyện cho công trình dành tự do dân chủ và công bằng xã hội (dẹp mọi tỵ hiềm đố kỵ và tham vọng) chung của GHPGVNTN trong đó có cả Hòa Hảo vậy.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

TIỂU SỬ
Phật tử HUỲNH VĂN THIỆN

   Sinh trưởng trong một gia đình lao động, nhưng Phật tử Huỳnh Văn Thiện đã sớm có hạt giống lành, phát tâm quy y Tam Bảo và ăn chay trường. Thuở nhỏ Thiện theo học ở trường Trung học Phan Đình Phùng và sau đó học Tư thục Lê Bá Cang và Hồng Lạc.

   Thiện khi 15 tuổi đã sớm tham gia Phong trào Thanh niên bảo vệ Đạo pháp dưới triều Ngô. Năm 1946, Thiện gia nhập Đoàn Thanh Niên Phật Tử Thiện Chí. Tánh tình thông minh, vui tươi, nhanh nhẹn nên Thiện lên cấp bậc rất mau, từ đoàn sinh lên đến Đoàn Trưởng.

   Thiện rất hằng say học tập giáo lý kinh Pali và đậu cấp bằng giáo lý sơ đẳng. Trong các công tác xã hội, Thiện đã tỏ ra xuất sắc, tận tâm giúp đỡ đồng bào với luôn luôn nụ cười trên môi.

   Là một Phật tử yêu nước mến đạo, nên Thiện luôn luôn có mặt trong các cuộc vận động Phật-giáo, Thiện gối đất nằm sương để bảo vệ chư Thượng Tọa, Đại Đức và giữ gìn an ninh trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự, tham gia tuyệt thực và thừa hành nghiêm chỉnh chỉ thị của Giáo Hội.

   Năm 1966, Thiện đã dẫn đầu các cuộc biểu tình do Giáo Hội tổ chức, để đòi chủ quyền quốc gia và Quốc Hội Lập Hiến. Thiện tình nguyện ngày đêm ở Việt Nam Quốc Tự để giữ gìn trật tự nơi Viện Hóa-Đạo.

   Trước khi mất vài hôm, Thiện nói với Anh em:

“Thà chết cho Đạo pháp và lý tưởng

còn hơn chết cho bạo quyền”

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 15.6.1966, Thiện lãnh phần trực nơi cổng chính, bị trúng đạn nơi trán, nên liền ngã ngay tại cổng lớn Việt Nam Quốc Tự.

Liền sau đó, được 6 đồng bạn chở đi bệnh viện, đến trước cửa trường Hồng Lạc, đường Trần Quốc Toản, xác Thiện bị cướp và sáu đồng bạn bị bắt luôn.

Đến 0 giờ ngày 16.6.1966, Thiện đã mất tại bệnh viện Đô Thành và chôn tại nghĩa trang Đô Thành.

Đoàn trưởng Huỳnh Văn Thiện là một thanh niên Phật tử Thiện Chí đầu tiên hy sinh cho Dân tộc và Đạo pháp, tô thêm nét son vào lịch sử Phật-giáo Việt-Nam.

TIỂU SỬ
Cố Đại Đức THÍCH THIỆN ÂN

Bị bắn trọng thương trong vụ thảm sàt tại Việt Nam Quốc Tự
Viên tịch lúc 5 giờ sáng ngày 23.6.1970.
Đại Đức Thích Thiện Ân pháp danh Đồng Thiện tên thật là LƯƠNG HỮU BA 21 tuổi, sinh năm 1949 tại xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi; con ông Lương Châu và bà Hồ Thị Ngọc, sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, anh em gồm có 4 người: một anh, một chị và mộ em trai. Vì sớm ảnh hưởng ở đức tính hiền hòa của phụ thân cũng như nếp sống thanh nhã của gia đình, cậu bé BA đã xin phép song thân vào chùa tập sự xuất gia năm 11 tuổi, tại chùa Linh Ứng Non Nước Đà Nẳng. Tại đây, Đại Đức được Thượng Tọa Thích Trí Hữu cho xuất gia vào ngày 10.1.1958. trong khoảng thời gian tu học tại đây, Đại Đức đã tỏ ra thông minh. Vì thế mặc dù đầu còn để chóp, Đại Đức được Bổn sư chú ý. Đến năm 1960, vào dịp lễ vía đức Quan Thế Âm 19.2, Đại Đức được thọ Sa Di giới.

Vì tính hiếu học, Đại Đức đã xin phép Bổn sư vào Sài gòn năm 1960 và được sự gởi gắm hẳn hoi của Thầy, nên Đại Đức đã được về chùa Thiên Phước Cai Lậy để tu học vào năm 1960 tới năm 1962. Sau đó Đại Đức tùng học tại Phật học Viện chùa Phước Hòa Vĩnh Bình từ năm 1962 tới năm 1964. khi học mãn 3 năm sơ trung học tại Phước Hòa, Đại Đức tiếp tục về học tại Phật Học Viện Quang Minh vào năm 1964. ở đây chưa được nữa năm thì Phật Học Đường bị giải tán. Vì tính hiếu học, Đại Đức tiếp tục cuộc hành trình thi vào lớp Trung Đẳng Phổ Thông tại Phật Học Viện Huệ Nghiêm, vào năm 1964 cho tới năm 1967. trong suốt 4 năm tu học tại đây, Đại Đức tỏ ra thông suốt về thế pháp cũng như Phật pháp. Sau biến cố Tết mậu Thân, Phật học Viện Huệ Nghiêm tạm đóng cửa. Trong thời gian này, chư tăng tạm thời phải rời Phật Học Đường Huệ Nghiêm và cũng là năm Đại Đức tốt nghiệp lớp Trung Đẳng Phật-giáo.

Sau đó, Đại Đức về tu học tại tăng xá Phước Huệ Phú Thọ. Vì việc Phật sự nên sau đó Đại Đức về chùa Vạn Hạnh đường Võ tánh Gia Định trong hơn 1 năm, từ cuối năm 1967-1968. đầu năm 1968, Đại Đức thể theo lời mời của Phật tử về tọa chủ chùa Tân Long ở Tân Quý Đông, quận Nhà Bè, Gia Định. Tại đây Đại Đức được mới làm cố vấn giáo lý cho Gia đình Phật tử. Năm 1969 Đại Đức thọ Cụ Túc Giới tại Phật học Viện Huệ Nghiêm.

Đến ngày 4.5.1970 được tin Tăng Ni và Phật Tử đã trở về thu hồi Việt Nam Quốc Tự, nên chiều ngày hôm đó Đại Đức đã sốt sắng đến tham dự. Nhưng ma vương đạo tặc và hận thù vẫn còn tung hoành phá phách: bọn giáo gian đã cấu kết với chính quyền dùng vũ lực tấn công vào Việt Nam Quốc Tự bắn giết, đánh đập, đốt phá… đã làm cho một số người chết, mất tích và trên hơn 100 người khác bị thương nặng nhẹ, trong đó có Đại Đức. Đại Đức đã bị trúng phải viên đạn vào bụng xuyên qua sau, làm cho Đại Đức bất tỉnh quằn quại trên vũng máu, cho đến 7 giờ sáng mới có xe chở vào bệnh viện Bình Dân. Mặc dù ở trong tình trạng mê sản, nhưng Đại Đức cũng cố gắng gượng nói trong hơi thở phì phào với các huynh đệ rằng: “Chính thầy T.G. mặc đồ nhà binh mang lon Đại tá cầm súng bắn vào Đại Đức. Và Đại tá T.G. còn hò to “Hãy bắn chúng nó hết đi, …” tại bệnh viện Bình Dân, Đại Đức đã được Bác sĩ giải phẩu lần thứ nhất.

Sau hơn 1 tuần, vì thấy bệnh tình càng ngày càng nguy ngập, mỗi ngày mỗi ốm gầy héo hắc, nhưng tỉnh táo hơn những lần trước. Và cũng trong khoảng thời gian này, Đại Đức dường như đã biết trước được ngày lâm chung, nên tỏ ra vui vẻ trò chuyện tự nhiên. Trong những câu chuyện đàm đạo với thân nhân và người nuôi bệnh. Trong những câu chuyện đàm đạo với thân nhân và người nuôi bệnh, Đại Đức đã tâm sự rằng: “Thế sự sao lắm đảo điên, tình đời quá đen bạc. Những người tu hành như Thầy T.G.–T.C–Đ.N. mà sao còn gian ác, giết người không gớm tay, chắc những người đã chết, bị què quặc và nếu tôi cũng sẽ chết thì chắc quý Thầy đó vui sướng lắm!” và trước khi từ giã cõi đời ô trược, gian ác này, Đại Đức đã nhắn gửi rằng:

“Sau khi tôi chết, thi thể của tôi xin được quàn tại chùa Ấn Quang và hỏa táng tại An Dưỡng Địa”
Trong hơi thở ngập ngừng, Đại Đức nói tiếp:
“Các Thầy T.G.–T.C–Đ.N. hãy bỏ súng đạn xuống, thôi đừng giết người nữa và hãy giao trả Việt Nam Quốc Tự lại cho Giáo Hội, xin đừng nhờ thế lực chính quyền để bắn giết những người vô tội, tôi sẽ mở mắt nhìn xem quý Thầy hành động đây”.
Thật vậy, Đại Đức đã tắt lịm trong lời nói cuối cùng này, nhưng đôi mắt vẫn còn mở to như muốn nói và làm một việc gì mà Đại Đức chưa làm được.
Lúc đó đúng 5 giờ sáng ngày 23.6.1970, Đại Đức đã vĩnh biệt ra đi trong khi Giáo Hội còn mang nặng nhiều vết thương lịch sử do một số giáo gian cấu kết với chính quyền tạo ra với những âm mưu triệt hạ và lũng đoạn Giáo Hội. Những hăm dọa, khủng bố đau thương tang tóc của Giáo Hội còn đó, Tăng Ni huynh đệ và Phật tử còn đây, nhưng Đại Đức đã ra đi và để lại cho mọi người niềm mến tiếc nhớ thương và lại một lần nữa Đại Đức đã ghi thêm vào lịch sử Phật-giáo Việt-Nam một nét son oai hùng của người Tăng sĩ suốt đời chỉ biết hiến thân để phụng sự cho Đạo pháp và Dân tộc.
BÀI ĐIẾU VĂN
CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH PHÁP LAN

TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC TANG LỄ ĐĐ THÍCH THIỆN ÂN

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch Thượng Tọa Viện Trưởng Hóa-Đạo,
Kính bạch Chư Tôn Hòa Thựơng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni, và Toàn thể đồng bào Phật tử, cùng tang quyến của Đại Đức Thích Thiện Ân.
Kính thưa liệt quý vị,
Trước ánh hào quang Chư Phật, Giữa khung trời làn khói hương hòa lẫn với vần mây ảm đạm ! Cả một rừngngười lộ bày đầy uất hận, ngậm ngùi rơi lệ trước kim quang !
Tức tối thay ! phường gian ác tàn bạo… Thương tiếc đấy, người chơn tu hiền đức!
Thầy Thiện Ân ôi ! đây là lần chót, đưa thầy về cõi Phật; trước linh sàn xin kính điếu vài lời. Nguyện chơn giác hồn thiêng thầy chứng giám.
Hỡi ôi ! gió thảm từ đâu cuồn cuộng gợi trên dòng sóng lệ ! Mây sầu bỗng kéo mịt mù ngút tỏa giọt mưa tuông !
Tử, Sanh, Lão, Bệnh, bốn giai tuồng, cõi trần thế, ai ai cũng thế !
Nhưng đau đớn thay ! thầy mới hưởng 24 năm thế hệ, vội xa lìa thầy tổ, cha mẹ !
Cái chết của thầy ai nghe đến cũng căm hờn !.. đều nguyền rủa bọn giáo gian là tối ác !
Song, kẻ ấy đối với thầy họ có khác chi đâu, cũng cà sa, cũng đầu trọc, cũng màu nâu; nhưng chỉ khác lòng khuyển dạ trâu phường phản đạo.
Tuy họ sống, cả Dân tộc lẫn cỏ cây đều tiếu ngạo. Chết như thầy, trang sử vàng Phật-giáo mãi còn ghi.
Thầy ra đi, cũng như các Thánh Tử Đạo đã ra đi, và như  bao nhiêu đứa con tinh thần của Tổ Quốc đã ra đi.
Quý Ngài ra đi, để những trang sử oai hùng cho thế hệ, để những ngọn đuốc huệ huy hoàng, để những tâm can trong sạch.
Chúng tôi ở lại, ở lại với trăm ngàn việc cam go thử thách, ở lại giữa thời chiến cuộc loạn ly, tiếng đạn bom rền rỉ suốt ngày đêm, xương đồng loại , máu đồng bào ngày càng thêm cao đọng !
Vì tranh đấu cho Phật-giáo đồ nhứt thống, đạn vô tình của kẻ phi nhân, do bàn tay những bọn bán nước buôn dân, đầy thủ đoạn nhồi da xáo thịt.
Người mến nước yêu dân rất ít, kẻ tham ô tàn bạo thì quá nhiều ! nghĩ bấy nhiêu, lòng uất hận bấy nhiêu ! Máu bất khuất, giống tiên rồng, thà chết vinh hơn sống nhục.
Hỡi ôi ! Thế cuộc sao quá đảo điên ? Lòng người chóng thay đen đổi trắng: Cơn pháp nạn năm 63, thầy trò còn khăn khắn; đến hôm nay vừa tính chẳn 7 năm.
Ai cầm súng ? ai kéo quân vào V.N.Q.T.? Có phải là : TG.ĐN. với T.C…!
Ch1nh quyền đâu ? pháp lý đâu ? hay đồng lỏa cùng nhau toan thảm sát ? Lịnh đàn áp, súng nổ vang muôn loạt, giữa đêm trường trong lúc giới nghiêm.
Bọn ác tăng sát khí hằm hằm ! Tay nổ súng, miệng thét vang : bắn ! bắn vào đầu Phật tử lẫn Tăng Ni !
Đại Đức Thiện Ân là một vị tâm sắt đá, dạ gan lỳ, thề cương quyết chống bọn giáo gian phản đạo !
Xảy một phút Ca Sa đẩm máu, lửa ma vương bốc cháy cả thiền môn !..
Giờ đây kẻ bị trói, người ép dồn, tiếng kêu cứu trên xác người nằm la liệt !
Ôi thôi ! nguời trả nợ, kẻ gây oan nghiệt, cõi trần hoàn vay trả, trả vay !
Đại Đức Thiện Ân nguyện xả huyễn thân này, thần thức chỉ quy về Tịnh Độ.
Lòng bác ái lạy thầy ra tay cứu khổ, giúp Việt Nam mau được Hoà Bình, phò Giáo Hội hoằng dương Chánh Pháp.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
SÀI GÒN, ngày 28-6-1970
THÍCH PHÁP LAN
ĐIẾU VĂN CỦA BAN HDTƯ GĐPT VIỆT NAM
Đọc trong tang lễ cố Đại Đức THÍCH THIỆN ÂN
CỐ VẤN GIÁO LÝ GIA ĐỊNH PHẬT TỬ
Tử thương do đêm thảm sát (5.5.1970) tại VNQT.
Hỡi ôi!
Lửa cháy đạn bay-Thịt rơi máu đổ !
Đêm kinh hoàng tiếng thét vút trời cao
Niềm uất hận bút ghi hằng thế-kỷ.
Lũ cuồng nhân như loài ác thú, mượn lốt người hiền, mặc áo Thầy tu, xem đồng đạo như người xa lạ.
Bọn khát máu tựa loài quỹ dữ, giả dạng cao tăng đoạt cửa Từ Bi, nhìn tín hữu tưởng phường thù ngịch.
Đêm thảm sát mùng 5 tháng hạ, những ma vương phơi rõ mặt hung tàn.
Giờ tử đạo cuối tuần nguyệt tận, hồn đại giác nêu cao lòng ngộ đạo.
NHỚ GIÁC LINH XƯA:
Năm mười tuổi sớm bước vào đường đạo, xin lệnh xong đường nối gót Đấng Từ Bi.
Suốt mười năm chuyên chú việc kinh vàng, vâng mệnh Bổn sư đốt đuốc tìm về bến giác.
Một lòng vì đạo mệnh vắn xót xa.
Nữa đoạn đường đời, chung niềm đau đớn.
Đoái là tiếc tuổi đời còn trẻ, mười năm học đạo đau lòng trước cảnh cốt nhục tương tàn.
Những là thương dạ đá gang vàng, kinh sử bao năm, xả thân thắp sáng niềm tin tối thượng.
Hỡi giác linh của Vì Tử Đạo, xin độ trì cho lớp người mê lạc sớm trở về với đấng cha lành.
Nào những hồn con em nối gót, hãy noi gương đại giác để tìm được ánh vàng của Đức Từ Tôn
Chúng tôi nay quỳ dưới Phật đài:
Lòng cùng lòng nguyện chít khăn tang-Mắt cùng mắt hướng về Phật Tổ.
Nguyện cầu cho giác linh Người sớm về cõi Niết Bàn.
Cung thỉnh để hương hồn Người trở lại đây chứng giám.
Hởi ôi! Thượng Hưởng.
TIỂU SỬ
Cố Huynh Trưởng PHAN DUY TRINH
   Huynh Trưởng Phan Duy Trinh 40 tuổi, pháp danh Tâm Khiết, sanh năm 1925, chánh quán Phò An, Phú Vang, trú tại Kim Long, Hương Trà, Thừa Thiên. Thân sinh của Đạo Hữu gồm có 5 anh em, Đạo Hữu là người con trưởng. Là một hội viên thuần thành của Hội Phật-giáo Kim An từ năm 1953. năm 1954 Đạo Hữu đã dự trại Đại Chí B của GĐPT Thừa Thiên tổ chức tại Báo Quốc. Sau một thời gian sinh hoạt tại Kim An, nhận thấy gia đình này có khả năng tự đứng vững, Đạo hữu bắt đầu khai sinh GĐPT Phú Thạnh và hoạt động cho Gia Đình này. Cũng trong thời gian đó. Đạo hữu đóng góp không ít cho Gia Đình Phật tử An Hòa . Đạo hữu vừa sinh hoạt cho Phú Thạnh vừa giúp đỡ cho An Hòa. Mỗi tuần Đạo hữu phải dành trọn ngày chủ nhật cho hai gia đình này.
Vào năm 1955,một cuộc rước Xá Lợi được tổ chức trọng thể từ Sài Gòn về Huế. Đạo hữu là người tham gia tích cực nhất và việc chuẩn bị và tổ chức cho ngày Đại lễ đó. Về cống tác xã hội, Đạo hữu là người đóng góp rất nhiều cho công cuộc bình dân giáo dục tại xã địa phương. Đạo hữu là một huynh trưởng thọ thập trai, rất giỏi về Phật pháp và có khiếu về hoạt động thanh niên.
Vì những hoạt động đắc lực của Đạo hữu cho Gia đình Phật tử cũng như sự nhiệt thành đối với công tác Phật sự của Tỉnh Hội, Đạo hữu đã bị những đôi mắt bí mật theo dõi. Có một số người lạ mặt bắt đầu theo đuổi Đạo hữu và Đạo hữu đã bị họ cảnh cáo và hăm dọa một vài hôm, trước khi ngộ nạn. Chính Đạo hữu đã tiết lộ điều này cho một Đạo hữu trong ban trị sự khuôn hội Phú Thạnh biết là có lẽ Đạo hữu sẽ bị nguy hại. Và lời báo trước đó đã thành sự thật.
Đêm 18 tháng 4 năm Ất Tỵ, vào khoảng 9 giờ tối, trong khi tiễn đưa 3 Huynh trưởng Phú Thạnh đến thăm, nhân Đạo hữu đã bị một số người có vũ khí bắt cóc. Sáng ngày 19.4 âm lịch, một huynh trưởng trong số ba Huynh trưởng trở lại hỏi thăm gia đình Đạo hữu và báo tin Đạo hữu đã bị bắt cóc. Đồng thời vào lúc đó cũng có người tin về Đạo hữu đã bị ám hại trên một cồn mả cách nhà Đạo hữu khoảng 300 thước vế Hướng Bắc. Trên khoảnh đất Đạo hữu nằm bị nát một vạt cỏ, máu và cơm lẫn lộn với nhau và cạnh đó một khúc gỗ bằng kiền kiền có ba cạnh đã gãy đôi. Nhìn trên thi thể thấy Đạo hữu bị một nhát đâm ở Thái Dương bằng dao nhỏ, vết thương bị ngoái mạnh và sâu, ngực Đạo hữu bị dập nát, nhiều xương bị gãy, toàn thân bị những vết thương bầm tím, tay Đạo hữu bị trói giật lùi đằng sau bằng một sơi dây trắng. Đạo hữu nằm hướng đầu về nhà cách chỗ bị đánh 5 bước.
Trong thời gian chuẩn bị đám tang có rất nhiều người lạ mặt rình rập quanh nhà. Tuy thế đám tang vẫn được cử hành rất rọng thể. Ba khuôn hội Kim An, Phú Thạnh, An Hòa đã đứng ra tổ chức lễ an táng nầy. Tiễn đưa linh cữu, hội hữu và các Gia đình ở Huế nối dài hơn 2 cây số. Nhiều trướng, liễn, vòng hoa đã nói lên nỗi xúc động mãnh liệt và lòng thương tiếc sâu xa của mọi người đối với một Phật tử đã bỏ mình vì đạo.
Năm 1965, Viện Hóa-Đạo đã phong cho Đạo hữu lên hàng THÁNH TỬ ĐẠO.
TIỂU SỬ
Cố Huynh Trưởng NGUYỄN ĐẠI THỨC
Huynh Trưởng Nguyễn Đại Thức 37 tuổi, pháp danh Tâm Dũng, sinh ngày 14.7.1929 tại Nguyệt Áng, Quảng Bình, trú quán 46 Trịnh Minh Thế Huế. Con Ông Nguyễn Đại Thành (đã chết) và Bà Từ Thị Hiếm. Bổn sư của Đạo hữu là Thượng Tọa Thích Đôn Hậu. Đạo hữu là một người luôn tỏ ra cần mẫn mến Đạo. Đạo hữu cũng là một Thiếu Úy trong quân đội VNCH. Đạo hữu kết hôn với cô Ái và sinh được 4 người con trai kháu khỉnh.
Pháp nạn 1963, chế độ Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp Phật-giáo đồ, triệt hạ cờ Phật-giáo, dùng chính sách tù đày, tra tấn dã man. Bấy giờ Đạo Hữu là một sĩ quan an ninh, hằng ngày phải chứng kiến những cảnh man rợ đó, lòng Đạo hữu đau quặng, buồn tủi thương cho đồng đạo và lo cho số phận tín ngưỡng của mình. Trước trạng huống đau lòng đó, Đạo hữu đã không ngại ngần đến với gia đình Phật Tử Tịnh Bình; mặc dù Đạo hữu biết đến với GĐPT lúc này sẽ gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Ban đầu Đạo hữu chỉ là một bạn đoàn, qua một thời gian sinh hoạt, Đạo hữu tỏ ra là một người anh gương mẫu, nhiệt thành với tổ chức, nên gia đình đã chính thức nhận Đạo hữu là một Huynh Trưởng với chức vụ Đoàn phó đoàn Thiếu Nam. Ngày 26.7.1965, Đạo hữu dự trại Lộc Uyển và tiếp đến dự trại A Dục ngày 1.9.1965. trong buổi lễ phát nguyện trước Tam Bảo, Đạo hữu đã phát nguyện những câu sau đây:
“Thược, Hiệp, Hảo, Hải (tên các con Đạo hữu), các con hãy đốt cây đèn này sau khi Ba đã về cõi Phật (câu này Đạo hữu khắc vào đèn sáp trong buổi phát nguyện)”. Niên khóa 1965-1966, Đạo hữu nhận chức Đoàn trưởng Thiếu Nam kiêm Thư ký Gia đình. Đạo hữu còn là một ủy viên trong ban Bảo trợ GĐPT Thừa Thiên.
Năm 1966, Phật-giáo đồ toàn quốc lại phải đứng lên một lần nữa để đòi chính quyền thực hiện dân chủ bằng cách tổ chức các thể chế dân cử. Cuộc tranh đấu đầy cam go và buồn tủi nhiều hơn trước. Đạo hữu là một trong những người tranh đấu hăng hái và nhiệt thành nhất. Ngày 27.3 nhuận năm Bính Ngọ 1966, lúc 10 giờ 30 sáng, trong khi Đạo hữu cùng làn sóng người tràn vào Bộ Tư Lệnh sư đoàn I, để đưa Thỉnh nguyện thư thì Đạo hữu bị một tràng tiểu liên của tên cận vệ Huỳnh Văn Cao hạ sát. Đạo hữu vĩnh viễn ra đi lúc 12 giờ 15 trưa cùng ngày, để lại sự tiếc thương cho hàng vạn Phật-giáo đồ Thừa Thiên và Huế. Đạo hữu ra đi để lại thân sinh già yếu, người vợ bệnh hoạn quanh năm, và một đàn con dại.
Linh cữu Đạo hữu được quàn tại chùa Diệu Đế Huế, hằng ngày rất đông đồng bào Phật tử đến thăm viếng tiếc thương. Cũng tại đây Đạo hữu được Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên gắn lên nắp áo quan tài cấp TÍN (cấp bậc khá cao cho những Huynh Trưởng có tinh thần, nhiệt tâm vì Đạo).
Đạo hữu hưởng thọ 37 tuổi đời và 3 tuổi trong GĐPT.
Ngày đưa đám Đạo Hữu, bầu trời ảm đạm, mây buồn che kín cả khung trời và từng đoàn người nối tiếp nhau, nghẹn ngào rơi lệ! Tiếng kèn, tiếng trống ai oán thảm thương, tất cả đều tiễn đưa Đạo hữu đến nơi an nghỉ cuối cùng.
TIỂU SỬ
Phật tử NGUYỄN THỊ VÂN
Thiếu nữ Phật tử NGUYỄN THỊ VÂN 17 tuổi, pháp danh Không Gian, sanh ngày 12.4.1949 tại Thành Nội Huế. Thân sinh Nguyễn Thị Vân là Ông Nguyễn Văn Khả và Bà Nguyễn Thị Minh.
Năm 1956, Vân lại được thân sinh cho vào Gia Đình Phật tử Thành Nội, sinh hoạt với đoàn Oanh Vũ Nữ. Với bản tính hiền hòa dễ mến, siêng năng ngoan ngoãn, luôn vâng lời anh Chị trưởng, vì vậy Vân được Anh Chị và các bạn tặng danh hiệu “đoàn sinh gương mẫu”. Năm lên 10, Vân được giữ chức vụ Đàn phó, rồi lên Đàn trưởng. Và đến năm 14 tuổi, Vân được lên Thiếu Nữ. Vẫn đức tính đoan trang hiền dịu của một Thiếu Nữ xinh tươi, Vân đã tỏ ra xứng đáng là một Phật tử ngoan đạo. Vào lúc này Vân đã dự các kỳ thi vượt bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện và Trung Thiện, dù được trúng cách với số điểm khá cao, Vân không bao giờ tỏ ra kêu hãnh tự cao; Bao giờ Vân cũng tìm tòi học hỏi thêm.
Khí thế tranh đấu năm 1966 sôi sục, dâng cao, các vị Chân tu đã tự thiêu để phản đối. Tại Huế, Ni Cô Thích Nữ Thanh Quang đã tự thiêu tại chùa Diệu Đế. Ngày 12.4 Âm lịch Nguyễn Thị Vân đã noi gương Ni cô Thanh Quang tự thiêu để phản đối những áp bức, những bạo tàn,những đàn áp…vào lúc 3 giờ sáng, để lại cha già với đàn em còn thơ dại. Vân ra đi đang giữa lúc tuổi đời đang còn nhiều mơ mộng, tương lai tươi sáng đang chờ đón Vân. Một mình thầm lặng điềm tọa trước hiên Chùa Khuôn Giáo Hội Thành Nội, tự tay châm lửa thiêu thân, khiến nhục thể Vân không tiêu tan trọn vẹn … lửa đã tắt Vân chưa tắt thở, với thân xác rươm rướm máu, miệng vẫn thầm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Can đảm hơn nữa, kiên hùng hơn nữa, khi Vân biết mình còn sống, vì thiếu xăng, nên môi Vân mấp máy qua hơi thở đứt đoạn “xin …quý …ngài …cho …con …thêm xăng …để …thiêu …thân …cho tròn ý nguyện…”.
Lúc này mọi người đã đổ xô đến bạn bè, thân thuộc, Quý Thượng Tọa, ký giả báo chí đều có mặt, nhưng không một ai đủ nghị lực để thỏa mãn lời yêu cầu của Vân. Thế là Vân được đưa vào bệnh viện Huế và … ý nguyện Vân đã thành: vào lúc 7 giờ 30 phút … Vân đã vĩnh viễn ra đi để lại sự tiếc thương cho bao nhiêu người mến Vân, thương Vân, trong niềm xúc cảm chân thành đó, còn có một niềm hãnh diện.
Điều cần nhắc nhở là trước khi tự thiêu, Vân đã để lại chiếc áo lam với đầy đủ huy cấp hiệu kèm theo 3 bức thư:
–     1 gởi thân quyến.
–     1 gởi chính quyền đương thời.
–     1 gởi Tổng Thống Hoa Kỳ.
TIỂU SỬ
Phật tử ĐÀO THỊ TUYẾT[1]
Đào Thị Tuyết 17 tuổi, sinh tại Sài gòn, con của Ông Đào Đình Diệu và Bà Đỗ thị Vinh.
Tuyết có 5 chị em, 4 gái và 1 trai. Tuyết đứng về thứ ba. Tuyết học đến đệ lục, tánh tình đằm thắm, ăn nói lễ độ, được thầy thương bạn mến.
Tuyết vào Đoàn Thanh niên Thiện Chí, để rèn luyện nếp sống của một Phật tử. Tuyết thường ôm ấp bản nguyện:
“Nên làm một cái gì đó đối với Dân tộc và Đạo pháp”.
Thế rồi vào lúc 21 giờ 30 ngày 17.6.1966, nhằm ngày 30.4. năm Bính Ngọ, Tuyết phát nguyện tự thiêu tại Việt Nam Quốc Tự, để cầu nguyện cho Đạo pháp sớm chấm dứt tai nạn và Dân tộc sớm được Hòa Bình an lạc.
[1] Bổ túc trang 164
    Bổ túc trang 175
TIỂU SỬ
Đạo Hữu LÊ VĂN MỸ
Đạo hữu Lê Văn Mỹ 67 tuổi, pháp danh Tâm Mậu tự Chơn Thiện, sanh năm Nhâm Dần (1902), tại thôn Lâm Lang xã Cam Hiếu quận Cam Lộ tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình Nông Nghiệp.
Năm 27 tuổi Đạo hữu lập gia đình tại Huế, với một bà thuộc dòng Hoàng tộc, sanh được hai người con trai. Đến năm 37 tuổi, người bạn đời mất đi. Đạo hữu ở vậy nuôi con.
Đến năm 48 tuổi, Đạo hữu quy y với Hòa Thượng Thiền Tôn (Tổ Giác Nhiên), và quyết tâm tu niệm. Mặc dù ở tại gia, nhưng Đạo hữu rất chuyên cần tu về pháp môn tịnh Độ và ăn trường trai suốt 17 năm.
Đến vía Phật A Di Đà, ngày 17.11 năm Kỷ Dậu, (nhằm ngày 25.12.1969) Đạo hữu phát tâm tự thiêu vào lúc 5 giờ sáng, tại tư gia ở Đà Nẵng, để cầu nguyện Hòa Bình cho đất nước và Phật-giáo hết tai nạn.
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: