RSS

Màn Kịch Bịp Bợm ” Phép Lạ Lộ Đức”

24 Jul

Charlie Nguyễn

Để trình bày chuyện bịp “hang đá Lộ Đức” một cách rành rẽ và để qúi vị độc giả dễ nắm bắt các tình tiết hết sức phức tạp của câu chuyện này, tôi phải bắt đầu kể chuyện hầu qúi vị bằng những khám phá mới nhất của Nhân Chủng Học (Anthropology) mới được công bố và được các tuần báo lớn nhất của Mỹ loan báo trong tháng 6-2003 vừa qua. Sau đó tôi sẽ đối chiếu với khoa thần học hoang tưởng của St. Augustine để tố cáo thủ đoạn lừa bịp của Vatican qua các tín điều do họ công bố nhằm mục đích đầu độc và nô lệ hóa con người. Cuối cùng là vạch trần âm mưu của Vatican cấu kết với chính quyền hoàng gia Pháp giữa thế kỷ 19 trong việc dàn dựng màn kịch bịp bợm “hang đá Lộ Đức” như thế nào. Từ đó chúng ta sẽ thấy rõ tinh thần nô lệ đáng xấu hổ của giáo hội Công giáo Việt Nam là giáo hội luôn luôn chỉ biết cúi đầu vâng phục Vatican một cách mù quáng hèn hạ nên đã đạt kỷ lục xây cất nhiều “hang đá Lộ Đức” vượt trội tất cả các giáo hôi công giáo khác trên khắp thế giới !

Đây là một hiện tượng bất bình thường trong sinh hoạt chung của cộng đồng Công Giáo hoàn vũ. Hiện tượng bất thường này đã vô tình hé mở cánh cửa bí mật của lịch sử để chúng ta thấy được một phần nào của sự thật đã bị che khuất về vai trò gián điệp của nhân vật Nguyễn Trường Tộ. Có một điều mà toàn dân Việt Nam nên nhớ: Cả hai soạn giả kiêm đạo diễn của vở kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” là Giáo Hoàng Pio IX và hoàng đế Pháp Napoléon III đã luôn luôn sát cánh với nhau trong chủ trương xâm chiếm Đông Dương để mở rộng thuộc địa và nước Chúa. Cả hai nhân vật chóp bu về thần quyền và thế quyền này đều có quan hệ mật thiết với các giáo sĩ Pháp nổi tiếng ở Việt Nam thời đó là giám mục Pellerin, giám mục Puginier, linh mục Huc, giám mục Gauthier và “gián điệp”Nguyễn Trường Tộ. Giám mục Gauthier là thầy dậy của Nguyễn Trường Tộ trong 10 năm. Nguyễn Trường Tộ luôn luôn tỏ ra trung thành với các giám mục Pháp, hết lòng tuân phục Giáo Hoàng và tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican.

Tóm lại màn bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” chẳng những là một biến cố thần học trong nội bộ giáo hội Công Giáo. Đồng thời về mặt chính trị, “Phép lạ Lộ Đức” cũng có những hệ lụy oan trái in hằn lên vận mệnh đau thương của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn đầu của lịch sử mất nước hồi hậu bán thế kỷ 19. Đây là một vấn đề nhức nhối dễ gây tranh cãi và dù sao cũng còn là một nghi vấn lịch sử cần được các sử gia làm sáng tỏ thêm. Do đó, tôi xin dành vấn đề này lại để trình bày trong một bài viết riêng. Sau đây, tôi chỉ xin đề cập đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến “Phép lạ Lộ Đức” mà thôi.

I.- Nhân chủng học đối diện với lịch sử qua bằng chứng cụ thể về “Bà Evà thật”.
Tuần báo Newsweek, số ra ngày 23-6-2003 (trang 14) có đăng bài “Nhân chủng học đối diện với lịch sử” (Anthropology in the face of History). Kèm theo bài báo là hình ảnh chiếc sọ hóa thạch của một phụ nữ, bên dưới có ghi chú: “Tất cả sự thật về Bà Evà: Tấm ảnh chụp sọ người cổ xưa nhất đã được tìm thấy tại Phi Châu” (All about Eve: Portrait of the oldest human from Africa).

Tác giả bài báo Mary Carmichael viết: “Đối với họa sĩ Michael Angelo thì bà Evà là một phụ nữ da nâu, mắt đen dễ thương. Đối với họa sĩ Pháp Rodin thì bà Evà là một phụ nữ đầy cám dỗ nhục dục. Đối với các nhà khoa học, khuôn mặt thật của bà tổ nhân loại thật khó nắm bắt (the human matriarch’s face has always been elusive). Tuy nhiên vào năm 1987, các nhà di truyền học (geneticists) đã kết luận rằng: Bà Evà Phi Châu (có hình sọ kèm theo bài báo) đã sống trên mặt đất 160,000 năm trước đây là “bà tổ cuối cùng” của toàn thể loài người (The African Eve who lived 160,000 years ago, was the last ancestor of all humans). Đó là sọ hóa thạch của con người khôn ngoan (Homo Spiens) cổ nhất nhân loại đã được tìm thấy. Gọi là “tổ tiên cuối cùng” vì con người khôn ngoan (Homo Sapiens) là loại người xuất hiện trong giai đoạn chót của quá trình tiến hoá của nhân loại.

Các cuộc khảo cứu tổng hợp của các nhà khoa học khảo cổ, nhân chủng học, di truyền học và cổ sinh vật học đã đi đến hai kết luận :

1.- Nguồn gốc con người xuất phát từ Phi Châu, từ đó con người di chuyển đến các lục địa khác trên thế giới.

2.- Điều đặc biệt đáng chú ý là từ xưa đến nay người ta chỉ tìm thấy các sọ người hóa thạch một cách riêng rẽ và chưa bao giờ tìm thấy sọ cùng với xương thân mình và xương chân ở một chỗ. Đây là bằng chứng cụ thể về thói tục ăn thịt người (cannibalism) trong sinh hoạt thường ngày của loài người Homo Sapiens. Trước khi bị ăn thịt, đầu của nạn nhân luôn luôn được chặt ra để vứt bỏ, thân mình và tay chân của nạn nhân được nướng chín trên đống lửa hoặc được nấu chín. Do đó, chỉ có xương sọ là còn tồn tại đến ngày nay, còn các xương mình và tay chân đều đã bị hủy hoại và bị vứt bỏ riêng rẽ cách xa xương đầu.

Tuần báo Time, số ra ngày 23 tháng 6-2003, hai tác giả Lemonick và Dorfman cho chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về “bà Evà thật của nhân loại” (trang 56-58) như sau: “Người khôn ngoan đầu tiên của nhân loại có hình hài như chúng ta, đi đứng như chúng ta và trong một số phương cách nào đó, họ cư xử như chúng ta” (The first Homo Sapiens look like us, walked like us and in some ways acted like us as well).

Sở dĩ sọ người phụ nữ có hình in trên báo Newsweek được coi là “Bà Evà của khoa học” vì đó là sọ người khôn ngoan (homo spiens) cổ nhất. “Người khôn ngoan” là loại người xuất hiện trong giai đoạn chót của quá trình tiến hóa của nhân loại. Nếu con người bị coi là bắt đầu biết phạm tội thì chỉ có thể phạm tội khi bắt đầu có trí khôn mà thôi. Người đàn bà đầu tiên của “loài người đứng thẳng” (Homo Erectus) cách chúng ta 2 triệu năm không được coi là “bà tổ Evà” của nhân loại vì “bà tổ” (matriarch) này giồng vượn nhiều hơn giống chúng ta !

Sọ người đàn bà Homo Sapiens cổ nhất đã được tìm thấy tại miền Herto thuộc nước Ethiopia do một sự tình cờ vào năm 1987. Vào dịp đó, một cơn bão làm nước biển dâng lên tràn ngập miền Herto làm trơ ra rất nhiều xương hóa thạch đã từng bị chôn vùi nhiều ngàn năm dưới những lớp đất sâu.

Sọ của “bà Evà thật” được phát hiện cùng một lúc với nhiều bộ xương hóa thạch của hà mã, cá sấu, sư tử, ngựa vằn và chó rừng. Tất cả các hóa thạch này đều có chung một niên đại là 160,000 năm. Điều đó cho thấy các tổ tiên xa xưa của chúng ta đã phải chiến đấu rất gay go để tồn tại giữa một môi trường đầy thú dữ và với đồng loại thích ăn thịt đồng loại.

Cuộc khảo sát “sọ bà Evà Homo Sapien” là một công trình khoa học quốc tế, được đặt dưới sự điều khiển của giáo sư Tim White thuộc đại học Berkeley tiểu bang California. Đầu tháng 6-2003, ủy ban khoa học này công bố kết quả nghiên cứu trước báo chí: “Sọ người khôn ngoan đầu tiên được xác định niên đại 160,000 năm” (The very first true Homo Sapien dated 160,000 years ago). Trong khi đó “Bà Evà của Thánh Kinh Cựu Ước Do Thái” tính tới nay mới có 6 ngàn năm mà thôi. Điều này cho thấy bà Evà của huyền thoại tôn giáo “trẻ” hơn bà Evà của khoa học tới 154,000 năm.

Trong quá trình tiến hóa hai triệu năm từ “loài người đứng thẳng” (homo erectus) đến loài người khôn ngoan (homo sapiens) có những giống người khác xuất hiện. Đáng kể nhất là giống người Neanderthals. Giống người này xuất hiện tại Phi Châu 500,000 năm trước đây, sau đó họ di chuyển qua Âu Châu và bị hoàn toàn diệt chủng vào 30,000 trước. Giống người này được coi là một nhân chủng ngoại tộc (a side branch) không thuộc dòng tiến hóa của loài người hiện đại của chúng ta.

Những kết qủa nghiên cứu về sọ hóa thạch của “bà Evà Phi Châu” mới được Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế công bố trong tháng 6, 2003 là những kiến thức khoa học giá trị dung để cập nhật hóa sự hiểu biết của chúng ta về nhân chủng học. Qua đó, chúng ta nhận thức được một điếu rất rõ rệt là: Trí óc của con người đã tiến triển hết sức chậm chạp. Từ trí óc của loại “vượn người đứng thẳng” (Homo Erectus) đến trí óc của loại người Homo Sapiens đòi hỏi một thời gian tiến triển tới 2 triệu năm! Trí óc của “bà Evà Phi Châu” cách đây 160,000 năm thực sự cũng chỉ ở trình độ trí óc một em bé sơ sinh ngày nay mà thôi. Từ trí óc “sơ sinh” đó đến trí óc “trưởng thành” của nhân loại ngày nay đòi hỏi một thời gian 160,000 năm !

Đó là sự thật không thể chối cãi về qúa trình tiến hóa của tâm linh và trí tuệ loài người. Sự thật khoa học đó xác định rằng: Không thể bỗng dưng có ngay một bà Evà hoàn chỉnh được Thiên Chúa tạo nên từ một khúc xương sườn cụt của Adam!. Cách đây 6000 năm, ngay từ lúc vừa mới được tạo thành, bà Evà đã có đủ trí khôn phân biệt thiện ác, và có đủ “ý chí tự do” để quyết tâm chống lại Thiên Chúa bằng cách xúi chồng ăn trái cấm để phạm cái tội tày trời là TỘI TỔ TÔNG!

Thần thuyết “Tội Tổ Tông” là nền tảng của Ki Tô Giáo (gồm cả Công Giáo – Tin Lành) đã hoàn toàn bị sụp đổ trước các bằng cớ xác thực của khoa học và lương tri con người. Các thần thuyết khác như Sự Cứu Chuộc của Jesus, Phép Rửa Tội, các tín điều về Đức Mẹ, v.v… đếu là những chuyện ngụy tạo vì tất cả đều đã được suy luận ra từ thần thuyết Tội Tổ Tông.

II.- St. Augustine và học thuyết Tội Tổ Tông.

St. Augustine sinh năm 354 tại Algeria, cha là người ngoại đạo, mẹ là tín đồ Kitô Giáo. Khi Augustine lên 16 tuổi được mẹ dẫn qua Ý và đến thăm thành phố Milan. Tại đây, Augustine có dịp nghe giám mục Ambrose thuyết giảng về Thiên Chúa Ba Ngôi, tội Tổ Tông và nhiều điều về bà Maria. Khi trở lại Algeria, Augustine say mê nghiên cứu Kitô giáo và viết sách liền trong 34 năm, tạo dựng nên cả một tòa lâu đài đồ sộ về thần học Kitô giáo. Do công trình vĩ đại về thần học, Augustine được cử làm giám mục địa phận Hippo ở Algeria. Y chết năm 430, thọ 76 tuổi. Augustine được các triết gia Tây Phương coi như người thứ hai sáng lập đạo Kitô sau PhaoLồ và là bậc thầy tư tưởng Tây Phương thời Trung Cổ.

Chỉ tiếc một điều là Augustine đã xây dựng cả một nền thần học Kitô giáo đồ sộ trên đống cát, đó là huyền thoại Vườn Địa Đàng của Babylon (The Garden of Eden). Huyền thoại Vườn Địa Đàng nguyên là sản phẩm tưởng tượng của dân Babylon từ 5000 năm trước Công Nguyên. Trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 6 TCN, những người viết Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái đã vay mượn chuyện Vườn Địa Đàng để phịa ra chuyện ông Adam và bà Evà tổ tông của loài người ăn trái cấm nên đã phạm tội tổ tông di hại cho cả loài người tới ngày nay !

Căn cứ vào huyền thoại Vườn Địa Đàng, Augustine đã xây dựng các học thuyết thần học hão huyền cho Kitô giáo. Quan trọng hơn hết là học thuyết về Tội Tổ Tông, vì đây là học thuyết căn bản và tử đó đẻ ra các học thuyết khác của Kitô Giáo :

Học thuyết Tội Tổ Tông : Augustine giải thích nguồn gốc mọi đau khổ của nhân loại đều bắt nguồn từ tội lỗi “ăn trái cấm” của tổ tiên loài người là Adam và Evà. Tội này được gọi là “Tội Tổ Tông” hay “Nguyên Tội” vì đây là tội đầu tiên của loài người chống lại Thiên Chúa (The Original Sin). Tội Tổ Tông được di truyền cho con cháu muôn đời do sự giao cấu tội lỗi của cha mẹ. Dù là sự giao cấu hợp pháp giữa vợ chồng cũng là điều tội lỗi vì hành động giao cấu đã bị ô nhiễm do sự thúc đẩy của sự ham muốn nhục dục (The inherited guilt was passed on to all his descendants through the sexual act which was polluted by what is called concupiscene).

Dựa vào lý luận này, Augustine viết thêm cuốn “On Female Dress” để nguyền rủa phụ nữ. Augustine gọi mỗi người phụ nữ trên thế gian là một Evà, kẻ đồng lõa với ma qủi và luôn luôn xúi giục đàn ông chống lại Thiên Chúa. Chính vì tội lỗi xấu xa bắt nguồn từ phụ nữ mà chúa Jesus là con một (the only son) của Thiên Chúa đã phải chết. Đàn ông là hình ảnh của Thiên Chúa (vì Thiên Chúa là Đàn ông Toàn Năng – The Male Almighty), còn đàn bà là cửa hỏa ngục (the devil’s gate). Chính Augustine là người đã đem lại cho những người Công giáo niềm tin rằng chỉ có Đức Mẹ Maria là người duy nhất trên thế gian không mắc tội Tổ Tông. Vì thế Đức Mẹ được tôn xưng là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội! Chỉ có một phụ nữ duy nhất trên thế gian không bị Augustine nhục mạ, đó chính là đức mẹ Maria. Đức Mẹ trở thành một biệt lệ vĩ đại !

Mọi người Việt Nam bình thường chúng ta khi nghe nói đền chuyện Adam Evà trong Vườn Địa Đàng đều hiểu rằng đó chỉ là một chuyện thần thoại để kể cho con nít nghe chơi mà thôi. Còn chúng ta có nghe ai thuyết giảng về “Tội Tổ Tông” chắc chắn đa số chúng ta chỉ mỉm cười nghe qua rồi bỏ. Nhưng chúng ta không thể tưởng tượng nổi là cái chuyện hoang đường Adam Evà ăn trái cấm đã khống chế tâm linh Âu Châu suốt 16 thế kỷ qua do những học thuyết thần học hoang tưởng của Augustine!

Học thuyết “Tội Tổ Tông” của Augustine đã trở thành hòn đá tảng vĩ đại của nền văn hóa Kitô giáo Tây Phương và là nền tảng giáo lý cho tất cả các đạo Kitô gồm có Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống Giáo. Các đạo Kitô bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng thực sự chỉ khác nhau về tổ chức và về một số nghi lễ mà thôi. Nội dung chính yếu về giáo lý của Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống Giáo đều đồng nhất như sau :

“Tất cả mọi người đều sinh ra trong tội lỗi (born in sin) và bị Thiên Chúa ruồng bỏ vì Tội Tổ Tông. Chỉ vì Tội Tổ Tông mà con người phải đau khổ và phải chết. Không một ai có thể tự cứu mình khỏi tội Tổ Tông, chỉ có một con đường cứu rỗi duy nhất là tin thờ Chúa Jesus là Chúa Cứu Thế mà thôi”.

Chính vì tin vào thuyết Tội Tổ Tông như trên nên các đạo Kitô đều coi trọng Phép Rửa Tội (Baptism). Nhiều người nghĩ rằng Phép Rửa Tội là một hình thức cải đạo cho những người tân tòng nhập đạo Kitô hoặc là một “phép bí tích” để cho một đứa bé sơ sinh nhập đạo Chúa một cách long trọng chính thức. Thực sự không phải vậy. Chính vì các người Kitô giáo tin rằng mọi người sinh ra đều nhiễm tội Tổ Tông, cho nên các đứa trẻ mới được sinh ra cũng cần phải được rửa tội để nó được lãnh nhận ơn cứu chuộc của chúa Jesus! Mặc dầu đứa bé sơ sinh hoàn toàn vô tội về phần nó, nhưng nó đã bị nhiễm tội Tổ Tông do Adam và Evà truyền lại qua sự giao cấu tội lỗi của cha mẹ nó. Đó là lý do chính yếu dẫn đến sự rửa tội cho mọi đứa bé mới sinh theo học thuyết của Augustine (The inherited guilt was passed on to all his descendants through the sexual act of their parents).

Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ kỹ sẽ nhận ra một điều mâu thuẫn là khi hai người nam và nữ làm đám cưới tại nhà thờ là đã “thánh hóa” bởi phép “bí tích hôn phối”. Vậy chẳng lẽ “phép bí tích hôn phối” của Chúa lập ra không có khả năng “thánh hóa” việc chăn gối của vợ chồng bắt buộc phải có để sinh con hay sao? Vậy vợ chồng làm phép hôn phối theo đúng luật đạo để làm gì khi hành động giao cấu giữa vợ chồng rất tự nhiên và hợp pháp ấy vẫn cứ truyền tội Tổ Tông cho đến muôn đời?

Thật sự ngày nay chẳng còn mấy tín đồ Kitô giáo tin vào tội Tổ Tông, nhưng người ta vẫn cứ mang các đứa bé sơ sinh đến nhà thờ rửa tội theo truyền thống lâu đời của gia tộc. Giáo hội cũng biết chẳng làm gì có tội tổ tông, nhưng vẫn cứ để nguyên cho các linh mục có công việc làm để kiếm ăn và giáo hội vẫn tiếp tục tồn tại trong bình an vô sự. Chẳng những thế, hầu hết những người ngoại đạo muốn lấy vợ hay chồng theo Kitô giáo đều phải cam kết cho phép các con sẽ sinh ra sau này được chịu phép rửa tội. Đây chỉ là một mánh lới lưu manh của các giới lãnh đạo Kitô giáo dùng để dành dựt tín đồ qua đường hôn nhân mà thôi. Việc rửa tội cho các đứa bé sơ sinh là một hình thức vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của đứa bé một cách thô bạo và trắng trợn. Muốn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng thật sự, người lớn phải đợi đến khi đứa bé lớn khôn để tự nó chọn lựa tín ngưỡng cho riêng mình.

Cái gọi là “Phép Bí Tích Rửa Tội” (Baptism) hoàn toàn dựa trên thuyết thần học hoang tưởng của Augustine về Tội Tổ Tông. Những khám phá của khoa học hiện đại đã hoàn toàn phủ bác sự hiện hữu của “bà Evà xúi chồng ăn trái cấm” như được kể trong Kinh Thánh Cựu Ước. Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Tội Tổ Tông là chuyện hoàn toàn hoang đường và ấu trĩ. Cả loài người chúng ta sinh ra hoàn toàn vô tội, do đó chúng ta chẳng cần phải “chịu phép rửa tội” để tẩy xóa bất cứ một thứ dấu vết tội lỗi nào mà chúng ta không hề có.

Nhân tiện, tôi có vài điều muốn nói với ông Đỗ Mạnh Trí, tác giả cuốn “Ngón Tay và Mặt Trăng”. Nơi trang 55 và 62, ông Trí viết: “Nhiều bạn nhắc tới ý niệm tội và tội tổ tông trong Kitô giáo một cách miả mai, thậm chí phẫn nộ”. Trần Văn Kha trích Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ: “Adam Evà không phải thủy tổ loài người vì con người đại khái đã xuất hiện cách đây khoảng nhiều triệu năm. – Nếu Adam Evà không phải thủy tổ loài người thì làm gì có tội tổ tông? – Nếu không có tội tổ tông thì làm gì có chuyện Chúa phải giáng trần để cứu chuộc? Vậy Kinh Thánh hoàn toàn huyền hoặc, phi lý và “đạo Thiên Chúa hoàn toàn đã được xây dựng trên những ảo tưởng” như lời của Nguyễn Văn Thọ trên kia?”

Nơi trang 63-64, ông Đỗ Mạnh Trí xác nhận: “Truyện Adam Evà ăn trái cấm rồi bị Giavê phạt, chẳng phải là nhà kinh-thánh-học ta cũng có thể tưởng đó là một huyền thoại”. Sau khi đã thú nhận chuyện Adam-Evà ăn trái cấm chỉ là một huyền thoại (myth), ông Trí đã tìm cách lý luận vu vơ và hoàn toàn lạc đề để cuối cùng tránh né không dám trả lời thẳng hai câu hỏi của ông Nguyễn Văn Thọ đã nêu.

Vậy ông nêu lên vấn đề tội tổ tông trong sách “Ngón Tay và Mặt Trăng” (từ trang 55 dến trang 68) để làm gì? Một khi ông đã dám nhìn nhận chuyện Adam Evà ăn trái cấm là một huyền thoại (myth )tức là một chuyện phịa (a fictious story) thì với lương tâm tối thiểu của một người trí thức lương thiện ông cần phải đi tiếp vài bước: – Nếu chuyện Adam Evà ăn trái cấm là chuyện phịa thì “tội tổ tông”là chuyện hoang đường không có thật. – Vì không có tội tổ tông, nên cũng chẳng cần Chúa phải mất công giáng trần để cứu chuộc, vì con người chẳng cần phải cứu chuộc để làm sạch cái tội mà họ không hề có. – Vì không có tội tổ tông nên không riêng một mình bà Maria là “Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội” mà tất cả mọi người chúng ta đều là “các dấng vô nhiễm nguyên tội” cả !

Ông Đỗ Mạnh Trí có dám nhìn nhận những sự thật hiển nhiên đó không? Ông hãy can đảm lên tiếng trả lời để xứng đáng là một người biết trọng danh dự và lẽ phải.

III. Từ học thuyết hoang đường về Tội Tổ Tông dẫn đến tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” do Giáo Hoàng Pio IX công bố năm 1854.

Augustine nguyên là một thanh niên phóng đãng trụy lạc nhiều năm trước khi y trở thành giám mục của địa phận Hippo (Algeria). Do đó, về phương diện sinh lý, Augustine là một người bất bình thường. Y có rất nhiều quan niệm lệch lạc về sinh lý, và những bệnh hoạn sinh lý của y đã có ảnh hưởng lớn đến khoa thần học của Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành, Anh giáo, Chính Thống giáo).

Căn cứ trên nền tảng giáo lý xuất phát từ huyền thoại về Tội Tổ Tông, Augustine nêu lên học thuyết “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” (The Virgin of the Immaculate Conception) qua lăng kính méo mó về sinh lý của y như sau :

Đức Mẹ không sinh ra Chúa Jesus do sự giao cấu với chồng là ông Joseph nên Đức Mẹ vẫn còn đồng trinh. Chúa Jesus sinh ra do phép của Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ Đồng Trinh nên Chúa hoàn toàn không bị nhiễm tội tổ tông (sinless/immaculate conception).

Những lý luận lẩm cẩm về thần học của Augustine đã thống trị linh hồn Kitô Giáo Âu Châu liên tục trên một ngàn năm ! Mãi đến giữa thế kỷ 16 mới có một số trí thức Âu Châu dám viết sách báo lên tiếng đả kích những thuyết thần học của Augustine về một số điểm quan trọng sau đây :

– Trước hết, họ chê Augustine đã thổi phồng quá đáng việc bà Evà xúi chồng ăn trái táo ở vườn địa đàng. Chuyện đó chẳng qua chỉ là chuyện quá nhỏ, không thể khiến cho con một của Thiên Chúa phải xuống thế làm người và chịu chết để cứu chuộc. Nếu chuyện đó là thật thì người đáng trách không phải là bà Evà mà là Chúa Cha lẫn Chúa Con đều ngu quá vì đã không tìm ra được phương cách nào đơn giản hơn để giải quyết cái vụ ăn trái táo của Adam – Evà !

– Khi có cơ hội thư thả tinh thần, đọc lại chuyện Adam-Evà, người ta mới khám phá ra rằng: ông bà tổ tiên loài người không có con gái. Adam-Evà chỉ có hai người con trai là Cain và Abel. Abel bị Cain giết chết nên trên thế gian lúc đó chỉ có hai người đàn ông là Adam và Cain. Từ đầu đến cuối chuyện chỉ có một mình Evà là phụ nữ duy nhất trên thế gian mà thôi. Vậy ai là vợ của Cain? Chẳng lẽ Cain lấy mẹ mình là bà Evà để sinh ra loài người hay sao? Chuyện Adam-Evà là tổ tiên loài người đã đi vào ngõ cụt !

– Cũng theo thần học của Augustine thì sau khi Adam – Evà phạm tội, loài người bị Thiên Chúa tước đoạt nhiều ân sủng nên mọi người đều phải chết, đàn ông phải làm việc cực nhọc mới có miếng ăn, đàn bà phải mang nặng đẻ đau mới có con. Nhưng sau khi Jesus phải chết trên thập giá để “chuộc tội tổ tông” thì mọi hậu quả của tội tổ tông trên số phận loài người cũng vẫn còn y nguyên: con người vẫn phải chết, đàn ông vẫn phải vất vả mới có ăn, đàn bà vẫn mang nặng đẻ đau như lúc Jesus chưa cứu chuộc. Vậy cái gọi là công ơn cứu chuộc của Chúa chỉ là chuyện xảo trá bịp bợm và hoàn toàn vô ích (salvation for nothing).

Phe cấp tiến Âu Châu dùng lý luận của Augustine phá học thuyết “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” để đạt mục tiêu cuối cùng của họ là “hạ bệ Jesus”. Họ lý luận rằng: Nếu Jesus sinh ra thuộc dòng David thì Jesus phải là con của Joseph và bà Maria, vậy bà Maria không thể đồng trinh và Jesus cũng có 100% tội tổ tông vì cả Joseph và Maria là cha mẹ ruột của Jesus đã được sinh ra do sự giao cấu của cha mẹ họ.

Nếu Jesus là con của Chúa Thánh Thần thì Jesus chỉ được miễn nhiễm 50% tội tổ tông mà thôi vì bà Maria đã nhiễm tội tổ tông do sự giao cấu tội lỗi của cha mẹ là ông Joachim và bà Anna. Vậy Jesus đã bị nhiễm 50% tội tổ tông do bà Maria truyền qua nên Jesus không thể được coi là đấng chí thánh, và do đó, Jesus không thể là Thiên Chúa !

Cuộc bút chiến giữa các phe thần học Âu Châu chung quanh vấn đề “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” kéo dài tới 30 năm trong thế kỷ 16. Tòa Thánh La Mã không thể dùng lý luận để dập tắt cuộc bút chiến này nên đã phải vận dụng đến biện pháp mạnh của các tòa án dị giáo để đưa nhiều ngàn người lên dàn hỏa. Nhờ đó, cơn sóng gió về thần học đã lắng xuống và tòa lâu đài thần học đồ sộ của Augustine vẫn còn đứng vững thêm vài thế kỷ !

Đúng 300 năm sau, tức vào giữa thế kỷ 19, quyền uy của tòa thánh La Mã đã bị sút giảm nhiều trước cao trào dân chủ lớn mạnh ở Âu Châu. Các tòa án dị giáo bị dẹp bỏ. Cuộc bút chiến vể những học thuyết thần học lại có cơ hội bùng lên. Những vấn đề được nêu lên chung quanh học thuyết “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” có nguy cơ phá sập thanh thế của chúa Jesus và uy tín của giáo hội Công Giáo La Mã. Vatican lúc đó đã bị dồn vào thế đường cùng nên buộc lòng Giáo Hoàng Pio IX phải công bố tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” ngày 8-12-1854.

Bằng cách xử dụng quyền uy tối thượng của người đại diện Chúa Kitô (Vicar of Christ), giáo hoàng buộc toàn thể giáo hội Công Giáo tin rằng: Đức Mẹ là một ngoại lệ đặc biệt do quyền phép của Thiên Chúa ban cho là “không hề mắc tội tổ tông”. Do đó, Đức Mẹ đã sinh ra Chúa Jesus hoàn toàn vô tội (sinless) nên Chúa là đấng chí thánh và cực thanh cực sạch vô cùng !

IV – “Phép lạ Lộ Đức” là màn kịch bịp bợm của Vatican và chính quyền hoàng gia Pháp năm 1858:

Tác phẩm “The Great Apparitions of Mary” của Ingo Swann (The Crossroad Publishing Co., NY 1996) kể chuyện Phép Lạ Lộ-Đức ở Pháp năm 1958 (trang 69-84) như sau :

Lourdes (Lộ Đức) là một thị trấn nhỏ trên sườn núi phía bắc của dẫy Pyrénées. Vào giữa thế kỷ 19 thì thị trấn này chỉ có khoảng 300 dân, hầu hết đều nghèo khổ vì thị trấn này không có một nguồn lợi kinh tế nào cả. Các thị trấn lân cận đều khá vì có nhiều suối nước nóng thu hút du khách và kiếm lời do việc khai thác kỹ nghệ nước suối có muối kháng (mineral waters). Tại Lộ Đức có một vách đá dốc đứng cao như ngọn tháp (a towering rock cliff) có tên là Massabielle, trong vách đá có một cái hang lớn (a grotto). Chính nơi đây đã được Vatican tuyển chọn để diễn màn kịch bịp bợm.

Nhân vật chính của màn kịch này là cô bé Bernadette. Cô sinh năm 1844, là con gái đầu của 8 anh chị em. Cha mẹ là ông Fracois và bà Louise Soubirous. Khi cô bé Bernadette lên 8 tuổi thì cha bị tai nạn mù mắt trái và bị thất nghiệp. Cả gia đình lâm vào cảnh sống cùng quẫn. Khi cô bé lên 11 tuổi thì cô bị bệnh thổ tả và bệnh suyễn trầm trọng. Cha cô bị bắt về tội trộm. Em trai cô tên Jean Marie đói quá nên chạy đến nhà thờ ăn cắp cây đèn cầy bằng sáp để ăn, chẳng may bị cha xứ bắt gặp và bị cha hăm bỏ tù. Vào đầu tháng 2 năm 1858, lúc gia đình cô sắp chết đói thì mẹ cô được một bà nhà giàu mướn làm đầy tớ (a servant). Do sự xếp đặt của bà chủ nhà giầu này, với sự đồng ý của cha mẹ, cô bé được chỉ dẫn đến hang đá Massabielle. Lúc này cô bé lên 14 tuổi, nhưng mù chữ vì chưa được đi học ngày nào.

Ngày 11 tháng 2 năm 1858, cô Bernadette cùng với một đứa em gái và một đứa bạn tên Jeanne Abadie đến hang đá Massabielle. Một mình cô đến qùi trước cửa hang một lúc rồi cô nói cho em gái và đứa bạn biết là cô đã nhìn thấy “một cô gái đẹp trong ánh sáng mờ” (a beautiful girl appeared in the soft glow).

Sau khi trở về nhà, em của Bernadette kể chuyện cho mẹ, còn cô bạn Jeanne Abadie đi khắp thị trấn loan tin Bernadette đã nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra tại hang Massabielle. Chỉ hai tuần sau, cả thị trấn Lourdes qui tụ một đám đông tín đồ Công Giáo lên tới 8,000 người và họ rủ Bernadette cùng đi với họ đến hang đá Massabielle. Khi tới nơi, chỉ có một mình Bernadette nói là có nhìn thấy “một cô gái đẹp” còn tất cả mọi người khác đều không thấy gì cả ! Mặc dầu vậy, tin đồn về chuyện Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức đã lan nhanh khắp nơi như một đám cháy rừng.

Ngày 25 tháng 3 năm 1858, vào lúc 5 giờ sáng, cha mẹ Bernadette đánh thức con gái dậy để cùng đi với một đám đông tín đồ đến hang đá Massabielle. Sau khi qùi một mình trước hang đá một lúc, cô bé Bernadette dõng dạc tuyên bố với mọi người : Cô bé đã hỏi “cô gái đẹp” là ai, thì cô gái đẹp đó trả lời: “Ta là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” (I am the Immaculate Conception). Kể từ đó, hàng ngày có nhiều tín đồ Công Giáo đến hang đá Massbielle để lần chuỗi Mân Côi. Sau đó, có khoảng 50 người tự nhận là có nhìn thấy “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” ở trong hang, nhưng không một ai đưa ra bằng chứng nào cả !

Vì lý do những sinh hoạt bất thường của đám đông giáo dân ở Lourdes có thể gây nhiều chuyện bất an ninh, nên cảnh sát địa phương đã làm hàng rào cản không cho giáo dân kéo đến Massabielle mỗi ngày mỗi đông. Sự việc này được báo cáo lên hoàng đế Napoléon III. Nhà vua đã đích thân ra lệnh cho cảnh sát ở Lourdes phải rỡ bỏ tất cả các rào cản đó để cho các tín đồ được tự do đến viếng hang đá Massabielle.

Năm 1862, giám mục Laurance cai quản địa phận Tabres chính thức công bố thư luân lưu xác nhận “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” là Mẹ Chúa Trời đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous ngày 11 tháng 2 năm 1858 và những lần kế tiếp, tổng cộng 18 lần cả thảy. Tòa Giám Mục cho phép sự tôn thờ “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” tại hang đá Lộ Đức trong địa phận (The Virgin Mary Immaculate, Mother of God, really appeared to Bernadette Soubirous on 11 February 1858 and on subsequent days, eighteen times in all. We authorize the cult of our Lady of the Grotto of Lourdes in our diocese). Từ 1858, mọi phương tiện truyền thông của nước Pháp được vận dụng tối đa để quảng bá khắp nơi về “phép lạ” Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức. Song song với mọi nỗ lực tuyên truyền và quảng cáo, cựu bộ trưởng tài chánh Pháp là Achille Toul vận động với hãng xe lửa Southern Railway Company làm đường xe lửa nối liền thành phố Tarbes với Lourdes. Các công ty xây dựng đổ xô đến Lourdes xây cất rất nhiều khách sạn, nhà hàng và các phương tiện du lịch.

Năm 1906, hang đá Lộ Đức và nhà thờ lớn tại đây thuộc về tài sản quốc gia Pháp. Nhưng từ 1910, quyền sở hữu này lại được chuyển về cho thị trấn Lourdes. Kể từ năm 1990, thị trấn Lourdes tuy nhỏ nhưng có tới 400 khách sạn, hàng trăm restaurants, hàng ngàn gift shops và một phi trường quốc tế. Hàng năm, số khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới kéo về hang đá Lộ Đức đã cung cấp cho số dân ở thị trấn nhỏ bé này một khoản tiền là 400 triệu đôla! (Looking for a Miracle, by Joe Nickell, Prometheus Book 1993 – page 152). Lộ Đức (Lourdes) đã trở thành một “con gà đẻ trứng vàng” của nền kinh tế Pháp.

Những tín đồ cuồng tín luôn luôn tung tin đồn rằng Đức Mẹ Lộ Đức đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh khi họ đến nơi đây cầu khấn với Đức Mẹ. Tuy nhiên, họ đều không biết rằng: nhân vật chính của “phép lạ Lộ Đức” là cô bé Bernadette đã chết lúc 32 tuổi (16-4-1879) vì bệnh suyễn, bệnh sưng phổi và lao xương. Nếu Đức Mẹ có quyền năng làm phép lạ chữa bệnh cho nhiều người, tại sao Đức Mẹ không chữa bệnh cho người có công nhất với Đức Mẹ trong việc tuyên xưng Người là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” ? Một điều mỉa mai ai cũng thấy là ở Lộ Đức người ta treo đầy những chiếc nạng của những người què (giả vờ), nhưng tuyệt nhiên chưa từng có một người cụt tay, cụt chân nào được Đức Mẹ chữa lành cả !

Sau khi giáo hoàng Pio IX công bố tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” năm 1854, Vatican đã cấu kết với hoàng gia Pháp dựng lên màn kịch “Phép lạ Lộ Đức” với tin đồn Đức Mẹ đã đích thân hiện ra và tự xưng mình là “Đức Trinh Nữ vô nhiễm nguyên tội”. Trò bịp này đã củng cố niềm tin của đại đa số tín đồ dân quê chất phác thời đó tại Âu Châu. Tuy nhiên, giới báo chí đã lớn tiếng tố cáo trước dư luận : Trong vụ “Phép lạ Lộ Đức”, Vatican đã giúp Pháp có thêm một trung tâm hành hương với số lợi thu hàng năm không phải là nhỏ. Ngược lại, Pháp giúp cho Vatican có cơ hội củng cố niềm tin của tín đồ Công giáo đối với uy quyền của Tòa Thánh. Đây chẳng qua là chuyện cộng tác thực hiện một âm mưu nhằm phục vụ quyền lợi của cả hai bên mà thôi. Dư luận báo chí đã khiến cho tinh thần của nhiều giáo dân chao đảo và đưa họ đến chỗ nghi ngờ về thẩm quyền của giáo hoàng trong việc công bố các tín điều. Họ lập luận rằng : dù cho ở chức vụ đứng đầu giáo hội, giáo hoàng cũng vẫn chỉ là một con người, nghĩa là vẫn có thể có những sai lầm trong quyết định của mình. Vậy giáo hoàng không thể có quyền độc đoán buộc mọi tín đồ phải tin theo những quyết định riêng của giáo hoàng, dù cho quyết định riêng đó là một tín điều (dogma).

Trước áp lực của báo chí và dư luận bất lợi của giáo dân Âu Châu, giáo hoàng Pio IX đã phải triệu tập Công Đồng Vatican I vào năm 1869. Để cứu vãn sự sinh tồn của Tòa Thánh, phần đông các hồng y và giám mục tham dự Công Đồng I đã bỏ phiếu tán thành một tín điều mới, đó là tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm” (The dogma of Papal Infallibility) buộc mọi tín đồ Công giáo phải tin tưởng vào huấn quyền tuyệt đối của Tòa Thánh và phải tin Giáo Hoàng là người duy nhất trên thế gian có thẩm quyền xác nhận hay phủ nhận chân lý. Người Mỹ chế diễu đức tin Công Giáo theo kiểu này là “Đức tin Shotgun” (Shotgun faith)!.

Sau khi Công Đồng Vatican I bế mạc, Tòa Thánh ra lệnh cho các giáo hội Công Giáo trên khắp thế giới phải xây thêm tại khuôn viên nhà thờ một “hang đá Lộ Đức” để nhắc nhở toàn thể giáo dân về hai tín điều là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” và “Giáo Hoàng không thể sai lầm”. Đó là tất cả ý nghĩa của cái gọi là “hang đá Lộ Đức” ! Như chúng ta đã biết, tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” là một học thuyết của Augustine dựa trên huyền thoại bà Evà xúi chồng ăn trái cấm trong vườn Địa Đàng. Đây là một chuyện hoàn toàn hoang đường về tội Tổ Tông đã bị các ngành khoa học hiện đại bác bỏ. Vậy, tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” đã trở thành vô nghĩa vì nguyên tội (tức tội tổ tong) không hề có, nên chẳng có một ai bị nhiễm cả, không riêng gì một mình bà Maria. Ngày nay, tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm” thực sự chẳng thuyết phục được ai, nó chỉ càng làm cho mọi người thấy rõ hơn cái bản chất ngoan cố bất lương của Vatican mà thôi.

V.- Tinh thần nô lệ đáng xấu hổ của Công Giáo Việt Nam :

Bất cứ ai đã từng sống trên đất Mỹ cũng nhận thấy một sự khác biệt rất rõ rệt giữa Công Giáo Mỹ và Công Giáo Việt Nam là : không một giáo xứ Công Giáo Mỹ nào xây hang đá Lộ Đức trong khuôn viên nhà thờ thuộc giáo xứ họ. Trái lại, tại Việt Nam, các giáo xứ từ Bắc vào Nam đều xây bên cạnh nhà thờ một hang đá gọi là “hang đá Lộ Đức” ! Điều đó đủ cho thấy giáo hội Công giáo Việt Nam đã thi hành triệt để mọi mệnh lệnh của Vatican một cách hết sức mù quáng. Đối với Vatican, hàng giáo phẩm VN luôn luôn có thái độ khúm núm sợ sệt chẳng khác nào những tên nô lệ đối với chủ của chúng vậy. Mặc dầu cũng là những tín đồ Công giáo, nhưng Công giáo Mỹ tỏ ra độc lập và tự trọng đối với Vatican, chứ không đến nỗi lệ thuộc quá đáng như Công giáo VN. Sự khác biệt này đã được trình bày khá rõ rệt trong tác phẩm “How to Save the Catholic Church” của linh mục tiến sĩ Andrew Greenley và nữ tu sĩ tiến sĩ Mary Dukin, Viking Penguin xuất bản tại Canada 1984.

Hai tác giả đều là tu sĩ Công giáo viết : Trình độ trí thức của giáo dân Mỹ da trắng càng cao bao nhiêu thì giáo hội Công giáo Mỹ càng xuống dốc bấy nhiêu. Từ thập niên 1960, một nửa giáo hội Mỹ là di dân vừa nghèo vừa dốt (By 1960’s, half of the American Catholics were poor and uneducated immigrants – page 11). Những cái gì xấu xa do người Mỹ trắng thải ra đều được chuyển qua đám di dân Công giáo da màu. Điển hình là vụ hang đá “Đức Mẹ Sầu Bi” ở Portland thuộc tiểu bang Oregon. Hang đá này đã bị Công giáo Mỹ phế bỏ thành một cái hang “khỉ ho cò gáy” từ nhiều thập niên qua. Vậy mà đám giáo dân Công giáo Việt Nam qua Mỹ sau 1975 đã khôi phục nó thành một trung tâm hành hương sầm uất thu hút hàng chục ngàn người (toàn là Việt!). Đó là việc mà hàng giáo phẩm Mỹ đã không làm nổi. Nhưng đám tu sĩ Công giáo Việt Nam đã làm được, không phải vì tu sĩ Công giáo Việt Nam tài giỏi mà vì số giáo dân Việt Nam mê muội tại hải ngoại còn đông quá !

Hai tác giả tu sĩ Mỹ còn cho biết : Hầu hết các mệnh lệnh của Vatican đều được hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ duyệt xét lại và sửa đổi trước khi phổ biến đến toàn thể giáo dân. Trong thực tế, giáo hội Công giáo Mỹ là một giáo hội tự trị (American Catholic Church became a Do-It-Yourself Catholicism – page 8).

Nay xin điểm qua tình hình Công giáo Á Châu, tờ Asia Week số ra ngày 19-12-1997 tường thuật như sau :

Sri-Lanka (Tích Lan) là một đảo quốc có 15 triệu dân, đại đa số theo đạo Phật, 8% (tức 1.2 triệu) theo đạo Công giáo. Linh mục Tissa Balasuriya (tốt nghiệp thần học và thụ phong linh mục tại Rome trong thập niên 1940) thuộc giáo hội Công giáo Sri-Lanka đã viết sách bằng Anh ngữ tựa đề “Mary and Human Liberation” chống lại Tòa Thánh vào thập niên 1990. Sách này được dịch sang tiếng Pháp để phổ biến tại Âu Châu dưới tựa đề “Marie ou la libération humaine”. Linh mục Tissa đưa ra quan điểm của ông về “Đức Mẹ thật” là một phụ nữ thất học và nghèo khổ tại Do Thái. Đức Mẹ không thể đồng trinh vì có nhiều con và điều này đã được xác nhận trong Tân Ước. Tội tổ tông là một huyền thoại, nên các tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” là vô nghĩa. Tất cả các tín điều về Đức Mẹ đều là những sản phẩm của môn thần học kỳ quặc, không phù hợp với não trạng của người Á Châu. Muốn giải phóng tư tưởng người Công giáo thì cần phải bỏ các tín điều đó và bỏ luôn tín điều “Giáo hoàng không thể sai lầm”.

Cuốn sách “thần học cách mạng” của linh mục Tissa đã bị Hồng Y Ratzinger, bộ trưởng Bộ Giáo Lý của Vatican, hạch tội tỷ mỉ trong một bản phúc trình 55 trang đệ trình giáo hoàng John Paul II ngày 2-1-1997. Giáo hoàng đã đích thân tuyên phạt linh mục Tissa án phạt tuyệt thông và trục xuất ông ra khỏi giáo hội. Lý do được nêu lên là linh mục Tissa đã dám chống lại huấn quyền tuyệt đối của Tòa Thánh.

Trong tháng 10 – 1997, Bộ Giáo Lý Vatican cũng ra lệnh cho hội đồng Giám Mục Hàn Quốc cấm các linh mục thần học Kong Soel, Yangmo và Re Jemin không được viết sách báo chống Tòa Thánh. Hội đồng Giám Mục Nhật Bản lên tiếng chỉ trích Tòa Thánh là “chẳng hiều gì về văn hóa Á Châu” cả!

Các bản tin ngắn nói trên đủ cho ta thấy nhiều giáo hội Công giáo Á Châu không đến nỗi hèn vì họ vẫn có thái độ khảng khái nói lên quan điểm của họ chống đối Vatican.

Là một người Việt Nam, chúng ta phải đau lòng công nhận một sự thật không thể chối cãi là Công Giáo Việt Nam có một tâm cảm nô lệ hết sức mù quáng đối với Tòa Thánh La Mã. Thậm chí có người đã mỉa mai nói rằng: “Dù cho Tòa Thánh đánh rắm, Công Giáo Việt Nam cũng khen thơm”. Thật qủa đúng vậy. Cái tín điều nhảm nhí “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” chỉ là một cái rắm thối của giáo hoàng Pio IX năm 1854 đã được cả giáo hội Công Giáo Việt Nam vừa hít vừa rối rít khen thơm. Trước 1954, cái danh hiệu “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” đã được địa phận Bùi Chu tôn vinh làm Thánh Bổn Mạng của địa phận. Mới đây, vào đầu năm 2003, giáo xứ Đức Mẹ Lộ Đức là một giáo xứ lớn của Việt kiều tại thành phố Houston đã xây một “Hang Đá Lộ Đức” tại khuôn viên nhà thờ của giáo xứ với tổn phí 800,000 đôla !

Ngày nay, người Công giáo Việt Nam có đầu óc chẳng còn mấy ai tin vào chuyện Adam-Evà ăn trái cấm và do đó họ cũng nghi ngờ phần nào về cái tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” và tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm”. Nhưng vì truyền thống lâu đời của gia tộc họ vẫn tiếp tục duy trì thói quen là cầu nguyện trước hang đá Lộ Đức sau khi xem lễ xong tại nhà thờ. Họ thích đứng trước Hang Đá Lộ Đức để cầu nguyện riêng với Đức Mẹ mà họ yêu mến hơn yêu Chúa. Đối với họ, Thiên Chúa cao xa qúa nên rất khó gần gũi thân mật. Chỉ có Đức Mẹ là Mẹ dịu hiền và Mẹ có đầy quyền uy trước mặt Chúa. Đức Mẹ xin Chúa điều gì cũng được, nên họ thích cầu nguyện với Đức Mẹ để xin Mẹ ban cho họ mọi thứ mà họ muốn. Niềm tin đó còn khi người Công giáo VN chưa tỉnh ngộ thì các Hang Đá Lộ Đức vẫn tồn tại.

Nhưng thực tế hiển nhiên đã chứng tỏ rằng: màn kịch “hang đá Lộ Đức” là biểu tượng cho hai tín điều bịp bợm: “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” và “Giáo Hoàng Không Thể Sai Lầm” do Pio IX và Napoléon III âm mưu dựng lên để lừa gạt đồng bào Công giáo Việt Nam đã trên một thế kỷ qua. Nay đã đến lúc đồng bào Công giáo Việt Nam nên bình tĩnh dùng lý trí xét lại những giáo điều mà Vatican đã áp đặt lên giáo hội Công giáo Việt Nam. Các hang đá Lộ Đức thật sự chỉ là một hình thức của nhiều công cụ tâm lý nhằm đầu độc và nô lệ hóa các tín đồ nhẹ dạ dễ tin. Xin đồng bào Công giáo Việt Nam đừng để những trò lừa bịp đó giam hãm qúy vị trong ngục tù tư tưỏng của chính mình và đừng để hành động mù quáng tuân phục Vatican làm tổn hại đến quyền lợi của dân tộc.

Charlie Nguyễn
Tháng 7-2003

Source: http://nonsong.blogspot.com/2006/01/mn-kch-bp-bm-php-l-l-c.html

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: