RSS

50 NĂM CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

23 Jul
Tác giả : Thích Thiện Hoa

50 NĂM (1920-1970) CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Sa môn THÍCH THIỆN HOA soạn

I –Lời Nói Đầu
II –Diễn Văn
III –Quyết Định 0176–V.H.Đ
IV –Ghi ân Tiền Bối
Phật-giáo du nhập Việt Nam lần đầu tiên
Phật-giáo trải qua các triều đại
Thời kỳ Phật-giáo suy đồi (dưới thời Pháp thuộc)
Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo VN (1920)

MIỀN NAM

a) Hội lục hòa và tạp chí Pháp Âm
b) Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học
c) Liên đoàn học xã ra đờ
d) Hội lưỡng xuyên Phật học

MIỀN TRUNG

a) Hội An Nam Phật học
b) Phật học đường Báo Quốc và Kim Sơn
c) Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên
d) Phật-giáo tỉnh Bình Định và Đà Nẵng

MIỀN BẮC

a) Bắc Kỳ Phật-giáo tổng hội
b) Chùa Quán Sứ
c) Chùa Một Cột
d) Những vị đã góp công ít nhiều xây dựng PGVN
Phật-giáo Nam Tông Việt Nam

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ NĂM 1945-1963

MIỀN NAM
a) Phật học đường Phật Quang, Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang
b) Phật học đường Nam Việt và chùa Ấn Quang

MIỀN TRUNG
a) Phật học viện Nha Trang
b) Tu Viện Nguyên Thiều
Giáo Hội Tăng già toàn quốc.
Tổng hội Phật-giáo Việt-Nam
Sáu tập đoàn Phật-giáo
a) Giáo Hội Tăng già Nam Việt.
b) Hội Phật học Nam Việt.
c) Giáo Hội Tăng già Trung Việt.
d) Hội Phật học Trung Việt.
e) Giáo Hội Tăng già Bắc Việt.
f) Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM GẠP ĐẠI NẠN (1963)

Danh Sách Chư Thánh Tử Đạo
Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Ra Đời

TỔNG KẾT

Phật-giáo Việt-Nam quá khứ.
Phật-giáo Việt-Nam cận đại.
Phật-giáo Việt-Nam ngày nay.
THÔNG BẠCH CỦA G.H.P.G.V.N.T.N GỞI TOÀN THỂ PHẬT GIÁO ĐỒ

PHẦN PHỤ

V –Di ảnh và tiểu sử Chư Thánh Tử Đạo.
1. BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC.
2. ĐẠI ĐỨC THÍCH NGUYÊN HƯƠNG
3. ĐẠI ĐỨC THÍCH THANH TUỆ
4. NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU QUANG
5. THƯỢNG TỌA THÍCH TIÊU DIÊU
6. PHẬT TỬ HỒNG THỂ (THƯƠNG PHẾ BINH)
7. ĐẠI ĐỨC THÍCH QUẢNG HƯƠNG
8. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN MỸ
9. ĐẠI ĐỨC THÍCH HUỆ HỒNG
10. PHẬT TỬ NGUYỄN THỊ VÂN
11. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN HUỆ
12. NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU TRI
13. NI SƯ THÍCH NỮ DIỆU QUANG
14. NỮ PHẬT TỬ ĐÀO THỊ YẾN PHI
15. NỮ SINH PHẬT TỬ NGUYỄN THỊ HUỆ
16. NỮ PHẬT TỬ ĐÀO THỊ TUYẾT
17. NI CÔ THÍCH NỮ TRÍ TÚC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)
18. NI CÔ THÍCH NỮ TRÍ CHƠN (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)
19. NI CÔ THÍCH NỮ HUỆ LẠC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)
20. ĐẠI ĐỨC THÍCH HẠNH ĐỨC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)
21. NI CÔ THÍCH NỮ TRÍ TÚC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)
22. NỮ PHẬT TỬ NHẤT CHI MAI (CẦU HÒA BÌNH V.N.)
23. THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN LAI (CẦU HÒA BÌNH V.N.)
24. NI CÔ KHẤT SĨ LIÊN TẬP (CẦU HÒA BÌNH V.N.)
25. NỮ SINH PHẬT TỬ QUÁCH THỊ TRANG
26. PHẬT TỬ PHAN VĂN HÒA VÀ NGUYỄN VĂN PHÁT
27. PHẬT TỬ THIỆN CHÍ HUỲNH VĂN THIỆN
28. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN ÂN
29. HUYNH TRƯỞNG PHAN DUY TRINH
30. HUYNH TRƯỞNG NGUYỄN ĐẠI THỨC
31. PHẬT TỬ NGUYỄN THỊ VÂN
32. PHẬT TỬ ĐÀO THỊ TUYẾT
33. ĐẠO HỮU LÊ VĂN MỸ
HÌNH ẢNH

LỜI NÓI ĐẦU

“Uống nước nhớ nguồn”, đó là lẽ thường tình của con người, huống hồ là Phật tử.

Hôm nay hàng Phật-tử chúng ta đang sống trong hào quang tươi sáng của Phật, trong một tổ chức có quy-mô, trong một đường lối giáo dục có phương pháp và trong một tinh-thần thống nhất ý chí-hành động. Đó là nhờ sự gắng công thường xuyên, ý chí bất khuất của các bậc Tiền-Bối trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo Việt-Nam, 50 năm về trước, của 3 miền Nam, Trung, Bắc.

Gần 100 năm về trước, quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp đô hộ, Dân tộc ta và những gì mang nặng dân-tộc tính, có tinh thần quốc gia đều bị thực dân Pháp bóp chẹt. Phật-giáo Việt-Nam nằm trong tình trạng ấy.

Nhưng không hẹn mà nên, 50 năm về trước, các vị Tiền Bối cùng nằm trong một thời kỳ, cùng trong một hạnh nguyện, đã khởi xướng và đẩy mạnh Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo Việt-Nam.

Kết quả của nữa thế-kỷ hoạt-động trong chông gai, trong sự khủng bố chèn ép nặng nề, là cơ sở Phật-giáo đã lan đến hạ tầng thôn xóm; giáo lý nhà Phật không còn quanh-quẩn trong các Tu Viện mà đã quảng bá sâu rộng vào các tầng lớp dân chúng; phạm vi giáo dục Phật-giáo không còn đóng khung ở Bậc lão-thành mà đã đi sâu vào Thanh thiếu nhi Phật tử; nào Trường Bồ-đề, nào các Phật-học viện, rồi đến Đại-học Vạn-Hạnh…

Song song với công cuộc phát huy đời sống tâm linh, lãnh vực hoạt-động từ thiện xã hội như: Cô nhi-viện, Ký-nhi-viện, v.v… đã gây nhiều ảnh hưởng lớn lao trên toàn quốc.

Với những thành quả lớn-lao như thế, chúng ta không thể không nghỉ đến công đức của các vị Tiền-bối. Do đó, Hội Đồng Viện Hóa-Đạo đã quyết định tổ chức hàng năm, lễ kỷ-niệm “GHI ÂN NHỮNG BẬC TIỀN-BỐI HỮU CÔNG TRONG PHONG-TRÀO CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM” vào ngày Phật Thành-Đạo (Mùng 8 tháng Chạp) và bắt đầu từ Phật Lịch 2513 năm Kỷ Dậu (1970) tại trụ sở Tam Viện Hóa-Đạo chùa Ấn Quang Sài Gòn.

Bài “GHI ÂN TIỀN BỐI” này, bắt nguồn từ lòng tri ân không bờ bến, đối với các bậc Tiền Bối và đã đọc lên trong buổi đại-lễ nói trên; rồi được sửa lại, thêm vào những đoạn cần-thiết và đổi đầu đề là “50 Năm Chấn hưng Phật-giáo Việt-Nam” Tập I. Sau tập này, chúng tôi sẽ viết tiếp quyển “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay”, tức là quyển “50 Năm Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” tập II.

Quyển sách này viết ra nhằm các lợi ích sau đây:

1.  Để Tăng Ni và Phật tử thấy Phật-giáo Việt-Nam đã viết thành 1 trang lịch-sử vàng son oai-hùng và oanh-liệt, gần 2000 năm cứu quốc và kiến-quốc, luôn luôn chống ngoại xâm, trung-thành với quốc gia dân-tộc, cùng dân-tộc đồng an đồng nguy, mua chuộc không được, áp lực không sợ, không dựa quyền thế và không làm tay sai cho ngoại bang (xem đoạn tổng kết của quyển sách này, từ trang 128 đến trang 138). Là Phật-tử phải có bổn-phận giữ-gìn trang lịch-sử quý báu này.

2.  Để Tăng Ni và Phật tử đều thâm cảm hồng-ân sâu dày của Tiền-bối. Quý Ngài đã đóng góp rất nhiều công-lao gian khổ và sự-nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo trong nữa thế-kỷ vừa qua.

3.  Để Tăng Ni và Phật Tử tin tưởng phấn khởi trước sự trổi dậy, tiến triển của Phật-giáo Việt-Nam trong 50 năm vừa qua, từ khi suy đồi thậm tệ, đến lúc thực sự phục-hưng.

4.  Để Tăng Ni và Phật tử sẽ ý thức trách-nhiệm hay bổn phận của mình, hăng hái tiếp nối, và duy trì sự-nghiệp của Tiền bối.

Tập sách này, chỉ là tài-liệu sơ-khởi, đương nhiên còn phiến-diện, vì công trình vỏn vẹn chỉ có một mình tôi! Lại còn phải đảm-đang rất nhiều công việc. Tôi ước mong tập tài liệu này có thể giúp ích về sau, để soi sáng cho những công-trình hoàn bị hơn, thuộc loại giáo-sử này. Kính xin Quý liệt vị Thiện Tri Thức vì lợi ích chung, hoan hỷ bổ-túc cho những điểm thiếu sót, để khi tái bản được hoàn-bị.

Chùa Ấn Quang
Ngày rằm tháng chạp năm Kỷ Dậu (1970)
Sa-môn Thích Thiện Hoa.

DIỄN VĂN
Của Thượng-Tọa Thích Thiện-Hoa, viện Trưởng Viện Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N, đọc trong lễ kỷ-niệm lần đầu tiên (8/12 Kỷ dậu, Phật Lịch 2513) Ghi ân các bậc tiền-bối hữu- công trong phong-trào chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, hậu bán thể-kỷ 25, Phật lịch.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
Thưa Quý Liệt vị,
Như mọi người đã biết, cách đây hơn thế-kỷ, Dân tộc Việt-Nam mất chủ quyền độc lập từ ngày thực dân Pháp mang quân sang xâm chiếm nước ta. Cũng từ ngày đó, Phật-giáo Việt-nam, một tôn giáo dân-tộc, có mặt trên đất nước này gần 2000 năm lịch- sử, đã đau đớn bước vào con đường suy-vong chung với dân-tộc!.

Tuy nhiên, hoàn cảnh tủi nhục chung ấy đã thúc đẫy lòng yêu nước mến đạo của dân-tộc, nên đã có những Anh Hùng cách mạng đứng lên chống lại ách thực dân, giành độc lập cho xứ sở. Cũng trong tinh-thần ấy, Phật-giáo Việt-Nam cũng có những Bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ nhiệt tâm với tiền-đồ Đạo-pháp, đã tìm mọi cách khôi-phục lại truyền-thống tín ngưỡng của dân-tộc bằng mọi cách, để duy trì truyền-bá chánh-pháp, giữ lại những đạo-lý luân-thường, phong-tục tập quán Văn-minh cổ-truyền của đất nước, đã chịu nhiều ảnh-hưởng Phật-giáo, hầu đóng góp công nghiệp tranh thủ chủ-quyền và sinh tồn cho Tổ-quốc và Đạo-pháp, chống lại những gì phi Dân tộc do ngoại bang mang đến. 
Thưa Quý Liệt Vị,

Hôm nay, đã đến lúc chúng ta những người thừa kế có nhiệm vụ kiểm-điểm lại sự nghiệp của tiền nhân, đồng thời kính cẩn ghi vào “Lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cận đại” những thành-tích riêng biệt của những bậc Tiền Bối, hữu công trong Phong-trào Chấn-hưng Phật-giáo, để chúng ta noi theo đó mà tiếp tục giữ gìn, và để cho những hậu-côn, tương lai của chúng ta noi gương học hỏi.

Bởi các lẽ trên, trong đại-hội Cư-sĩ toàn quốc kỳ I vừa rồi, Giáo-hội Phật-giáo Việt-nam Thống-nhất đã chính thức công-bố một Tuyên-cáo liên quan nhiều vấn-đề quá-khứ, hiện-tại và vị-lai, cả đối nội cũng như đối ngoại của Giáo-hội, trong đó điểm đầu tiên nhất: Giáo-hội long trọng ghi nhận công-đức lớn lao của các bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ tiền-bối  hữu công trong sự nghiệp Chấn hưng Phật-giáo, từ gần nửa thế-kỷ qua tại–Việt-nam. Và tiếp theo đó một quyết-định của Giáo-hội đã được ban-hành ngày 16/12/1969, thiết-lập ngày kỷ-niệm hàng năm, đối với các Thánh Tăng đại-sĩ, các vị Cư-sĩ Bồ-Tát tại-gia, thuộc các miền Nam Trung Bắc và Nam Bắc Tôn hữu công, trong quá-khứ hoặc hiện-tại, vào dịp lễ kỷ-niệm Đức Phật Thành Đạo, mùng 8 Tháng 12 âm-lịch.

Hôm nay, để cuộc lễ đầu tiên vừa mới thiết lập đầy đủ ý nghĩa, Giáo hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất và toàn thể Phật-giáo đồ thành tâm tưởng niệm:
–     Quý vị sáng-lập các Hội, các Đoàn, và các cơ-sở Văn-hóa Xã-hội có mục đích khuyến khích nghiên-cứu, giáo-dục, học tập chánh-pháp và thực hành theo chánh pháp;
–     Quý vị sáng-lập và Chủ-trì các cơ quan đào tạo Tăng-tài, các vị Pháp sư, Giảng-sư, Giáo-sư hữu công, hữu danh,v ..v …
–     Quý vị phiên-dịch kinh-điển, trước tác và ấn hành các Văn phẩm, họa phẩm, điêu khắc, ca nhạc, kiến trúc v.v … có giá trị liên quan trực- tiếp, gián-tiếp trong việc phổ biến giáo-lý hình ảnh màu sắc Đạo-Phật;
–     Quý vị sáng-lập và chủ-trì các cơ-quan ngôn luận, truyền bá và Việt-hóa giáo pháp.
–     Quý vị đã hy sinh tánh mạng vì hộ-trì chánh pháp, quý vị kiến-tạo và duy-trì các Tòng-lâm, các danh-lam thắng tích Phật-giáo, quý vị Phụng thủ Tam-Tạng Thánh-Giáo;
–     Quý vị hằng Tâm hằng Sản, hữu danh, vô danh, Quý vị hộ trì Tam- Bảo đã đóng góp xứng đáng, quý giá cho các Phật-sự trong quá-khứ.v.v…

Đại-khái, chúng ta ghi nhớ công-đức quý vị đã có công duy-trì, truyền-bá xây dựng Phật-giáo Việt-nam, trong thời kỳ đen tối của Lịch- sử Dân- tộc và Đạo-pháp, dưới sự phong tỏa, kỳ thị, kiểm soát của thực dân và các thế lực tay sai từ 1920 đến nay. Pháp hiệu, phương danh và tiểu sử của các vị ấy sẽ được thiết lập sau, vì phải hết sức thận trọng, cân nhắc để xác định đúng mức công nghiệp có tính-cách và giá-trị lịch-sử của các Ngài, hầu tránh những lỗi lầm thiếu xót trước khi đưa Quý Ngài vào lịch sử. Nhất là tìm hiểu sâu xa sự liên hệ giữa sự Chấn-hưng Phật-giáo với sự quật-cường của Dân-tộc đã nhịp nhàng như thế nào, để chứng minh rằng: Dân tộc và Đạo pháp có sự gắn liền và bất khả phân, đồng an đồng nguy, trong quá trình lịch sử; để chúng ta thêm tin tưởng và dấn thân phục vụ cho tương lai, bất cứ trong lãnh vực nào mà dân-tộc cần đến. 

Thưa quý Liệt vị,

Tục ngữ có câu: “Cây có gốc, nước có nguồn”. Quả vậy, Giáo hội PGVNTN chúng ta được thiết-lập đến nay tuy mới 6 năm tròn, nhưng nó đã được thai nghén trưởng dưỡng từ gần nữa thế-kỷ trước. Chúng ta là những người thừa hưởng sự nghiệp vẻ vang của tiền nhân để lại. Do đó chúng ta, những người hiện tại, có nhiệm vụ làm thế nào trang sử Phật-giáo Việt-Nam của thời vàng son Đinh-Lê-Lý-Trần, và thời Chấn-hưng cận-đại, được nối liền và sáng chói tới tương lai!
Có như thế, mới mong được đền đáp phần nào công ơn xây dựng của tiền-hội, chúng ta cần phải cố gắng và hy -sinh nhiều hơn nữa trong tương lai, mới mong giữ vững được những công-trình sự-nghiệp cao cả của tiền nhân để lại.
Trước khi dứt lời, chúng ta hãy giành một phút mặc-niệm và cầu nguyện cũng như hồi hướng công đức giữ Đạo, dựng Đạo của các vị Tiền-Bối cho Hòa Bình đất nước và sự trường tồn của Giáo-hội.
Trân trọng kính chào Quý Liệt Vị. 
Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
243, Sư Vạn Hạnh
Số: 0176–VHĐ/VP/QĐ
 VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO
–  Chiếu Giáo-chỉ ngày mồng 8 tháng 12 Phật lịch 2509 (14-12-65) của Đức Tăng Thống Ban Hành Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N. được tu chỉnh bởi đại hội khoáng đại kỳ II,
–  Chiếu Biên bản đại hội G.H.P.G.V.N.T.N. kỳ III, ngày 20-08-68, lưu nhiệm chức vụ Viện-trưởng Viện Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N
–  Chiếu giáo chỉ số 08 ngày 20-08-68 phê chuẩn và tấn phong Ban-Chỉ Đạo Viện Hóa-Đạo của Đức Thắng Thống.
–   hiếu Tuyên-cáo ngày 01-12-1969 của Viện Hóa-Đạo Giáo-hội Phật-giáo Việt-Nam Thống-nhất.
–  Chiếu Biên-bản phiên họp Hồi đồng Viện Hóa-Đạo ngày 12-12-69.
QUYẾT ĐỊNH.
Điều 1:  – Nay trân trọng thiết lập ngày kỷ-niệm pháp-định các vị Tăng-sĩ, Cư-sĩ Tiền-bối thuộc Nam Bắc Tôn tại Nam Trung Bắc, hữu công trong Phong trào Chấn- hưng Phật-giáo Việt-Nam, trong hậu bán thế-kỷ 20, Phật Lịch (1920-1963 Dương lịch).
Điều 2:  – Ngày kỷ niệm trên được ấn-định vào ngày mồng 8 tháng Chạp âm-lịch, nhằm ngày Thành-đạo của Đức Bổn-Sư.
Điều 3:  – Các giáo phái Phật-Giáo Nam Bắc Tông trong Giáo hội, các Ban Đại diện Giáo-hội và các cấp nhiệm-vụ lập danh sách và tiểu sử  các vị Tiền-bối hữu công, trình lên Giáo-hội Trung-Ương, để ghi vào sử Phật-giáo Việt-Nam cận đại.
Điều 4:  – Quý vị Phó Viện-Trưởng, Tổng Thư-Ký, Tổng vụ trưởng, Tổng-vụ Tăng sự, Tổng-vụ Cư-sĩ, Tổng-vụ Thanh niên chiếu nhiệm vụ thi hành quyết định này.
Phật lịch 2513–Sài gòn, ngày 16 tháng 12 năm 1969.
(ấn, ký)
Thượng Tọa Thích Thiện Hoa.
Nơi nhận:
– Các Tổng vụ, Vụ.
– Các cơ quan trực thuộc Viện Hóa-Đạo.
– Các B. Đ. D. Giáo hội các cấp trong ngoài nước “để chiếu hành”.
GHI ÂN TIỀN BỐI
Bài của Thượng tọa Thích Thiện-Hoa, Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo đọc tại chùa Ấn Quang, trụ sở tạm của Giáo Hội P. G. V. N. T. N. vào ngày “đại lễ tri ân những vị hữu công trong Phong trào Chấn hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa thế-kỷ (1920-1963), nhân ngày Phật Thành Đạo, mùng 8 Tháng Chạp năm Kỷ Dậu (15.01.1970).
Kính bạch: Đức Tăng-Thống,
Kính bạch chư Tôn Trưởng-lão Hòa-thượng,
Thượng-tọa, Đạ-đức Tăng, Ni,
Kính thưa: Đại diện Quý Giáo phái,
Kính thưa: Quý quan khách, đồng bào Phật-tử,
Kính thưa: Quý Liệt Vị,
Hôm nay, là ngày “Đại lễ Phật Thành-Đạo”, cũng là ngày Đại lễ tri ân đầu tiên kẻ còn người mất, hữu công trong sự nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa thế-kỷ nay. (1920-1963)
Thừa lệnh Đức Tăng Thống và Hội đồng lưỡng viện, nhân danh Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo, Tôi xin thành kính tuyên dương thành tích hoạt động và phương danh những bậc hữu-công trong Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, gần 50 năm trở lại đây.
BA ĐIỀU SƠ XUẤT
Trong bài nầy, chúng tôi xin cáo lỗi trước, có 3 điều sơ-xuất mà chúng tôi không sao tránh khỏi được; xin quý liệt vị từ bi hoan hỷ:
1.- Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo, gần nữa thế-kỷ nay, Quý vị hữu công với Đạo rất nhiều và thành tích, công đức của Quý vị vô biên, với thời gian ngắn ngủi này, chúng tôi không thể nào nhớ hết và tuyên dương hết được;
2.- Còn rất nhiều vị Tiền-bối danh-đức, nhất là ở miền Trung và miền Bắc, mà chúng tôi chưa được hân-hạnh biết tới, nên cũng không biết làm sao sưu tầm được đầy đủ;
3.- Ngày giờ năm tháng, xứ sở, thành tích hoạt động của Quý liệt vị, chúng tôi ghi được phần nào, còn bao nhiêu, không biết làm sao ghi được đầy đủ.

Biệt chú:
Trước khi in thành sách, chúng tôi đã gởi 300 bản-thảo bài nầy đi khắp nơi, để yêu cầu quý liệt vị giúp ý kiến và bổ túc cho những điều sai lầm hoặc làm sót. Thời-gian gởi đi trên 7 tháng, nhưng sự đáp ứng tối thiểu, làm cho tập sách nầy không được đầy đủ như sự mong muốn của soạn- giả, cũng như đọc giả.Những điều sơ suất này ngoài ý muốn của soạn-giả, xin quý liệt vị hoan hỷ. Sau khi xem tập sách này, một lần nữa, chúng tôi mong quý vị bổ túc cho những điều thiếu sót, để khi tái-bản được đầy đủ hơn.

PHẬT GIÁO DU NHẬP VIỆT NAM LẦN ĐẦU TIÊN
Thưa Quý liệt vị,
 Chúng ta hãy nghiêm chỉnh và thành kính, từ từ lật lại từng trang lịch sử Phật-giáo Việt-Nam. Chúng ta thấy Phật-giáo bắt đầu có mặt trên Quê hương Tổ quốc Việt Nam vào cuối Thế-kỷ thứ II, tức là năm 189 sau Tây Lịch, đến nay–1970–là 1781 năm, gần 20 thế-kỷ, do bốn vị cao tăng truyền giáo:
1.      Ngài Mâu-Bác (người Trung-hoa)
2.      Ngài Khưu-Tăng-Hội (người Ấn-Độ)
3.      Ngài Ma-Ha Kỳ-Vứt (người Ấn-Độ)
4.      Ngài Chi-Cương-Lương (người Ấn-Độ).

PHẬT GIÁO TRẢI QUA CÁC TRIỀU ĐẠI
 [1]
Phật-giáo trải qua bao nhiêu triều đại, cho đến Đinh, Lê, Lý, Trần có rất nhiều vị Thiền-sư và Phật-tử đã thực sự giữ vai trò cứu nước giúp dân, đem lại Hòa Bình an vui cho Dân tộc và xứ sở. Những triều đại này, thành những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Dân tộc Việt-Nam, đồng thời cũng đã viết thành những trang sử vàng son nhất cho Phật-giáo Việt-Nam, như quý Ngài:
            – Khuông-Việt Thái- Sư                       – Vạn-Hạnh Thiền-Sư
– Cảm-Thành Thiền-sư                         – Trúc-Lâm Tam Tổ
– Viên-Chiếu Thiền-Sư                         – Đổ-Thuận Thiền-Sư.
– Huệ-Sinh Thiền-Sư                            – Đa-Bảo Thiền-Sư
– Thiền-Lão Thiền-Sư                           – Lý Thái-Tổ (Lý Công Uẩn)
– Lý Thái-Tôn                                       – Tuệ Trung Thượng Sĩ
(tức Trần Quốc Toản ) v.v…
Quý vị danh Tăng trên đây đã được lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cũng như lịch sử Dân tộc Việt-nam ghi đậm công đức, thành tích uy danh rồi. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ thành kính tri ân và ghi lại thành tích “Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” và uy danh của Quý liệt vị, trong vòng gần 50 năm trở lại đây, để cho đoàn hậu côn kính mộ và noi gương mà thôi.
[1] P.C. Nên xem quyển Việt nam Phật giáo sử lược của T.T. Mật Thể và 5 bài Lịch sử Phật giáo trong Phật Học Phổ Thông khóa 5.
THỜI KỲ PHẬT GIÁO SUY ĐỒI 
Thưa Quý liệt vị,
Từ khi quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp đô hộ, họ đã cố tình thay hết tất cả những gì quý báu của Dân tộc Việt-Nam ta, bằng cách thế vào đó những cái gì của họ:từ Tôn giáo, Văn hóa, giáo dục, phong tục, tập quán, …
   Như muốn loại trừ ảnh hưởng của Phật-giáo và Nho giáo, thì họ bỏ hết chữ Nho và thay bằng chữ Pháp. Nhưng chỉ dạy người dân đủ biết để làm nô lệ cho họ. Vì chén cơm manh áo, nên chúng ta mỗi ngày mỗi nhiều bỏ hết chữ Hán, học theo chữ Pháp. Do bỏ chữ Hán nên dân chúng không đọc được kinh Phật; Vì lúc bấy giờ kinh sách Phật toàn chữ Hán.
Không đọc được Kinh sách Phật, nên tín đồ không hiểu giáo lý của Phật là gì. Bắt đầu từ đó họ xa dần Đạo Phật. Đạo Phật bắt đầu suy đồi. Cho đến tín đồ không biết Đạo Phật là gì, ai là người khai sáng Đạo Phật, giáo lý Đạo Phật ra sao. Đến nỗi toàn quốc không có một ngôi trường học Phật! Đạo Phật là một Đạo của Dân tộc Việt-Nam rất lâu đời,-1781 năm (đến năm 1970) gần 20 thế-kỷ-gần 90% dân chúng theo Đạo Phật (theo bản điều tra của Phó Thủ Tướng về dân số Đô Thành, thì năm 1962 (Trang 117, 118, 119) Phật-giáo đồ chiếm 85,40% dân số; đến năm 1967 (trang 13, 14) thì Phật-giáo đồ chiếm 87,24% dân số. Nếu kiểm tra miền Tây, miền Đông Nam phần thì có lẽ bằng hoặc trên số này. Và nếu kiểm tra ở miền Trung thì có lẽ trên 90% dân chúng theo Đạo Phật.Nhưng Đạo Phật bị kỳ thị ghép vào Dụ số 10, như một hiệp hội không hơn không kém. Mặt tiền các đại lộ của Đô thành không có một ngôi Chùa nào được chường mặt, trái lại phải rút hình vào những đường hẽm hay trong xó! Mỗi khi Đại lễ hay rằm lớn, làm chay, làm phước, thuyết pháp, giảng đạo, … đều phải xin phép chính quyền. Chư Tăng thường bị chính quyền bắt đi lính, làm xâu hoặc canh gác. Phật-giáo thời bấy giờ bị kỳ thị và suy đồi tột độ! Chỉ còn hình thức cúng bái, mê tín dị đoan. Chư tăng hầu hết chỉ lo đi cúng đám, làm nghề sinh nhai. Đến nổi ông Tăng không khác gì người tục! Đạo Phật bấy giờ bị người chê là yếm thế, tiêu cực hay nhu nhược. Ông Tăng không còn giá trị gí cả!. Lúc bấy giờ toàn quốc chỉ còn một ít ngôi chùa Tổ duy trì đạo mạch, thỉnh thoảng có mở một vài trường hương, trường kỳ!

Miền Nam có Chùa Tổ: Giác Viên, Giác Lâm (Sài gòn) Giác Hải, (Tổ Từ Phong ở chùa Giác Hải ChoLon có công dịch kinh và khắc bản, như bộ Quy Nguyên Trực Chỉ, …Tổ có óc cải tiến), Phi Lai, Tây An (Châu Đốc), Thiên Thai (Bà Rịa), Tuyên Linh (Bến Tre) Long Triều (Sài Gòn), Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Tam Bảo (Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng trụ trì chùa Tam Bảo Rạch Giá và sư Thiện Chiếu vì tội “ái Quốc chống Pháp” mà Hòa Thượng bị tù ở Côn Đảo cho đến ngày bỏ xương; còn sư Thiện Chiếu thì bị đánh đập tù đầy đến Bại xuội thành Phế nhơn)…
Miền Trung có chùa Tổ: Thiên Tôn, Tây Thiên, Trúc Lâm, Từ Hiếu, Từ Đàm, Quốc Ân, Báo quốc Tra Am (Huế); Thập Tháp, Long Khánh, Linh Phong (Bình Định); Thiên Ấn, Quang Lộc (Quãng Ngãi); Từ Quang (Tổ Từ Quang Phú Yên giải kinh dịch sách rất nhiều), Bát Nhã, Bảo Tịnh (Phú Yên), …
Miền Bắc có chùa Tổ: Vĩnh Nghiêm, tế Các, Bằng Sở, Mật Ứng, Hương Tích, Trung Hậu, Phú Ninh, Phúc Thỉnh, Đồng Đắc, Hưng Ký, …
PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1920)
Vì thấy sự suy đồi xuống dốc tột mức của Phật-giáo Việt-Nam mà đau lòng, đồng thời nhờ ảnh hưởng Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo ở Trung Hoa, do báo Hải Triều Âm cổ xúy, nên bắt đầu từ năm 1920, chư Tôn Hòa Thượng Trưởng Lão, Thượng Tọa, Đại Đức họp lực với một số Phật tử Cư sĩ có nhiệt tâm với Đạo, bắt đầu lo việc Chấn Hưng Phật-giáo, mở các trường gia giáo để đào tạo Tăng tài và thỉnh thoảng có thuyết pháp cho tín đồ nghe.
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN NAM:
Chùa Tuyên Linh của Tổ Khánh Hòa ở Bến Tre,
Chùa Phi Lai của Tổ Chí Thiền ở Chợ Voi, Châu Đốc.
Chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu dạy 100 Ni (Bà Hai Ngó đệ tử Tổ Phi Lai. Bà phát tâm xuất gia, cất chùa Giác Hoa, mở trường gia giáo, tứ sự cúng dường cho 100 học Ni, tu học trong 1 năm–1927–tại Bạc Liêu).
Chùa Kim Huê, Vạn An, Phước Long ở Sa Đéc.
Chùa Long An của Tổ Khánh Anh ở Trà Ôn (1931), …
Chùa Tổ Đình của Thiên thai Thiền Giáo Tông, là chùa Long Hòa (Phước Tuy) do Tổ Huệ Đăng khai gia giáo năm 1936.
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN TRUNG:
Chùa Thập Tháp ở Bình định,
Chùa Từ Quang, Bát Nhã ở Phú Yên.
Chùa Thiên Ấn, Quang Lộc ở Quãng Ngãi, …
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN BẮC:
Chùa Sở, Chùa Bát Tháp, Chùa Bồ Đề, ….
BAN HỘI VIÊN SÁNG LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
CHƯ HÒA THƯỢNG:
1 – H. T. Khánh Hòa.               2 – H. T. Trí Thiền.                  3 – H. T.Từ  Phong.
4 – H. T. Huệ Quang.               5 – H. T. Chánh Quả.               6 – H. T.Thiện Dư.
CÁC CƯ SĨ:
7 – Ông Trần Nguyên Chấn.        8 – Ông Nguyễn Văn Cần.    9 – Ông Huỳnh Văn Quyền.
10 – Ông Trần Văn Khuê.         11 – Ông Phạm Ngọc Vinh    12 – Ông Nguyễn Văn Nhơn. 13 – Ông Lê Văn Phổ.
THỜI KỲ VẬN ĐỘNG (1920)

MIỀN NAM

A – Hội Lục Hòa Và Tạp Chí Pháp Âm:
Đến năm 1920, tại miền Nam, quí Sư Cụ họp nhau lập “Hội Lục Hòa” (Không phải giáo hội Lục Hòa Tăng bây giờ), mục đích để đoàn kết và vận động Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo.
Đến tháng Giêng, năm Kỷ Tỵ, Tổ Khánh Hòa đích thân đi vận động hầu hết các Chùa lớn ở miền Nam, và Tổ còn cử một phái đoàn do Sư Thiện Chiếu hướng dẫn, ra Trung và Bắc để vận động Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo, được một số hưởng ứng. Tổ là người đầu tiên và có công lớn nhất trong “Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo” ở miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Mặc dù thân gầy nhiều bệnh, nhưng Tổ không lúc nào xao lãng Phật sự.
Tổ còn cho ra tạp chí Pháp Âm để cổ động cho Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo. Phục lực với Thầy, Sư Thiện Chiếu cho xuất bản tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên, để cổ động trong giới Thanh niên Tăng, Ni và Phật tử. Đây là hai tờ báo Phật-giáo đầu tiên bằng chữ Việt, mở đầu cho các tờ báo Phật học tạp chí bằng chữ Việt sau này. Ngoài hai tờ báo nói trên, sư Thiện Chiếu còn xuất bản  một số Phật học tùng thư, được đa số trí thức hoan nghênh.

– THIÊN THAI THIỀN GIÁO TÔNG VÀ TẠP CHÍ BÁT NHÃ ÂM:
Năm 1931 Ngài Hòa Thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, thành lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông, Thiện Hữu Hội và cho xuất bản tạp chí Bác Nhã Âm là một cơ quan ngôn luận có nhiệm vụ truyền bá giáo lý trong toàn quốc một cách sâu rộng.

B – Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học:
Đến ngày 26.8.1931, lần đầu tiên, một Hội Phật Học ra đời, lấy tên là “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học”, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn số 149 Đường Douaumont (Tức đường Cô Giang bây giờ) Sài Gòn. Hội ra tạp chí Từ Bi Âm (Ngày 1.1.1932) để truyền bá giáo lý; lập Pháp Bảo Phường, thỉnh Tam Tạng Kinh Trung Hoa làm tài liệu nghiên cứu. Hội làm cho Phật Pháp được sáng tỏ trong đương thời.
Những nhân vật hữu công với hội này:
Bên chư Tăng có:
–     Tổ Khánh Hòa chùa Tuyên Linh Bến Tre.
–     Tổ Huệ Quang chùa Long Hòa Trà Vinh.
–     Tổ Trí Thiền chùa Tam Bảo Rạch Giá.
–     Tổ Từ Phong chùa Giác Hải Chợ Lớn.
–     Tổ Chánh Quả chùa Kim Huê Sa Đéc.
–     Tổ Chí Thiền chùa Phi Lai Châu Đốc.
–     Tổ An Lạc chùa Vĩnh Trường Mỹ Tho.
–     Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm chùa Thiên Phước Trà Ôn.
–     Hòa Thượng Tâm Quang chùa Viên Giác Bến Tre.
–     Hòa Thượng Lên Phước Trí ở Kế Sách Sóc Trăng.
–     Hòa Thượng Huệ Thành chùa Thành Linh Cà Mau.
–     Hòa Thượng Toàn Chơn chùa Pháp Võ Châu Đốc.
–     Hòa Thượng Diệu Pháp chùa Long Khánh Trà Vinh.
–     Ngài Yết Ma Nguyễn Văn Chức chùa Tam Bảo Hà tiên.
–     Ngài Giác Thọ Thiện Tâm chùa Đại Giác Biên Hòa.
–     Hòa Thượng Huệ Định chùa Phước Long Sa Đéc.
–     Hòa Thượng Từ Phong chùa Liên Trì Bến Tre.
–     Hòa Thượng Thiện Dư.
Bên cư sĩ có:
–     Ông Trần Nguyên Chấn.                                     – Ông Nguyễn Văn Cần.
–     Ông Huỳnh Văn Quyền.                                      – Ông Trần Văn Khuê.
–     Ông Phạm Ngọc Vinh.                                        – Ông Nguyễn Văn Nhơn.
–     Ông Lê Văn Phổ …
Tổ Khánh Hòa hiến một ngôi chùa tư cho Hội, để lập Pháp Bảo Phường, thờ Tam Tạng Kinh (Hiện nay vẫn còn ở chùa Linh Sơn số 149 đường Cô Giang Sài Gòn).
Hòa Thượng Bích Liên và Liên Tôn làm Chánh Phó chủ bút tạp chí Từ Bi Âm. Cụ Trí Độ (Bình Định), Thượng Tọa Thiền Dung (Mỹ Tho), Thượng Tọa Giác Nhựt (Cần Thơ), và Thượng Tọa Nhựt Chánh đều làm trợ bút.
Các cư sĩ ở Trà Vinh thỉnh Tam tạng Kinh ở Trung Hoa về cúng cho Hội, để làm tài liệu nghiên cứu (hiện nay vẫn còn thờ ở chùa Linh Sơn).

MỘT TẤM GƯƠNG 
Vì đóng góp chung cho nền Chấn Hưng Phật-giáo nước nhà, nên ngoài sự hy sinh xác thân già yếu, Tổ Khánh Hòa còn đem chùa tư của mình hiến cho Hội, cất Pháp Bảo Phường để thờ Tam tạng Kinh.
Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm trụ trì chùa Thiên Phước trà Ôn (Cần Thơ), đem ruộng tư chùa mình hiến cho Hội để đóng góp vào Phật sự công cộng, mặc dù ruộng chùa Ngài không nhiều.
Chúng tôi trích lại trong Từ Bi Âm, số 25, về lời phát nguyện của Hòa Thượng Chánh Tâm sau đây, để ghi đậm ơn đức của Ngài đối với Tiền đồ Phật-giáo và cũng để làm gương soi cho hậu thế.

TỜ NGUYỆN CÚNG LÚA RUỘNG. 
Tôi là Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm, pháp danh Thiện Quang, trụ trì chùa Thiên Phước, ở làng Thiện Mỹ, Tổng Bình Lễ, quận Trà Ôn (Cần Thơ), làm tờ này bằng lòng cúng cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu phật Học, hội quán chùa Linh Sơn Sài Gòn, 15 năm huê lợi về ba mẫu năm sào (3 ha 30a) ruộng hạng nhứt của Thiên Phước Tự đứng bộ tại làng Hạnh Tân, Tổng Bình Lễ, cần Thơ.
Hội có quyền cho mướn sở ruộng ấy, kể từ tháng Giêng năm 1933, mà lấy lúa tá điền để trợ giúp sự hành-động Từ-Bi-Âm và nuôi Tăng đồ học đạo.
Nếu Tôi chết trước trong hạng 15 năm nói trên đó, thì các người Pháp tử của tôi ở cai quản chùa Thiên Phước cũng phải tuân theo lời nguyện của tôi đây, mà để cho Hội cho mướn sở ruộng đó, lấy huê lợi mà trợ Đạo.
Sài gòn le II Décember 1932
THIÊN PHƯỚC TỰ
Hòa Thượng NGUYỄN CHÁNH TÂM.

C – Liên Đoàn Học Xã ra đời:
Đến năm 1933, Liên Đoàn Học Xã ra đời, mục đích để đào tạo Tăng tài và hoằng dương chánh pháp. Đây là một Phật Học Đường tuần hòa và liên tục, mỗi chùa đài thọ chi phí 3 tháng; ban ngày dạy học, ban đêm thuyết pháp. Bắt đầu từ chùa Long Hòa ở Tiểu Cần, Vĩnh Bình, tiếp đến chùa Thiên Phước Trà Ôn (Sư cụ Khánh Anh và Sư Cụ Pháp Hải làm Pháp sư dạy trường này) rốt sau đến Chùa Viên Giác Bến Tre rồi bị tan rã.
Những nhân vật hữu công trong Liên Đoàn Học xã như: Tổ Khánh Hòa (Bến Tre), Huệ Quang (Tiểu Cần), Khánh Anh (Trà Ôn), Pháp Hải (Vĩnh Long), Hòa Thượng Chánh Tâm (Trà Ôn), Hòa Thượng Viên Giác (Bến Tre)…và các phật tử bổn đạo của các chùa trên.

D – Hội Lưỡng Xuyên Phật Học:
Đến năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời, muc đích để đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Hội thỉnh Đại Tạng Kinh và Tục Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu (do Ông Ngô Trung Tín và cụ Huỳnh Thái Cửu thỉnh cúng cho Hội),và xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật Học, để làm cơ quan hoằng pháp. Hội mở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (1935) để đào tạo Tăng, Ni (về sau trường Ni dời về chùa Vĩnh Bữu ở thôn Bến Tre).
THỜI KỲ VẬN ĐỘNG (1920)

MIỀN TRUNG

A – Hội An Nam Phật Học:
Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 1 năm, đến năm 1932 tại miền Trung, Hội An Nam Phật Học ra đời, trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm-Huế.
Những vị sáng lập:
Bên Tăng có Tổ Giác Tiên (Cố Viện Chủ chùa Trúc Lâm), …
Bên cư sĩ có Bác sĩ Lê Đình Thám Pháp Danh Tâm Minh, …
Hội mở nhiều chi hội ở các Tỉnh, Quận, Xã khắp cả miền Trung. Hậu thân của Hội An Nam Phật Học là Hội Phật Học Trung Việt.
Hội thỉnh Đại Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu và ra tờ tạp chí Viên Âm (1934) để hoằng dương chánh pháp. Bác sĩ Lê Đình Thám (Tâm Minh) làm hội trưởng kiêm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Viên Âm. Hội thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ đầu tiên (tức hiện nay là Gia đình Phật tứ) và lập Trường Bồ Đề trước nhất.

B –Phật Học Đường Báo Quốc và Kim Sơn:
Hội mở Phật Học Đường tại chùa Báo Quốc (1935) để đào tạo Tăng tài, sau dời về Tòng Lâm Tu Viện Kim Sơn (1945). Những vị xuất thân từ trường này, hiện nay dự vào hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Trung Ương và miền Trung như: Thượng Tọa Thiện Minh, Trí Quang, Thiện Siêu, Trí Tịnh, và Trí Thành, …
Hội còn Tổ chức các đoàn thể thanh niên Phật tử như: Đoàn thanh niên Phật học Đức dục, Gia đình Phật Hóa Phổ, Đồng Ấu Phật Tử. Người xuất thân từ Thanh Niên Phật Học Đức Dục, hiện nay là Thượng Tọa Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Giáo sư Võ Đình Cường (Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia đình Phật tử Việt Nam), …

C –Phật Học Đường Trúc Lâm và Tây Thiên:
Trước Hội An Nam Phật Học ra đời, hàng năm Quý sư Cụ tại Huế thường thỉnh Tổ Phước Huệ và Phổ Huệ ở chùa Thập Tháp Bình Định ra Huế dạy Phật Pháp. Tổ Thập Tháp dạy Phật pháp cho chư Tăng tại Huế đã 4 đời. Đến chúng tôi (T.T. Thích Thiện Hòa, T.T. Thiện Hoa) là đời thứ tư. Tổ đã nhiều năm ra Huế và được mời vào Hoàng cung giảng kinh từ đời vua Thành Thái đến Vua Bảo Đại, nên được suy tôn là Quốc Sư. Cụ Lê Đình Thám, Trí Độ và các Thầy Đại Học tại Huế, đều là học trò của Tổ. Có thể nói Phật-giáo miền Trung được hưng thịnh như ngày nay, một phần lớn do công của Tổ xây đắp. Nhờ ảnh hưởng này mà Quý sư cụ ở Huế họp nhau mở trường Trung Học Phật-giáo ở chùa Trúc Lâm, sau dời về chùa Tây Thiên. Còn trường Sư nữ thì mở tại chùa Diệu Đức.

Những nhân vật hữu công với Phật-giáo miền Trung:
Bên Tăng già có:
Quốc sư Phước Huệ, Pháp sư Phổ Huệ, Hòa Thượng Tường vân (Thích Tịnh Khiết), Hòa Thượng Thiền tôn, Trúc Lâm, Tây Thiên, Từ Hiếu, Tra Am.
Và Quý Thượng Tọa Mật Khế, Quy Thiện, Đôn Hậu, Mật Nguyện, Mật Hiển, Trí Thủ, Mật Thể (Thượng Tọa Mật Thế viết quyển Việt Nam Phật-giáo lược sử), …
Bên cư sĩ có:
Cụ Lê Đình Thám, pháp danh Tâm Minh (một cư sĩ có công nhất với Phật-giáo miền Trung), Cụ Trí Độ (một vị có công nhất với Phật Học Đường Báo Quốc), Cụ Lê Văn Định pháp danh Chơn An, Cụ Tôn Thất Tùng, Cụ Nguyễn Khoa Toàn (Đúc tượng Phật tại chùa Từ Đàm hiện nay), Cụ Hoàng Mộng Lương, Võ Đình Dung, Võ Đình Thụy, Nguyễn Văn Tiếng, và Bà Cao Xuân San tức Diệu Không, Bà Ưng Úy tức Diệu Huệ, …

D –Phật-giáo Tỉnh Bình Định và Đà Nẵng:
Cũng trong thời kỳ Phật-giáo Chấn Hưng, tại tỉnh Bình Định có những bậc đống lương thạch trụ như: Quốc sư Phước Huệ (Chùa Thập Tháp) (1920-1945), Pháp sư Phổ Huệ (1920-1935), Hòa Thượng Vĩnh Khánh (Có công san bản và ấn hành các Văn phẩm như: Liên Tôn Thập Niệm Yếu Lãm, Tịnh Nghiệp Văn và Mông Sơn thập loại diễn nghĩa).
Hòa Thượng Long Khánh, Thiên Đức, Bạch Sa, Minh Tịnh có công sáng lập, giảng dạy và duy trì các trường gia giáo ở chùa Thập Tháp, Long Khánh, Bạch Sa, Minh Tịnh và Thiên Đức, thời kỳ 1930-1950.
Quý Ngài họp nhau lập Hội Phật Học Bình Định, từ năm 1932 đến 1945. những vị cư sĩ hữu công trong hội này có Ông Nguyễn Mạnh Trừng, Phan Thanh Khuyến, Lê Tú Oanh, …
Tại Đà Nẵng có lập Hội Đà Thành Phật Học và ra tạp chí Tam Bảo do Hòa Thượng Bích Liên làm chủ nhiệm.
THỜI KỲ VẬN ĐỘNG (1920)

MIỀN BẮC

BẮC KỲ PHẬT GIÁO TỔNG HỘI
Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 3 năm, đến năm 1934, Hội “Bắc Kỳ Phật-giáo Tổng Hội” ra đời tại Hà Nội, trụ sở đặt tại chùa Quán sứ.
Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ (ngày 10.12.1935), Bồ Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Sớm để hoằng dương chánh pháp. Hội mở trường Tăng tại Chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề và chùa Bát Tháp.
Những bậc hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo tại miền Bắc, bắt đầu từ năm 1932.
Bên Tăng già có:
–     Tổ Vĩnh Nghiêm pháp hiệu Thanh Hạnh,
Pháp chủ đầu tiên của Hội Phật-giáo Bắc Việt;
–     Hòa Thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội
Tăng già toàn quốc nhiệm kỳ thứ  nhất;
–     Hòa Thượng Mật ứng, Pháp chủ Phật-giáo Bắc Việt;
–     Hòa Thượng Thanh Ất, Trụ trì chùa Trung Hậu, Phúc yên;
–     Hòa Thượng Trung Thứ, Trụ trì chùa Bằng Sở, Hà Đông;
–     Hòa Thượng Doãn Hà, Trụ trì chùa Tế Cát, Hà Nam.
–     Hòa Thượng trụ trì chùa Hương Tích, Hà Đông;
–     Hòa Thượng Quang Nghiễm, Trụ trì chùa Phú Ninh, Nam Định;
–     Hòa Thượng Trụ tì chùa Phúc Thỉnh, Ninh Bình;
–     Hòa Thượng trụ trì chùa Quế Phương, Nam Định;
–     Hòa Thượng Trụ trì chùa Bộ La, tỉnh Thái Bình;
–     Hòa Thượng Thanh Triệu, Trụ trì chùa Đồng Bắc, Ninh Bình;
–     Thượng Tọa Tố Liên, Chủ tịch Giáo Hội Tăng già Bắc Việt;
–     Thượng Tọa Trí Hải, Phó Hội chủ tổng Hội P.G.V.N. năm 1952;
–     Thượng Tọa Giải Ngạn, Trụ trì chùa Hưng Ký, Hà Nội;
–     Thượng Tọa Tuệ Chiếu, Giảng sư Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc việt.
Những vị Cư sĩ hữu công với Phật-giáo miền Bắc:
Cụ Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chữu (dịch bộ Hán Việt Tự Điển,…), Cụ Bùi Kỹ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, (Lệ Thần), Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Trọng Thuật, Phan Kế Bính, Lê Toại, Bùi Thiện Căn, Bùi Thiện Cơ, Văn Quang Thùy (tức Tuệ Nhuận, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Bồ Đề Tạp chí), Cụ Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Huy Xương, Nguyễn Gia Tường.

NHỮNG VỊ ĐÃ GÓP CÔNG XÂY DỰNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM.
Tiếp theo đây là những học giả, Văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, … trong toàn quốc, đã góp công xây dựng Phật-giáo Việt-Nam:
–     Cụ Ngô tất Tố.
–     Trần Trọg Kim.
–     Trần Văn giáp.
–     Phạm Quỳnh.
–     Đồ Nam Tử.
–     Đinh Văn Chấp.
–     Hoàng Xuân Hãn.
–     Phan Văn Hùm.
–     Á Nam Trần Tuấn Khải.
–     Vũ Trọng Can.
–     Nguyễn Đăng Thục.[1]
–     Lê Văn Siêu.
–     Vũ Hoàng Chương (thơ) [2]
–     Huyền Chân (Đinh Văn Vinh)
–     Trúc Thiên.
–     Thẩm Oánh (nhạc)
–     Trương Đình Ý (Mỹ Thuật)
–     Trương Văn Thanh (Sơn mài)
–     Võ Đình Cương (nhà Văn)[3]
–     Nguyễn Gia Trí (họa)
–     Nguyễn Bá Lăng (kiến trúc  sư)
–     Nguyễn Gia Đức (-nt-)
–     Đinh Hùng.
–     Trụ Vũ (thơ)
–     Nguyễn Hữu Ba (nhạc)
–     Nguyễn Quỳnh (truyện Thầy Tăng Mở nước)
–     Tâm Nguyên
–     Lê Cao Phan (nhạc)[4]
–     Tam Lang Vũ Đình Chi
–     Nguyễn Nhược Pháp (thơ)
–     Hồ Dzếnh (thơ)
–     Nguyễn Bính (thơ)
–     Nguyễn Xuân Thanh.
–     Nguyễn Đình Vang tự Hằng Vang (nhạc)
Và các nhà điêu khác, họa sĩ, nhiếp ảnh gia góp công xây dựng cho Phật-giáo Việt Nam:
–     Ông Tài Công Sáu ở Sa Đéc.
–     Ông Lê Chánh ở sau chùa Giác Hải Cholon
–     Ông Đặng Như Lan ở chùa Phước Hòa.
–     Ông Minh Dung ở cầu Chữ Y.
–     Ông Phước Điền ở bên chùa Tuyền Lâm.
–     Lin Chơn (nhiếp ảnh gia)
–     Khánh (nhiếp ảnh gia)
[1] Cụ Nguyễn Đăng Thục có soạn nhiều bộ sách Phật rất quý.
[2] Cụ Vũ Hoàng Chương, tác giả tập thơ Bút Nở Hoa Đàm, Lửa từ Bi và bài Nguyện cầu, …
[3] Võ Đình Cương, nhà văn, tác giả quyền Ánh Đạo Vàng, Thử Hòa Điệu Sống, Cặp Kính màu, … và làm chủ bút báo Giác Ngộ, Giải Thoát năm 1945.
[4] Lê Cao Phan, nhạc sĩ, tác giả bài nhạc “Phật giáo V.N. Thống nhất” năm 1951, …
PHẬT GIÁO NAM TÔN VIỆT NAM

Phật-giáo Nam tôn Việt Nam có hai phái:
1.- Một phái người Việt gốc Miên. Phái này lâu đời lắm. Chúng tôi không biết đã có từ lúc nào, và bắt nguồn từ đâu? Có lẽ đồng thời hoặc trước sau ít năm với Phật-giáo Việt-Nam và bắt nguồn từ Miên quốc. Phái này được gọi là “Thê-ra-va-đa” (Theravađa).Phái này Tăng đồ và tín đồ rất đông. Về Tăng đồ 17.661 vị: Tỳ kheo 11.964 vị, Sadi 5.697 vị. Đây là theo sự kiểm tra của Tổng vụ Tăng sự ngày 19.01.1968 (chưa đầy đủ). Tín đồ Phật-giáo có lẽ chiếm đến 99% người Miên. Chùa rất nhiều và chỉ ở miền Nam V.N. nhất là ở các tỉnh Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Vĩnh Bình.

Chúng tôi có hỏi một vài vị Sư người Việt gốc Miên về “Giáo hội Phật-giáo Nam Tôn”, thì được họ trả lời một cách tổng quát: “Dân số người Việt gốc Miên là 2 triệu người, đều theo Phật-giáo hết, chỉ trừ một ít người lai ngoại quốc. Chư Tăng được 20000 vị, và 500 ngôi chùa ở trong khắp 12 tỉnh miền Nam”.

2. – Một phái nữa thuộc về người Việt Nam, do Hòa Thượng Thiện Luật và Đại Đức Hộ Tông, … qua học ở Cao Miên, rồi trở về truyền bá tại Việt Nam, vào khoảng năm 1940. phái này có lập giáo hội, gọi là “Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam”. Niên khóa đầu do Đại Đức Bửu Chơn là Tăng Thống, trụ sở đặt tại chùa Kỳ Viên, Bàn Cờ. Và Phật Học Viện đặt tại chùa Pháp Quang (1958) (cầu Băng Ky tỉnh Gia Định) do Đại Đức Hộ Giác làm Giám Đốc.
Giáo hội này có công đức kiến thiết Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu vào năm 1962.
Về bên cư sĩ hữu công với giáo hội này có các Ông Nguyễn Văn Hiểu, Ông Hồ Đắc Thăng, Bà Lưu Giang Hà Giám Đốc Cù Là Macshu, …
Pháp nạn năm 1963, Phật-giáo Nam Tôn Việt Nam rất tích cực đóng góp cho Đạo pháp…
(hình)
THÍCH CA PHẬT ĐÀI Ở VŨNG TÀU.
Một thành tích của Phật-giáo Nam Tôn.
Khánh thành ngày 9 và 10 tháng 3 năm 1963.
(hình)
Quý Thầy ở miền Nam, đi tham phương học đạo với Tổ thập Tháp tại
chùa Long Khánh Quy Nhơn năm 1938.
Từ trái qua phải:
Thầy THÍCH THIỆN HOA, THÍCH CHÍ THIỆN, THÍCH GIÁC TÂM, THÍCH THIỆN HÒA,  THÍCH HIỂN THỤY, THÍCH HIỂN KHÔNG, THÍCH BỬU NGỌC.
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ NĂM 1945-1963.

MIỀN NAM

PHẬT HỌC ĐƯỜNG PHẬT QUANG
Đến năm 1945, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, Phật Học Viện Kim Sơn (Huế) không duy trì được, nên phần lớn giáo sư và học tăng được đưa vào Nam. Lúc bấy giờ Hội An Nam Phật Học ủy thác cho chúng tôi (T.T. Thiện hoa) trở về Nam, vận động một vị Đại thí chủ là Ông Trương Hoằng Lâu ở Cầu Kè tỉnh trà Vinh, đài thọ tài chính thành lập Phật Học Đường tại chùa Phật Quang xứ Bang Chang quận Trà Ôn, để tiếp tục giáo dục chương trình Phật-giáo. Trường khai giảng gần được 1 năm, rồi bị khủng hoảng một thời gian ngắn. Vì đến năm 1946-1947, đa số Tăng Ni trên toàn quốc, đều theo tiếng gọi của Tổ Quốc, tham gia “Phong trào Chống Pháp cứu Nước”, thành lập “Phật-giáo cứu Quốc …”
Tóm lại, Phật Quang Học Đường được thành lập từ năm 1945 và duy trì đến năm 1952 là 8 năm. Những người bắt đầu vào học Phật Quang Học Đường hiện nay còn lại bên Tăng: Thượng Tọa Bửu Huệ, Thượng Tọa Tịnh Đức (tịch). Phước Cần, Thanh Từ, Hoàn Quan, Đại Đức Phước Hảo, Tịnh Viên (Vũng Tàu), … Bên Ni như: Ni Cô Diệu Hữu, Giáo Lưu, Trí Đinh, Trí Hòa, Trí Phát, Trí Thanh, Trí Huyền, Trí Nguyện và Diệu Ngộ,  …
Sau Phật Học Đường Phật Quang vài năm, Thượng Tọa Trí Tịnh và Thầy Quảng Minh mở Phật Học Đường Liên Hải. Ngoài việc dạy học, Thượng Tọa Trí Tịnh còn có công đức dịch nhiều bộ kinh lớn như: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Đại Bát Nhã,
Tiếp theo Liên Hải, Đại Đức Huyền Dung mở Phật Học Đường Mai Sơn và Sùng Đức. Thượng Tọa Trí Hữu mở Phật Học Đường Ứng Quang. Các Phật tử ủng hộ đắc lực trong thời này có bà Dược sư Thái Văn Hiệp, và bà Ba Thân Hòa, …

CHÙA ẤN QUANG  & PHẬT HỌC ĐƯỜNG NAM VIỆT
Đến năm 1950, Thượng Tọa Thích Thiện hòa, từ Bắc trở về Nam. Lúc bấy giờ các Phật Học Đường như: Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp lại một, gọi là Phật Học Đường Nam Việt, do Thượng Tọa Thích Thiện Hòa làm Giám Đốc. Trường đặt tại chùa Ấn Quang 243 Sư Vạn Hạnh Cholon. Chùa Ứng Quang đổi tên lại là chùa Ấn Quang. Và trường Ni thì đặt tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về chùa Dược Sư.
Đến năm 1953, đáp lời mời của Thượng Tọa Thiện Hòa, Quảng Minh và Nhật Liên, chúng tôi (T.T. Thiện Hoa) thu xếp Phật Học Đường Phật Quang, đầu xuân, 8 Thầy Trò quảy gói lên Sài Gòn để thống nhất và hợp tác với Quý Thượng Tọa ở Phật Học Đường Nam Việt. Cùng trong năm này, quý Thầy Huyền Dung, Quảng Minh và Nhựt Liên đều giao lại gánh nặng cho chúng tôi rồi xuất dương tất cả. Thượng Tọa Quảng Liên thì đi trước một năm (16.3.1962). chúng tôi bắt đầu lãnh 2 trọng trách vừa Giáo dục và vừa Hoằng Pháp (nhân dịp này xin ghi lại kỷ niệm trong 10 năm (1953-1963) hoằng pháp, đóng góp cho Phật-giáo vừa qua tại Thủ Đô, của chúng tôi):
1.- Về Hoằng Pháp, chúng tôi lãnh nhiệm vụ: Ủy Viên Hoằng Pháp Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam (1956), xuất bản tạp chí “Phật-giáo Việt-Nam” với sự cộng tác đắc lực của Thượng Tọa Nhất Hạnh làm chủ bút, và tổ chức hàng tuần phát thanh Phật-giáo trên đài phát thanh Sài gòn.
Trưởng ban Hoằng Pháp Giáo hội Tăng già Nam Việt (năm 1953) và Trưởng Ban Hoằng Pháp Hội Phật Học Nam Việt (năm 1953), chúng tôi đào tạo được một số Giảng sư nổi tiếng là 12 vị như: Đại Đức Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Thiền Định, Quảng Long, Chánh Tiến, Liễu Minh … và hai lớp Như Lai sứ giả (năm 1957): bên Tăng tại chùa Pháp hội được 52 vị, như Đại Đức Trường Lạc, Bửu Lai, Trí Châu, Nhựt Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hiển Pháp, Huyền Quý, Hoằng Thông, Phước Hảo, Huệ Thành, … bên Ni tại chùa Dược Sư được 30 vị như: Ni Trưởng Huê Lâm, Ni sư Vĩnh Bữu, Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Huyền, Như Chí, … những vị Tăng Ni trên đây đều là những bậc trụ trì kỳ cựu ở miền Nam (xem tập đặc san Ngày Hoan Hỷ).
Sau 3 tháng huấn luyện, một buổi đại lễ rất trang nghiêm và trọng thể được tổ chức ban đêm dưới mái chùa Ấn Quang vào ngày Phật Hoan Hỷ năm Đinh Dậu (1957) dưới sự chứng minh Tối cao của Đức Pháp Chủ Giáo Hội Tăng già Nam Việt, Hòa Thượng Thích Khánh Anh. Ngài ban Pháp phục, cẩm nang và những đạo từ thâm thúy! Đinh ninh phú chúc cho các vị Như Lai Sứ giả, với giọng nói rung rung của một vị Trưởng Lão! Làm cho hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử đều vô cùng cảm động!.
Tiếp theo là một cuộc lễ nhộn nhịp rầm rộ và linh đình đưa tiển các vị Như Lai Sứ giả đi bổ xứ trụ trì các tỉnh miền Nam (năm 1957) làm cho Tăng Ni và đồng bào Phật tử ở các tỉnh, đón tiếp phái đoàn Như Lai Sứ Giả với một niềm hân hoan phấn khởi và đầy tin tưởng…!
Mỗi năm 3 kỳ, chúng tôi cử các vị giảng sư đến các tỉnh, mỗi nơi 10 đêm giảng Phật Học Phổ Thông, gây được 1 trong trào học giáo lý rất hào hứng. Mỗi kỳ giảng 1 khóa phổ thông 10 bài.
Chúng tôi soạn được 1 chương trình học Phật Pháp rất đầy đủ và in thành bài, từ sơ cấp đến cao đằng, tức là 12 khóa Phật Học Phổ Thông. Cũng trong thời gian này, chúng tôi còn sáng tác phiên dịch và xuất bản các loại sách Phật Học Tùng Thư như: Duy Thức Học, Bản đồ Tu Phật, Phật học Giáo Khoa, Tám quyển sách quý, Tu Tâm, Dưỡng Tánh và Bài học Ngàn Vàng, … tất cả gần 100 thứ.
2.- Về Giáo dục, chúng tôi lãnh nhiệm vụ: Trưởng Ban Giáo Thụ Giáo Hội Tăng già toàn quốc V.N. (năm 1959), Ủy Viên Giáo Dục Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam (1959), Trưởng Ban Giáo Dục Giáo Hội Tăng già Việt Nam (năm 1953) và Đốc Giáo Phật Học Đường Nam Việt (năm 1953). Chúng tôi soạn chương trình giáo dục cho tăng Ni, Phật tử và hằng ngày giảng dạy cả 2 trường: Tăng ở Ấn Quang và Ni ở Dược Sư. Và mở thêm các Phật Học Đường như: Chùa Pháp Hội (năm 1954) ở vườn Bà Lớn Sài gòn, chùa Bình An ở Long Xuyên (1954), Chùa Hội Phật Học Biên Hòa, Chùa Phật Ân Mỹ Tho, Chùa Phước Hòa Vĩnh Bình (1956 – hai vị giáo sư đầu tiên chịu trách nhiệm trường này là Đại Đức Trường Lạc và Tịnh Đức). Chùa Long Phước ở Lưỡng Xuyên Vĩnh Bình.
Mỗi năm tại chùa Pháp Hội (vườn Bà Lớn) chúng tôi mở khóa Hạ và khóa Đông để huấn luyện cán bộ trụ trì, Như Lai Sứ Giả, cán bộ Hoằng Pháp và Giáo dục. Sau khi huấn luyện xong, Giáo Hội bổ xứ họ đến các địa phương để phục vụ Đạo pháp.
Mỗi bài phát nguyện đã in sâu vào tâm trí và thường ngày Văng vẳng bên tai họ (năm 1957) như sau:
“ Con là Sứ Giả Như Lai
Phát nguyện suốt đời hiến thân cho Đạo
Để phụng sự Đạo pháp và phục vụ chúng sánh
Chổ nào chúng sanh mời, con đến
Chổ nào Đạo pháp cần, con đi
Không kể gian lao, chẳng từ khó nhọc
Nam Mô Đại hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát”
Một khóa tối hậu, huấn luyện cấp tốc các vị Như lai Sứ Giả tại chùa Ấn Quang vào ngày 1 đến ngày 6 tháng 4 trước (2 tháng 4) năm Quý Mão (tức 24 đến 29.4.1963). với sự tham dự trên 300 Tăng Ni kỳ cựu ở khắp miền Nam, rồi đình chỉ luôn vì Pháp nạn năm 1963.
Trong thời gian 10 năm (1953-1963) vừa qua, hàng tuần vào thứ 4 và thứ 5, chúng tôi mở khóa giáo lý dạy các Phật tử, Cư sĩ ở chùa Ấn Quang và Xá Lợi, theo chương trình Phật Học Phổ Thông 12 khóa. Và huấn luyện một lớp giảng viên Cư sĩ 6 vị như: Bác sĩ cầm, Bác sĩ Khoẻ, Đạo Hữu Nhuận Chưỡng, Đạo hữu Minh Phúc, …
Những vị xuất thân từ Phật Học Đường Nam Việt như: Thượng Tọa Tắc Phước (Đương kiêm Chánh đại diện Miền Khánh Anh), Thượng Tọa Bửu Huệ (Đương kiêm Giám Đốc Phật Học Viện Huệ Nghiêm), Thượng Tọa Tịnh Đức (tịch), Thượng Tọa Thiền Tâm, Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Thiện Giải (Thiền Ấn), Thiện Định, Chánh Tiến (ở Vĩnh Nghiêm) Quảng Long (Tổng vụ trưởng Tổng Vụ xã hội), Hoàn Quan, Đại Đức Liễu Minh, Huệ Thới, Nhựt Thường, Thắng Hoan, và Đức Niệm, …
Những Phật tử giúp đắc lực cho Phật Học Đường Nam Việt là các Phật tử Ấn Quang, Ban Bảo Trợ (do Bác sĩ Lê Văn Cầm làm Trưởng Ban), Ban Công Quả, Ban Hộ Niệm và còn nhiều Phật tử xa gần.
Trường Ni Dược Sư thì có Hội Phụ Nữ Phật Tử (do bà Nguyễn Hữu Pha pháp danh Diệu Huấn làm hội trưởng) tận tâm ủng hộ. Ngoài việc bảo trợ Ni trường, Hội còn làm công tác từ thiện xã hội như: Ký Nhi Viện, Phòng phát thuốc ở xóm Gà, Gia Định, …
(hình)
Lễ Lạc Thành Chùa Phật Quang Bang Chang, Trà Ôn.
Ngày 21, 22, và 23 tháng 3 năm 1959.
(hình)
Tăng Ni và Phật tử dự lễ Lạc thành chùa Phật Quang.
(hình)
Cửa ngỏ chùa phật Quang
Kiến tạo năm 1936.
(hình)
CHÙA ẤN QUANG CŨ (1953-1968)
Phật Học Đường Nam Việt (1951-1963)
Trụ Sở Giáo Hội Tăng già Nam Việt
Trụ Sở Giáo Hội Tăng già Toàn Quốc (1959-1963)
(hình)
PHẬT HỌC ĐƯỜNG NAM VIỆT CHÙA ẤN QUANG.
243 Sư Vạn Hạnh cholon. Nhiếp ảnh năm 1953
(hình)
BAN GIÁM ĐỐC VÀ BAN BẢO TRỢ PHẬT HỌC ĐƯỜNG NAM VIỆT CHÙA ẤN QUANG.
(hình)
KỶ NIỆM KHÓA HUẤN LUYỆN TRỤ TRÌ TĂNG
TẠI CHÙA PHÁP HỘI NĂM 1957.
(hình)
KỶ NIỆM KHOA HUẤN LUYỆN TRỤ TRÌ NI
TẠI CHÙA DƯỢC SƯ NĂM 1957.
(hình)
Hòa Thượng THÍCH THIỆN HÒA (63 tuổi)
Đương Kiêm Viện chủ chùa Ấn Quang (1970)
Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt.
Trị sự Trưởng Giáo Hội Tăng già N.V.
Trị sự Trưởng Giáo Hội Tăng già toàn quốc V.N.
Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Tài Chánh Giáo Hội P.G.V.N.T.N.
(hình)
Hòa Thượng THÍCH VIÊN THÀNH
Viên tịch năm 1927.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ NĂM 1945-1963.


MIỀN TRUNG

PHẬT HỌC VIỆN NHA TRANG VÀ TU VIỆN NGUYÊN THIỀU
Song song với Phật Học Đường Ấn Quang, tại Nha Trang Hội Phật Học Khánh Hòa do Thượng Tọa Thích Thiện Minh làm Hội Trưởng có mở Tăng Học Đường. Sau đó Hòa Thượng Hải Đức cúng ngôi chùa cho Giáo hội Tăng già và Hội Phật học Trung Việt để mở Phật Học Viện do hai Phật Học Đường Báo Quốc và Tăng Học Đường Nha Trang thống nhất lại để đào tạo Tăng tài, gọi là “Phật Học Viện Việt Nam tại Trung Việt” (hay là Phật Học Viện Hải Đức), do Hòa Thượng Thích Trí Thủ làm Giám Viện. Hòa Thượng đóng góp rất nhiều công đức với Phật Học Viện này.
Tiếp theo Phật Học Viện Nha Trang, Thượng Tọa Thích Huyền Quang sáng lập Tu Viện Nguyên Thiều tại tỉnh Bình Định, sau cúng cho Giáo Hội Bình Định, dưới hệ thống của Giáo Hội Trung Phần. Trung tâm Tu Viện có tôn trí kim thân Phật Tổ Lộ Thiên rất uy nghiêm, cao 7 thước (cả tòa ngồi 2 thước). Kiến tạo năm 1964. hiện nay Tu Viện Nguyên Thiều được phát triển như thế là do công lao của Thượng Tọa Huyền Quang và chư Tăng Bình Định xây dựng vào năm 1959.
(hình)
KIM THÂN PHẬT TỔ
Ngự trị trung tâm Tu Viện Nguyên Thiều Bình Định
Bề cao 7 thước (cả tòa ngồi 2 thước) kiến tạo năm 1964.

GIÁO HỘI TĂNG GIÀ TOÀN QUỐC.
Đến ngày 7.9.1951, một Đại Hội Tăng già Toàn Quốc Việt Nam được triệu tập, đại biểu cả Nam, trung và Bắc đều họp tại Quán Sứ Hà Nội. Một Giáo Hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam được thành lập. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Tuệ Tạng làm Thượng thủ (1951). Trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ.
Đến ngày 31.3.1959, nhằm mùng 1 tháng 3 Đinh Dậu, một đại hội Giáo Hội Tăng già toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập tại chùa Ấn Quang Sài gòn. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Khánh Anh làm Thượng Thủ, Thượng Tọa Thiện Hòa là Trị sự Trưởng, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang Sài gòn. Giáo Hội Tăng già tòan quốc ngưng hoạt động vào cuối năm 1963, để trao nhiệm vụ lại cho Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống nhất.

TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Năm 1951, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 5 (tức mùng 1 đến mùng 4 tháng 4 âm lịch), một đại hội Phật-giáo toàn quốc ra đời, nhóm tại Huế, gồm 51 đại biểu cả Tăng già và Cư sĩ 3 miền Nam, Trung, Bắc để thành lập “Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam” (không phải Tổng Giáo Hội hiện nay của Hòa Thượng Minh Trực).
Do 3 tập đoàn Tăng già và 3 tập đoàn Cư sĩ Nam, Trung, Bắc làm hội viên sáng lập. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ. Quý vị Tăng già và Cư sĩ trong 6 tập đoàn Phật-giáo làm ban Tổng Trị sự và các Uỷ viên chuyên môn.
Phật tử toàn quốc rất hoan hỷ đón chào “Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”. Toàn thể Thanh thiếu niên Phật tử rất hân hoan và vang lừng tiếng hát, ca ngợi tinh thần đoàn kết thống nhất Phật-giáo:
Phật-giáo Việt-Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung từ  nay
Một lòng chúng ta tiến lên vì Đạo thiêng!
Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương
Vang ca đón chào Phật-giáo Việt-Nam!” [1]
Đến ngày 1.4.1956, nhiệm kỳ thứ II, đại hội Phật-giáo toàn quốc được triệu tập, khai mạc tại chùa Phước Hòa, trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, và suốt 5 ngày họp tại chùa Ấn Quang, trụ sở của Giáo Hội Tăng già Nam Việt Sài gòn. Đại hội suy tôn Hòa Thượng Tịnh Khiết làm hội chủ, Hòa Thượng Huệ Quang là Phó nhất Hội chủ, Cụ Chơn An làm Phó Nhì Hội chủ, Cụ Chánh Trí làm Tổng thư ký, Trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang, sau dời về chùa Xá Lợi. Tổng hội có ra tạp chí “Phật-giáo Việt-Nam” làm cơ quan Hoằng pháp, do Thượng Tọa Nhất Hạnh, một cây bút xuất sắc của Phật-giáo làm chủ bút. Thượng Tọa sáng tác và phiên dịch nhiểu kinh sách có giá tri.
Ngoài tờ Nguyệt san Phật-giáo Việt-Nam, Tổng hội còn tổ chức Phát thanh hàng tuần trên đài phát thành Sài gòn, mục đích để cụ thể hóa tiếng nói của Phật-giáo toàn quốc.
Sau khi Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời, tổng hội Phật-giáo Việt-Nam trao lại nhiệm vụ rồi giải tán.
[1] Nhạc sĩ Lê cao Phan sáng tác năm 1951.

SÁU TẬP ĐOÀN PHẬT GIÁO
Trong lúc chiến tranh Pháp Việt bùng nổ (1946-1950) các cơ sở Phật-giáo trên toàn quốc hầu như đã tan rã hết. Đến lúc tình hình chiến sự có phần lắng dịu thì các nhà lãnh đạo Phật-giáo bắt đầu khôi phục lại. Từ phần hình thức, nội dung cho đến sinh hoạt đều có phần thay đổi mới lạ, khác hẳn trước và tiến mạnh hơn.
Nam, Trung và Bắc mỗi miền đều có 2 tập đoàn: Một tập đoàn Tăng già và một tập đoàn Cư sĩ. Tập đoàn Tăng già lo việc chư Tăng và lãnh đạo tinh thần cho tập đoàn Cư sĩ. Tập đoàn Cư sĩ lo việc Cư sĩ và ngoại hộ cho Tăng già hoằng dương chánh pháp.
a) GIÁO HỘI TĂNG GIÀ NAM VIỆT
Ngày 5.6.1951 (mùng 1 tháng 5 âm lịch) một “Giáo Hội Tăng già Nam Việt” được thành lập tại chùa Hưng Long ngả sáu Cholon, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Khắp cả miền Nam đều có chi Giáo Hội Tỉnh và Quận. Niên khóa đầu, đại hội suy tôn Hòa Thượng Đạt Thanh chùa Giác Ngộ làm Pháp chủ Lâm thời, Thượng Tọa Đạt Từ làm Trị Sự  Trưởng, Thượng Tọa Nhựt Liên làm Tổng Thư ký. Thượng Tọa Nhựt Liên là người có công nhiều với Giáo Hội Tăng già Nam Việt lúc thành lập. Nhiệm kỳ thứ II, Đại hội ngày 8.3.1953 (nhằm 21.1 Quý Tỵ) suy tôn Hòa Thượng Huệ Quang làm Pháp chủ, Thượng Tọa Thiện Hòa là Trị Sự Trưởng. Nhiệm kỳ thứ III, đại hội ngày 31.3.1957 (nhằm mùng 1.3 Đinh Dậu) suy tôn Hòa Thượng Khánh Anh làm Pháp Chủ.
Giáo Hội Tăng già Nam Việt còn triệu tập Ni chúng miền Nam, tổ chức đại hội chùa Huê Lâm Cholon vào ngày 6 và 7.10.1956 để thành lập “Ni Bộ Nam Việt”. Trụ sở đặt tại Từ Nghiêm đường Bà Hạt cholon.
Những vị Ni kỳ cựu được Ni chúng kinh quý coi như trụ cột của Ni bộ Việt Nam, như Sư bà Diệu Tánh (Huê Lâm), Diệu Hường (Diệu Ấn), Diệu Tấn (Kiêm Sơn, tịch), Diệu Tịnh (Hải Ấn, tịch), Diệu Kim (Bảo An), Diệu Ninh (Vĩnh Bữu), Diệu Không (Huế), Diệu Hoa (Sa Đéc) … những phật học viện của Ni Bộ như: Từ Nghiêm (Cholon), Dược Sư (Gia Định), Diệu Đức, Hồng Ân (Huế), …
Giáo Hội Tăng già Nam Việt hoạt động đến năm 1963, sau khi Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời thì chấm dứt nhiệm vụ.
b) HỘI PHẬT HỌC NAM VIỆT.
Song song với Giáo Hội Tăng già nam Việt, hội Phật học Nam Việt ra đời vào ngày 25.2.1951 tại Sài gòn; đầu tiên đặt trụ sở tạm tại chùa Khánh Hưng, sau dời về chùa Phước Hòa Bàn Cờ, rốt sau dời về Chùa Xá Lợi. Hội Phật Học Nam Việt mở chi nhánh hầu hết có tổ chức Gia Đình Phật tử . hội có tạp chí Từ Quang để truyền bá giáo lý.
Nhiệm kỳ đầu, Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm Hội Trưởng, tiếp theo là Thầy Quảng Minh làm hội trưởng, cụ Chánh Trí làm Tổng Thư Ký. Sau khi Thầy Quảng Minh đi Nhật, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền liên tiếp làm Hội Trưởng cho đến ngày nay (1970). Cụ Chánh Trí là một Thạch trụ, có công lớn nhất với Hội Phật Học Nam Việt. Cụ có phiên dịch, sáng tác một số kinh sách quý giá.
c) GIÁO HỘI TĂNG GIÀ TRUNG VIỆT
Tại miền Trung, có Giáo Hội Tăng già Trung Việt. Giáo Hội đặt tại trụ sở chùa Linh Quang (Huế), và mở Tỉnh Giáo Hội khắp cả 17 tỉnh miền Trung. Giáo Hội có ra tạp chí Liên Hoa, để hoằng dương chánh pháp. Quý Thượng Tọa Đôn Hậu, Trúc Lâm, Linh Quang, Trí Thủ, … lãnh đạo Giáo Hội. Giáo Hội hoạt động cho đến năm 1963, sau khi Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất ra đời, mới chấm dứt nhiệm vụ
d) HỘI PHẬT HỌC TRUNG VIỆT
Song song với Giáo Hội Tăng già Trung Việt, có hội Phật học Trung Việt, trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm. Hội này là hậu thân của hội “An Nam Phật Học”. Hội mở chi hội khắp cả miền Trung, hoạt động rất mạnh đến hạ tầng cơ sở, có Gia Đình Phật Tử, có trường Bồ Đề và nhiều cơ sở Từ thiện xã hội. Hội do Thượng Tọa Trí Quang, Thiện Minh, Thiên Siêu, cụ Chơn An Lê Văn Định, … lãnh đạo. Quý Thượng Tọa này là ngôi sao sáng của Phật-giáo miền Trung. Hội hoạt động đến ngày Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất, mới chấm dứt nhiệm vụ (chúng tôi không có nhiều tài liệu nói rõ về 2 tập đoàn miền Trung).
e) GIÁO HỘI TĂNG GIÀ BẮC VIỆT
Ngày 20.8.1949 (26.9 Âm lịch) Thượng Tọa Tố Liên triệu tập trên 100 Tăng Ni lập hội “Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt”, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ hà Nội, do Thượng Tọa Tố Liên làm Hội Trường.
Hội ra tạp chí Phương Tiện và Bồ Đề Tân Thanh, để làm cơ quan hoằng pháp, mở Phật Học Đường Tăng tại chùa Quán Sứ, khai giảng ngày 2.8 Kỷ Sữu (1949), trường Ni tại chùa Vân Hồ, khai giảng ngày 6.8 Kỷ Sữu (26.9.1949).
Đến ngày 9.9.1950 (27.7 Canh Dần), 146 Tăng Ni họp tại chùa Quán Sứ, cải tổ “Hội tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt” ra “Phật-giáo Tăng già Bắc Việt”
Đến ngày 17.3 âm lịch, một đại hội Tăng Ni họp tại chùa Quán Sứ, lần đầu tiên suy tôn Tổ Mật-Ứng lên ngôi “Thiền Gia Pháp Chủ”, lãnh đạo “Giáo Hội Tăng già Bắc Việt”.
Đến năm 1954, vì nước nhà chia đôi, nên một phần Giáo Hội Tăng già Bắc Việt dời vào miền Nam, đặt trụ sở tại chùa Giác Minh, đường Phan Thanh Giản Sài gòn.
Xin nhắc lại Thượng Tọa Tố  Liên, người đã có công hướng dẫn một phái đoàn Phật-giáo Việt-Nam đi dự  Đại Hội Phật-giáo Thế Giới, lần đầu tiên họp tại Colombo, thủ đô Tích Lan, từ ngày 26.5.1950 đến ngày 7.6.1950, gồm có đại diện 26 nước Phật-giáo tham dự.
Từ đấy (1950) Phật-giáo Việt-Nam vừa là một sáng lập viên của Hội Phật-giáo Thế Giới vừa là một chi bộ của hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam. Thượng Tọa Tố Liên làm đại diện ban chấp hành Hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam, trụ sở địa phương hội Phật-giáo thế Giới tại Việt Nam đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Lá cờ Phật-giáo Thế giới lần đầu tiên tại Việt Nam được treo ở chùa Quán Sứ Hà Hội, trụ sở của chi bộ Hội Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam, nhân ngày Đại lễ Phật Đản, mùng 8.4 năm Tân Mão (nhằm ngày 13.5.1951).
Cùng năm 1951, ngày Đại hội Phật-giáo thống nhất toàn quốc của 6 tập đoàn họp tại chùa Từ Đàm Huế, lá cờ Phật-giáo Thế giới đầu tiên được treo tại miền Trung.
Và lá cờ Phật-giáo cũng lần đầu tiên tại miền Nam, rất uy nghiêm treo tại trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, chùa Phước Hòa Sài gòn, trước hơn 300 hội viên và một số đông đồng bào, nhơn ngày Đại hội của Hội Phật Học Nam Việt, ngày 24.2.1952.
f) HỘI VIỆT NAM PHẬT GIÁO BẮC VIỆT.
Đến năm Kỷ Sửu (1949) Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt ra đời, cụ Bùi Thiện Cơ làm Hội Trưởng, đạo hữu Viên Quang làm Tổng Thư Ký, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội.
Hội lập cơ quan từ thiện xã hội tại chùa Quán Sứ, lập nhi cô viện để nuôi trẻ em mồ côi và trường bảo trợ giáo dục nhi đồng trên 160 em. Ngày 17.9.1949, Quốc Trưởng Bảo Đại đã đến thăm cơ sở từ thiện xã hội này. Đây là lần đầu tiên, Phật-giáo Việt-Nam lập cơ sở xã hội.
Ngày 15.10.1950, Thượng Tọa Tố Liên, nhân danh Phó Hội Trưởng Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt triệu tập và thành lập “Gia Đình Phật hóa Phổ Bắc Việt” tại chùa Quán Sứ. Ông Nguyễn Văn Nhã là người đầu tiên ở Bắc Việt làm Trưởng Ban hướng dẫn, Ông Đạt làm phó trưởng ban hướng dẫn.
Hội mở niều chi bộ ở các tỉnh miền Bắc. Đến năm 1954, vì nước nhà chia đôi nên Hội dời vào nam, đặt trụ sở tại chùa Phước Hòa, Bàn Cờ Sài gòn.

PHỤ CHÚ:
–   Trong tập này, chúng tôi chỉ nói tổng quát. Đến tập II chúng tôi mới nói rõ các nhân vật hữu công và thành tích hoạt động Phật sự của mỗi tỉnh Giáo Hội. Vậy sau khi nhận được tập này, yêu cầu các tỉnh Giáo Hội gởi báo cáo Phật sự đầy đủ theo thông tư số 102-VHĐ/VP/TT ngày 28.11.1969 về cho chúng tôi càng sớm càng tốt, để kịp thời in tập II.
–  Quyển 50 năm Chấn Hưng Phật-giáo Việt-Nam tập II sẽ nói đến Hiến chương Phật-giáo Thống Nhất, ý nghĩa lá cờ Phật-giáo Thế Giới và sự tổ chức của Phật-giáo Việt-Nam ngày nay. (Muốn  biết Hiến chương Phật-giáo Thế Giới, xem tạp chí Phương Tiện số 30 từ trang 15 đến trang 34).

TÓM LẠI 
Hệ thống tổ chức Phật-giáo thời bấy giờ, trên toàn quốc có chia ra làm 2 giới xuất gia và tại gia. Bên xuất gia chư Tăng, thì có quý Hòa Thượng, Thựơng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni. Bên tại gia thì có các Phật tử Cư sĩ nhiệt tâm vì Đạo. Hai bên họp lại thành 6 tập đoàn: 3 tập đoàn Tăng già và 3 tập đoàn Cư sĩ. Nam, Trung, Bắc mỗi miền đều có 2 tập đoàn Tăng già và Cư sĩ.
Ba tập đoàn Tăng già lãnh đạo chư Tăng Ni ở ba miền Nam, Trung, Bắc. Ba tập đoàn Cư sĩ lãnh đạo Cư sĩ ở trong 3 miền Nam, Trung, Bắc.
Để có sự chỉ huy thống nhất của các chư tăng toàn quốc, nên trên ba tập đoàn Tăng già và 3 tập đoàn Cư sĩ lập ra Tổng Hội Phật-giáo Việt-Nam (không phải tổng Giáo Hội bây giờ) do một ban Tổng Trị Sự, gồm quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa và Phật tử Cư sĩ có uy tín điều hành.
Thưa Quý Vị,
Ngạn ngữ có câu: “Cây có cội, nước có nguồn; ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng”. Phật-giáo Việt-Nam được Chấn Hưng, huy hoàng rực rỡ như ngày hôm nay thật là nhờ công đức lớn lao, thành tích quý giá của Liệt vị Tổ sư, chư Tôn Hòa Thượng Trưởng Lão, Thượng Tọa, Đại Đức và Quý phật tử Cư sĩ hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo gần 50 năm qua (1920-1963).
Vậy trong giờ phút thiêng liêng này, chúng tôi cung thỉnh trên chư tôn Trưởng Lão Hòa Thượng, chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và Quý Liệt Vị đồng đứng dậy, chấp tay nghiêm chỉnh để tưởng niệm và thành kính ghi ân, công đức thành tích lớn lao của những bậc hữu công trong lịch sử Chấn Hưng Phật-giáo gần nữa thế-kỷ qua.
PHẬT GIÁO GẶP ĐẠI NAN. (1963)
Toàn thể Tăng Ni và Phật-giáo đồ từ già đến trẻ đều tình nguyện hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc. [1]
Thưa quý liệt vị,
Đến năm 1963, Phật-giáo-Nam bị đại nạn. Ngô triều triệt hạ cờ Phật-giáo, chủ trương tiêu diệt Phật-giáo và đàn áp dân chúng. Lúc bấy giờ toàn thể Tăng, Ni và đồng bào Phật tử toàn quốc, cả Nam Tôn và Bắc Tôn đồng đứng dậy tranh đấu mãnh liệt, để bảo vệ Phật-giáo và cứu nguy Dân tộc.
Đến lúc căng thẳng, tình hình quá đen tối, Bồ Tát Quảng Đức đem thân làm đuốc, đốt lửa từ bi soi sáng cho Dân tộc và Đạo pháp,phá tan mây mù vô minh hắc ám của chế độ độc tài nhà Ngô, nêu gương oai hùng bất khuất của Dân tộc Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng, làm chấn động thế giới, cả quốc tế đều kính phục
Ngọn đuốc từ bi và oai hùng của Bồ Tát Quảng Đức mở đầu cho một loạt những ngọn đuốc thiêng khác, tiếp tục thắp lên từ năm 1963 cho đến bây giờ.
DANH SÁCH CHƯ THÁNH TỬ ĐẠO

I. LIỆT QUÝ VỊ TỰ THIÊU
1. – Năm 1963     ngày 11.6 (20.4 Quý Mão), Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Sài gòn.
2. – Năm 1963     ngày 4.8, Đại Đức T. Nguyên Hương tự thiêu tại công trường Chiến sĩ, trước tĩnh đường Phan Thiết.
3. – Năm 1963     ngày 13.8 Đại Đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên Huế.
4. – Năm 1963     ngày 15.8, Thích nữ Diệu Quang, tục danh Ngô Thị Thu Minh 27 tuổi, tự thiêu tại Ninh Hòa.
5. – Năm 1963     ngày 16.8, (27.6 Quý Mão), Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu, 62 tuổi, tự thiêu tại chùa Từ Đàm Huế.
6. – Năm 1963     ngày 29.9, P.T. Hồng Thể, Thương phế binh, tự thiêu sau chùa Phước Lâm, Vũng Tàu.
7. – Năm 1963 ngày 5.10, Đại Đức Thích Quảng Hương, tự thiêu tại chợ Bến Thành, Ngồi kiết già trước cổng trường Diên Hồng, Sài gòn.
8. – Năm 1963   ngày 27.10 Đại Đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu tại công trường Hòa Bình, Nhà thờ Đức Bà.
9. – Năm 1965   ngày 26.1, Phật tử Đoàn Thị Yến Phi 17 tuổi, nữ đoàn phó gia đình Phật tử tự thiêu tại Tòa hành chính tỉnh Khánh Hòa.
10. – Năm 1965 ngày 20.4, Sa Di Thích Giác Thành tự thiêu cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam, tại chùa Giác Vương tỉnh Gia Định.
11. – Năm 1966 ngày 29.5 (mùng 10.4 Bính Ngọ), Bà Hồ Thị Thiểu, Pháp danh Nguyên Sanh vị pháp thiêu thân vào 21 giờ 30 phút tại Việt Nam Quốc Tự.
12. – Năm 1966   ngày 30.5, Phật tử Nguyễn Thị Vân tự thiêu tại chùa ở thành Nội Huế.
13. – Năm 1966   ngày 5.5, âm lịch , P.T Đặng Thị Ngọc Tuyền tự thiêu tại Đà Lạt, Tuyên Đức.
14. – Năm 1966 ngày 1.6, Đại Đức Thích Thiện Huệ, Tục danh Nguyễn Lang 18 tuổi, tự thiêu tại Gò Giếng Nước Nóng tỉnh Khánh Hòa.
15. – Năm 1966   ngày 4.6, Đại Đức Thích Như Hải, vị pháp thiêu thân tại chùa Tỉnh Giáo Hội Quãng Trị.
16. – Năm 1966   ngày 4.6, Thích nữ Diệu Tri, tục danh Lê Thị Hiến, pháp danh Tâm Lương 27 tuổi, tự thiêu trước đài Quan Âm, tại Ni viện Diệu Quang Nha Trang.
17. – Năm 1966 ngày 17.6 Đào Thị Tuyết pháp danh Tâm Bạch, tự thiêu vào lúc 21 giờ 30 tại Việt Nam Quốc Tự.
18. – Năm 1966 ngày15.4 Bính Ngọ, Ni Cô Đỗ Thị Cửu pháp danh Nguyên Huệ tự Diệu Định 26 tuổi tự thiêu tại chùa Hải Lạc ở Đà Nẵng.
19. – Năm 1966   ngày 23.6 (5.5 Pl 2510) Phật tử Đào Thị Ngọc Tuyền vị pháp thiêu thân.
20. – Năm 1966 ngày …, Đại Đức Thích Huệ Hồng tự thiêu trước Tổng Vụ Thanh Niên đường Công Lý Sài gòn.
21. – Năm 1966   ngày 9.4 âm lịchThích nữ Thanh Quang tự thiêu tại chùa Diệu Đế Huế.
22. – Năm 1966   ngày 30.8, nữ sinh P.T. Nguyễn Thị Huê tự thiêu tại Việt Nam Quốc Tự.
23. – Năm 1967 ngày 16.5 (mồng 8.4 Phật Đản 2511), bắt đầu khai mạc tuần lễ “cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam” của G.H.P.G. V.N.T.N tại chùa Ấn Quang, Phật tử Nhất Chi Mai tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm đường Bà Hạt Cholon, để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
24. – Năm 1967   ngày 3.10, Thích nữ Trí Túc, tục danh Lê Thị Hậu, tự thiêu tại chùa Bảo An Cần Thơ (Phong Dinh) để bảo vệ Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N. và cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
25. – Năm 1967   ngày 8.10 Thích nữ Trí Chơn, tục danh Nguyễn Thị Ngọc, sanh năm 1917 (54 tuổi) tự thiêu tại chùa Quan Âm, Sa Đéc, để bảo vệ Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N.
26. – Năm 1967 ngày 22.10 Thích nữ Huệ Lạc, tục danh Lê Thị Nghiêm, sanh năm 1945 (22 tuổi) tự thiêu tại chùa Viên Giác tỉnh Gia Định để bảo vệ Hiến chương.
27. – Năm 1967   ngày 31.10 Đại Đức Thích Hạnh Đức, tục danh Trần Văn Minh, sanh năm 1947 (20 tuổi) tự thiêu tại Quãng Ngãi để bảo vệ Hiến chương.
28. – Năm 1967   ngày 1.11, Thích nữ Thông Huệ, tục danh Nguyễn Thị Lộc Đài, sanh năm 1937 (30 tuổi) tự thiêu tại Nha Trang để bảo vệ Hiến chương.
29. – Năm 1969   ngày 25.12 (17.11 Kỷ Dậu, Vía Phật A Di Đà), Phật tử Lê Văn Mỹ 68 tuổi, Pháp danh Chơn Thiện tự thiêu tại Đà Nẵng.
30. – Năm 1970 ngày 4.6, Ni cô Khất sĩ Liên Tập, tục danh Lê Thị Gái, tự thiêu tại Ninh Thuận để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
31. – Năm 1970 ngày 10.6 Đại Đức Thiện Lai, tục danh Bùi Đình Tầng 74 tuổi, tự thiêu trước chùa Phổ Quang, Phú Nhuận để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.

QUÝ LIỆT VỊ BỊ THẢM SÁT QUA CÁC CUỘC KHỦNG BỐ VÀ ĐÀN ÁP
1. – Trước năm 1963, Đại Đức Thích Viên Quang, trụ trì chùa Kim Quang, xã Hà Thành, quận Sơn Hà, bị hạ sát trên đường từ chùa Kim Liên (xã Sơn Tây) đến Hà Thành.
2. – Năm 1965 ngày … Cư sĩ Phan Duy Trinh, huynh Trưởng gia đình Phật tử Thừa Thiên Huế, bị thảm sát và được phong Thánh Tử Đạo.
3. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Đặng Văn Công 13 tuổi.
4. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi.
5. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Yến 20 tuổi.
6. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Huỳnh Thị Tôn Nữ Tuyết Hoa 12 tuổi.
7. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi.
8. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Văn Đạt 13 tuổi.
9. –  Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Ngọc Lan 12 tuổi.
10. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị phúc 15 tuổi.
(8 vị trên đây bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế, đã phong Thánh Tử Đạo).
11. –  Năm 1963 ngày 8.5 Quý Mão, Cư sĩ Hồ Thị Mùi bị thảm sát tại Huế.
12. – Năm 1963 ngày 7.6 Quý Mão, Cư sĩ Nguyễn Tăng Chắc bị thảm sát tại Huế.
13. – Năm 1963 ngày 14.7 Quý Mão, Cư  Sĩ Hoàng Tuyết bị thảm sát tại Huế.
14.– Năm 1963 ngày 20.7 Quý Mão, Cư  Sĩ  Trần Du bị thảm sát tại Huế.
15.– Năm 1963 ngày 25.8 Quý Mão, Quách Thị Trang bị thảm sát tại chợ Bến Thành Sài gòn.
16.– Năm 1964 ngày 31.8 (24.7 Giáp Thìn), Phật tử  Nguyễn Văn Phát bị thảm sát tại Sài gòn.
17. – Năm 1964 ngày 1.9 (25.7 Giáp Thìn), Phật tử Phan Văn Hòa bị thảm sát tại Sài gòn.
18. – Năm 1966 ngày 1.3, Phật tử Nguyễn Văn Đức bị thảm sát tại Tuyên Đức.
19. – Năm 1966 ngày 21.4 Phật tử Nguyễn Văn Triệt bị thảm sát tại Tuyên Đức.
20. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Châu Kỳ bị thảm sát tại Tuyên Đức.
21. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Đoan Chánh bị thảm sát tại Tuyên Đức.
22. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Hoàng Văn Dậu bị thảm sát tại Tuyên Đức.
23. – Năm 1966 ngày 11.6, Cư sĩ Văn Bá Hoành, Đặc Ủy gia đình Phật tử Quận Duy Xuyên bị thảm sát tại Quảng Nam.
24. – Năm 1966 ngày 16.6 Phật tử  Đoàn Thanh Niên Thiện Chí Huỳnh Văn Thiện, bị bắn trước cửa Việt Nam Quốc Tự, đã được phong Thánh tử Đạo ngày 20.8.1967 (Rằm tháng 7).
25. – Năm 1966 ngày 12.7, Cư sĩ Nguyễn Dần, Chánh Đại diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị chôn sống tại quận Duy Xuyên Quảng Nam.
26. –  Năm 1966 ngày 27.3 AL, Cư Sĩ Nguyễn Đại Thức bị thảm sát tại Huế.
27. – Năm 1966 ngày … Cư sĩ  Lê Đình Linh, Đặc Uỷ gia đình Phật tử Điện bàn Quảng Nam, bị bắt và mất tích tại Quảng Nam.
28. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trịnh Văn Lộc bị mất tích tại Quãng Tín.
29. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trương Dzu bị bắt và mất tích tại Quãng tín.
30.– Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Bùi Xuân Hiền bị thủ tiêu tại Quãng nam.
31. – Năm 1966 ngày …  Trung Uý Đào Quang Thống.
32.– Năm 1966 ngày …  Thượng Sĩ Chế Quang Khương.
33. – Năm 1966 ngày …  Trung Sĩ Bùi Mùi.
34. – Năm 1966 ngày …  Trung sĩ Nguyễn Cao Thiên.
35. – Năm 1966 ngày …  Binh nhất Võ Liên.
36. – Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Đăng Quang.
37. – Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Xin.
38. –  Năm 1966 ngày …  Binh Nhì Nguyễn Thành.
39. –  Năm 1966 ngày …  Phật tử Nguyễn Bá Lập (gia đình Phật tử).
40. – Năm 1966 ngày …  Phật tử Bùi Văn Kiểm (mất tích).
(8 quân nhân và 2 Phật tử trên đây đều tranh đấu đòi Quốc Hội Lập Hiến do Giáo Hội chủ trương, bị chết tại Quãng Ngãi).
41.      Năm 1967 ngày 1.3, Cư sĩ Nguyễn Cúc, Chánh Đại Diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị thủ tiêu tại Quãng Nam.
42.      Năm 1967 ngày 24.4, Giáo sư Trương Thị Phưộng Liên ở Đà Nẳng bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định
43.      Năm 1967ngày 24.4Sinh viên Trần Thị Vui bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định
44.       Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Tâm Thể (Nguyễn Nhứt Trí) bị mất tích tại xã Linh Đông quận Thủ Đức.
45.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Huyền Đắc (Nguyễn Văn Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức, Gia Định.
46.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Minh Hoài (Diệp Quang Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
47.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh  Thích Tâm Minh (Lưu Quang Dũng) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
48.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Đinh Viết Dương mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
49.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Trọng Ngành  mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
50.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Khắc Quỳnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
51.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Trần Văn Bỉnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định
52.  Năm 1967 ngày 5.7, Tăng sinh Thích Thanh Quang (Hồ Ngọc Tuấn) cán bộ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
53.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Nguyễn Viết Tự Hy, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
54.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Lê Thế Linh tức Lành, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định
55.  Năm 1967 ngày 5.7, sinh viên Võ Văn Thi tức Thơ, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
(từ số 42 đến 55 cộng 14 người là nhân viên của Trường TNPSXH trong GHPGVNTN ở chùa Pháp Vân xã Phú Thọ Hòa, tỉnh Gia Định).
56.  Năm 1970 ngày 23.6, Đại Đức Thích Thiện Ân tịch tại bệnh viện Triều Châu vì bị bắn ngày 3.5.1970 tại Việt Nam Quốc Tự.
57.  Thượng Tọa Thích Thiện Lai tự thiêu, năm 1971 tại chùa Phổ Quang đường Cô Giang Phú Nhuận Gia Định để cầu nguyện Hòa Bình VN.
Thưa Quý Liệt Vị,
Cũng vì đóng góp cho Phong trào tranh đấu bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc, nên một số đông Tăng Ni Phật tử, nhất là Quân nhân Phật tử năm 1966 trên toàn quốc đã bị tù đày khổ nhục.
Nói đến đây, chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ tưởng lại công đức hy sinh tột độ Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh Tử Đạo và Tăng Ni cùng Phật tử bị khổ nhục. Nhờ Quý vị đó mà Đạo pháp và Dân tộc khỏi bị lầm than! Quý vị chết đi để cho chúng ta được sống. Quý vị đau khổ để cho chúng ta được an vui.
Vậy một lần nữa, chúng tôi cung thỉnh chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử đồng đứng lên, để 3 phút thành kính tưởng niệm công đức vô biên của Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh tử Đạo, Tăng ni và phật tử, đã hy sinh bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc từ năm 1963-1970.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM 
THỐNG NHẤT RA ĐỜI
Thưa Quý Liệt vị,
Cuộc cách mạng ngày 1.11.1963 đã chấm dứt chế độ tàn bạo độc tài của Ngô Triều. Phật-giáo thoát khỏi cơn đại nạn. Sau đó 2 tháng, một Đại Hội Phật-giáo Việt-Nam được tổ chức trọng thể từ ngày 30.12.1963 đến ngày 1.11964 tại chùa Xá Lợi Sài gòn, gồm cả Tăng Ni Phật tử Nam tôn và Bắc Tôn, để thống nhất thành một Giáo Hội, gọi là “Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”.
Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời lãnh sứ mạng nặng nề và cao cả của các vị Tiền Bối gần 50 năm qua giao phó, tiếp tục công nghiệp của Giáo Hội Tăng già toàn quốc, Tổng hội Phật-giáo Việt-Nam và các tập đoàn Phật-giáo cả Nam Tôn và Bắc Tôn.
Từ đây, Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất có trách nhiệm lèo lái con thuyền Đạo pháp qua cơn sóng gió, đưa đến chổ vinh quang. Đây là giai đoạn của người hậu tấn và cũng là nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta hiện nay vậy.
Trước khi dứt lời, nhân danh Viện Trưởng Viện Hóa-Đạo, chúng tôi đốt nén hương lòng cầu nguyện giác linh Quý Liệt Vị Tiền Bối, chư Thánh Tử Đạo giáng lâm chứng chiếu, và Quý Liệt Vị hiện tiền, hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo trong nữa thế-kỷ qua, chứng minh cho lòng thành kính tri ân của tất cả chúng tôi.
Nam Mô Công đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.
[1] Xem hình ảnh tự thiêu của Chư Thánh Tử Đạo ở sau (Thiêu đòi Hòa Bình Việt Nam, thiêu để bảo vệ Đạo Pháp).

TỔNG KẾT

PHẬT GIÁO VIỆT NAM QUÁ KHỨ
Chúng ta hãy nghiêm chỉnh và từ từ giở lại từng trang sử Phật-giáo Việt-Nam; chúng ta thấy từ khi Phật-giáo có mặt trên đất nước Việt Nam đến nay, gần 2000 năm. Phật-giáo luôn luôn trung thành với Dân tộc quốc gia Việt Nam; cùng với Dân tộc đồng an đồng nguy. Khi nào nước nhà bị ngoại xâm, dân chúng đồ thán, thì Phật-giáo đứng ra chống xâm lăng cứu nước giúp dân. Khi nước nhà thái bình thạnh trị, dân chúng an cư lạc nghiệp thì các vị Thiền sư trở về chùa tu niệm. Phật-giáo không mưu đồ ngai vàng, công danh, quyền thế hay độc tôn. Phật-giáo không để cho một thế lực nào, dù mạnh đến đâu khuynh đảo. Không để bị mua chuộc dù tiền bạc nhiều đến mấy. Phật-giáo không chạy theo ngoại bang, không dựa quyền thế, không làm tay sai cho bất cứ ai. Mà Phật-giáo chỉ trung thành với quốc gia Dân tộc, chỉ dựa trên căn bản Dân tộc, sống chết với Dân tộc mà thôi. Lịch sử Việt Nam, từ Đinh, Lê, Lý, Trần đã chứng minh hùng hồn và cụ thể điều đó.
ĐẠI HỘI THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Phật-giáo từ khi có mặt trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, chưa làm đổ một giọt máu nào của nhân loại hay của một quốc gia chủng tộc nào, (chỉ trừ một vài cá nhân mượn lốt tu sĩ, vì quyền lợi riêng tư) hay có hậu ý mưu đồ xâm lăng chiếm đoạt. Phật-giáo đi đến đâu chỉ mang ánh sáng từ bi đạo đức chiếu soi đến tận đó và tạo dựng Hòa Bình an lạc cho Dân tộc xứ ấy.
Phật-giáo Việt-Nam trong quá khứ đã viết một trang lịch sử vàng son như thế. Là Phật tử, dù gặp phải hoàn cảnh nghèo nàn khổ nhục, tai nạn đến đâu, bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải giữ gìn trang lịch sử ấy.
PHẬT GIÁO VIỆT NAM CẬN ĐẠI
Thưa quý liệt vị, xuyên qua bài “Ghi ân Tiền Bối”, chúng ta thấy gì? Thời kỳ cận đại, nước Việt Nam bị người Pháp đô hộ gần 1 thế-kỷ, dân chúng Việt Nam làm nô lệ gần 100 năm, thì Phật-giáo Việt-Nam cũng bị gian khổ, kỳ thị, chèn ép, suy đồi gần 1 thế-kỷ.
Thế mà các vị Tiền Bối không nệ thân già sức yếu, đã hy sinh, dốc toàn lực để giương mình dưới sức ép nặng nề của tảng đá khổng lồ của ngoại bang là Thực dân Pháp.
Từ con số không, quý Ngài đã gầy dựng, Chấn Hưng với một sự cố gắng không ngừng, trở mình tiến triển qua nhiều giai đoạn, cho đến ngày nay, Phật-giáo được một sự nghiệp khả quan như ngày nay!.
Cũng trong thời gian bị kỳ thị suy đồi ấy, Phật-giáo vừa Chấn Hưng để bảo vệ Đạo pháp, vừa giữ vững truyền thống ngàn xưa là “Trung thành với quốc gia Dân tộc”. Như năm 1946 trên toàn quốc, chư Tăng Ni lập “Phật-giáo cứu quốc” để “Chống Pháp cứu nước”. Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng, trụ trì chùa Tam Bảo Rạch Giá đã bị Pháp và tay sai đánh đập tra tấn và đày ra Côn Đảo cho tới ngày rục xương; Thượng Tọa Trí Thuyên bị Pháp bắn tại Tòng Lâm Kim Sơn Huế, … cũng vì tội “Trung thành với Quốc gia Dân tộc!”.
Chúng ta thành tâm ghi ân quý vị Tiền Bối đã có công đóng góp cho nền Chấn Hưng Phật-giáo và quốc gia Dân tộc, một sự hy sinh vô tận. Quý Ngài đã viết thành một trang lịch sử vẻ vang cho Phật-giáo Việt-Nam cận đại. Chúng ta là đàn hậu tấn, có bổn phận tiếp nối, giữ gìn và làm sáng tỏ thêm trang lịch sử vàng son ấy.
PHẬT GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY
Chúng ta đã thấy Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại. Còn “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay” đã làm gì cho Đạo pháp và Dân tộc?
Thưa quý liệt vị, kiểm điểm lại từ năm 1963 đến nay (1970), chúng ta đã thấy những gì?
– Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm nắm chính quyền 9 năm, đã viết một trang lịch sử vô cùng đen tối: tàn bạo, độc tài, đàn áp dân chúng, kỳ thị tôn giáo, âm mưu tiêu diệt các đảng phái và tôn giáo như Cao đài, Hòa hảo, rốt sau là Phật-giáo.
Trước một bạo lực hung hăng vô cùng nguy hiểm như thế, nhưng vì tinh thần quật cường bất khuất, Phật-giáo vùng lên tranh đấu, với tư thế “Châu chấu chống xe, đem trứng chọi đá” để “cứu nước, cứu dân, cứu các tôn giáo đảng phái, kể cả tự cứu mình”
Ngô triều sụp đổ, nhưng chế độ của Ông vẫn còn, nên Phật-giáo phải tiếp tục tranh đấu.
– Đến năm 1966, vì thấy nước nhà hoàn toàn mất chủ quyền, bị ngoại nhân khuynh đảo, mọi mặt như: chính trị, kinh tế, xã hội, … đều bị lệ thuộc ngoại bang và hoàn toàn sụp đổ, nên một lần nữa, Phật-giáo đứng lên tranh đấu đòi “chủ quyền quốc gia”, đòi “Quốc hội lập hiến”, đòi “Thành lập hiến pháp”, và đòi “Chánh phủ dân cử”, để xây dựng nền dân chủ cho miền Nam nước Việt.
Cũng vì truyền thống của Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại, nên Phật-giáo Việt-Nam ngày nay cũng, đã và đang tiếp tục viết một trang lịch sử oai hùng và vẻ vang vào thế-kỷ thứ 20 này là “cứu nước, cứu dân và bảo vệ Đạo pháp”.
Trang đầu, trong bản Hiến chương của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất (1964) đã nói rõ “Lập trường của Phật-giáo” như sau:
Viết trang lịch sử oai hùng này, Phật-giáo Việt-Nam đã tốn khá nhiều xương máu: Tăng Ni Phật tử hy sinh rất nhiều; Sinh Viên, Học sinh Phật tử bị đánh đập tra tấn, nhất là quân nhân Phật Tử bị tù đày khổ nhục và thiên chuyển.
Khởi đầu Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu để “cứu nguy Dân tộc và Đạo pháp” làm rúng động cả Thế giới. Tiếp theo lửa Từ bi của Bồ Tát, có gần 30 ngọn đuốc thiêng, liên tiếp đốt lên, phá tan bao nhiêu lớp mây mù si mê hắc ám của chế độ tàn bạo độc tài, làm sáng chói cả Việt Nam và Thế Giới.
Và tiếp theo 28 ngọn đuốc Từ Bi, đã có trên 50 vị Thánh Tử Đạo hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc, làm cho Thế Giới kinh hoàng; Liên Hiệp Quốc phải nhóm gấp để can thiệp, và cử một phái đoàn đến Việt Nam để điều tra về chính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật-giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm.
Cuộc đấu tranh vẻ vang oai hùng của Phật-giáo, làm cho dân chúng trong và ngoài nước có nhiều dư luận phê phán và ca ngợi nhu sau:
1.      Từ khi có lịch sử loài người, trên thế giới chưa có một cuộc cách mạng tranh đấu nào được một phần ba thế giới ủng hộ. Thế mà cuộc đấu tranh của Phật-giáo năm 1963, hầu hết tất cả các nước trên thế giới, chẳng những thế giới tự Do, mà cả Thế giới Cộng Sản, từ nước nhược tiểu cho đến nước đại cường quốc như: Mỹ, Anh, pháp, Nga, Tàu và Ấn Độ … đều ủng hộ.
2.      Tinh thần dũng cảm của Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh Tử Đạo, toàn thể Tăng Ni và đồng bào Phật tử hy sinh đấu tranh để “bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc Việt Nam” đã viết lên một trang lịch sử vẽ vang oai hùng, vô tiền khoáng hậu.
3.      Mỗi khi Quốc tế can thiệp, phải là việc công cộng và rất quan trọng. Cuộc đấu tranh của Phật-giáo năm 1963, chỉ trong phạm vi nhỏ bé của Việt Nam, thế mà Liên Hiệp Quốc phải chú trọng đến, họp khẩn cấp và cử một phái đoàn đến Việt Nam để trực tiếp điều tra, để đưa ra quốc tế xét xử. Như thể đủ biết được cuộc đấu tranh của Phật-giáo có giá trị và quan trọng đến mức nào.!
4.      Cuộc tranh đấu của Phật-giáo năm 1963, làm cho thế giới rúng động và kính nể chí khí anh hùng, quật cường, bất khuất của Dân tộc Việt Nam nói chung và Phật-giáo Việt-Nam nói riêng.
5.      Trên Thế giới, các nước Phật-giáo, chưa có nước nào Phật-giáo Nam Tôn và Bắc Tôn được thống nhất. Thế mà nước Việt Nam, nhờ cuộc đoàn kết tranh đấu năm 1963, nên Phật-giáo được thống nhất cả Nam Tôn và Bắc Tôn.
– Đến năm 1970, thêm hai ngọn đuốc thiêng là Thượng Tọa Thiện Lai, Ni Cô Liên Tập và năm 1967 Phật tử Nhứt Chi Mai là 3 vị hy sinh cho Quốc Gia Dân tộc, tự thiêu để đòi chấm dứt chiến tranh, cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam (xem tiểu sử của 3 vị ở sau).
Tóm lại, xuyên qua bao nhiêu dư luận của quần chúng trong và ngoài nước, chúng ta thấy: vẫn theo truyền thống Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại, Phật-giáo Việt-Nam ngày nay (1963-1970) đã tiếp tục viết một trang lịch sử vẽ vang oai hùng bằng máu lửa, bằng đại hùng, đại lực, đại từ bi, để “Bảo vệ quốc gia, Dân tộc và Đạo pháp”.
Là Phật tử, bất luận xuất gia hay tại gia, chúng ta đều có bổn phận phát huy truyền thống của Tổ tiên, giữ gìn trang lịch sử vàng son nay.
PC:   – Tập II sẽ nói về “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay” (tức là Phật-giáo Việt-Nam năm 1970).
– Tập III sẽ chép về tiểu sử, hình ảnh danh lam và danh tăng cổ kim và quý vị cư sĩ hữu công.
(Còn nữa)
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: