RSS

KITÔ GIÁO: LƯỢC SỬ TRUYỀN ĐẠO Ở VIỆT NAM

23 Jul

KITÔ GIÁO :

LƯỢC SỬ TRUYỀN ĐẠO Ở VIỆT NAM

 

Minh Kiến

Thiên chúa giáo (còn gọi là đạo Chúa hay Kitô giáo) gồm có Công giáo La Mã, Tin lành và Chính thống giáo. Trong bài này chúng ta sẽ tóm lược lịch sử truyền đạo Kitô ở Việt Nam. Lịch sử truyền đạo ở các quốc gia khác đã được trình bày trong bài Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo, Minh Kiến dịch, xem link http://giaodiemonline.info/noidung_detail.php?newsid=5574

Kitô giáo, đặc biệt là Công giáo,  lần đầu tiên đến Việt Nam trong thế kỷ 16 và phát triển mạnh từ thế kỷ 19 sau khi Pháp đánh chiếm Việt Nam. Kitô giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Việt Nam, sau Phật giáo (Công giáo chiếm 7% và Tin lành 1% dân số).

https://i2.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao01.jpg

Công giáo La Mã

Công giáo La Mã đầu tiên vào Việt Nam thông qua các nhà truyền giáo vào khoảng năm 1533 và phát triển mạnh khi Việt Nam trở thành một thuộc địa của Pháp vào cuối thế kỷ 19. Các nhà truyền giáo đến từ các nước Âu châu như Bồ đào nha (Portugal), Pháp và Tây ban nha (Spain). Trong các nhóm truyền giáo này mạnh nhất là các linh mục dòng Tên (Jesuits).Các linh mục dòng Tên phải thề tuyệt đối trung thành với Giáo hoàng và sẳn sàng giết tất cả các người ngoại đạo kể cả những người theo Tin lành. Lời thề độc ác này cho phép họ dùng bất cứ thủ đoạn nào, từ thuốc độc, súng đạn, treo cổ, mổ bụng, chôn sống cho đến ném vỡ sọ các trẻ em vào tường để làm các người ngoại đạo biến mất khỏi trái đất này ( I furthermore promise and declare that I will, when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will spare neither age, sex or condition; and that I will hang, waste, boil, flay, strangle and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants’ heads against the walls, in order to annihilate forever their execrable race. That when the same cannot be done openly, I will secretly use the poisoned cup, the strangulating cord, the steel of the poniard or the leaden bullet, regardless of the honor, rank, dignity, or authority of the person or persons, whatever may be their condition in life, either public or private, as I at any time may be directed so to do by any agent of the Pope or Superior of the Brotherhood of the Holy Faith, of the Society of Jesus,  http://www.remnantofgod.org/jes-oth.htm#oath ).
https://i1.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao02.jpg

Trong các linh mục Dòng Tên đến Việt Nam nổi tiếng nhất là Alexandre de Rhodes (1591-1660). Ông de Rhodes (Đắc-lộ) là người Pháp, đến Việt Nam vào khoảng 1620 và bị Chúa Trịnh Tráng trục  xuất vào  năm 1630 vì nghi ngờ các hoạt động truyền đạo của ộng, xem linkhttp://en.wikipedia.org/wiki/Alexandre_De_Rhodes. Có nhiều người cho rằng ông đã phát minh ra chữ Quốc ngữ. Thật ra chính các giáo sĩ người Bồ đào nha  như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa …mới là những người đầu tiên dùng mẫu tự La-tinh để ghi lại tiếng Việt cho chữ Quốc ngữ. Ông de Rhodes đã học với Francisco de Pina trong vòng 12 năm. Trong “Phép Giảng Tám Ngày” bằng chữ Quốc ngữ, ông đã mạ lỵ các đạo Phật, Khổng và Lão. Dựa trên các tự điển Việt-Bồ của các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa, ông đã xuất bản tự điển Việt-Bồ-La tinh đầu tiên vào năm 1651. Ông đã trở lại Việt Nam lần thứ hai vào khoảng 1640 và đã ở Huế sáu năm cho đến khi bị Chúa Nguyễn Phúc Lan trục xuất. Sau khi trở về Rome vào khoảng 1649, ông đã cổ động cho việc truyền giáo ở Việt Nam bằng cách thêu dệt các sự giàu có của đất nước này. Chính ông là người tiên phong thành lập Hội Truyền Giáo Paris (Missions Etrangères de Paris –MEP) vào năm 1659.

Sau Đắc-lộ là Giám mục Pigneau de Behaine (1741-1799) đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền giáo vào cuối thế kỷ 18. Ông Giám mục này có tên Việt là Bá-đa-lộc, cũng người Pháp, đã đến Hà tiên vào năm 1767 (http://en.wikipedia.org/wiki/Pigneau_de_Behaine ). Sau đó ông đã trở thành tâm phúc của Nguyễn Ánh và đã giúp Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn. Ông đã mang người con 5 tuổi của Nguyễn Ánh là Hoàng tử Cảnh sang Pháp vào năm 1785 để cầu xin viện trợ. Nhưng vào lúc đó Hoàng đế Louis XVI không muốn giúp nên ông ta và các nhà truyền giáo khác đã tự mua khí giới và tuyển mộ các sĩ quan người Pháp đến Việt Nam để giúp Nguyễn Ánh. Giám mục Bá-đa-lộc hy vọng sau khi giúp Nguyễn Ánh chiến thắng, ông sẽ đạt được những quyền lợi lớn cho Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế vào năm 1802, vua Gia Long đã tìm cách xa lánh các nhà truyền đạo người Pháp vì có lẽ ông cũng nhận thấy được việc “cỏng rắn về cắn gà nhà”. Sau khi theo Giám mục Bá-đa-lộc đi Pháp về, Hoàng tử Cảnh đã theo đạo Công giáo, và từ chối thờ cúng ông bà vì cho đó là ma quỷ! Việc này đã làm vua Gia Long hết sức tức giận. Sau đó Hoàng tử Cảnh bị bệnh chết sớm nên vua Gia Long đã chọn một người em là Hoàng tử Đãm lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng. Vua Minh Mạng đã có những biện pháp chống đạo Kitô, nhất là từ khi nhà vua biết có sự tham gia của những nhà truyền đạo Âu châu và các tín đồ đạo Chúa trong các vụ nổi loạn. Linh mục J. Marchand (thường được gọi là Cố Du) đã bị bắt và xử tử trong vụ nổi loạn của Lê văn Khôi ở thành Gia định. Song song với việc chống đối vua Minh Mạng và triều đình Huế, các giáo sĩ thường xúi giục giáo dân bất tuân hành luật pháp của triều đình và đòi thành lập một nước Thiên Chúa giáo. Sự kiện này được nhà viết sử Nguyễn Xuân Thọ ghi lại trong cuốn “Bước Mở Đầu Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)“, một luận án Tiến sĩ ở Pháp, như sau:

Hơn nữa, các vị truyền giáo còn yêu cầu người  Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực của nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các con chiên rằng, “Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ phải tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican.” Vậy, đây không phải là vấn đề truyền giáo nữa, mà đơn giản là một mưu đồ làm cho chính quyền của xứ sở này bị mất ổn định. Vì thế, hành động của Nhà Vua, đối với trách nhiệm làm vua của ông, là hoàn toàn đứng đắn, khi ông chống lại các hoạt động của một số giáo sĩ Kitô. Do đó, Minh Mạng đã không ngần ngại công bố những chiếu chỉ cấm truyền đạo Kitô: Những chiếu chỉ đầu tiên vào khoảng năm 1825, những chiếu chỉ quan trọng nhất sau năm 1833.” (http://www.sachhiem.net/NMQ/VANHOAXD/NMQvh00.php )

Sau Giám mục Bá-đa-lộc có nhiều giám mục khác như Pellerin đã vận động Giáo hoàng Pie XI và vua Napoleon III phái quân đội đến chiếm Việt Nam làm thuộc địa.  Họ lấy cớ những người truyền đạo và tín đồ Kitô bị triều đình Việt Nam ngược đãi. Trong thời kỳ thực đân Pháp xâm lăng có nhiều người Công giáo đã giúp người Pháp thiết lập nền đô hộ thực dân bằng cách chống lại triều đình Việt Nam cũng như giúp đánh phá các phong trào kháng chiến của người Việt Nam yêu nước như Cần Vương, Văn thân …

https://i0.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao03.jpg

Một người Công giáo nổi tiếng giúp cho thực dân Pháp chống lại đồng bào là Linh Mục Trần Lục. Còn gọi là Cụ Sáu, cha Lục đã đem 5.000 giáo dân vũ trang Thiên Chúa giáo vùng Phát Diệm cùng với 3.530 quân xâm lược Pháp do đại tá Brixô (Brissaud) tiến đánh Chiến khu Ba Đình của Đinh Công Tráng và Trần Xuân Soạn vào đêm 20/01/1887. Ban đầu với sức chiến đấu dũng cảm của Nghĩa quân làm cho quân Pháp và bọn tay sai thua to, nhưng về sau do chỉ điểm của Việt gian nên cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu và thất bại. Cha Trần Lục đã giúp đở hết sức đắc lực cho thực dân Pháp nên chính quyền Pháp đã trao tặng hai lần Bắc đẩu bội tinh (Légion d’Honneur), huy chương cao quý nhất nước Pháp. Thế mà trong những năm gần đây có phong trào do các tín đồ Công giáo ở hải ngoại chủ xướng nhằm tôn vinh Cha Trần Lục là một nhà ái quốc! http://sachhiem.net/LICHSU/N/NguyenNgocQuy.php

Sau khi Pháp chiếm đóng Việt Nam, họ đã ưu đãi người Công giáo và từ đó dân ta có câu “theo đạo có gạo mà ăn”. Nhằm phá hủy nền văn hoá và tôn giáo truyền thống, người Pháp đã phá huỷ các chùa chiền để xây nhà thờ. Nhà thờ Chánh Toà ở Hà nội được xây trên đất chùa Báo Thiên. Nhà thờ Đức Mẹ La vang ở Quảng Trị được xây trên chùa Lá vàng. Ngay cả Nhà thờ Đức Bà ở Saigon nguyên trước kia cũng là một ngôi chùa Phật giáo. Mới đây người Công giáo đã biểu tình đòi Nhà nước trả lại khu đất chung quanh Nhà Thờ Chánh Toà ở Hà nội. Tại sao họ có thể làm như vậy trong khi họ biết là họ đã chiếm đoạt khu đất đó của Phật giáo nhờ thế lực của thực dân Pháp?

Sau hiệp định Genève năm 1954 kết thúc sự cai trị của Pháp, Công giáo bị hạn chế ở miền Bắc vì đó là một lực lượng phản động chống đối giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Ở miền Nam, ngược lại, đạo Công giáo được phát triển triệt để dưới thời Ngô Đình Diệm, một người ngoan đạo được đưa lên làm Tổng thống với sự hỗ trợ của Hồng y Spellman và sự đồng ý của Vatican. Vào năm 1954, Hồng y Spellman và Giáo hoàng Pius XII đã vận động chính phủ Mỹ ném bom nguyên tử xuống Điện biên phủ để giải vây cho quân đội Pháp. Họ đã đề nghị Mỹ thả những quả bom mạnh gấp ba lần các quả bom đã ném xuống Hiroshima và Nagasaki (Avro Manhattan, VietNam-Why Did We Go? http://www.mosquitonet.com /~prewett/vietwhygo.html). Nếu Mỹ thả bom nguyên tử theo đề nghị của họ, có lẽ khoảng 1 triệu người Việt đã bị chết. Tại sao những nhà tu hành cao cấp nhất của Giáo hội Công giáo như Giáo hoàng Pius XII và Hồng y Spellman lại có thể tàn nhẫn và không có một chút từ tâm và lương tri khi đề nghị một chuyện vô tiền khoáng hậu như vậy? Vì họ xem dân tộc Việt Nam là những người ngoại đạo nên họ có bổn phận phải tận diệt như lời Chúa dạy trong Kinh Thánh:

“Ngươi không phải cứu sống những ai đang thở. Nhưng ngươi phải hoàn toàn tiêu diệt chúng … “(Deut. 20)

“Nhưng những kẻ thù của Ta (kẻ không thờ Chúa, MK), nếu không muốn Ta cai trị họ, hãy mang họ đến đây, và giết chúng trước mặt Ta” (Luke 19.27). 

https://i2.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao04.jpg

Ông Diệm và các anh em của ông như Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, Cố vấn Ngô đình Nhu đã thi hành những chính sách nâng đở đạo Kitô và kỳ thị Phật giáo. Sau vụ các Phật tử bị xe thiết giáp cán chết ở đài phát thanh Huế nhân dịp lễ Phật Đản năm 1963, Phật giáo đã phát động phong trào tranh đấu chống những chính sách kỳ thị và độc tài của chính quyền Diệm. Chính quyền Diệm đã thẳng tay đàn áp các đoàn biểu tình, bắt bớ các tăng, ni và Phật tử, phong toả các chùa chiền. Hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại Saigon vào ngày 11 tháng 6 năm 1963, làm chấn động thế giới. Sau đó các tăng ni khác cũng đã tự thiêu ở Huế, Nha Trang … để phản đối chính quyền. Bà Ngô đình Nhu đã gọi các cuộc tự thiêu này là “nướng thịt” (barbecue), làm công phẩn dư luận thế giới. Sau khi Tổng thống Diệm bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963, miền Nam lại bị cai trị bởi một chính quyền Thiên Chúa giáo khác của Nguyễn văn Thiệu cho đến năm 1975.

https://i2.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao05.jpg

Một tội ác khác của Ngô đình Diệm là chính ông vào năm 1961 đã yêu cầu Mỹ thả thuốc khai quang xuống miền Nam (http://www.u-s-history.com/pages/h1860.html ). Từ năm 1962 đến 1971, Mỹ đã thả 20.000.000 gallons (80.000.000 lít) thuốc khai quang. Thuốc khai quang có nhiều loại, nhiều nhất là Agent Orange (chất độc da cam). Agent Orange có chất dioxin độc hại nhất trong tất cả các hóa chất mà con người đã phát minh! Có đến 4.8 triệu người Việt bị ảnh hưởng chất độc da cam, 400.000 người bị chết hoặc bị thương và 500.000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh (http://en.wikipedia.org/wiki/Agent_Orange ).  Ngày nay sau hơn 50 năm vẫn còn nhiều trẻ em sinh ra với dị tật do ảnh hưởng của Agent Orange!

Năm 1988 Giáo hoàng John Paul II đã phong thánh cho các người Công giáo đã chết tại Việt nam từ năm 1533 cho đến nay. Trong danh sách 117 người được phong thánh có 96 người Việt, 11 người Tây Ban Nha thuộc dòng Dominicans và 10 người Pháp thuộc Hội Truyền Giáo ở Paris (http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_Martyrs ). Trong số người Pháp này có Linh mục Joseph Marchand (Cố Du) đã tham gia vụ nổi loạn của Lê văn Khôi (1833-1835).Trong danh sách này chắc chắn còn có nhiều người khác đã chết vì đã xem thường luật pháp và chính quyền Việt Nam. Các nhà truyền đạo cũng như các tín đồ Kitô nghĩ là họ làm việc theo ý Chúa nên họ có quyền xem thường tất cả.

Tin Lành

Tin lành đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1911 tại Đà Nẵng do người truyền giáo Canada Robert A. Jaffray. Trước năm 1975, Tin lành đã phát triển mạnh ở các cộng đồng người Thượng ở Cao Nguyên miền Trung.  Hiện tại số lượng người theo Tin lành là từ 500.000 người theo báo cáo chính thức của Nhà nước đến 1.600.000 người theo các giáo phái Tin lành. Hai nhà thờ Tin lành được chính thức công nhận là Giáo hội Tin lành Miền Nam Việt Nam (Southern Evangelical Church of Vietnam – SECV) được công nhận vào năm 2001, và Giáo hội Tin lành miền Bắc Việt Nam (Evangelical Church of VietNam North – ECVN) được công nhận từ năm 1963. Theo báo cáo của chính phủ Mỹ, số người theo Tin lành ở Việt Nam đã tăng 600 phần trăm trong mười năm qua (http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2005/51535.htm ). Hai phần ba số tín đồ Tin lành thuộc các dân tộc thiểu số, bao gồm người Hmong, Dao, Thái, và các nhóm thiểu số khác ở vùng Cao nguyên Tây Bắc, và các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (Êđê, Jarai, Bahnar và Koho). Các người truyền đạo đã xúi giục nhóm FULRO nổi loạn năm 1964. Vào năm 2001, các người Tin lành trong phong trào Dega cũng đã nổi loạn đòi tự trị và độc lập ở Tây Nguyên. Ngoài các người truyền giáo thuộc các giáo phái Tin lành Mỹ, những năm gần đây còn có những người truyền giáo từ Hàn Quốc. Hàng năm, có đến 50.000 người truyền giáo Mỹ và 20.000 người truyền giáo Hàn quốc hoạt động khắp thế giới, nhất là ở các nước Phật giáo ở châu Á (xem bài Ngày tàn của những kẻ truyền đạo cuồng tín, Minh Kiến, http://giaodiemonline.info/noidung_detail.php?newsid=5544 ).

https://i0.wp.com/giaodiemonline.com/2011/05/images/kitogiao06.jpg

Vào cuối năm 2009, các giáo phái Tin lành đã nổi lửa tại sân vân động Mỹ Đình, Hà Nội và xác định qua Tuyên ngôn thuộc linh: “Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đã bị tuyên bố cắt đứt, hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không còn được tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt NamViệt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước. Hội Thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp thông khắng khít với Đức Chúa Trời…” (Lửa đã cháy ở Mỹ Đình, bao giờ lan đến Quán Sứ? Minh Thạnh và Trọng Hoàng, 07/01/2011,  xem link http://www.phattuvietnam.net/3/chanhung/12848.html ). Cũng như Tổng thống Ngô đình Diệm trước đây, các người Tin lành này có quyền gì mà dâng hiến đất nước và dân tộc Việt Nam cho Chúa Trời? Họ không những đã chối bỏ truyền thống Con Rồng Cháu Tiên của dân tộc Việt Nam mà còn gọi đó là rắn, là ma quỷ!

Kết Luận

Trái với thông điệp về tình thương, công bằng và bác ái mà họ thường rao giảng, các nhà truyền đạo Chúa đã đến Việt Nam với một mục đích duy nhất là cải đạo, biến dân tộc và nước Việt Nam thành một quốc gia thuộc Thiên Chúa giáo. Trải qua gần 500 năm kể từ khi đạo Kitô xâm nhập Việt Nam, họ đã sử dụng mọi âm mưu và thủ đoạn để đạt mục đích này, kể cả việc phá hủy các truyền thống văn hoá và tôn giáo, coi thường luật pháp và chính quyền địa phương, xúi giục giáo dân nổi loạn đòi tự trị và độc lập. Trong các thế kỷ trước, các linh mục và giáo dân đã dẫn đường cho quân xâm lược của thực dân Pháp đánh chiếm và áp đặt nền cai trị thuộc địa trên đất nước Việt Nam.

Ngày nay, họ không còn dùng “lưỡi gươm và thánh giá” nữa mà những phương pháp hiện đại, bài bản và tinh vi hơn (xem bài 43 Phương pháp cải đạo của Tin lành và Công giáo,  http://giaodiemonline.com/2011/03/caidao.htm ). Những người truyền giáo, Công giáo cũng như Tin lành, thường nhắc đến các “thánh tử đạo” và “giáo dân bị đàn áp” để kích động tín đồ và dư luận quốc tế nhưng họ giấu nhẹm nguyên nhân là những người này đã vi phạm luật pháp quốc gia.  Điều đáng tiếc là có một số giáo dân người Việt vì cuồng tín và quyền lợi cá nhân đã tiếp tay với các thế lực ngoại bang, phản bội quốc gia và dân tộc. Họ sẳn sàng “thà mất nước chứ không mất Chúa” như Linh mục Hoàng Quỳnh đã tuyên bố!

Không những ở Việt Nam mà ở các nước khác trên thế giới, lịch sử truyền đạo Kitô là những trang sử tràn đầy bạo lực, đẩm máu và tội ác mà các nhà truyền đạo, các tín đồ và Giáo hội Thiên Chúa giáo đã phạm trong 2000 năm qua. Trong một buổi lễ tại Rome vào tháng 3 năm 2000, chính Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận các tội lỗi này và xin tha thứ.

 

Minh Kiến

Tháng 3/ 2011

Bài đọc thêm : 43 phương pháp cải đạo của Tin Lành và Công giáo, link :

http://giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=5628

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: