RSS

Bản chất của chính sách Ky-tô giáo “hóa” Châu Á của Vatican và hướng phát triển đạo Phật trong thế kỷ 21

23 Jul

Bản chất của chính sách Ky-tô giáo “hóa” Châu Á của Vatican và hướng phát triển đạo Phật trong thế kỷ 21[1]

Giáo sư Trần Chung Ngọc

nctran@Äuno.com

–o0o–

ĐPNN: Xin giáo sư cho quý độc giả Đạo Phật Ngày Nay biết con đường đến với đạo Phật của giáo sư: cơ duyên và mục đích?

TCN: Tôi đến với đạo Phật, một phần do ảnh hưởng gia đình, một phần do sự tìm hiểu bản thân. Thuở nhỏ, nhà tôi ở ngay trước cửa Chùa Chân Tiên, phố Lê Lợi (bây giờ là Bà Triệu), Hà Nội. Mẹ tôi xin cho tôi sang Chùa học chữ Hán với Sư Ông trụ trì. Chữ Thầy trả lại Thầy, tôi chỉ còn nhớ có bài Tán Phật: “A Di Đà Phật thân kim sắc ?.”. Ba tôi mất sớm, gia đình tôi di cư vào Nam năm 1954. Mẹ tôi tối nào cũng niệm Phật nhưng không bao giờ bắt tôi đọc kinh hay niệm Phật. Chị tôi chủ nhật nào cũng đi Chùa nghe các Thầy giảng Phật Pháp, nhưng không bao giờ bắt tôi đi cùng. Do đó, “Phật sự” của tôi, cho đến tuổi trưởng thành, chỉ là theo mẹ và chị đến chùa lễ Phật một năm vài lần: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, và ba ngày Tết. Dù tôi đã quy y Tam Bảo cách đây 40 năm, với Thầy Tuệ Đăng, Chùa Văn Thánh, Thị Nghè, nhưng có thể nói, cho tới 1975, Kinh điển Phật Giáo đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Thật là xấu hổ, mang danh là một Phật tử mà chẳng biết gì về Phật Giáo.

Nhưng có lẽ hạt giống Phật Giáo đã có sẵn trong người, chỉ cần hội đủ cơ duyên là nảy mầm, phát triển. Cho nên, năm 1975, sau khi định cư tại Hoa Kỳ, cuốn sách đầu tiên đưa tôi “trở lại” đạo Phật là cuốn “The Essence of Buddhism” của John Walters. Cuốn sách nhỏ này, vào khoảng 150 trang, rất đặc biệt, vì đó là tác phẩm của một người trưởng thành trong truyền thống Ki Tô, được nhồi sọ Phật Giáo là một tôn giáo yếm thế, vô vọng, một dạng sơ khai của chủ thuyết hiện sinh v..v.., và tin rằng Ki Tô Giáo là tôn giáo duy nhất có ích cho nhân loại. Nhưng sau một chuyến du hành Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, ông ta đã thấy thực chất của Phật Giáo, hoàn toàn không như những điều ông đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ. Ông bèn suy nghĩ lại, tìm hiểu lịch sử và so sánh Ki Tô Giáo với Phật Giáo. Ông nghĩ tới “những sai lầm và tội ác của những Giáo hội Ki Tô và những giới chức lãnh đạo trong quá khứ” (the blunders and crimes of the churches and their leaders in past ages), những lễ tiết trong Ki Tô Giáo mà ông cho là có tính cách “mê tín tàn bạo” (sadistic superstition) và so sánh với “một trong những sự vinh quang nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan nhượng” (one of the greatest glories of Buddhism is its tolerance).

Cuốn sách này giúp tôi có một kiến thức căn bản về cuộc đời Đức Phật, những giáo lý chính yếu của Phật Giáo, đạo đức và sinh hoạt của đoàn thể Tăng Già, nghĩa là về Tam Bảo. Chính những hiểu biết căn bản về Tam Bảo này đã làm cho tôi vô cùng hâm mộ Phật Giáo và từ đó, tìm hiểu thêm về Phật Giáo.

Tôi tìm đọc những tác phẩm viết về Phật Giáo của Dwight Goddard, Paul Carus, Rhys Davids, Theodore Stcherbatsky, Christmas Humphreys, Edward Conze, Charles Luk, John Blofeld, Sangharakshita, D.T. Suzuki, Thomas Cleary (vào thập niên 70, sách viết về Phật Giáo không nhiều như bây giờ, chỉ có những tác giả trên là được nhiều người biết tới), và của Thích Thiện Hoa, Thích Thiên An, Thích Nhất Hạnh, Thích Đức Nhuận v..v.. để mở mang thêm kiến thức về Phật Giáo, và sau cùng mới đi vào các Kinh Luận Phật Giáo. Kinh Luận Phật Giáo quả là một sự thách đố trí thức, càng đi sâu vào trong đó tôi càng thấy chân trời của tôi mở rộng, càng thấy những tư tưởng Phật Giáo quả là siêu việt, vượt thời gian và không gian. Nhưng chính cái dụng của Phật Giáo mới là những phép lạ biến cải con người, nhưng đây không phải là chỗ để đi vào chủ đề này.

ĐPNN: Là một vị giáo sư tiến sĩ về ngành vật lý hiện đại (hay nguyên tử học?) chắc hẳn giáo sư có nghiên cứu nhiều về tính chất khoa học trong lời dạy của đức Phật. Xin giáo sư cho biết tính tương thích của đạo Phật trong khoa học và hơn hết, sự giới hạn của khoa học so với đạo Phật trong phương diện phục vụ nhân sinh.

TCN: Thật là khó trả lời, vì Phật Giáo là một chủ đề vĩ đại, vô cùng vĩ đại, với một rừng Kinh Sách, Giáo lý và Triết Lý trong ba Tạng Kinh, Luật, Luận. Hiếm có người có thể tự nhận là đã thông suốt Kinh điển Phật Giáo. Mặt khác, khoa học cũng là một chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn, và tôi tin rằng không một người nào dám nói là mình đã biết hết về khoa học. Nhưng đại cương thì chúng ta thấy rằng giữa nhiều bộ môn trong khoa học và Phật Giáo có nhiều điều tương hợp. Tôi rất tiếc tôi không đủ văn tài để thâu tóm tính tương thích của Phật Giáo trong khoa học bằng vài câu ngắn ngủi. Tôi đã viết một số bài với những chủ đề như: Những Đặc Tính Khoa Học Trong Phật Giáo, Phật Giáo Và Vũ Trụ Học, Phật Giáo Và Cuộc Cách Mạng Khoa Học, Phật Giáo Và Khuôn Mẫu Toàn Ký Trong Khoa Học, Câu Chuyện “Big Bang”, Phật Giáo Và Thuyết Tương Đối v..v.. trình bày những khía cạnh tương thích khác nhau của Đạo Phật và Khoa Học. Trong nhiều trường hợp, Phật Giáo đã đi xa hơn và đi trước Khoa Học rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ xin nhắc tới ba nhận định về Phật Giáo của ba nhân vật có tên tuổi trong giới khoa học. Xuyên qua kinh điển Phật Giáo, chúng ta có thể chứng minh những nhận định này là đúng.

  1. Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối, đã phát biểu như sau:

“Nếu có một tôn giáo nào thích nghi với những nhu cầu của khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo. Phật Giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật Giáo không cần từ bỏ những quan điểm của mình để chấp nhận khoa học, bởi vì Phật Giáo bao gồm khoa học, đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh. Phật Giáo siêu việt thời gian và mãi mãi có giá trị.”

Chúng ta nên để ý, phần chữ đậm ở trên đã nói lên sự khác biệt giữa Phật Giáo và Ki Tô Giáo. Nền Thần học Ki Tô Giáo đã phải thay đổi rất nhiều, sửa sai gượng gạo những “lời mạc khải không thể sai lầm của Thần Ki Tô” trong Thánh Kinh cho phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

  1. Bertrand Russell, một triết gia và cũng là một nhà toán học nổi tiếng không kém Einstein, người được giải Nobel về Triết học, đã phát biểu như sau về Phật Giáo:

“Phật Giáo là một tổ hợp của triết lý suy đoán và triết lý khoa học. Phật giáo ủng hộ phương pháp khoa học và theo phương pháp này để tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lý?Phật giáo còn đi xa hơn khoa học vì khoa học bị giới hạn của những dụng cụ vật lý.”

  1. Tiến sĩ Graham Howe, một bác sĩ nổi tiếng của Anh quốc, chuyên ngành trị liệu các bệnh tâm thần, đã nhận định như sau:

“Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng: từ 2500 năm trước, Phật giáo đã biết những vấn đề hiện đại về tâm lý nhiều hơn là chúng ta thường biết tới. Phật Giáo nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương.”

Khoa Học và Phật Giáo phục vụ nhân sinh trên hai bình diện khác nhau. Đại cương thì đối tượng của khoa học là tìm hiểu những quy luật thiên nhiên, tăng gia toàn bộ kiến thức của nhân loại, và về phương diện vật chất, cải tiến qua những phát minh để cho đời sống con người thoải mái hơn. Nhưng khoa học, dù có làm bớt đi phần nào những đau khổ vật chất của con người, hầu như không có cách nào giải quyết được những dằn vặt, đau khổ tinh thần của con người. Trong những xã hội tiến bộ nhất về khoa học lại có nhiều người mắc bệnh tâm thần nhất. Đạo lý Ki Tô làm chủ lực tinh thần và đạo đức ở Au Mỹ nhưng chính tại các quốc gia dư giả về vật chất này lại sinh ra những tệ đoan xã hội nhiều nhất: trộm cướp, giết người, ma túy, ly dị, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, loạn luân, linh mục đồng giống luyến ái, cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ vị thành niên v..v.., tất cả đều chiếm giải quán quân. Trong khi đó, trong các nước Phật Giáo, tuy nghèo khó, nhưng vấn đề lành mạnh xã hội thực sự vượt xa các nước tân tiến Tây phương. Chừng đó cũng để cho chúng ta thấy ảnh hưởng của Phật Giáo trên con đường phục vụ nhân sinh như thế nào. Ngày nay, nhiều phương pháp tu tập, hành trì trong Phật Giáo đã giúp cho rất nhiều người trong những xã hội Tây phương ổn định những vấn nạn tâm linh của họ.

ĐPNN: Trong nhiều sách vở và các nghiên cứu chuyên đề của giáo sư, giáo sư đã dày công vạch ra nhiều mặt trái và tiêu cực của Ky-tô giáo từ giáo nghĩa đến thực hành. Xin giáo sư cho biết cảm nghĩ của mình khi chọn viết các chủ đề “nóng” này?

TCN: Tôi không nghĩ những chủ đề tôi viết là chủ đề “nóng”. Tôi chỉ hâm nóng những chủ đề mà bản chất của chúng không nóng không lạnh, nhưng người ta cố tình “làm nguội đi” với chủ đích bưng bít, che dấu sự thực. Qua những thời đại lý trí, thời đại khai sáng, thời đại phân tích v..v.. trí tuệ con người đã tiến bộ rất nhiều. Do đó, những điều hoang đường, huyễn hoặc, vô lý, phản khoa học, phi lý trí v..v.. không còn hấp dẫn và lừa dối được giới hiểu biết. Về vấn đề Ki Tô Giáo, Tây phương đã thoát ra khỏi cảnh tăm tối của thời Trung Cổ. Cho nên ngày nay, trong thế giới Tây phương, chúng ta thấy tràn ngập những tài liệu khảo cứu về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo nói chung, Gia Tô Giáo nói riêng, và chúng không tạo ra bất cứ vấn đề nào trong những xã hội mà Ki Tô Giáo là tôn giáo chính. Những bài tôi viết chỉ là một phần rất nhỏ trích từ những tài liệu này. Có lý do nào để cho người dân Việt Nam, trong đó có chưa tới 10% theo Ki Tô Giáo, phần lớn là tín đồ Gia Tô Giáo, không được quyền biết tới những tài liệu nghiên cứu nghiêm chỉnh của những bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo, của các học giả và chuyên gia về vấn đề tôn giáo trong các đại học? Tôi nghĩ các tín đồ Gia Tô Việt Nam cần phải biết sự thực về tôn giáo của họ để thanh tẩy (purify) đức tin của họ. Tôi cũng nghĩ những người ngoại đạo, nhất là những Phật tử, cần phải biết rõ về Gia Tô Giáo để tránh những quyết định hấp tấp trước những lời hứa hẹn vô trách nhiệm nhưng lại có sức cám dỗ mạnh đối với những người có đầu óc yếu kém. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, con người một khi cho chân vào cái rọ Gia Tô rồi thì khó rút ra lắm, vì chính sách nhồi sọ của Gia Tô Giáo rất là tinh vi, với đầy đủ phương tiện. Tôi cho rằng, muốn tránh mọi cực đoan, dân trí cần phải được mở mang, và, đối diện với sự thật và chấp nhận sự thật là điều kiện cần và đủ để đi tới sự hòa hợp trong đại khối dân tộc.

ĐPNN: Gần đây, giáo hoàng John Paul II đã ngỏ lời xin sám hối về bảy núi tội lỗi của Ky-tô giáo trong lịch sử 2000 năm qua. Theo giáo sư, bản chất, động cơ và mục đích của những lời sám hối đó là gì?

TCN: Câu khuyên thích hợp nhất trước bất cứ bước đi chính trị nào của John Paul II là: “Đừng tin những gì JPII nói, mà hãy nhìn kỹ vào những gì JPII làm”. Muốn hiểu bản chất, động cơ, và mục đích của những lời sám hối của JPII, chúng ta cần phải biết rõ con người của JPII. Đối với tôi, tuy John Paul II là vị chủ chăn của đàn con chiên đông đảo, có thể lên tới gần một tỷ tín đồ, theo như thống kê đặc biệt của giáo hội Gia Tô, ông ta không phải là người đáng để tôi kính trọng. Ông ta là một con người cuồng tín, vẫn còn mê tín như thời Trung Cổ, không có đạo đức tôn giáo, trịch thượng, và đạo đức giả. Đây không phải là những nhận định vô căn cứ. Sau đây là vài tài liệu chứng minh:

1.      Khi được hỏi ý kiến về vị thế cao cả của JPII trong lãnh vực chính trị quốc tế, Tiến Sĩ Madalyn O?hair đã trả lời:

“Những phương tiện truyền thông trong các xứ Gia Tô đều phụ thuộc Giáo hoàng và dựng ông lên như một lãnh tụ danh tiếng của thế giới. Ông ta là một con người Trung Cổ, chống lại tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm. Nên lên án ông ta trước tòa án thế giới về những tội ác chống lại nhân loại vì những thái độ độc đoán đối với giới phụ nữ trong mọi quốc gia. Ông ta đã tái áp đặt chế độ kiểm duyệt, tái lập cơ quan có tính chất xử dị giáo, kêu gọi phụ nữ sinh sản nhiều và lệ thuộc phái nam, lên án khoa học và giáo dục, và không có nỗ lực nào ngăn chặn sự tăng gia chế tạo vũ khí hạt nhân..Đây là một con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy.”

(The media in the Catholic nations is subservient to the Pope and builds him as a world leader of renown. He is a medievalist, a reactionary and dangerous man. He should be charged in the world court for crimes against humanity for his attitude towards and dictates to women of all nations. He has reimposed censorship, reinstated the inquisitional office, called women to the bearing of more children while subÄecting her to the domination of men, denounced science and education, and made no effort to halt the spread of nuclear buildup..This is a thoroughly despicable man and history will Äudge him as that.)

  1. Cũng vì vậy mà Mục sư Les Balsiger ở Albuquerque, New Mexico, USA, đã cho dựng nhiều tấm bảng quảng cáo lớn trên có vẽ hình JPII và ghi “Một Người Tội Lỗi”(A man of Sin).
  1. Học giả Gia Tô Joseph L. Daleiden viết như sau trong cuốn The Final Superstition, trg. 82:

“Giáo Hoàng John Paul II tin vào nhiều điều mê tín mà đối với các tín đồ Gia Tô hiện đại họ cảm thấy ngượng ngùng. Ngay gần đây, trong ba bài dạy giáo dân, ông vẫn tin rằng mỗi người đều có ít nhất là ba thiên thần bảo hộ và thảo luận về những nhiệm vụ khác nhau của các thiên thần trên thiên đường. Giáo hoàng hét vào mặt cử tọa: “Hãy coi chừng bọn quỷ”. Ông tin rằng quỷ Satan hiện thân dưới dạng một con sư tử, một con rắn, một con rồng, hoặc một con dê có sừng.”

(Pope John Paull II believes in many superstitions that modern Catholics find embarassing. Just recently he gave three lessons in which he maintained that each person has no less than three guardian angels and discussed the various roles of angels working inside paradise. The pope shouted at the audience: “Watch out for the devil!” He believes Satan appears in the shape of a lion, a snake, a dragon, or a goat with horns.)

  1. Trong những chương trình phát thanh đặc sắc nhất ở Columbus, Ohio, đài CBN và TV, Frank R. Zindler bình luận về John Paul II như sau:

“100 năm sau, ai là người mà thế giới cho là ác nhất trong thế kỷ 20? Chắc các bạn cho rằng đó là Adolf Hitler. Có thể, nhưng không hẳn vậy. Tôi cho rằng nếu nền văn minh này còn tồn tại trên cái trái đất mà tài nguyên đang bị cướp bóc này 100 năm nữa thì các sử gia khi đó sẽ đưa ra những bằng chứng bất khả phủ bác là John Paul II là con người ác nhất trong thời đại của chúng ta. Điều chắc là, hình ảnh của Hitler sẽ không sáng sủa hơn chút nào qua giòng thời gian. Người ta sẽ nhớ tới y như là một người đã giết chết nhiều triệu người vô tội. Nhưng những tội ác của y sẽ trở thành mờ nhạt bên danh sách những tội của John Paul II.

Trong khi Hitler phạm tội diệt chủng có dự tính đối với một nhóm người đặc biệt (Do Thái. TCN), John Paul II sẽ bị kết tội dự tính diệt chủng đối với toàn thể nhân loại.

Người ta sẽ nhớ rằng John Paul II đã đi tới những vùng đang chết đói ở Phi Châu và Nam Mỹ, khuyến khích dân chúng ở đây tăng gia sinh sản những đứa trẻ vô tội xấu số không tránh khỏi chết đói về sau.

Người ta sẽ nhớ rằng John Paul II là người làm tăng sự nghèo khổ của con người hơn bất cứ ai khác trong lịch sử văn minh.

Giáo hội Gia Tô Rô Ma đã giết trên 11 triệu người trong thời đại của những tòa án xử dị giáo, nhưng John Paul II sẽ giết hại nhiều hơn thế trong cuộc sống của ông ta. Cái chủ thuyết mà ông ta phát động sẽ còn tiếp tục giết những người vô tội trên trái đất này dài dài trong tương lai.”

(A hundred years from now, who will be remembered as the most evil man of the 20th century? Adolf Hitler, you say? Perhaps, but not likely. I suspect that if there is any civilization surviving on this plundered planet a century hence, its historians will point with irrefutable evidence to Pope John Paul II as the most evil man of our times. To be sure, Hitler?s image is not likely to improve any with age. He will always be remembered as a man who brought about the deaths of several millions of innocent people. But his crimes will pale beside the list of sins ascribed to John Paul II.

Whereas Hitler was guilty of premeditated genocide against particular groups of humans, John Paul II will be charged with premeditation of genocide against the human race itself..

It will be remembered that the pope went to the starving in Africa and South America and encouraged them to increase manyfold the number of unfortunate innocents who would have to starve later on.

John Paul II will be remembered as the man who increased human misery more than anyone in the history of civilization.

The Roman Catholic church killed over 11 million people in the course of the Inquisition, but John Paul II will murder more than that in his own lifetime. The Äuggernaut of genocide which he has set in motion will continue to crush and kill the innocent of this earth far into the future.)

  1. Và Mac Kher đã viết trên Internet, www.nycny.com   như sau:

“Sự đạo đức giả của giáo hoàng thật sự làm cho người ta sửng sốt. Năm ngoái, trong một cuộc công du Châu Mỹ La Tinh, ông ta đã buộc tội những nhà truyền giáo Tin Lành là giẫm chân lên đàn con chiên của ông ta! Ngày nay, cũng ông giáo hoàng đó lại tuyên bố rằng cải đạo là một nhân quyền. Vậy thì, Vatican có công nhận tôn giáo nào khác ngoài Gia Tô Giáo?

..Trong khi tham gia một cuộc họp đa tôn giáo, Giáo hoàng nói đến đối thoại, sự hiểu biết, và sự đoàn kết giữa các tôn giáo. Ngày hôm sau, ông ta nói ngược ngay lại, nhấn mạnh Ki Tô Giáo là tôn giáo chân thật duy nhất, và kêu gọi tín đồ đi cải đạo Á Châu. Đây là sự đạo đức giả, lừa dối cố ý, tệ mạt nhất.”

(The hypocrisy of the Pope is really amazing. Last year during his Latin American tour, he had blamed the Protestant of poaching his flock! The same Pope today claims that religious conversion is a human right. Well, does the Vatican recognize any religion other than Catholicism?

While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue, understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his insistence on Christianity as the only true religion, and gave a call to convert Asia. This is hypocrisy and duplicity at its worst.)

Vài tài liệu trên cho chúng ta thấy rõ con người của John Paul II như thế nào, và chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng những lời sám hối của ông là thành thực hay không. Phân tích kỹ vấn đề, chúng ta thấy ông đã tận dụng xảo thuật thần học để đánh lạc hướng dư luận thế giới và để giữ tín đồ. Thật vậy, Học Hội Đức Giêsu Ki Tô Phục Sinh (Hội Ki Tô Học) của một nhóm tín đồ Gia Tô Việt Nam ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, đã vạch rõ:

“Roma chọn con đường cáo thú tội lỗi của mình là có những lý do thầm kín đã suy nghĩ lâu dài và nát óc để có quyết định này. Trong những con đường xấu (nghĩa là có ảnh hưởng tai hại đến giáo hội. TCN), chọn con đường ít xấu hơn, là con đường “xưng tội trống với Thiên Chúa và với đồng loại”?

Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo hội vẫn phải xây “vạn lý trường thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật “núi tội thành con chuột”, “kẻ cướp mặc áo thầy tu”, và “quỷ Satan có diện mạo ông thánh.”

Mấy câu này đã nói lên động cơ, bản chất, và mục đích của sự xưng thú tội lỗi của JPII. Tôi nghĩ không cần phải thêm vào điều gì nữa.

ĐPNN: Giáo sư nghĩ gì về chính sách Ky-tô giáo hóa châu Á trong thiên niên kỷ thứ ba này của Vatican? Ảnh hưởng của chính sách xâm thực tôn giáo này đối với nền văn hóa và tôn giáo châu Á như thế nào?

TCN: Đưa ra chính sách là một chuyện, có thực hiện được chính sách đó hay không lại là một chuyện khác. Chính sách này đã cho chúng ta thấy rõ bản chất lắt léo, đạo đức giả, xâm lăng tôn giáo, văn hóa của Vatican. Vatican một mặt đưa ra chiêu bài hòa hợp tôn giáo, mặt khác vẫn âm mưu phá ngầm các tôn giáo khác nhất là Phật Giáo ở các nước yếu kém về kinh tế; một mặt kêu gọi mọi quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa của mình coi đó như là phẩm cách quốc gia, mặt khác lại tích cực hành động để tiêu diệt các nền văn hóa địa phương để thay thế vào đó cái nền văn hóa đã phá sản của Gia Tô Giáo; một mặt chỉ trích những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ là “những con chó sói đói mồi” đến chia rẽ những công đồng Gia Tô, mặt khác lại gửi “những con cho sói” của Vatican (viết theo tinh thần lời phê phán của JPII) đi sang Á Châu để gây chia rẽ trong những quốc gia phi Gia-Tô. Tôi tin rằng chính sách trên sẽ thất bại ở Á Châu. Có nhiều lý do để tôi tin như vậy.

1. Nền văn hóa Á Đông, trừ Phi Luật Tân (Gia Tô) và Nam Dương (Hồi Giáo), còn chung chung có thể nói cũng là nền văn hóa Phật Giáo, dù ở trong những quốc gia đang sống dưới chế độ chuyên chính như ở Trung Quốc và Việt Nam, hoặc ở trong những quốc gia dân chủ như Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Tân Gia Ba v..v.. Nền văn hóa Phật Giáo cao hơn nền văn hóa Ki Tô rất nhiều, điều này không ai có thể phủ nhận, trừ phi chúng ta đánh đồng sai lầm nền văn hóa Ki Tô với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật của xã hội của Tây phương. Ngày nay, Tây phương đã nhận ra chân giá trị của Phật Giáo, và Phật Giáo phát triển rất tự nhiên trong những xã hôi Tây phương mà không hề có ý định cải đạo người khác hoặc kiếm thêm tín đồ. Đụng phải cái thành trì Phật Giáo ở Á Đông, Ki Tô Giáo không có cách nào thắng được Phật Giáo vì từ giáo lý cho đến thực hành, từ bản chất của mỗi tôn giáo cho đến những phúc lợi mà mỗi tôn giáo đã mang đến cho nhân loại v..v.., Ki Tô Giáo đều không thể so sánh với Phật Giáo được. Chúng ta nên nhớ, gần đây Giáo Hoàng John Paul II đã phải công khai xưng thú tội lỗi của Giáo hội, vậy Ki Tô Giáo lấy gì để mà thuyết phục người dân, trừ khả năng mang bả vật chất ra để mua tín đồ, những người “theo đạo có gạo mà ăn”, hoặc đưa ra những hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm, về “xác chết sẽ sống lại” trong ngày phán xét, và sẽ có một cuộc sống đời đời trên một thiên đường tưởng tượng nếu giữ vững niềm tin vào những điều huyền hoặc của Tòa Thánh đưa ra với mục đích khai thác sự yếu kém tinh thần và lòng mê tín của đám cùng dân thấp kém.

2. Trở lại lịch sử, Gia Tô Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ 1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Gia Tô mới khuyến dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi). Có thể nói, Gia Tô Giáo chỉ phát triển mạnh ở Việt Nam sau khi Giám mục Bá Đa Lộc tuyển mộ và đứng đầu một số lính đánh thuê (mercenaries) giúp Nguyễn Anh đánh bại nhà Tây Sơn vào đầu thế kỷ 19. Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858. Sau khi Việt Nam bị Pháp đô hộ, Gia Tô Giáo dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm mưa làm gió trên đất nước Việt Nam. Nhưng dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng với 9 năm miền Nam dưới chế độ Gia Tô độc tôn Ngô Đình Diệm, số tín đồ Gia Tô trên tỷ lệ dân số không thể lên quá 7, 8 phần trăm. Điều này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô. Vậy ngày nay, tất cả lợi thế về quyền lực của Gia Tô Giáo đã không còn, ngoại trừ sức mạnh hữu danh vô thực, dựa vào đám đông cuồng tín của Gia Tô Giáo trên hoàn cầu và sức mạnh của tiền bạc, Gia Tô Giáo có cách nào để cải đạo người dân Việt Nam? Liệu chính quyền hiện nay có để cho họ tự do xâm nhập ào ạt vào Việt Nam để truyền đạo sau những chiêu bài đạo đức giả có tính cách lưỡng chuẩn (double standard) như nhân quyền và tự do tín ngưỡng một chiều hay không? Chúng ta cần phân biệt rõ ràng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do xâm nhập một quốc gia để truyền đạo. Hai quyền này hoàn toàn khác nhau.

3. Ki Tô giáo nói chung, nhất là Gia Tô giáo nói riêng, đang suy thoái khắp nơi trong những quốc gia văn minh tiến bộ nhất. Lý do Giáo hoàng John Paul II đã phải tìm mọi cách để giữ tín đồ: từ những cuộc công du trên khắp thế giới, đặc biệt là tới các nước nghèo khó ở Nam Mỹ, châu Mỹ La Tinh, và Phi châu để phủ dụ tín đồ bằng cách đưa ra vài lời xin lỗi mơ hồ (nhiều nơi bị dân chúng biểu tình la ó phản đối), cho tới viết cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng để hạ thấp các tôn giáo khác và tôn vinh sự mạc khải bất khả kiểm chứng của Thiên Chúa, rồi hứa hẹn xá mọi tội lỗi cho các tín đồ với một giá rẻ mạt: “chỉ cần bỏ thuốc lá hay rượu một ngày”, “phong thành bừa bãi” cho các tội đồ của dân tộc Việt Nam nhưng trung thành với Vatican, phê bình các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ là “những con chó sói đói mồi?”, một loại ngôn từ phi đạo đức tôn giáo để đời cho các tín đồ, và cao điểm là hành động “xưng tội trống với Thiên Chúa và đồng loại” gần đây. Những sự kiện lịch sử này không cho phép giáo hội Gia Tô mang bộ mặt giả nhân giả nghĩa hay “thánh thiện” để mà đi rao giảng tin mừng Phúc Am nữa, vì người ta sẽ công khai chất vấn về thực chất của Giáo hội.

4. Thời buổi này, không còn mấy người có đầu óc còn tin ở những chuyện hoang đường như “tội tổ tông”, “Chúa tình nguyện leo lên thập giá để chuộc tội cho nhân loại”, “Đức Mẹ đồng trinh”, khả năng “cứu rỗi” của Giê-su v..v.., kể cả một số giám mục, linh mục trong giáo hội. Khoa học với những bằng chứng bất khả phủ bác trong vũ trụ học, di truyền học, sinh học, sinh hóa học, cổ sinh vật học v..v.. cộng với thuyết tiến hóa đã bác bỏ toàn bộ nền thần học Ki Tô. Đặc biệt là trong thời đại thông tin điện tử này, không ai có thể dấu ai được điều gì, và con người có thể kiểm chứng những tài liệu nghiên cứu chính xác bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Làm sao giáo hội có thể thuyết phục được quần chúng bằng những lý thuyết mơ hồ không có một căn bản xác thực nào. Trí tuệ người dân Việt Nam đâu còn ở mức trí tuệ của những nông dân hay dân chài ở những vùng hẻo lánh trong thế kỷ 18, 19?

Trên đây chỉ là vài lý do chính mà tôi nghĩ chính sách trồng cây Ki Tô Giáo vào những miền đất ở Á Châu sẽ thất bại. Đất Á Châu không thích hợp với cây Ki Tô. Trồng vào đó, cây tuy không đến nỗi chết héo queo như cây sung bị Chúa Giêsu nguyền rủa, không bao giờ có thể ra trái được nữa, nhưng có lẽ cũng chỉ sống một cách èo ẹt, không có nhiều sinh khí. Lý do chính là không ai có thể đi ngược lại đà tiến hóa của con người.

ĐPNN: Trong chiều hướng đó, các tổ chức, giáo hội Phật giáo và người Phật tử phải làm gì để góp phần đánh bật âm mưu nguy hiểm trên của Ky-tô giáo?

TCN: Tuy âm mưu truyền đạo sang các nước Á Châu của Gia Tô Giáo không có mấy hi vọng thành tựu, nhưng chúng ta không thể lơ là, coi thường những thủ đoạn của Giáo hội Gia Tô. Chúng ta không thể áp dụng hạnh từ bi một cách sai lầm theo nghĩa chỉ biết tụng Kinh niệm Phật và để mặc cho Gia Tô Giáo tự do hoành hành, nô lệ hóa đầu óc người dân Việt. Từ là cho vui, và Bi là cứu khổ. Khai sáng trí tuệ người dân, chuyển hóa để cho họ thấm nhuần giáo lý nhân bản, thiết thực, hòa bình, vị tha, vô thường, vô ngã v..v.. của Phật Giáo là mang niềm vui đến cho họ. Cứu họ ra khỏi vô minh, mê tín dị đoan, xiềng xích trí tuệ, tinh thần nô lệ ngoại nhân v..v.., đó chính là cứu khổ.

Muốn chống lại âm mưu truyền đạo sang Á Châu của Gia Tô Giáo chúng ta cần phải biết tôn giáo này đã thành công và phát triển trên thế giới như thế nào, và tại sao ngày nay các nước văn minh tiến bộ Au Mỹ lại đang từ bỏ dần dần tôn giáo này để đi tìm những giá trị tâm linh của Á Đông. Vài tài liệu sau đây hi vọng sẽ cho chúng ta rõ vấn đề.

1. Malachi Martin, một nhà thần học nổi tiếng, đã từng là giáo sư của Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, đã viết như sau trong cuốn The Keys Of This Blood:

“Trong hầu hết các nước ở Au Châu, chủ thuyết “hiện thực sống đời” hầu như đã toàn thắng. Trong vùng này, các tôn giáo có tổ chức -Gia Tô, Tin Lành và Do Thái – được coi như là giống nhau ở điểm cùng nhấn mạnh trên sự trông cậy vào những quyền lực tuyệt đối. Do đó, những tôn giáo này được coi như là đóng góp rất ít hoặc không đóng góp gì cho đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa hiện thời của các nước Tây Âu?Giáo hoàng (JPII. TCN) biết rất rõ rằng, trong thế kỷ tới, Gia Tô Giáo sẽ chỉ còn tồn tại ở các nước trong thế giới thứ ba. Từ bao giờ, Gia Tô Giáo chỉ nẩy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học. Tây phương phức tạp không còn tiếp nhận sự hẹp hòi của Gia Tô giáo nữa. Giáo hoàng biết rõ như vậy.”

(In most European countries, secularism has already triumphed completely. In that region, organized religions – Catholic, Protestant and Jewish – are regarded as alike in their insistence to absolutes. They are considered to have little or nothing to contribute, therefore, to the current political, economic and cultural life of Western European countries? The pope is well aware that, in the next century, Catholicism will survive only in Third World countries. Catholicism has always flourished only in poor population of low educational quality. The sophisticated West can take Catholicism?s narrowness no longer. The pope realizes that.)

Nên để ý, tôi dịch “secularism” là “chủ thuyết hiện thực sống đời” thay vì “chủ nghĩa thế tục” vì bản chất Gia Tô Giáo phần lớn cũng là thế tục. Nguyên nghĩa của secularism là:

“Đặc biệt quan tâm đến những vấn đề trong đời sống này, đối với sự quan tâm về một đời sau. Là một hệ thống đạo đức đặt nền tảng trên đạo đức tự nhiên, chủ thuyết này (secularism) có mục đích phát triển bản chất vật chất, đạo đức, và trí thức của con người đến mức độ cao nhất, được coi như là bổn phận tức thời của đời sống con người, không cần đến Thần giáo?” (Exclusive attention to the affairs of this life, as opposed to the interest of an after-life. An ethical system founded on natural morality, Secularism seeks the development of the physical, moral, and intellectual nature of man to the highest possible point as the immediate duty of life?apart from Theism?)

2. Adrian Pigott, một học giả Gia Tô, đã viết như sau trong cuốn Freedom?s Foe – The Vatican (Vatican – Kẻ Thù Của Tự Do):

“Những tín đồ Gia Tô?được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là “Bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã”..Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Gia Tô La Mã Giáo – nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể nẩy nở.”

(Roman Catholics..have been brought up in what Dr Barnado called “The thick darkness of Romanism”..Illiteracy is always prevalent in Romanist countries – to enable Priestcraft to flourish.)

3. Linh mục Joseph McCabe, trong cuốn Rome Puts A Blight on Culture (La Mã Đặt Sự Hủy Hoại Trên Văn Hóa), đã để ra nguyên một chương phân tích ảnh hưởng của Gia Tô La Mã Giáo trên các nền văn hóa với kết luận:

La Mã chỉ khoái những kẻ thất học. Họ bị thuyết phục quá dễ dàng để đi thiêu sống những kẻ “lạc đạo” và hôn hít những thánh tích giả mạo”.

(Rome loves the illiterate. They are so easily persuaded to burn “heretics” and kiss bogus relics.)

4. Cách đây hơn 100 năm, Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi, Patrick J. N. Tuck, đã nhận xét về thực trạng truyền giáo ở Á Đông như sau:

“Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các hội truyền giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới trí thức cầm quyền của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì những lý do này nọ, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ.”

(In fact, during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula, they have probably not converted mre than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been reÄected by Annamese society.)

5. Trong bài “Phật Giáo và Người Việt Nam Hiện Đại”, Như Hạnh chuyển ngữ, Tiến sĩ J. C. Cleary, tốt nghiệp đại học Harvard về Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương, đã nhận xét như sau:

“Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây phương có đầu óc tiến bộ, chính Thiên Chúa Giáo mới là một mớ huyền thoại lỗi thời, mê tín dị đoan, và những nghi lễ vô nghĩa lý?Ở Tây phương, phần đông các tín đồ Thiên Chúa Giáo sùng tín thường là những kẻ ít học nhất, những thành phần thấp, kém kinh tế trong quần chúng, những kẻ chẳng còn có gì để mà trông ngóng nữa cả.”

6. Và nữ học giả Gia Tô Joane H. Meehl, sau khi đã nhìn thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Gia Tô từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đã viết trong cuốn Người Tín Đồ Gia Tô Tỉnh Ngộ (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995), trang 288:

“Đạo Gia Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bởi giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái.”

(Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being.)

Từ những tài liệu trên, chúng ta đã có thể nhận định đúng vấn đề. Vũ khí hữu hiệu nhất để chống lại âm mưu bành trướng của Ki Tô Giáo sang Á Châu là mở mang dân trí. Những sự thực về lịch sử những tội ác của Gia Tô Giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những thần quyền tự phong của giới lãnh đạo Gia Tô, cùng những tín điều hoang đường phi lô-gic, phi lý trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời v..v.. của Gia Tô Giáo phải được nghiên cứu cẩn thận và phổ biến rộng rãi. Thứ đến, giáo hội Phật Giáo và người Phật tử phải đóng góp tích cực trong việc phát huy Phật Pháp cũng như trong chính sách phát triển kinh tế nước nhà, để cho toàn dân có được một đời sống vật chất thoải mái hơn.

Sự khắc phục Gia Tô Giáo đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Au Mỹ, trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo của những người có uy tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Chúng ta không bao giờ nên e ngại trước những sự phản đối vô căn cứ, lên án việc mở mang dân trí là chống tôn giáo hay chia rẽ tôn giáo. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến Au Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến tự do và rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang dân trí để cho người dân biết rõ sự thật về các tôn giáo trong xã hội.

ĐPNN: Ai cũng biết rằng bản chất của đạo Phật rất thực tiễn, phù hợp với thời đại, thích hợp cho sự phát triễn và tiến hóa của nhân loại trong thiên niên kỷ mới. Tuy nhiên, các giáo hội Phật giáo trên thế giới không khai thác triệt để điểm độc đáo này, do thiếu phương tiện và tổ chức qui mô. Theo giáo sư, các tổ chức Phật giáo và người Phật tử phải làm gì để đạo Phật thật sự phục vụ nhân loại theo đúng nghĩa?

TCN: Câu hỏi này quá tổng quát, tôi nghĩ tôi không đủ khả năng để giải đáp vấn nạn này. Giáo hội Phật Giáo tại mỗi quốc gia đều có những hoạt động khác nhau, tùy theo cách tổ chức xã hội, chính thể, dân tộc tính, truyền thống văn hóa dân tộc, nền kinh tế quốc nội v?v? Cho nên tôi nghĩ không thể có một phương án chung cho mọi giáo hội Phật Giáo trên thế giới. Tôi cho rằng Phật Giáo đã và đang phục vụ nhân loại theo tinh thần “trăm hoa đua nở” trên khắp thế giới. Tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 6, 2000, có một bài của ký giả Karen Mellen tường trình về chủ đề “Người Tây phương đến với tín ngưỡng Á Châu nhiều hơn” (More Westerners are drawn to Asian Faith) trong đó tác giả đã nói lên một sắc thái rất đặc biệt của Phật Giáo như sau:

“Không cần phải tìm cách thu phục hay tích cực kiếm thêm tín đồ, Phật Giáo đang nở rộ tại tiểu bang Illinois và các tiểu ban lân cận. Trong 5 năm qua, số tín đồ Phật Giáo tăng lên 25%, và mỗi năm có thêm 4 hay 5 Chùa mới.”

(Without proselytizing or actively seeking members, Buddhism is flourishing in Illinois and nearby states. Over the last five years the number of Buddhists has risen 25 percent, and four or five new temples open each year.)

Do đó, Phật Giáo không cần phải có những tổ chức qui mô, mà chỉ cần tăng gia khía cạnh nhập thế Đại Thừa trong xã hội trong tinh thần “trăm hoa đua nở”. Một vài ý kiến về vấn đề này sẽ được trình bày khi tôi trả lời câu hỏi tiếp theo.

ĐPNN: Phật giáo Việt Nam cần phải làm gì trước những thử thách thời đại đó?

TCN: Tôi nghĩ đây là một vấn đề rất quan trọng. Trong khuôn khổ một bài phỏng vấn, vài câu trả lời không thể nói hết ý. Tôi chỉ là một cư sĩ Phật Giáo bình thường, cũng có vài ý kiến, nhưng hiển nhiên là những ý kiến cá nhân này rất hạn hẹp. Sau đây tôi xin mạo muội đưa ra vài ý kiến tổng quát, gọi là để gợi ý, mong rằng các bậc thức giả trong Phật Giáo phát tâm bổ khuyết cho những ý kiến thô thiển này. Những ý kiến này chỉ nhằm đưa ra một đường hướng để phục vụ người dân Việt, còn phục vụ nhân loại thì tất cả đều còn phải tùy duyên tùy cảnh.

1. Vấn đề đào tạo Tăng, Ni

Không ai có thể phủ nhận là giới Tăng, Ni giữ một vai trò quyết định quan trọng trong việc chấn hưng và phát triển Phật Giáo. Cho nên, việc đào tạo Tăng, Ni phải được đặt lên hàng đầu trong đường hướng phát triển của Phật Giáo trong tương lai. Tuy nhiên, vai trò quyết định trên của Tăng, Ni tùy thuộc vào phẩm chứ không vào lượng. Do đó, mọi chương trình đào tạo Tăng, Ni phải đặt nặng vấn đề giới hạnh, đạo đức tôn giáo. Mọi Tăng Ni cần phải trải qua một thời gian thử thách lâu dài trong chương trình đào tạo, ít ra là từ 5,7 năm đến 10 năm học hành và tu tập dưới sự hướng dẫn của các bậc trưởng lão đạo cao đức trọng. Trong thời gian này, những ứng sinh chỉ được coi như là xuất gia tạm, sống một đời sống vật chất khiêm tốn, sự tiếp xúc với quần chúng và xã hội bên ngoài được giữ ở mức tối thiểu để dành thì giờ học hỏi và tu tập, đào luyện thân, miệng, ý. Sau thời gian thử thách, nếu hội đủ những tiêu chuẩn trong chương trình đào tạo và vẫn quyết chí xuất gia cứu đời thì khi đó mới được chính thức xuất gia để gánh vác công việc hoằng Pháp, phát triển Phật Giáo. Nếu không hội đủ những tiêu chuẩn đạo đức tôn giáo và học tập của chương trình đào tạo thì phải khuyên họ hoàn tục. Trong Phật Giáo, không ai cười mà trái lại còn kính phục những người thành thật với chính mình, chọn con đường hoàn tục thay vì khoác bộ áo mà phẩm hạnh và sự hiểu biết bản thân không xứng đáng với bộ áo đó. Trong thời đại này, chương trình đào tạo phải gồm những kiến thức ngoài kinh điển Phật Giáo, thí dụ như xã hội học, tôn giáo tỷ giảo, khoa học phổ thông, điện toán v…v… vì những kiến thức này không thể thiếu nếu hành giả muốn đi vào con đường nhập thế của Đại Thừa. “Làm theo chỗ biết, nói theo việc làm, tất cả đều chân thật, không hư dối”: đó là châm ngôn của những người giữ nhiệm vụ hoằng dương đạo Pháp.

Về mặt thực tế, nếu có những người mượn cửa Thiền để theo đuổi những mục đích vật chất thế tục, mà tư cách, tác phong và phẩm hạnh không xứng đáng với bộ áo của bậc xuất gia v..v.., hoặc có những người tự tiện cạo đầu, khoác áo cà sa v..v.. thì trách nhiệm của Giáo hội đối với xã hội, chính quyền và trước pháp luật ra sao? Giáo hội sẽ giải quyết như thế nào, có nên nghĩ đến sự tiếp tay của chính quyền hay không, hay là cứ để cho những ung nhọt này phá hủy Phật Giáo và cho đó là vấn đề tự do tín ngưỡng? Chúng ta không nên quên rằng tôn giáo là một bộ phận của xã hội, không thể đứng ngoài xã hội hay đứng trên xã hội. Trong chương trình đào tạo tăng ni, Phật Giáo không thể quên được những khía cạnh xã hội và phải tiên liệu những trường hợp có thể xảy ra và nghĩ đến những phương cách giải quyết.

2. Vấn đề giáo dục quần chúng

Từ xưa tới nay, Phật Giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục quần chúng. Khi xưa, phần lờn công việc giáo dục quần chúng tại các làng mạc là do các Tăng, Ni đảm nhiệm. Chùa được coi như là một trung tâm giáo dục của mỗi địa phương. Với sự tiến bộ của nhân loại, vấn đề giáo dục không còn thu hẹp trong những chủ đề văn chương chữ nghĩa hay đạo đức, luân lý tôn giáo mà phải mở rộng ra nhiều bộ môn khác. Do đó trách nhiệm giáo dục quần chúng ngày nay nằm trong tay nhà nước. Điều này không có nghĩa là vai trò giáo dục quần chúng của Phật Giáo đã chấm dứt. Trái lại, sự đóng góp của Phật Giáo trong nền giáo dục đại chúng hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là khi ảnh hưởng sa đọa của những nền văn hóa ngoại lai đang lợi dụng sự mở mang kinh tế của nước nhà để xâm nhập xã hội Việt Nam, gây ra tâm trạng tôn thờ vật chất, coi rẻ đạo đức, nguồn gốc của tham nhũng, vị kỷ, vô lương tâm.

Xét về thực tế, hiển nhiên chính sách giáo dục của nhà nước hiện nay đã không đáp ứng được nhu cầu giáo dục của quần chúng. Sưu cao, thuế nặng, học phí cao đã là những bức rào ngăn cản con em người dân đến với trường học. Nhà nước có chương trình cưỡng bách giáo dục, ít ra là đến hết bậc tiểu học. Cưỡng bách làm sao được khi mà trường sở không có đủ, giáo chức thiếu hụt, người dân không đủ ăn? Trông người lại nghĩ đến ta. Mỹ là nước giầu có vào bậc nhất thế giới, lợi tức cá nhân hàng năm rất cao, nhưng trẻ em đi học đều được miễn phí cho đến hết trung học nếu học các trường công. Hơn 80% dân Việt Nam là dân nghèo, kiếm đủ ăn cũng còn khó,ợ thế mà vẫn phải đóng học phí từ tiểu học, dưới hình thức này hay hình thức khác, để cho con em đi học. Một chính sách giáo dục như vậy có thể nói được chăng là cho dân và vì dân? Có ai để tâm nghiên cứu xem lợi tức trung bình của người dân các nước khác là bao nhiêu và họ phải đóng học phí là bao nhiêu để cho con em họ được đi học bậc tiểu học, trung học? Quốc gia có tiến bộ hay không là do dân trí. Có cách nào mở mang dân trí mà không cần đến giáo dục? Do đó, giáo dục chính là căn bản xây dựng nước và giữ nước. Giáo dục phải đi vào đại chúng, không thể chỉ để phục vụ cho một lớp người ăn trên ngồi chốc, ngự trị trên đám đông quần chúng ngu dốt như trong thời phong kiến, ngăn chặn bước tiến của quốc gia. Mặt khác, giáo dục phải đi sát với những tiến bộ của nhân loại. Người dân phải biết, ít ra là những điều tổng quát về các bộ môn khoa học, những sự kiện khoa học về sự thành hình của vũ trụ, nguồn gốc con người, di truyền học v..v… Với những kiến thức cập nhật hóa này, con người không còn bị huyễn hoặc hóa bởi những thuyết vớ vẩn bán khai như thuyết sáng tạo của Ki Tô Giáo.

Ngoài ra, Phật Giáo phải có bổn phận tiếp tay với chính quyền trong việc giáo dục quần chúng, phục hoạt những truyền thống đạo đức dân tộc. Vấn đề là, Phật Giáo có thể làm được gì? Các vị lãnh đạo Phật Giáo, dù không có quyền lực trong tay, ít ra cũng có thể đóng góp cho nền giáo dục quần chúng bằng cách nghiên cứu và đưa ra những đề nghị cùng chính quyền để cải tiến nền giáo dục nước nhà. Những ý kiến xây dựng vì dân vì nước và không có mưu đồ chính trị đằng sau dù không được thi hành vì lý do này hay lý do nọ, nhưng ít ra cũng đã nói lên mối quan hoài của Phật Giáo đối với tiền đồ dân tộc. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam cũng cần thuyết phục chính quyền để phục hoạt tổ chức Gia Đình Phật Tử, đoàn thể cư sĩ, để chính quyền ý thức được rằng những tổ chức này sẽ góp phần rất nhiều trong việc duy trì những truyền thống đạo đức, luân lý của Việt Nam, giúp giới trẻ xa lìa những tệ đoan của một xã hội ngả nhiều về vật chất như xì ke, ma túy, rượu chè, cờ bạc v…v… Đưa giới trẻ vào những tổ chức như Gia Đình Phật Tử, Hướng Đạo v..v.. là giúp cho giới trẻ có được một đời sống lành mạnh, tháo vát, ý thức được trách nhiệm cá nhân và tập thể, tinh thần giúp ích xã hội và yêu nước. Những tổ chức này không có chủ trương nhồi sọ giới trẻ bằng những tín điều huyền hoặc hoặc tạo nên một tâm cảnh cuồng tín cho nên không có phương hại gì đến sự tiến bộ của quốc gia dân tộc.

3. Vấn Đề Xã Hội

Đạo Phật là đạo cứu khổ. Khổ có mặt khắp mọi nơi trên đất nước. Cho nên, Phật Giáo Việt Nam cần phải đi vào xã hội nhiều hơn nữa để thể hiện tinh thần Đại Thừa. Vì Phật Giáo không thể đứng ngoài dân tộc, do đó, ngoài bổn phận đối với Phật Giáo, người Phật tử, Tăng cũng như tục, còn có bổn phận đối với quốc gia dân tộc, một bổn phận nặng nề hơn, vì sự tồn vinh của dân tộc cũng là sự tồn vinh của Phật Giáo. Điều này chứng tỏ Phật Giáo đương nhiên là một thực thể trong mọi hoạt động xã hội của dân tộc.

Phật Giáo Việt Nam cần phát triển mạnh những hoạt động từ thiện trong xã hội như mở các lớp học tình thương Phật Giáo, cô nhi viện Phật Giáo, viện dưỡng lão Phật Giáo, trạm y tế hay nếu có khả năng, nhà thương Phật Giáo v…v.. ngoài những việc cứu trợ thiên tai có tính cách ngắn hạn. Chúng ta phải quan niệm những hoạt động từ thiện nói trên như là một con đường tu tập, thể hiện giáo lý từ bi của đạo Phật, chứ không phải là phương tiện truyền đạo, đi kiếm “linh hồn” cho Phật. Trong hoàn cảnh khó khăn về vật chất ở trong nước, tôi mong rằng Phật Giáo hải ngoại sẽ tích cực tiếp tay với Phật Giáo trong nước trong những hoạt động từ thiện này. Phật Giáo hải ngoại có đủ khả năng để làm công việc tiếp tay này một cách hữu hiệu nếu chúng ta quan niệm rằng những hoạt động từ thiện nói trên là để phục vụ quần chúng đang sống trong khó khăn và thiếu thốn vật chất. Trong các công tác từ thiện, chúng ta không nên đặt điều kiện chính trị hay tôn giáo dưới bất cứ hình thức nào, vì từ thiện có mưu đồ, theo quan điểm của Phật giáo, là bất thiện. Trong Phật Giáo chắc ai cũng nhớ tới câu “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.” Không kể những tu viện, Thiền viện, được xây môt cách biệt lập làm nơi tu tập của Tăng Ni, các Chùa ở làng mạc đồng quê nên giữ vẻ khiêm tốn, phù hợp với hoàn cảnh xã hội của dân chúng trong vùng. Không có gì mâu thuẫn bằng cảnh một ngôi “Chùa to Phật nhỏ” nguy nga tráng lệ ở giữa một cộng đồng dân chúng nghèo khổ. Xin đừng bắt chước hay thi đua với những tôn giáo độc Thần, trọng bề ngoài, coi đó là biểu tượng của thực chất.

4. Vấn Đề Văn Hóa

Văn hóa là linh hồn của dân tộc. “Mái Chùa che chở hồn dân tộc”, vậy Phật Giáo không thể thiếu mặt trong vấn đề văn hóa. Một bài thơ của Huyền Không, của HT. Thích Thuyền Ấn, một bài Pháp Thoại của HT. Thích Nhất Hạnh, của HT. Thích Thanh Từ, một cuốn Kinh do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, một bản dịch thuật của Thích Tâm Quang, của Thích Nữ Trí Hải, một tác phẩm nghiên cứu của Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát, những trang nhà “Quảng Đức” hay “Đạo Phật Ngày Nay” ở hải ngoại v.. v.. và v.. v…, hiển nhiên là những bông hoa bất diệt trong vườn hoa văn hóa dân tộc. Việc thực hiện một Việt Tạng ở Việt Nam, việc ấn tống Kinh điển của Phật Học Viện Quốc Tế ở hải ngoại, và biết bao đóng góp của những bậc xuất gia cũng như cư sĩ đầy nhiệt tâm cho nền văn hóa Phật Giáo dân tộc đã chứng minh một cách hùng hồn ảnh hưởng của Phật Giáo trong lòng dân tộc. Có một khía cạnh văn hóa vô cùng quan trọng nhưng rất ít Phật tử, Tăng cũng như tục, để ý tới. Đó là việc sáng tác những sách giáo khoa cho các lớp tiểu học và trung học trong đó những tư tưởng và tinh thần Phật Giáo được trình bày một cách giản dị, dễ hiểu và không có những chuyện hoang đường, mê tín, không phù hợp với đầu óc bọn trẻ ngày nay. Những chuyện cổ tích Phật Giáo cần phải được viết lại và bỏ đi những huyền thoại không hợp thời. Thí dụ, ngay trên đất Mỹ, năm ngoái tôi đi dự lễ Phật Đản mà vẫn thấy một vị Sư kể cho lớp trẻ câu chuyện Đức Phật được sinh ra từ nách của Hoàng Hậu Maya và vừa mới sinh ra Đức Phật đã đứng dậy, tay chỉ trời, tay chỉ đất, đi bảy bước, dưới mỗi bước chân có hoa sen nở và nói “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn”. Muốn giải thích theo ý nghĩa nào thì giải thích, những chuyện như trên không nói lên được điều gì, trái lại chỉ làm cho lớp trẻ hoang mang. Vả chăng, chân lý của Phật Giáo không có nằm trong những chuyện như vậy. Chúng ta cũng biết rằng chính Đức Phật cũng không đánh giá cao những chuyện thần thông.

Trên đây chỉ là vài ý kiến có tính cách gợi ý. Muốn hoạch định một đường hướng cho Phật Giáo trong tương lai để có thể phục vụ hữu hiệu người dân Việt, tôi nghĩ Phật Giáo cần sự đóng góp của rất nhiều người. Việc tổ chức một cuộc hội thảo về Vai Trò Của Phật Giáo Việt Nam Trong Thế Kỷ Mới có lẽ là bước đi đầu tiên trong việc thu thập và nghiên cứu những ý kiến đóng góp của mọi giới Phật tử. Tôi tin rằng Phật tử hải ngoại có thể đóng góp phần nào tài chánh cho việc tổ chức này. Trong mục đích tìm ra một hướng đi đích thực cho Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 21, có lẽ chúng ta nên lấp đi cái hố ngăn cách giữa những Giáo Hội Phật Giáo ở trong nước cũng như ở hải ngoại, để mà cùng nhau tìm ra một con đường có lợi cho dân tộc và Đạo Pháp.

ĐPNN: Giáo sư có ước mơ và hy vọng gì cho đạo Phật?

TCN: Phật Giáo không nằm ngoài những quy luật thế gian, cho nên có lúc thịnh, lúc suy, khi thăng, khi trầm. Cho nên thực sự tôi không có mơ ước nào cho đạo Phật. Một mơ ước không thực hiện được đương nhiên sẽ trở thành một mối khổ đau cho người mơ ước. Tôi rất lạc quan trước sự phát triển của Phật Giáo trên toàn thế giới. Tôi luôn luôn nghĩ rằng, tà không bao giờ thắng nổi chánh. Trước sau gì, tà, dù có thắng thế cũng chỉ có tính cách giai đoạn, cũng phải nhường bước trước chánh. Cái gì hợp với chân lý, hợp với sự tiến hóa của nhân loại, sẽ còn tồn tại lâu dài. Cái gì trái với sự thật, đi ngược lại đà tiến hóa của nhân loại, sẽ bị đào thải. Trước mắt chúng ta có đầy đủ bằng chứng về nguyên lý này. Riêng đối với Phật Giáo Việt Nam, tôi chỉ có một hi vọng. Đó là Phật tử chúng ta, tăng cũng như tục, ngồi lại với nhau, xóa bỏ những khác biệt có tính cách cục bộ, hội nhập được những chân lý vô ngã, vô thường của Đức Phật, để có thể định một đường hướng tương lai cho đạo Phật ở Việt Nam. Tôi ước mong các vị tôn đức trong Phật Giáo hãy rút lấy những kinh nghiệm trong quá khứ, nhận rõ tình trạng Phật Giáo hiện nay, ngồi cùng với nhau để lái con thuyền Phật Giáo Việt Nam thuận buồm xuôi gió trên giòng chấn hưng và phát triển Phật Giáo ở Việt Nam.

ĐPNN: Chân thành cảm cảm ơn giáo sư đã dành cho ĐPNN một bài phỏng vấn rất có ý nghĩa. 26-6-2000

Source: Buddhism Today ( Đạo Phật Ngày Nay)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: