RSS

Ngôi nhà ảo tưởng của Mẹ Teresa

23 Jul

Susan Shields

nguồn http://www.secularhumanism.org/index.php?section=library&page=shields_18_1

Trần Tiên Long dịch

tiếng Việt: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12019&rb=0303

Vài năm sau khi tôi trở thành tín đồ Công giáo, tôi đã gia nhập dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa. Tôi là một trong các chị em của Mẹ trong suốt chín năm rưỡi, sống ở Bronx, Rome, và San Francisco, cho đến khi tôi vỡ mộng và rời bỏ vào tháng 5 năm 1989. Từ khi trở lại với thế giới, tôi từ từ tháo gỡ manh mối những dối trá mà tôi đã sống. Tôi tự hỏi tại sao tôi có thể tin tưởng những điều này trong suốt bấy lâu nay.

Tất cả ba điều dạy căn bản của Mẹ Teresa cho nhà dòng của Mẹ đều nguy hiểm bởi vì chúng được các chị em của Mẹ thành thật tin tưởng. Điều căn bản nhất là niềm tin tưởng rằng chừng nào nữ tu vâng lời là chị ấy đang làm theo ý Chúa. Một điều nữa là niềm tin tưởng rằng các chị em tiến gần tới Chúa bằng cách chọn đau khổ. Nỗi khổ đau của họ làm Chúa rất hài lòng. Và rồi Chúa sẽ ban thêm phước lành cho nhân loại. Điều thứ ba là niềm tin tưởng rằng bất cứ sự quyến luyến với con người, với cả những người nghèo khó họ đang phục vụ, được xem như làm cản trở tình yêu của Thiên Chúa, và phải được thận trọng ngăn ngừa hoặc dứt bỏ ngay. Những cố gắng ngăn ngừa bất cứ sự quyến luyến nào không ngừng làm hỗn loạn và lẫn lộn, làm biến chuyển và thay đổi trong nhà dòng. Mẹ Teresa không sáng chế những niềm tin này – chúng là điều thường thấy trong các nhà dòng trước Công đồng Vatican II – nhưng mẹ đã làm tất cả trong quyền hạn của mẹ (quyền hạn rất lớn) để áp buộc chúng.

Một khi một nữ tu đã chấp nhận những điều nguỵ biện này, chị sẽ làm hầu như bất cứ điều gì. Chị có thể để cho sức khoẻ của chị bị phá huỷ, lãng quên những người mà chị đã nguyện sẽ giúp đỡ, và dập tắt cảm xúc và tư duy độc lập của chị. Chị có thể nhắm mắt trước nỗi đau, cung cấp tin tức về các chị em của mình, nói láo dễ dàng, và bất chấp các luật pháp và qui tắc công cộng.

Những phụ nữ từ nhiều quốc gia đã nối kết với Mẹ Teresa trong niềm kỳ vọng rằng họ sẽ giúp đỡ được người nghèo khó và đến gần Thiên Chúa hơn. Khi tôi ra đi, đã có hơn 3.000 chị em cư ngụ trong chừng 400 ngôi nhà rải rác khắp thế giới. Nhiều chị em trong họ tin tưởng Mẹ Teresa sẽ hướng dẫn họ đã trở nên những người tuyệt vọng. Đối diện với các bằng chứng đầy dẫy, cuối cùng một số chị em đã thú nhận rằng niềm tin của họ đã bị phản bội, Thiên Chúa không thể ra lệnh mà họ nghe được. Thật là khó khăn khi họ quyết định ra đi – niềm tự tin của họ đã bị phá hủy, và họ không có sự giáo dục nào khác ngoài sự giáo dục mà họ mang theo khi họ gia nhập – Tôi là một trong những chị em may mắn có đủ can đảm để rời bỏ.

Chính với niềm hy vọng rằng những người khác có thể nhận thấy sự nguỵ biện của cách thức để đạt đến sự thánh thiện này khiến tôi [muốn] nói một chút về những gì tôi biết. Mặc dù tương đối có ít người gia nhập dòng các chị em của Mẹ Teresa, có nhiều người đã ủng hộ việc làm của Mẹ một cách rộng rãi bởi vì họ không biết những lời hứa méo mó của Mẹ làm thiệt hại đến những cố gắng làm giảm bớt sự khốn cùng. Họ không ý thức được rằng phần lớn những tiền tặng không được dùng đến, nằm yên trong những trương mục nhà băng của Mẹ. Họ bị lừa để nghĩ rằng họ đang giúp đỡ người nghèo khó.

Với tư cách là một người của dòng Thừa sai Bác ái, tôi được giao phó nhiệm vụ ghi nhận các đồ tặng và viết thư cám ơn. Tiền nhận được theo một gia tốc điên cuồng. Người đưa thư phải giao thư trong các túi đựng. Chúng tôi thường hay viết phiếu biên nhận cho những ngân phiếu 50.000 đôla hoặc hơn. Đôi khi người tặng gọi đến để hỏi chúng tôi đã nhận được ngân phiếu của họ chưa, kỳ vọng chúng tôi nhớ ngay vì đó là một món tiền quá lớn. Làm sao chúng tôi có thể trả lời rằng chúng tôi không nhớ vì chúng tôi cũng đã nhận được quá nhiều món tiền còn lớn hơn?

Khi Mẹ nói chuyện với công chúng, Mẹ không bao giờ xin tiền, nhưng Mẹ khuyến khích mọi người phải hy sinh cho người nghèo, phải “cho đến khi thấy đau” (give until it hurts). Nhiều người đã làm vậy và họ cho Mẹ điều đó. Chúng tôi đã nhận được những bức thư rất xúc động từ những người, đôi khi có vẻ như chính họ rất nghèo, gửi cho chúng tôi một món tiền nhỏ để giúp những người đang chết đói ở châu Phi, những nạn nhân lụt ở Bangladesh, hoặc những trẻ em nghèo khổ ở Ấn Độ. Phần lớn số tiền này nằm yên trong các trương mục ngân hàng của chúng tôi.

Các tặng phẩm ồ ạt này được xem như dấu hiệu của Thiên Chúa chấp thuận nhà dòng của Mẹ Teresa. Chúng tôi được các bề trên bảo rằng chúng tôi đã nhận được nhiều tặng phẩm hơn các dòng khác bởi vì Thiên Chúa bằng lòng với Mẹ, và bởi vì các chị em dòng Thừa sai Bác ái trung thành với tinh thần chính thực của đời sống tôn giáo.

Phần đông, các chị em không biết số tiền nhà dòng đã tồn kho được bao nhiêu. Cuối cùng, chúng tôi được lệnh không được nhận bất cứ thứ gì nữa. Vào một mùa hè, các chị em ở vùng ngoại ô Rome nhận được những thùng đựng cà chua nhiều hơn họ có thể phân phối. Không ai ở trong vùng muốn những thùng cà chua này bởi vì mùa màng năm đó sai quả. Các chị em quyết định đóng hộp những trái cà chua đó, hơn là để thối, nhưng khi Mẹ biết được điều đó, Mẹ tỏ vẻ rất giận dữ. Việc dự trữ lương thực chứng tỏ thiếu tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Tặng phẩm cứ tiếp tục được gửi tới và nằm yên ở nhà băng, nhưng không ảnh hưởng gì tới cuộc sống khổ hạnh của chúng tôi, và rất ít ảnh hưởng tới những cuộc sống của những người nghèo mà chúng tôi đang giúp đỡ. Chúng tôi sống một cuộc sống đơn giản, không màng đến tất cả những đồ thừa thãi. Chúng tôi có ba bộ quần áo, mà chúng tôi vá chúng đến nỗi không còn chỗ để vá nữa. Chúng tôi giặt quần áo bằng tay. Chúng tôi cũng phải giặt bằng tay những đống khăn và tấm trải giường được dùng ở chỗ trú đêm của những người vô gia cư. Khám răng và khám sức khoẻ được xem như những thứ xa xỉ không cần thiết.

Mẹ rất lo lắng muốn chúng tôi duy trì tinh thần khó nghèo. Việc chi tiền sẽ phá hủy sự nghèo khó đó. Mẹ có vẻ như bị ám ảnh việc chỉ dùng những phương tiện đơn giản nhất cho công việc. Không biết đó có phải là phù hợp với quyền lợi tốt nhất của những người chúng tôi đang giúp đỡ, hay là thực ra chúng tôi đang sử dụng chúng như dụng cụ để đạt sự thánh thiện? Ở Haiti, để duy trì tinh thần khó nghèo, các chị em đã phải dùng lại các kim chích cho đến khi chúng cùn mòn. Chứng kiến nỗi đau do kim chích cùn mòn gây ra, có một số người tự nguyện mua thêm kim chích, nhưng các chị em đã từ chối.

Chúng tôi xin đồ ăn và đồ tiếp tế từ các thương gia địa phương, làm như chúng tôi không có một nguồn nào khác. Có lần hiếm hoi khi chúng tôi hết bánh mì cứu trợ, chúng tôi đã đến xin các tiệm địa phương. Khi chúng tôi xin không được, Mẹ bề trên của chúng tôi ra lệnh dùng xúp thay cho bánh mì trong suốt ngày hôm đó.

Không phải chỉ có những thương gia địa phương mới được có cơ hội rộng rãi, mà các hãng hàng không cũng được kêu gọi không tính tiền việc chuyên chở các chị em và hàng hoá. Các nhà thương và bác sĩ cũng được kỳ vọng không tính tiền chi phí chữa bệnh cho các chị em, hoặc họ được quyên góp cho mục tiêu tôn giáo. Những người làm việc được khuyến khích làm không công hoặc nhận đồng lương giảm thiểu. Chúng tôi tin cậy vào những người thiện nguyện làm việc nhiều giờ ở trong bếp, nơi tạm trú đêm, và các trại ban ngày.

Một người nông dân hiến dâng những giờ giấc tỉnh táo của ông để thu góp và giao đồ ăn cho nhà bếp và các trạm tiếp tế. Ông ta đã hỏi “nếu tôi không đến thì các ông bà ăn cái gì?”

Hiến chương của chúng tôi cấm chúng tôi xin đồ nhiều hơn chúng tôi cần, nhưng, khi xin, nhiều triệu đôla chồng chất trong nhà băng được xem như không bao giờ có.

Suốt nhiều năm, tôi đã phải viết nhiều ngàn lá thư cho những người biếu tặng, báo tin họ rằng toàn tặng phẩm của họ được dùng để mang lòng thương xót của Thiên Chúa đến người nghèo khó nhất trong các người nghèo khó. Tôi có thể kiểm soát được lương tâm cắn rứt của tôi bởi vì tôi đã được dạy rằng Thánh thần đang hướng dẫn Mẹ. Nghi ngờ Mẹ là một dấu hiệu cho thấy chúng ta đang thiếu lòng tin tưởng và, tệ hại hơn, phạm đến tội kiêu ngạo. Tôi dẹp bỏ những bất mãn của tôi và hy vọng rằng, một ngày nào đó, tôi sẽ hiểu tại sao Mẹ Teresa muốn thu góp nhiều tiền như vậy, trong khi chính Mẹ đã dạy chúng tôi rằng ngay cả việc dự trữ nước cà chua cũng là tỏ sự thiếu tin tưởng vào Đấng Quan phòng.

Susan Shields là một nữ tu thuộc dòng Thừa sai Bác ái trong suốt một thập niên. Bà đã giữ chức vụ quan trọng trong tổ chức của Mẹ Teresa cho đến ngày bà từ chức.


Bản Anh Ngữ

Mother Teresa’s House of Illusions

How She Harmed Her Helpers As Well As Those They ‘Helped’

by Susan Shields


The following article is from Free Inquiry magazine, Volume 18, Number 1.


Some years after I became a Catholic, I joined Mother Teresa’s congregation, the Missionaries of Charity. I was one of her sisters for nine and a half years, living in the Bronx, Rome, and San Francisco, until I became disillusioned and left in May 1989. As I reentered the world, I slowly began to unravel the tangle of lies in which I had lived. I wondered how I could have believed them for so long.

Three of Mother Teresa’s teachings that are fundamental to her religious congregation are all the more dangerous because they are believed so sincerely by her sisters. Most basic is the belief that as long as a sister obeys she is doing God’s will. Another is the belief that the sisters have leverage over God by choosing to suffer. Their suffering makes God very happy. He then dispenses more graces to humanity. The third is the belief that any attachment to human beings, even the poor being served, supposedly interferes with love of God and must be vigilantly avoided or immediately uprooted. The efforts to prevent any attachments cause continual chaos and confusion, movement and change in the congregation. Mother Teresa did not invent these beliefs – they were prevalent in religious congregations before Vatican II – but she did everything in her power (which was great) to enforce them.

Once a sister has accepted these fallacies she will do almost anything. She can allow her health to be destroyed, neglect those she vowed to serve, and switch off her feelings and independent thought. She can turn a blind eye to suffering, inform on her fellow sisters, tell lies with ease, and ignore public laws and regulations.

Women from many nations joined Mother Teresa in the expectation that they would help the poor and come closer to God themselves. When I left, there were more than 3,000 sisters in approximately 400 houses scattered throughout the world. Many of these sisters who trusted Mother Teresa to guide them have become broken people. In the face of overwhelming evidence, some of them have finally admitted that their trust has been betrayed, that God could not possibly be giving the orders they hear. It is difficult for them to decide to leave – their self-confidence has been destroyed, and they have no education beyond what they brought with them when they joined. I was one of the lucky ones who mustered enough courage to walk away.

It is in the hope that others may see the fallacy of this purported way to holiness that I tell a little of what I know. Although there are relatively few tempted to join Mother Teresa’s congregation of sisters, there are many who generously have supported her work because they do not realize how her twisted premises strangle efforts to alleviate misery. Unaware that most of the donations sit unused in her bank accounts, they too are deceived into thinking they are helping the poor.

As a Missionary of Charity, I was assigned to record donations and write the thank-you letters. The money arrived at a frantic rate. The mail carrier often delivered the letters in sacks. We wrote receipts for checks of $50,000 and more on a regular basis. Sometimes a donor would call up and ask if we had received his check, expecting us to remember it readily because it was so large. How could we say that we could not recall it because we had received so many that were even larger?

When Mother spoke publicly, she never asked for money, but she did encourage people to make sacrifices for the poor, to “give until it hurts.” Many people did – and they gave it to her. We received touching letters from people, sometimes apparently poor themselves, who were making sacrifices to send us a little money for the starving people in Africa, the flood victims in Bangladesh, or the poor children in India. Most of the money sat in our bank accounts.

The flood of donations was considered to be a sign of God’s approval of Mother Teresa’s congregation. We were told by our superiors that we received more gifts than other religious congregations because God was pleased with Mother, and because the Missionaries of Charity were the sisters who were faithful to the true spirit of religious life.

Most of the sisters had no idea how much money the congregation was amassing. After all, we were taught not to collect anything. One summer the sisters living on the outskirts of Rome were given more crates of tomatoes than they could distribute. None of their neighbors wanted them because the crop had been so prolific that year. The sisters decided to can the tomatoes rather than let them spoil, but when Mother found out what they had done she was very displeased. Storing things showed lack of trust in Divine Providence.

The donations rolled in and were deposited in the bank, but they had no effect on our ascetic lives and very little effect on the lives of the poor we were trying to help. We lived a simple life, bare of all superfluities. We had three sets of clothes, which we mended until the material was too rotten to patch anymore. We washed our own clothes by hand. The never-ending piles of sheets and towels from our night shelter for the homeless we washed by hand, too. Our bathing was accomplished with only one bucket of water. Dental and medical checkups were seen as an unnecessary luxury.

Mother was very concerned that we preserve our spirit of poverty. Spending money would destroy that poverty. She seemed obsessed with using only the simplest of means for our work. Was this in the best interests of the people we were trying to help, or were we in fact using them as a tool to advance our own “sanctity?” In Haiti, to keep the spirit of poverty, the sisters reused needles until they became blunt. Seeing the pain caused by the blunt needles, some of the volunteers offered to procure more needles, but the sisters refused.

We begged for food and supplies from local merchants as though we had no resources. On one of the rare occasions when we ran out of donated bread, we went begging at the local store. When our request was turned down, our superior decreed that the soup kitchen could do without bread for the day.

It was not only merchants who were offered a chance to be generous. Airlines were requested to fly sisters and air cargo free of charge. Hospitals and doctors were expected to absorb the costs of medical treatment for the sisters or to draw on funds designated for the religious. Workmen were encouraged to labor without payment or at reduced rates. We relied heavily on volunteers who worked long hours in our soup kitchens, shelters, and day camps.

A hard-working farmer devoted many of his waking hours to collecting and delivering food for our soup kitchens and shelters. “If I didn’t come, what would you eat?” he asked.

Our Constitution forbade us to beg for more than we needed, but, when it came to begging, the millions of dollars accumulating in the bank were treated as if they did not exist.

For years I had to write thousands of letters to donors, telling them that their entire gift would be used to bring God’s loving compassion to the poorest of the poor. I was able to keep my complaining conscience in check because we had been taught that the Holy Spirit was guiding Mother. To doubt her was a sign that we were lacking in trust and, even worse, guilty of the sin of pride. I shelved my objections and hoped that one day I would understand why Mother wanted to gather so much money, when she herself had taught us that even storing tomato sauce showed lack of trust in Divine Providence.


For nearly a decade, Susan Shields was a Missionaries of Charity sister. She played a key role in Mother Teresa’s organization until she resigned.

 


Critical

ĐÂU LÀ SỰ THỰC?

Hay: Những Bộ Mặt Khác Của Thánh Cha JPII & Thánh Mẹ Térésa

Trần Chung Ngọc

12/4/2009

 

Thánh Mẹ Teresa

Bàn đến khuôn mặt siêu việt của Thánh Cha mà không nhắc tới Thánh Mẹ Teresa thì quả là một thiếu sót. Vì, trong những năm gần đây, điều mà giáo hội CaTô Rô-Ma quảng cáo nhiều nhất và ồn ào nhất là những công tác từ thiện của Giáo hội. Bất cứ có một cơ hội nào là Giáo hội và các con chiên ngoan đạo Việt Nam lại mang Mẹ Teresa, người mà Giáo hội tôn là Thánh Mẹ (Holy Mother), ra làm bình phong từ thiện, lạc dẫn dư luận, làm như Mẹ là con người rất mực thánh thiện, rất giầu lòng bác ái, và tất cả tín đồ CaTô đều như Mẹ Teresa cả.

Nghiên cứu tường tận về các công việc từ thiện của Giáo hội từ xưa tới nay, chúng ta rất ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các công việc từ thiện là dùng vật chất để truyền đạo, để làm giàu cho Giáo hội trên sự đau khổ của con người, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của CaTô giáo trong những thế kỷ qua.

Mở đầu là Đại Đế Constantine, người đã dùng mọi cách và đã bỏ của cải ra mua toàn thể các tỉnh, các thị trấn để cho dân chúng đi theo đạo mới (Malachi Martin: “The Rise and Fall of The Roman Church”, trg. 36.) Và từ đó cho đến ngày nay, của cải vật chất với nhãn hiệu từ thiện đã là vũ khí hữu hiệu nhất của CaTô giáo để thu nhặt tín đồ. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy từ thời các giáo sĩ thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam cho tới thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam, bả vật chất đã là một phương tiện hữu hiệu để truyền đạo và thu nhặt tín đồ của Ca Tô Giáo.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, các linh mục Việt Nam được toàn quyền xử dụng viện trợ từ thiện của Mỹ và dùng nó như một vũ khí để ép người vào đạo và để bỏ túi, khoan kể đến chuyện bắn pháo binh vào những làng không theo đạo để ép buộc dân trong làng theo đạo để đổi lấy sự an toàn của làng xóm. Người Việt Nam đâu đã có ai quên cái câu bất hủ được truyền tụng trong dân gian: “Theo đạo có gạo mà ăn.” Cảnh này cũng lại tiếp diễn trong các trại tị nạn di cư mà các linh mục được sự viện trợ của các cơ quan từ thiện KiTô giáo, họ giữ chặt của viện trợ cho giáo dân và chỉ cho người ngoài khi bằng lòng theo đạo.

Tôi không nói là các việc từ thiện của CaTô giáo không có ích lợi gì. Lẽ dĩ nhiên chúng có góp phần để làm vơi bớt sự khó khăn mà con người gặp phải. Nhưng cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này và phương cách xử dụng thì chẳng thiện chút nào.

 

◎◎◎

David Gates –  ”The Missionary Mission”

Trở lại trường hợp của Mẹ Teresa. Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách “The Missionary Mission” của Christopher Hitchens viết về bà Teresa.

  • Theo Hitchens thì “Mẹ Teresa là một kẻ “mị dân” chống phá thai và là kẻ “phục vụ cho những quyền lực thế gian.”, thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992. Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền đã biếu cho Mẹ, và đề nghi Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các “sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý”; Mẹ đã không hề hồi âm.

Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào “điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương.” Hitchens lý luận rằng “Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội.”

(Hitchens’ Mother Teresa is an anti abortion “demagogue” and a “servant of earthly powers,” cozying up to such a slime as S & L (Savings & Loans) swindler Charles Keating, on whose behalf she wrote to Judge Lance Ito during his 1992 trial. In a well-reasoned reply, a deputy D.A. explained to her how Keating stole the money he’d donated and suggested she return it to “its rightful owners”; she never answered.

…Hitchens notes, she herself has “checked into some of the finest and costliest clinics and hospitals in the West.” She does charitable work, he argues, “not for its own sake but…so that she may one day be counted as the beatific founder of a new order and discipline within the Church itself.”)

  • Ngoài ra, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những “cơ sở từ thiện” của bà Teresa và tìm hiểu sự thực về những “công cuộc từ thiện” của bà Teresa. Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm được viết thành cuốn “Mother Teresa: Beyond The Image” (Mẹ Teresa: Ngoài Cái Hình Ảnh Được Tạo Nên”), Doubleday, New york, 1997, trong đó tác giả đã dùng hơn nửa cuốn sách dày gần 300 trang để viết về một số những sự thực về cái gọi là “công cuộc từ thiện” của bà Teresa mà chính tác giả đã đích thân đến tận nơi quan sát, tìm hiểu cùng qua nhiều cuộc phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền như bác sĩ, nữ tu, những người đứng đầu các cơ quan từ thiện, những nhân viên thiện nguyện và cả những cựu nữ tu trong dòng “Thừa Sai Bác Ái” (Missionaries of Charity) của bà Teresa (I am full of questions and have put as many as I can to people qualified to answer them including doctors, nuns, heads of charities, volunteers and former Missionaries of Charity).

Sau đây là vài điểm chính mà tác giả, Anne Sebba, đã khám phá ra:

* Về tiểu sử, bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

(Preface: Biographically speaking, Mother Teresa’s life is not interesting; there is the same straightforward religious faith that guides her in everything…)

* Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo. Ngay cái tên của dòng “Thừa Sai Bác Ái” cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua. Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua. Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm “việc thiện”, chứng tỏ “lòng từ bi” của Bà. Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài. (Trong cái niềm tin của Bà Teresa, bà cố ý lờ đi chuyện những đau khổ, bất hạnh của con người cũng là do Chúa tạo ra. Cũng như gần đây GH John Paul II tuyên bố: Mẹ Teresa là quà của Thượng đế cho những người nghèo khổ (gift of God for the poor) nhưng Ngài không hề nói tới những người nghèo khổ là quà của Thượng đế cho ai? Chắc là cho Bà Teresa để Bà có cơ hội làm việc thiện vinh danh Chúa. Một mặt Chúa tạo ra những đau khổ, một mặt khác Chúa nhờ bà Teresa, qua dòng “Thừa sai bác ái”, quảng bá lòng thương của Chúa qua những việc từ thiện chỉ có tính cách tượng trưng. Ấy thế mà vẫn có nhiều người ca tụng lòng yêu thương của Chúa đối với nhân loại, và lòng “bác ái” của bà Teresa. TCN) (Sebba, p. 21: She had assiduously studied as much as she could about the history of the missionary movement in India, especially in its most recent, expansive phase. She would have known that attempts to Christianize the country had been made repeatedly for about 400 years… Page.55: Our special task will be to proclaim Jesus Christ to all peoples above all to those who are in our care. We call ourselves Missionaries of Charity. Mother Teresa never shrank from emphasising that she was working for Christ first and above all.. The name, incorporating the word “missionary” with all its resonance in Indian history, had been chosen with care and intent. Of course, she hoped that by her actions she would win more converts for Christ….No one should be in any doubt, and Mother Teresa has expressed herself very clearly on the point, the religious motivation is foremost. Abandoned babies and the terminally ill, society’s most vulnerable and helpless, were there to supply the occasions for charity and the raw material for demonstration of compassion in India… She is not the savior of humanity, what she does is symbolic.)

Tác giả Anne Sebba còn đưa ra nhiều hình ảnh của bà Teresa, trái ngược hẳn với những hình ảnh đã được bộ máy tuyên truyền của giáo hội trên thế giới đưa ra, thí dụ như:

đạo đức giả, ve vãn giới truyền thông, thân cận với một số lãnh tụ độc tài trên thế giới, bất minh về vấn đề tiền bạc, nhận tiền thụt két nhà băng của một tên lừa đảo (Charles Keating) và khi Tòa án viết thơ khuyên Bà nên trả lại số tiền đó thì lờ đi không trả lời, dùng tiền của thiên hạ đổ vào các tu viện thay vì nhà thương và để cho các cơ sở từ thiện rất thiếu thốn, mù quáng theo lệnh của Vatican chống mọi kế hoạch hóa gia đình v..v..” (personal hypocrisy, consorting with dictators, courting the media and – perhaps most serious of all – “operating …as the roving ambassador of a highly political papacy,” blindly objecting to all forms of family planning, refused to return the stolen money that Keating had donated, alledgedly spent millions of pounds on convents rather than building new hospitals, administering dubious medical treatment).

◎◎◎

Đó là thực chất những công việc “từ thiện” của Mẹ Teresa, người mà các tín đồ Ca Tô được nhồi vào trong đầu óc hình ảnh của một Thánh nhân. Ngày nay, đã có thêm nhiều tài liệu về bà Teresa do chính những người trước đây cộng tác với bà, như các sơ (soeur, sister), viết ra. Họ không phải là người ngoài mà là chứng nhân trong cái gọi là dòng tu “Thừa sai bác ái” của bà Teresa. Hình ảnh của bà Teresa mà họ đưa ra không thánh thiện như giáo hội đã cấy vào đầu óc các tín đồ mà thực ra là : đạo đức giả, lừa bịp, gian dối, tàn nhẫn, cuồng tín, lạc hậu v..v… như chúng ta sẽ thấy trong vài tài liệu sau đây.

Để quảng cáo kiếm tiền, Giáo hội đưa ra hình ảnh bà Teresa đang bồng ru một em bé Ấn độ ốm yếu, làm mủi lòng nhiều người. Giáo hội cũng quảng cáo là dòng “Thừa sai bác ái” của bà Teresa đã thiết lập những “cơ sở từ thiện” trong hơn 25 quốc gia với những nhà thương, viện mồ côi, trường học v..v.. Việt Nam, có lẽ đã biết rõ thực chất những “hoạt động từ thiện” của bà Teresa nên đã từ chối, không chấp nhận đề nghị lập viện mồ côi tại Việt Nam của bà Teresa ngay khi Mỹ còn đang cấm vận. Đây là một quyết định khôn ngoan của chính quyền, không rơi vào cái bẫy “từ thiện để kiếm thêm linh hồn cho Chúa” của thế lực đen quốc tế.

Ai cũng biết, công việc “từ thiện” của bà Teresa tập trung ở Calcutta, Ấn độ, và quảng cáo rầm rộ nhất cũng là những hoạt động của dòng “thừa sai bác ái” ở Ấn độ. Những tài liệu của Christopher Hitchens và Anne Sebba ở trên đã cho chúng ta thấy phần nào mặt trái của các cơ sở “từ thiện” đó. Sau khi bà Teresa chết thì có một số sơ trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức “Thừa sai bác ái” đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời.

Thí dụ, sơ Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:

một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc “từ thiện” vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu “Thừa sai bác ái”, nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương “nghèo khổ” là một đức tính. Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự “săn sóc” của hội “thừa sai bác ái” phải ăn đói. Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa. (Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67: Shields revealed that part of her job was to help keep track of the millions of dollars donated to Teresa’s “charity” work. Unfortunately, most of that money sat unused in various bank accounts while the sisters literally had to beg for food from local merchants, since “poverty” is supposedly a virtue. If the locals couldn’t help out, the soup kitchens did without. This is charity? With millions sitting idle and Teresa constantly asking for more donations, it makes no sense at all.)

Trước những tiết lộ trên của sơ Shields, một ký giả viết cho Knight Ridder, Clark Morphew, đã viết bài biện bạch cho bà Teresa, nhưng chính những lý luận biện bạch này lại càng làm sáng tỏ thực chất công cuộc “từ thiện” của bà Teresa. Morphew viết rằng bà Teresa tin rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt, và ngừa thai bao giờ cũng sai. (..among Teresa’s beliefs were the ideas that suffering is good and ..birth control is always wrong.); chủ tâm của bà Teresa không phải là xóa nghèo và nạn mù chữ. (wiping out poverty and illiteracy was not Teresa’s focus). Morphew cũng còn viết là người ta sẽ tiếp tục chỉ trích bà Teresa cho đến khi có “một sự cải tiến sâu rộng” (criticism of Teresa will continue until “some serious reform comes about), và rằng sơ Nirmala, người thay thế bà Teresa điều hành dòng “thừa sai bác ái” có thể có những thay đổi rộng lớn. (Since Sister Nirmala had taken over the reigns as Teresa’s successor, “grand changes could happen”)

Bình luận về những lời biện bạch trên của Clark Morphew, nữ học giả Judith Hayes đã đặt ra vài câu hỏi: Nếu những nhà thương của bà Teresa được tài trợ rộng rãi mà được điều hành một cách trôi chảy không có vấn đề gì, lương thiện và từ bi, thì tại sao lại cần phải có bất cứ sự cải tiến sâu rộng nào? và tại sao lại cần những thay đổi rộng lớn nếu không có sự sai lầm trong đó? (Ibid., p.67: But if Teresa’s generously financed clinics were running smoothly, honestly, and compassionately, why would any reform be needed at all? Again, why should “grand changes could happen” unless something was wrong to begin with?). Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng từ bi mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt. Từ bi là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic) và Ngu Đần (Stupid). Tác giả đã chơi chữ ở đây: (If all of that is true, it places Teresa somewhere between “sadistic” and “stupid” which, interestingly, is where “saint” appears in the dictionary)

Mẹ Teresa trong cuốn”The Missionary Position” của Christopher Hitchens.

Để hiểu rõ hơn con người của bà Teresa, sau đây là một số chi tiết trong cuốn The Missionary Position của Christopher Hitchens. Chúng ta hãy duyệt qua một số tư tưởng, quan niệm vĩ đại của Thánh Teresa. Trong khi ngồi trên hàng triệu đô-la ở trong các ngân hàng, bà Teresa bày tỏ quan niệm như sau: “Tôi nghĩ rằng thật là quá đẹp cho những người nghèo chấp nhận số phận của họ.. thế giới đang được phục vụ nhiều bởi sự đau khổ của những người nghèo” (Hitchens, p.11: Mother Teresa said: I think it is very beautiful for the poor to accept their lot…the world is being much helped by the suffering of the poor people). Tôi nghĩ đây là một quan niệm thần học tệ hại cần phải lên án trong một thế giới mà tất cả nỗ lực tập trung vào việc giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân. Đây là quan niệm, đúng hơn là sách lược ru ngủ của các thừa sai, tuyên dương sự nghèo khổ bảo đó là ý của Chúa. Tài liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

Penny Lernoux viết trong cuốn Tiếng Kêu Than Của Người Dân (Cry of the People) như sau về sách lược truyền giáo ở Châu Mỹ La Tinh:

“Từ lúc đầu, xã hội Mỹ – LaTinh được xây dựng giống như một Kim Tự Tháp, với vài người Âu Châu đến định cư và hưởng mọi quyền lợi của đế quốc, và quần chúng thổ dân, da đen, giai cấp thấp, không có một quyền nào. Cái tháp tồn tại được là vì khối nhân dân ở dưới đáy được nhắc nhở rằng họ ngu si, lười biếng, và thấp kém. Những nhà truyền giáo ngoại quốc góp phần nhồi vào đầu óc dân bản xứ ý tưởng là họ nghèo và ngu dốt là do ý muốn của Thiên Chúa. Như Tổng Giám Mục ở Lima dạy các thổ dân rằng: “Nghèo khổ là con đường chắc chắn nhất đi đến hạnh phúc.” (hạnh phúc sau khi chết. TCN). Người thổ dân hay dân Phi Châu nào mà liều lĩnh nghi ngờ điều dạy khôn ngoan đó bằng cách chống lại hệ thống đều bị giết ngay.. Giáo hội Ca-Tô phải gánh rất nhiều trách nhiệm về tình trạng này”

(From the beginning, Latin-American society was constructed like a pyramid, with a few Europeans setters enjoying all the privileges of empire and a mass of Indians, blacks, and half-castes having no rights at all. The pyramid survived because the mass at the bottom was repeatedly told that it was stupid, lazy, and inferior. Foreign missionaries helped drum those ideas into the native’s heads by claiming that it was God’s will that they should be poor and ignorant. As the Archbishop of Lima told his Indians: “Poverty is the most certain road to felicity.” Any Indian or African who hat the temerity to doubt such wisdom by rebelling against the system was promptly put to death… The Catholic Church must accept a lot of the blame for this situation)

Tình trạng trên không chỉ có ở châu Mỹ – LaTinh mà chúng ta phải đau lòng mà nhận thực rằng nó cũng xảy ra trong một số ốc đảo Ca-Tô ở Việt Nam trong đó các linh mục ngoại quốc ngồi vênh váo trên kiệu do giáo dân hoặc “cu li” khênh, và giáo dân khúm núm thưa trước kiệu: “chúng con xin phép được lạy cha ạ”. Ngu dân dễ trị. đó là sách lược cố hữu của giáo hội CaTô, và sách lược này cũng đã được thực hiện qua chương trình “từ thiện” và lòng bác ái của bà Teresa. Sau đây là thêm vài chi tiết khác để chứng minh.

1. Khi được hỏi là bà có đồng ý là ở Ấn Độ có quá nhiều trẻ con hay không, bà Teresa đã trả lời: “Tôi không đồng ý vì Thiên Chúa bao giờ cũng cung cấp đầy đủ” (Ibid., p. 30: I do not agree because God always provides). Câu trả lời là một câu mạ lỵ những người có đầu óc và có tình thương thực sự. Thật vậy sao? Nếu thực sự là có một Thiên Chúa có thể cung cấp đầy đủ cho tất cả thì thực trạng thế giới đã chứng tỏ là Thiên Chúa không muốn làm như vậy.

Bà Teresa không hề biết là trên thế giới mỗi ngày có khoảng 40 ngàn trẻ con dưới 5 tuổi chết đói. Nếu Thiên Chúa cung cấp đầy đủ cho tất cả thì tại sao ngay trên đất Ấn Độ mà bà làm công việc “từ thiện” cũng có 423 triệu người sống trong sự tuyệt đối nghèo khổ (living in absolute poverty), 73 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng, và 350 triệu mù chữ? Lẽ dĩ nhiên, đối với bà thì Thiên Chúa quả là đã cung cấp đầy đủ, quá đầy đủ, vì bà ngồi trên đống tiền của thiên hạ đóng góp để bà làm việc “từ thiện”.

2. Bà Teresa huấn luyện những sơ dưới quyền bà hỏi những bệnh nhân sắp chết là có muốn một “vé lên thiên đường” hay không? Nếu họ trả lời muốn thì sẽ có ngay một lễ rửa tội cấp bách để kéo họ vào trong Ca Tô Giáo (Ibid., p. 48: She trained her workers to ask dying patients if they would like a “ticket to heaven” and a positive response prompted a speedy baptism into Roman Catholicism). Nếu chúng ta biết đến lời tuyên bố của giáo hoàng John Paul II là không làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây thì thiên đường của bà Teresa đúng là một thiên đường mù. Đó không phải là thiên đường của những người mù mắt mà là của những người mù quáng tin vào một điều mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ.

3. Có một bệnh nhân bị bệnh ung thư đang ở thời kỳ cuối, đau quằn quại, sắp chết, nhưng bà Teresa lại nhất định không cho họ thuốc đủ mạnh (tại sao??). Bà đến an ủi họ: “Con nên nghĩ rằng con cũng đang đau đớn như Chúa Giê-su đang bị đóng đinh trên thập giá; Chúa hẳn là đang hôn con đó” Bệnh nhân đó trả lời: “Vậy xin mẹ nói với ông ta là đừng hôn con nữa.” (Ibid., p. 41: Eschewing strong painkillers (why?!) Mother Teresa told a dying patient in the agonizing last stage of cancer, “You are suffering like Christ on the cross. So Jesus must be kissing you.” To which the patient replied, “Then please tell him to stop kissing me”).

Đối với tôi, trong vụ này, không những bà Teresa là một con người cuồng tín mà còn là ngu đần, tàn nhẫn, và sống xa thực tế. Bà thừa biết rằng không một người nào trên thế gian này lại muốn chịu khổ hình đau đớn như Chúa Giê-su trên thập giá và dù Giê-su có đang hôn thật đi chăng nữa thì cũng không làm cho bệnh nhân bớt đau hay khỏi bệnh. Bởi vậy cho nên bệnh nhân đã từ chối cái hôn của Giê-su.

Nhưng hành động như trên của bà thực ra chỉ là một thủ đoạn ru ngủ lừa dối và hết sức đạo đức giả. Vì khi chính bà đau ốm thì bà lại vào những nhà thương Tây phương đắt tiền nhất để chữa trị. Năm 1989 bà đã được gắn một máy để cho tim đập điều hòa (pacemaker). Năm 1993 bà đã được thông một mạch máu bị tắc. Tại sao bà không chịu đựng những sự bất thường đau đớn trong cơ thể bà như là Chúa Giê-su chịu đựng trên thập giá. Tại sao bà không nghĩ rằng những khi bà bị bệnh đó chính là Chúa đang hôn bà? Tại sao bà phải vào những nhà thương đắt tiền nhất, có nhiều phương tiện tối tân nhất, để chữa trị cho bà, trong khi bà không chịu chữa trị đúng mức cho những bệnh nhân trong những nhà thương “từ thiện” của chính bà? Nếu bà muốn thì bà sẽ có đủ phương tiện trong các nhà thương “từ thiện” của bà, vì nhiều triệu đô la do những người hảo tâm đóng góp để cho bà làm việc “từ thiện” còn nằm ì trong các ngân hàng. Chúng ta nên nhớ, theo cấu trúc của Ca Tô Giáo Rô Ma thì những chương mục này thuộc tài sản của Vatican. Chúng ta cũng đừng quên là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã đệ đơn lên chính quyền Việt Nam đòi lại những cơ sở của Ca Tô Giáo ở Việt Nam (phần lớn là do ăn cướp đất Chùa trong thời đô hộ của thực dân Pháp, trong đó có đất của nhà thờ lớn Hà Nội, đất của nhà thờ Đức Bà ở Saigon, và đất của nhà thờ La Vang v..v.., và do chính quyền Ca Tô Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam lạm dụng cường quyền cấp cho) với luận cứ đó là tài sản thuộc Vatican.

4. Một ác cảnh khác trong các nhà thương “từ thiện” của bà Teresa không thể chấp nhận được là những sơ và những người thiện nguyện làm việc cho bà phải dùng đi dùng lại những ống chích không được tẩy trùng để chích những thuốc vô hiệu lực và thuốc trụ sinh không đủ mạnh cho các bệnh nhân khiến cho họ càng đau đớn trong cơn hấp hối. (Judith Hayes, p. 68: Her employees and volunteers used and reused unsterelized syringes to administer ineffective drugs and mild antibiotics to terminally ill people, who suffered the resulting agonies)

Mẹ Teresa trong cuốn “The Happy Heretic” của Judith Hayes

Trước những sự thực phũ phàng về bộ mặt “từ thiện” thật của bà Teresa ở trên, tác giả Judith Hayes, người đã từng nổi tiếng với tác phẩm Chúng Ta Tin Thiên Chúa! Nhưng Là Thiên Chúa Nào? (In God We Trust! But Which One?), và cũng là người mà qua những phương tiện truyền thông của Giáo hội đã một thời tin rằng bà Teresa là một vị Thánh sống, sau khi biết rõ sự thực đã vạch trần mặt trái của bà Teresa trong cuốn The Happy Heretic. Sau đây là một số đoạn trong chương 2, trang 62-69, mục Một Khoa Học Gia Và Một Thánh (A Scientist And A Saint), bình luận về giới truyền thông trước cái chết của Carl Sagan (1996) và Teresa (1997). Tôi xin bỏ qua những đoạn viết về khoa học gia Carl Sagan vì tôi cho rằng so sánh Carl Sagan với Teresa là so sánh rồng với tôm, phượng hoàng với chim sẻ:

Teresa chỉ nhìn về quá khứ, thời mà người ta cho rằng các phù thủy là có thực, và những chuyện đuổi quỷ ám ra khỏi con người là có nghĩa. Chúng ta không thể tự cho phép nhìn về phía sau.

Teresa looked only bacward, to a time when witches were deemed real and exorcisms eminent sensible. We can no longer afford to look backward.

Cảnh xun xoe tán tụng Mẹ Teresa trên khắp thế giới là cơn ác mộng của một người theo chủ nghĩa nhân bản. Ký giả chen lấn nhau để giành lấy máy vi âm và tìm những danh từ quá mức để mô tả cái người gốc Macedonie (Teresa) không có gì nổi bật, đầu óc ở trên mây, với tâm cảnh thuộc thế kỷ thứ 9 này… Thật là một sự tôn sùng nồng nhiệt không nhằm chỗ.

The spectacle of the obsequious, worlwide eulogizing of Mother Teresa was a humanist’s nightmare. Reporters fell all over themselves as they raced for microphones and searched for superlatives to describe this bland, head-in-the-clouds Macedonian with a ninth-century mentality… What misplaced, ardent idolization!

Chút ít điều tốt bà làm chẳng đáng gì so với những số tác hại không thể tính được mà bà đã làm.

The little good she did was overwhelmingly dwarfed by the incalculable harm she did.

Tài nguyên trên trái đất thì hữu hạn, bất kể đến lập trường đà điểu của Giáo hội Ca-Tô, và chúng ta phải nhìn về tương lai, xử dụng mọi phương tiện khoa học mà chúng ta có, để tránh tai họa đang đe dọa. Điều này gồm có việc ngừa thai một cách khá dễ dàng. Sự đau khổ mà chúng ta có thể phòng ngừa qua phương pháp ngừa thai này thật là vô lượng. Do đó chúng ta không được nhìn về dĩ vãng, cúi đầu trong những lời cầu nguyện vô vọng, trong khi con cháu chúng ta chết.

The earth’s resources are finite, notwithstanding the Catholic Church’s ostrich position, and we must look ahead, using every scientific tool at our disposal, to avert the looming catastrophe. That includes the fairly easily employed practice of birth control. The amount of suffering that could be prevented by this one practice alone is immeasurable. So we can not and must not look back, bowing our heads in futile prayers, while our children die.

Bà ta thường xuyên rao giảng chống kiểm soát sinh đẻ ngay cả khi xung quanh có những trẻ em chết đói.

She preached relentlessly against birth control even though surrounded by starving children.

Khi người ta phỏng đoán về việc phong Thánh cho bà Teresa, người ta đã bàn cãi nhiều về bằng chứng của những phép lạ, một điều kiện để được phong Thánh. Nhưng tôi nói rằng có một bằng chứng rõ ràng về một phép lạ của bà Teresa. Đó là bà đã xoay sở thuyết phục được hàng triệu người tin rằng bà ta là đồ tốt cho nhân loại. Những hoạt động thuộc thời Trung Cổ của bà được gói ghém lại và bán cho nhân loại như là một lợi ích thế gian, thay vì thực chất của chúng là cản trở, ngăn chận sự tiến bộ của con người.

When people were speculating about sainthood for Teresa, there was much discussion about proof of miracles, a requirement for sainthood. But I say there is definite proof of at least one miracle. And that is that she managed to convince millions of people that she was a good thing for humanity. Her medieval practices were packaged and sold as a boon to humankind, instead of the hindering, progress-impeding things that they were.

Đối với những người theo chủ nghĩa nhân bản, chức vị Thánh thật chẵng có nghĩa gì. Riêng tôi, tôi không tìm thấy bất cứ cái gì trong đời sống hoặc ký ức của bà Teresa để mà tôn kính, xét đến sự đau khổ mà bà ta đã tạo ra cho hàng triệu người.

Sainthood means nothing at all to humanists.. I, personally, can find nothing about Mother Teresa’s life or memory to revere, in light of the suffering she helped to create for untold millions.

“Nhân danh Thiên Chúa” bà Teresa đã thu được hàng triệu đô la rồi vội vàng dấu kín nó đi như một con sóc để dành thức ăn cho mùa Đông. “Nhân danh Thiên Chúa”, bà ta cũng cải đạo nhiều người trước khi họ tắt hơi… Tôi tự hỏi, trong cái tầm nhìn thô thiển của bà ta, có phải là bất cứ bà làm điều gì cho Thiên Chúa là để cho bà được điểm cao (như các em hướng đạo sinh đi bán bánh kẹo, ai bán được nhiều thì được đoàn trưởng gắn huy chương khen thưởng. TCN) trong đời sau. Có lẽ đối với bà ta thế giới này không hề có một ý nghĩa nào, chẳng qua chỉ là cái mê hồn trận thách đố của Thiên Chúa để quyết định xem ai chiếm được mẩu tốt nhất trên thiên đường. Nếu thật là như vậy thì chúng ta có thể giải thích, vì không có gì khác có thể giải thích được, tại sao bà ta có thể nhẫn tâm ngồi trên nhiều triệu đô la như vậy trong khi trẻ con, ngay cả ở nơi bà hoạt động ở Ấn Độ, đang chết đói. Điều này chống lại mọi giải thích hợp lý, và tôi thách đố bất cứ ai, từ Morphew cho đến chính giáo hoàng, có thể giải thích được sự kiện đó.

Teresa collected her millions of dollars “in the name of God” and then promptly hid them away like a squirrel readying for winter. She also converted souls “in the name of God”, many just before they expired… I wonder if, in her simplistic view of things, anything she did for God would earn her big-time brownie points in the afterlife. For her, perhaps, this world had no meaning whatsoever, and was just some challenging religious maze, designed by God to determine who gets the best bits of paradise. If so, it might explain, since nothing else can, how she could be so callous as to sit on those millions of dollars while children, even in her own part of India, were dying of starvation. This defies rational explanation, and I challenge anyone, from Morphew to the pope himself, to explain it.

Hiển nhiên là mục đích của bà ta là vơ vét tích tụ tiền bạc. Để làm gì, ai mà biết được.

Apparently her goal was to hoard the money. To what end, though, is anybody’s guess.

Thật là lạ lùng, không có ai vạch trần những hoạt động đáng nghi ngờ của bà Teresa sớm hơn. Mà chúng ta ai cũng biết chuyện các linh mục hiếp dâm các trẻ em trai, có phải không – vậy tại sao mà những chuyện về bà Tewresa để quá lâu mới bị phanh phui? Câu trả lời thật là đơn giản, Giáo hội Ca Tô Rô Ma có những quyền lực hăm dọa thật đáng sợ. Cho đến khi tác phẩm mở mắt con người của Christopher Hitchen xuất bản năm 1995, cuốn The Missionary Position, tôi không hề biết gì về những hoạt động trong những “nhà thương” của bà Teresa. Cũng như mọi người khác, tôi nghĩ rằng bà ta là một Thánh sống. Tôi đã lầm.

Bất kể động cơ hành động của người đàn bà ở Calcutta kia (Teresa) là như thế nào, tôi đã thấy quá đủ những sự đau khổ trong những người đã phải khủng khiếp trùn lại với tư tưởng của bà Teresa: đau khổ là một điều tốt. Đau khổ không bao giờ là một điều tốt. Nhất là ngày nay, khi chúng ta có khả năng làm giảm đi khá nhiều sự đau đớn, hình ảnh tâm thần của những người bất hạnh bị vào một “nhà thương” của bà Teresa thật là đáng buồn và đáng giận.

It is surprising that no one came forward sooner to talk about Teresa’s questionable practices. But then that’s everyone said about priests raping little boys, isn’t it – what took so long for the stories come out? Of course the answer is simple. The Roman Catholic Church has awesome, itimidating powers. Until the publication of Christopher Hitchen’s eye-opening 1995 book, The Missionary Position, I had no idea what was going on in Teresa’s “clinics”. Like everyone else, I thought she was literally a saint. I was wrong.

Whatever the motives of the woman from Calcutta, I have seen enough human suffering in loved ones to recoil in horror at the thought of terminal, tormented people being told that their suffering is a good thing. Suffering is never a good thing. Especially today, when we have the ability to alleviate so much pain, the mental image of those unfortunates who ended up in a Teresa “clinic” is saddening and angering.

B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), viết như sau, trang 25:

Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo. Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics).

Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức “từ thiện” của Vatican. Báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là “Giây chuột” (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).

Ngoài ra, trong vụ lụt lớn ở miền Trung Việt Nam năm 1999, dân VN di cư cũng như dân chúng trong nước đã quyên góp tiền cứu trợ lên đến nhiều triệu đô-la, trong khi Vatican, với tài sản hàng ngàn tỷ đô-la, nghe đâu chỉ góp cứu dân nạn lụt có 1, 2 trăm ngàn đô-la. và gửi về các cơ sở Ca Tô để cho giới chăn chiên và các bà sơ giúp các con chiên mà thôi.

Trong Thiên Chúa Giáo có rất nhiều người tốt, vì bản tính của họ tốt, chứ không phải vì Thiên Chúa Giáo tốt. Nhiều người vô thần cũng tốt vậy thôi. Ông không nên nghĩ rằng vô thần là CS bởi vì vô thần đã có cả hơn ngàn năm nay. Cho nên, chuyện các linh mục hay bà sơ săn sóc người cùi v..v.. cũng có gì là đặc biệt đâu? Những công việc từ thiện như vậy đâu phải chỉ mình Thiên Chúa Giáo mới có? Trước khi Thiên Chúa Giáo ra đời, trên thế gian này cũng đã có bao nhiêu là cơ sở từ thiện được lập ra, do chính quyền cũng như do cá nhân. Vậy có gì đâu mà phải mang ra mà khoe?

Ông đã nghe thấy tên Trưởng Giả Cấp Cô Độc trong Phật Giáo bao giờ chưa? Trong vụ lụt năm 1999 ở Việt Nam, ông thử so sánh những công tác cứu lụt của Phật Giáo, của chính quyền, và của Thiên Chúa Giáo xem nó như thế nào? Phật giáo có coi việc đó là thánh thiện đâu? Đó chỉ là bổn phận giữa con người và con người, không có tính toán, không có mưu đồ kiếm thêm tín đồ.

Để kết luận tôi chỉ có vài lời nhắn nhủ cùng các bậc trí thức Gia Tô Việt Nam như sau: Diễn đàn hải ngoại không phải là các giáo xứ trong đó các tín đồ Gia Tô Việt Nam chỉ có quyền “bảo sao nghe vậy”. Cho nên, mỗi khi quý vị viết cái gì thì hãy suy nghĩ cho kỹ, đừng quá coi thường độc giả, nhất là những độc giả không phải là tín đồ Gia Tô La Mã Giáo.

Ai cũng biết Giáo hội Ca-Tô Rô-Ma là một tổ chức giàu có nhất thế giới với đầy đủ các phương tiện truyền thông để tạo nên một hình ảnh của Giáo hoàng mà giáo hội muốn cho quần chúng, và nhất là những tín đồ ở các nước kém mở mang, phải tin và tôn thờ. Nhưng ở cái xứ Mỹ này thì không gì có thể qua mắt được những chuyên gia đầy đủ khả năng về mọi vấn đề, những người có tinh thần tôn trọng tuyệt đối sự thực và quyền tự do phát biểu ý kiến. Cho nên, thường thường trước sau gì rồi sự thực cũng phải được phơi bày. Cổ nhân đã dạy: muốn cho người khác không biết thì đừng có làm. Chân lý này không bao giờ thay đổi.

 

http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN66_1.php

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: