RSS

NHỮNG TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI LA MÃ VÀ VIỆC CÁO THÚ TỘI ÁC

26 Jul
NHỮNG TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI LA MÃ VÀ VIỆC CÁO THÚ TỘI ÁC
CỦA GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II VÀO NGÀY 12-3-2000

Việt Án Anh Nguyễn Mạnh Quang

NHẬP

Năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II chính thức nhìn nhận Giáo Hội đã thực sự sai lầm trong Vụ Án Galileo. Cuối năm 1994, Ngài lại kêu gọi giáo dân phải dọn mình thống hối trước khi bước sang thiên kỷ thứ 3. Rồi từ đó, đi đến đâu, nếu có dịp thuận tiện là Ngài nhìn nhận với nhân dân thế giới là Giáo Hội đã có những hành động tội ác với các dân tộc mà quyền lực của Giáo Hội vươn tới. Cho đến đầu tháng 3-2000, Ngài đã xin lỗi nhân dân thế giới có tới cả trăm lần. Sau đó, Giáo Hội còn chuẩn bị cho Ngài chính thức cáo thu tội ác của Giáo Hội vào ngày 12-3-2000. Nhân dân thế giới vô cùng phấn khởi và chờ đợi. Rồi ngày 12-3-2000 đã đến, hàng tỷ con mắt hồi hộp hướng vào TV theo dõi. Nhưng than ôi! tất cả những lời cáo thú tội ác của Ngài chỉ là những lời nói bâng quơ trống rỗng với những lời cầu xin và nhận lỗi với Chúa và lấp liếm cho xong việc, không có một lời nào nói thẳng với các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội. Sau khi theo dõi buổi lễ long trong cáo thú tội ác này, phản ứng của nhân dân thế giới chia làm hai phe trái ngược nhau như nước với lửa. Một bên là tuyệt đại đa số nhân dân thế giới đã học và đọc lịch sử thế giới và biết rõ những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua, thì cho rằng “Thà không tổ chức ngày lễ chính thức cáo thú tội ác với nhân dân thế giới còn hơn là cáo thú tội ác chuội như vậy.” Một bên là những tín đồ Gia-tô cuồng tín, vẫn còn u mê ngụp chìm trong đại dương ngu dốt, thì lại tuyên bố xấc xược giống như là họ đang sống trong thời Trung Cổ hay trong một chế độ đạo phiệt Gia–tô. Chúng ta hãy theo dõi tờ Sàigòn Nhỏ ghi lại những lời tuyên bố rất là Gia-tô của những người cuồng tín này:

Tại nhà thờ St Elizabeth ở Columbus, Ohio, anh Holum Lee, 30 tuổi, lại phát biểu rằng: “Tôi cho là không cần phải xin lỗi gì hết”. Cũng vậy, tại một nhà thờ khác ở Orange County, một tín hữu gốc Á Châu cho rằng “tại sao phải xin lỗi, chúng ta phải hiểu rằng khung cảnh lịch sử và hậu trường xã hội thời đó khác với bây giờ, cho nên những việc xẩy trước đây có lẽ cũng là việc đương nhiên và dân chúng thời đó coi là truyện dĩ nhiên bình thường trong bối cảnh của nó. Không thể lấy hiện tại mà áp đặt giá trị luân lý vào việc xẩy ra xưa kia được.” (1)

Người viết tin rằng những người Gia-tô cuồng tín tuyên bố những lời ngang ngược như trên có thể là không biết Giáo Hội La Mã mà họ tưởng là thánh thiện của họ đã chủ động dựa vào bạo lực để làm những việc chẳng thánh thiện chút nào cả cho nên họ mới tuyên bố như vậy. Đại khối nhân dân thế giới, nhờ sống trong chế độ dân chủ tự do, nhờ được tiếp nhận nền giáo dục đại chúng và khai phóng cho nên mới biết đại khái Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác đã gây cho nhân loại không biết bao nhiêu là thảm cảnh đau thương. Thực ra, nếu không mất nhiều năm tháng tìm hiểu sâu rộng về những việc làm của Tòa Thánh Vatican thì dù là thần đồng hay thiên tài đi nữa cũng không thể nào biết tường tận những ngọn núi tội ác của Giáo Hội La Mã cao chất ngất đến mức nào. Hy vọng bài viết này sẽ giúp cho độc giả nhìn thấy được một số trong những việc làm tội ác có chủ ý của Tòa Thánh Vatican đã khiến cho Đức Giáo Hoàng John Paul II mất cả gần mười năm ăn năn thống hối và chuẩn bị cho ngày cáo thú tội ác của Giáo Hội La Mã vào ngày 12-3-2000 vừa qua.

MỘT CÁI NHÌN VỀ GIÁO HỘI LA MÃ

Nói đến đạo Gia-tô hay Thiên Chúa La Mã là người ta nghĩ ngay đến một ông thượng đế cực kỳ hung ác, tâm địa xấu xa, đầy lòng ganh ghét, ưa thích trả thù một cách vô cùng man rợ. Sự kiện này được sách Leviticus (Kinh Cựu Ước) ghi rõ như sau:

26.1.- “You shall not make idols for yourselve; neither a carved image nor sacred pillar you rear up for yourselves; nor shall you set up on an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD your god.”… [Các ngươi không được làm những hình tượng nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một cột trụ thiêng liêng nào để suy tôn các ngươi; ở trong vùng cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là THƯỢNG ĐẾ của các ngươi.]

26.14.- “But if you do not obey Me, and do not observe all these commandemrnt”, [Nhưng nếu các ngươi không nghe lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này,]

26.15.- “and if you despise my statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My commandements, but break My covenant”. [và nếu các ngươi khinh thường những quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời phán xét của Ta, cho nên các ngươi không thực thi tất cả những lời răn dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của ta.]

26.16.- “I also will do this to you: I will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies ahall eat it”. [Thì Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất, những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt giống mà các người gieo xuống đất cũng sẽ uổng công vì rằng kẻ thù của các nguơi sẽ ăn hết những hạt giống đó.]

26.17.- “I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursues you.” [Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi.]

26.18.- “And after all this, if you do not obey Me, they I will punish you seven times more for your sins”. [Và nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các người gấp 7 lần tội lỗi của các người.] (2)

Nghiền ngẫm những lời kinh trên đây, chúng ta thấy rằng ông thần mà Giáo Hội La Mã suy tôn và vinh danh lên thành ông Thượng Đế toàn năng toàn thiện thực sự chỉ là một tên hung thần vô cùng độc ác, một thứ ác quỷ vượt lên trên tất cả mọi thứ ác quỷ. Nếu so sánh với ông thần Hà Bá ngự trị ở khúc sông Chương Thủy tại đất Nghiệp trong câu chuyện “Hà Bá Cưới Vợ” thì ông Thượng Đế của Giáo Hội La Mã quả là một thứ siêu hung thần, siêu ác quy với đủ mọi cá tính xấu xa, đê tiện, tham lam, ích kỷ, độc ác, háo danh, hám lợi, đầy lòng ganh ghét, tị hiềm và ưá thích trả thù một các vô cùng man rợ. Một ông thần độc ác và bạo ngược như vậy thì bất kỳ một người nào còn chút lương tâm cũng phải lợm giọng và không thể nào chấp nhận được, nói chi đến chuyện vinh danh lên hàng Thượng Đế để mà thờ phượng và cầu xin. Chỉ có những hạng người không có lý trí, có đầu không có óc mới làm như vậy. Có lẽ vì thế mà Tòa Thánh Vatican phải chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô để dùng bạo lực khủng bố những người không chịu tin theo,để dùng khai thác lòng tham lam, háo danh hám lợi trong việc sử dụng những chức vụ cùng những lợi lộc của và trong chính quyền làm những miếng mồi nhử những phường háo danh hám lợi, để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục với mục đích biến tín đồ thành những hạng người có đầu mà không có óc hầu dễ bề thống trị và sai khiến.

Ngoài ra, nói đến đạo Gia-tô hay đạo Thiên Chúa La Mã, người ta cũng lại nhớ những chuyện loạn luân, dâm loàn trong thánh kinh và những thành tích về loạn luân dâm loàn của các ông Giáo Hoàng và các nhà tu hành của Giáo Hội La Mã. Một trong những chuyện loạn luân dâm loàn này được ghi rõ trong Kinh Sáng Thế (Cựu Ước), nguyên văn như sau:

” 30.- Lot ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia. 31.- Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già mà không còn ai trên mặt đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ. 32.- Hè! Chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại. 33.- Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 34.- Qua ngày mai chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm hôm qua ta nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại. 35.- Đêm đó, hai nàng lại phục rượu cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ thức dậy lại nằm cùng cha, nhưng người chẳng hay lúc nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 36.- Vậy hai người con gái của Lót do nơi cha mình mà thọ thai. 37.- Nàng lớn sinh được một con trai. Đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ. 38.- Người em cũng sanh đặng một con trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ.” (3).

Không ai chối cãi được chuyện trên đây là một chuyện loạn luân dâm loàn. Điều kỳ lạ nhất là chuyện loạn luân dâm loàn xấu xa này lại được đem vào trong Kinh Thánh để dạy dỗ tín đồ học hỏi. Tri hành hợp nhất. Học thì tất nhiên là phải biết, biết thì phải hành. Thói thường, những chuyện gì càng dâm loàn xấu xa thì lại càng dễ dàng phát triển và dễ dàng được người đời bắt chước mà làm theo. Trong hệ thống tổ chức Giáo Hội La Mã, giáo hoàng, các vị chức sắc cao cấp và các ông tu sĩ là những người thuộc Kinh Thánh hơn ai hết, và nhớ thuộc lòng bài học loạn luân dâm loàn trên đây trước hơn ai hết, và cũng là những người thực thi bài học loạn luân dâm loàn này trước nhất để rồi còn phải nêu gương cho tín đồ noi theo. Sự kiện này đã được Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục sinh ghi lại như sau:

Giáo hoàng Tây Ban Nha dòng Borgia là Alexander VI (1492-1503) hiện nguyên hình là “con quỷ râu xanh“, loạn luân ba đời trực hệ đàn bà, con trai là Cesare và con gái là Lucrezia lộng hành đến nỗi thay cha cai trị Giáo Hội, có lần Lucrezia ngồi trên tòa Phêrô và các triều thần, các thầy dòng xúm vào hôn chân nàng… Đây là chuyện “thất tình lục dục” của ngàn năm thứ hai…” (4).

Sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu dành hẳn 67 trong số 83 trang của Chương III để nói về chuyện loạn luân và dâm loàn của các ông Giáo Hoàng và nhà tu hành áo đỏ (hồng y), áo tía (giám mục), và áo đen (linh mục). Chúng tôi xin kể ra đây một vài đoạn:

Giáo Hoàng John XII (955-963) đã từng loạn luân với mấy người em gái của ông ta (… he commited incest with his sister (Friedrich Gontard: The Chair of Peter, 1964, trang 204).

“Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415) trong thời Ly Giáo, [ khác với Giáo Hoàng John XXIII (1958-1953)] xuất hiện trước Công Đồng với một bản cáo trạng về việc làm của ông ta. Ông đã bị tố cáo bởi 37 nhân chứng, trong số đó phần lớn là các vị giám mục và linh mục đều xác nhận ông ta đã phạm tội thông dâm với gái chưa chồng, gian dâm, loạn luân, đồng tình luyến ái, mại thánh, trộm cắp và giết người! Điều đó cũng được một số đông nhân chứng xác nhận rằng: Ông ta đã dụ dỗ, cưỡng dâm 300 nữ tu. Viên thư ký riêng của Giáo Hoàng John (XXIII) tên là Niem nói rằng Giáo Hoàng đã giữ một khuê phòng tại Boulogne ở đó có khoảng 200 cô gái đã là nạn nhân của tính dâm dục của ông ta.” (Pope John XXIII, having appeared before the Council to give an account of his conduct, he was proved by thirty-seven witnesses, the great part of whom were bishops and priests of having been guilty of fornication, adultery, incest, sodomy, simony, theft, and murder. It was proved also by a legion of witnesses, that he had seduced and violated 300 nuns. His own secretary, Niem, said that he had at Boulogne, kept a harem, where not less than 200 girls had been the victims of his lubricity.”

Sixtus là vị Giáo Hoàng đầu tiên cấp phép mở nhà chứa ở La Mã; hàng năm các nhà chứa này đã mang lại cho nguồn lợi tức 30 ngàn đồng ducat [tiền vàng]. Ông cũng thu được khá nhiều tiền thuế đánh vào các ông tu sĩ đuợc giữ người tình. Nguồn lợi tức nữa là thuế công nhận những đặc ân dành cho nhà giầu được phép giao du và an ủi những bà có chồng vắng nhà.” [Sixtus was the first pope to license the brothels of Rome, they brought him thirty thousand ducats a year. He also gained considerably from a tax imposed on priests who kept a mistress. Another source of income was granting privileges to rich men to enable them to solace certain matrons in the absence of their husbands [Peter De Rosa: Vicars of Christ, 1988, trang 101.] (5)

Những chuyện quái đản trên đây đã làm cho một số khá nhiều tín đồ Gia-tô phải cảm thấy ngượng ngùng khi nói đến tôn giáo của họ. Chúng ta không hiểu tại sao Giáo Hội La Mã lại thờ phượng ông Thượng Đế tàn ngược, bất nhân và có tâm địa xấu xa như vậy. Chúng ta cũng không hiểu tại sao đã tự phong là “Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” mà Giáo Hội lại có những chuyện loạn luân dâm loàn như vậy ở trong Thánh Kinh của họ? Sự kiện này chứng tỏ rằng ngay cái danh xưng của Giáo Hội thường rêu rao đã nói lên cái tính cách khoa trương, huênh hoang khoác lác và đại bịp của Giáo Hội La Mã. Đừng tin vào cái danh xưng của một tổ chức mà hãy nhìn vào thực chất và những hành động của tổ chức đó. Danh xưng hay bề ngoài càng được đánh bóng thì thực chất và hành động càng tồi tệ xấu xa.

Đồng thời, sự kiện này cũng giúp cho chúng ta nhìn thấy có sự giống nhau giữa một bên là bản chất siêu độc ác, tâm địa xấu xa, đầy lòng ganh ghét và ưa thích trả thù một cách vô cùng dã man của ông thần mà Giáo Hội suy tôn và vinh danh lên làm Thượng Đề và cưỡng bách người đời phải thờ phượng và một bên là bản chất của Giáo Hội La Mã đã thể hiện qua những việc làm) từ xưa cho đến nay. Người ta thường nói: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu“. Viêc các ông giáo hoàng trên đây cũng loạn luân dâm loàn giống như những chuyện loạn luân dâm loàn trong Thánh Kinh” và bản chất của Giáo Hội cũng bất nhân và bạo ngược cho nên mới chọn một ông thượng đế bất nhân và bạo ngược như vậy để thờ là vì vậy. Có thể vì các bản chất xấu xa này mà các nhà lãnh đạo Vatican mới đưa ra chủ trương “thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế quyền“, và tự phong là “một tổ chức tôn giáo duy nhất thay quyền Thượng Đế ở trên trái đất này”, rồi đòi phải thiết lập các chế độ độc tài chuyên chính để vinh danh ông thượng đế quái đản như vậy? Có như thế thì Giáo Hội mới tồn tại được. Chính vì chủ trương dùng bạo lực để cưỡng ép người đời phải thờ phượng ông thượng đế vô cùng quái đản này cho nên Giáo Hội mới phải luôn luôn bám chặt lấy những triết lý hành động:

1.- Dựa vào chính quyền chuyên chính để sử dụng bạo lực cưỡng bách dân chúng phải thờ phượng ông Thượng Đế bạo ngược ác độc này và cưỡng bách người đời phải tin theo những tín điều vô cùng phí lý và phản khoa học của Giáo Hội.

2.- Thi hành sách lược bóp méo sự thật bằng cách làm sai lạc tin tức cũng như loan tin thất thiệt và cho thiết lập một cơ quan đặc trách về việc làm bất chính này. Cơ quan này có danh xưng là “Văn Phòng Làm Sai Lạc Tin Tức Và Tuyên Truyền” (Disinformation and Propaganda).

3.- Thi hành sách lược hàm huyết phún bằng cách bới móc đới tư và vu khống, bịa đặt những chuyện xấu xa để bêu riếu, bôi lọ và làm nhục tất cả những tổ chức hay thành phần nào bị Giáo Hội coi như là kẻ thù của Giáo Hội. Những nạn nhân này là các tôn giáo phi Gia-tô và những thành phần mà Giáo Hội cho rằng không thể lôi cuốn vào trong quỹ đạo của Giáo Hội, trong đó có các nhà viết sử chân chính. Sách lược này được hỗ trợ bằng hai sách lươc “Cả vú lấp miệng em” và “Tăng Sâm giết người“. Sách lược “cả vú lấp miệng em” được thi hành bằng cách cố gắng nắm giữ các phương tiện truyền thông càng nhiều càng tốt để phổ biến sâu rộng những ấn phẩm của sách lược “hàm huyết phún nhân” đưa ra. Sách lược “Tăng Sâm giết người” được tiến hành bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông cho nhắc đi nhắc lại hoài (nhồi sọ) những luận điệu và những điều ngụy tạo trong các ấn phẩm của sách lược “hàm huyết phún nhân” khiến cho người đời nghe thét rồi tưởng là sự thật đã xẩy ra đúng là những gì mà Giáo Hội đã cho phổ biến.

4.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi so đ biến tín đồ thành những người cuồng tín, thành những người không còn lý trí, những người có đầu mà không có óc tức là làm cho họ ngu đi khiến cho họ không còn đủ lý trí để nhìn ra tính cách phi lý và phản khoa học trong các tín điều và những việc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa của Giáo Hội đã làm từ xưa cho đến nay.

NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TỘI ÁC

Quan niệm về tôn giáo của Giáo Hội La Mã hoàn toàn khác hẳn với quan niệm về tôn giáo của các nhà hiền triết Đông Phương. Từ ngàn xưa, các nhà hiền triết Đông Phương đều cho rằng cứu cánh của tôn giáo là cứu nhân độ thế. Mục tiêu của tôn giáo như thế nào phải được minh thị cho người đời nhìn thấy rõ. Mục tiêu của tôn giáo phải là những gì cao đẹp nhằm chỉ dạy cho người đời hướng thiện bằng cách tự giác để tự tạo cho chính mình những đức tính cao đẹp như: vị tha, vô tư, công bằng, bác ái, nhân từ, đại lượng và khoan dung. Muốn làm được như vậy, con người phải quay về với chính mình (hướng nội = tự lực, tự cường, trông cậy vào chính mình) để tu tâm dưỡng tính, sửa mình sao cho lòng luôn luôn ngay thẳng, lúc nào cũng thành thực với chính mình và thành thực với mọi người chung quanh. Có như vậy thì mới hy vọng tiến tới mục đích cao cả như đã nói ở trên. Khi đã đạt được những mục đích cao cả trên đây thì tâm trí không còn vướng mắc vào những dục vọng thấp hèn có tính cách giai đoạn (nhất thời). Khi đã không còn vướng mắc và những dục vọng thấp hèn thì tâm hồn sẽ lâng lâng thanh thản, lương tâm thoải mái, và dù là ở vào bất kỳ hoàn cảnh nào, người ta cũng vẫn có thể ứng xử bằng một thái độ ung dung tự tại. Ở vào trạng thái này, đạo Khổng gọi là đã đạt đến bậc chính nhân quân tử, và đạo Phật gọi là đã thành Phật. Phật tại tâm là vậy. Một khi đã đạt đến trạng thái như vậy, tất nhiên là không cần phải dâng cúng lễ vật như một thứ đồ hối lộ cho bất kỳ vị thần linh nào để xin được cứu giúp hay cứu rỗi. Lý do dễ hiểu là đã đạt đến mức như vậy thì làm gì có dau khổ hay khốn cùng để mà xin được cứu giúp, và có tội ác gì đâu mà cần phải xin được tha thứ hay cứu rỗi.

Nói cho rõ hơn, các nhà hiền triết Đông Phương cho rằng tôn giáo phải có một hệ thống tư tưởng cao đẹp như một thứ hương thơm ngào ngạt của một loài hoa quý. Tôn giáo chỉ biết nói những điều phải, những điều thuận tai khiến cho người nói nói ra không ngượng miệng, người nghe nghe không nghịch nhĩ. (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Tôn giáo không dạy người đời ăn gian nói dối, không lừa bịp người đời và cũng không bao giờ nghĩ đến việc dựa vào các chính quyền chuyên chế để sử dụng bạo lực cưỡng bách người đời phải tin theo và dùng những chức vụ cùng những lợi lộc trong chính quyền để câu nhử những phường háo danh hám lợi. Đây cũng là chủ trương của thuyết chính danh và đạo nhân trong chính Nho. Hữu xạ tự nhiên hương. Những tư tưởng cao đẹp này tự nó sẽ tỏa ra những hào quang muôn mầu muôn sắc lôi cuốn người đời từ muôn phương đua nhau tìm hiểu. Tìm hiểu là đủ rồi, còn tin theo hay không là tùy ý nguời ta. Nếu thấy hay, thấy thích, thấy hợp lý, hợp ý, hợp tình thì người ta sẽ tự động tin theo và cổ võ những người khác tìm hiểu. Đạo Phật, đạo Khổng và đa念o Lão đều như thế cả. Chính vì vậy mà các tôn giáo Đông Phương không cần phải dựa vào bạo lực của chính quyền độc tài chuyên chế để cưỡng bách người đời phải tin theo, không hề có những chuyện hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học để lường gạt người đời, và cũng không cần phải thiết lập “Office Of Disinformation and Propaganda” làm những việc bất chính bằng những sách lược “hàm huyết phún nhân“, “cả vú lấp miệng em” và “Tăng Sâm giết người” để lôi cuốn người vào đạo. Chính vì vậy mà các tôn giáo Đông phương không cần phải “nhập nhằng đời với đạo” và chưa hề liên lụy vào những việc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa.

Trái lại, đạo Thiên Chúa La Mã (đạo Gia-tô) hoàn toàn khác hẳn. Trong khi đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão chủ trương dạy đời “hướng nội“, nghĩa là phải quay về với chính mình, trông cậy vào chính mình để tu tâm dưỡng tính, kiềm chế hay dứt bỏ lòng tham, sân, si để thoát khỏi những dục vọng thấp hèn nhất thời cho lòng mình thanh thản, thì Gia-tô giáo lại chủ trương dạy đời “hướng ngoại“, nghĩa là trông cậy vào ngoại lực để nhờ vả, để cầu xin, phải co ro khúm núm (sợ hãi vì mặc cảm tội ác) dâng lễ vật lên Thượng Đế (đút lót đồ hối lộ và lạy lục để cầu xin bằng những lời tâng bấc nịnh bợ để van xin được cứu giúp, được ban ân phước, được hưởng những đặc quyền đặc lợi, được tha thứ và được cưú rỗi. Thực trạng này cho chúng thấy có sự khêu gợi và khích lệ lòng tham lam, ích kỷ của con người (van xin được hưởng đặc ân, đặc quyền, đặc lợi đặc biệt hơn những người khác) và có khuynh hướng tạo cho con người trông mong vào sự giúp đỡ của người ngoài (trông mong vào ngoại lực). Làm như vậy để làm gì, chúng tôi sẽ bàn tới sau này.

Như đã trình bày ở trên, ông Thượng Đế của Giáo Hội La Mã là một ác thần vô cùng hung bạo, đầy lòng ích kỷ, nặng lòng ganh ghét, lại ưa thích trả thù một cách vô cùng man rợ. Thánh Kinh và tín lý của Giáo Hội lại có quá nhiều chuyện loạn luân dâm loàn, nhiều chuyện hoang đường phi lý, phi nhân bản, và phản khoa học. Với tình trạng như vậy, những người còn có lương tri không thể chấp nhận được. Vì thế cho nên không mấy ai muốn tin theo đạo Gia-tô, trừ phi ở vào tình trạng bị cưỡng bách hay bị dồn vào thế kẹt với cái bả “tình, tiền, quyền thế và danh vọng“. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho Giáo Hội La Mã phải to hong (bất chính) là một “tổ chức duy nhất đại diện của Thượng Đế” (duy ngã độc tôn) cùng với thuyết lý “Thần Quyền Chỉ Đạo Thế Quyền” (chuyên chính) rồi theo đuổi “Chính Sách Bất Khoan Dung” (Policy of Intolerance) (bạo lực) đối với các tôn giáo khác để củng cố địa vị, duy trì quyền lực và mở rộng ảnh hưởng. Những sự kiện này chứng tỏ rằng Giáo Hội La Mã đã tự coi như là một thứ siêu chính quyền chuyên chế độc tài tôn giáo. Nói khác đi, Giáo Hội La Mã là một thứ siêu đạo phiệt mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican. Như vậy có nghĩa là Giáo Hội đã tự tách rời ra khỏi đại khối quần chúng bị trị và đứng hẳn về phía giai cấp thống trị độc tài chuyên chế. Vì lẽ này, Giáo Hội không thể nào hiểu thấu được thảm cảnh đau thương của đại khối quần chúng do chính sách bạo ngược và luật pháp bất công của các chính quyền độc tài chuyên chế gây ra. Vì là những thành phần thượng đẳng trong giai cấp thống trị của một chế độ đạo phiệt, Giáo Hội chỉ biết đến quyền lực, va chỉ biết đòi hỏi đại khối nhân dân bị trị phải tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội, phải làm theo ý muốn của Giáo Hội mà không cần biết đến nỗi thống khổ, không cần biêt đến lòng căm thù và uất hận của lê dân. Cũng vì lẽ đó mà Giáo Hội chủ trương phải thiết lập chính quyền chuyên chế để làm phương tiện cần thiết (không có không được) để củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Giáo Hội. Danh xưng tôn giáo chỉ là một chiêu bài giống như một bức bình phong để trang trí cho chính quyền và che đậy những việc làm chuyên đoán và bất chính của chính quyền chuên chế mà Giáo Hội chủ trương, đồng thời, nó cũng là một công cụ bảo vệ chính quyền của Giáo Hội. Như vậy, đối với Giáo Hội, chính quyền là tôn giáo. Nói ngược lại, tôn giáo là chính quyền, và là chính quyên độc tài chuyên chế mà chúng tội gọi là đạo phiệt. Danh xưng “Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” cho chúng ta thây rõ cái bản chất vừa chuyên chế (duy nhất, công giáo), vừa huênh hoang khoác lác và bịp bợm (thánh, công giáo và tông truyền). Hơn nữa, Giáo Hội còn luôn luôn có thái độ trịch thượng và ngang ngược, khinh thị gán cho tất cả các tôn giáo khác là “tà giáo” cần phải khử diệt bằng mọi giá vào bất kỳ thời điểm nào có thể làm được. Chủ trương cần phải khử diệt các tôn giác khác đã trở thành mục tiêu chính trong chính sách đối ngoại của Tòa Thánh Vatican và được mệnh danh là “Chính Sách Bất Khoan Dung” (Policy of Intolerance).

Ngay khi vừa nhẩy lên sân khấu chính trị, Giáo Hội lập tức sử dụng danh xưng Giáo Hội La Mã (the Roman Church) và đưa ra chủ thuyết “Thần Quyền Chỉ Đạo Thế Quyền” với chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô để theo đuổi “Chính Sách Bất Khoan Dung“. Gần hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội luôn luôn bám chắt lấy “Chính Sách bất Khoan Dung” qua bàn tay của các chế độ đạo phiệt bằng cách sử dụng củ cà rốt là những miếng mồi chức vụ và lợi lotrong chính quyền để câu nhử những phường háo danh hám lợi và cái gậy là bạo lực để cưỡng bách người đời phải tin theo Giáo Hội. Cũng vì theo đuổi chính sách này, Giáo Hội đã cho phát động gần mười cuộc chiến thập ác (thánh chiến) để chinh phục đất đai và hủy diệt những người thuộc các tôn giáo khác, đã cho thiết lập các Tòa Án Dị Gia to để xử thiêu và tàn sát những người dân hoài nghi hay không tin theo cái lối thờ phượng quái đản của Giáo Hội. Song song với những việc làm đại gian đại ác trên đây, Giáo Hội còn cho thiết lập “Cơ Quan Làm Sai Lạc Tin Tức (Bóp Méo Sự Thật) và Tuyên Truyền” (Office of Disinformation and Propaganda) được tàng hình bằng danh xưng là các “Hội Truyền Giáo” và các “Dòng Tu” với hai nhiệm vụ rõ rệt: Thứ nhất, l bóp méo những sự thật lịch sử, có nghĩa là bưng bít và làm sai lạc tất cả mọi sự kiện lịch sử bất lợi cho Giáo Hội. Thứ haivu khống và hạ nhục tất cả các tôn giáo khác và những thành phần bị coi như là thù địch, trong đó có các nhà viết sử chân chính và những người thuộc các tôn giáo khác mà bị coi như là không thể lùa vào tròng được. Viêc làm này đã được Giáo Hội cho tiến hành bằng sách lược “hàm huyết phún nhân” song hành với hai sách lược “cả vú lấp miệng em” và “Tăng Sâm giết người“. Qua những việc làm bạo ngược trên đây, chúng ta thấy mức độ thâm độc và gian ác của Giáo Hội vượt lên trên mức độ thâm độc và gian ác của bất kỳ chế độ chuyên chính bạo ngược nào khác trong lịch sử loài người. Thâm độc hơn nữa là việc Giáo Hội chủ trương đem thế quyền lồng vào thần quyền, mượn danh nghĩa thần thánh để dễ bề lường gạt và lừa bịp người đời, dễ bề đưa nạn nhân vào tròng làm nô lệ cho Giáo Hội. Làm như vậy, Giáo Hội đã đơn phương thủ diễn tất cả các vai: “cuờng hào ác bá” (thế quyền hay chính quyền), “ông thần Hà Ba ruot; (thần quyền), “ba coi đồng” và “thày cúng” (trung gian giữa thần quyền và thế quyền và cũng là tôn giáo) trong vở tuồng Hà Bá Cưới Vợ ở Đất Nghiệp vào thời Tiền Tần trong lịch sử Trung Hoa.

Xét về tội ác của Giáo Hội, chúng ta thấy rằng có những thứ tội ác do chính Giáo Hội gây ra và có những tội ác do tín đồ gây ra. Tội ác do Giáo Hội gây ra là do chủ tâm của Giáo Hội. Tội ác do tín đồ gây ra có thể hoặc là do lòng cuồng tín quá hóa thành ngu xuẩn khiến cho họ lao vào hố sâu của tội ác mà không ý thức được những việc đó là những việc tội ác, hoặc là do tình trạng quen sống trong môi sinh tội ác của Giáo Hội cho nên lương tâm của họ đã gần như trở thành chai đá, không còn là con người bình thường mà chúng ta thường quan niệm là “nhân chi sơ, tính bản thiện“. Đối với họ, thiện hay ác là tùy ở nơi Giáo Hội chỉ dạy. Giáo Hội bảo điều đó là điều thiện thì họ tin điều đó là điều thiện, Giáo Hội bảo điều đó là điều ác thì họ tin điều đó là diều ác. Họ đã trở thành những con người máy, không còn có lương tâm, không biết phân biệt phải trái. Lương tâm và lẽ phải của họ là Giáo Hội. Giáo Hội là cái gương cho họ noi theo. Giáo Hội bảo sao thì họ tin như vậy. Họ đã bị điều kiện hóa và không còn lý trí nữa. Họ chỉ còn biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của Gíáo Hội. Tình trạng bị điều kiện hóa như vậy đưa đến một sự thật đau lòng là Giáo Hội lao đầu vào hố sâu vực thẳm của tội ác, họ cũng chạy theo cùng với Giáo Hội lao đầu vào hố sâu vực thẳm của tội ác. Những hành tội ác do Giáo Hội chủ xướng đã trở thành những hành động tội ác dây chuyền và được truyền (vừa là tự động vừa là theo lệnh truyền) theo một hệ thống theo mô thức của một hình tam giác mà đỉnh của nó là Tòa Thánh Vatican. Từ năm 325 đến nay, Giáo Hội đã làm không biết bao nhiêu là viêc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa, tín đồ của Giáo Hội cũng nhắm mắt theo guơng Giáo Hội để làm những việc bất chính, bất nhân và bất nghĩa, giống y hệt như Giáo Hội đã làm. Duới đây là những bằng chứng:

1.- Giáo Hội dạy bảo tín đồ rằng chỉ có Giáo Hoàng mới là vị lãnh đạo tối cao của họ, rằng họ không cần phải tuân hành luật lệ của các chính quyền địa phương do những người phi Gia-tô lãnh đạo, thế là họ răm rắp cúi đầu tuân lệnh Giáo Hoàng và không tuân hành luật lệ của chính quyền địa phương do những người phi Gia-tô lãnh đạo. (6)

2.- Giáo Hội gọi những người khác tôn giáo là “tà giáo“, rồi phát động các cuộc “chiến tranh thập ác“, thiết lập các “tòa án dị giáo” để tàn sát họ, cướp đoạt tài sản của họ thì tín đồ của Giáo Hội cũng hè nhau gọi những người khác tôn giáo là “tà giáo“, hè nhau thành lập những đạo quân thập ác (như lá thư đề ngày 25-2-1955 của tín đồ Gia-tô Nguyễn Văn Chức gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cũng là một bằng chứng) để tàn sát họ và cướp đoạt tài sản của họ.

3.- Năm 1431, Giáo Hội bảo rằng bà Jeanne d’Arc là tà giáo, là phù thủy rồi trói bà vào cọc và đốt cho cho chết cháy trong ngọn lửa bạo tàn của Giáo Hội,. thì giáo dân cũng hùa theo cho rằng bà Jeanne d’Arc là tà giáo, là phù thủy và đáng phải đem thiêu sống cho đến chết. Tới năm 1920, Giáo Hội cho rằng bà là nữ anh hùng của nước Pháp và phong thánh cho bà thì giáo dân cũng hùa theo cho rằng bà Jeanne d’ Arc là nữ anh hùng của nước Pháp và là thánh của họ.

4.- Trong thập niên 1860, Giáo Hội bảo rằng ăn những thức ăn đã dâng cúng theo nghi thức của các tôn giáo khác là có tội thì họ không dám ăn những thức ăn đó nữa. Thế rồi, tới thập niên 1960, Giáo Hội bảo Okay, ăn những thức ăn đã dâng cúng theo nghi thức của các tôn giáo khác là không có tội, thì họ mừng quá và hồ hởi nghe theo. Kể từ đó, nếu có dịp là họ ăn lia lịa.

5.- Gần cuối thập niên 1960, Giáo Hội bảo tên Ngụy Diên tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm là “chí sĩ yêu nước” và là “anh hùng dân tộc” đã hy sinh vì nước Vatican thế là tín đồ của Giáo Hội răm rắp nghe theo hè nhau thành lập cái gọi là “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần (Việt gian) Ngô Đình Diệm“, rồi viết sách, viết báo suy tôn tên Ngụy Diên tam đại Việt gian họ Ngô này lên hàng “anh hùng dân tộc” và cho lộn xòng in chung với những bài viết nói về những anh hùng dân tộc thực sự của đất nước. Đó là cuốn sách “Anh Hùng Nước Tôi” (California, 1986).

6.- Ngày 19-6-1988, Giáo Hội quyết định phong thánh cho 117 tên tội đồ cướp nước và Việt gian phản quốc đã bị hành hình từ thời vua Tự Đức trở về trước thì tín đồ của Giáo Hội cũng tin rằng những tên giặc cướp ác ôn côn đồ này là những ông thánh của họ và gọi là vcác ông thánh tử đạo của họ. Thì ra mấy ông thánh của họ là như vậy.

7.- Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) thù ghét tự do ngôn luận, thu ghét tự do tư tưởng và gọi “báo chí là thứ tự do tai hại nhứt, đáng ghét nhứt, khinh tởm nhứt….” thì tín đồ của Giáo Hội cũng thù ghét tự do ngôn luận, thù ghét tự do tư tưởng rồi tụ tập thành những băng đảng hung hăng giống như bọn côn đồ đi khủng bố và phá thối buổi ra mắt sách “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Goan Phaolồ II” của nhóm Giao Điểm được tổ chức vào ngày 20-8-1994 tại Westminster, Califorfornia, phá thối cuộc Hội Thảo Văn Hóa của anh em văn nghệ sĩ người Việt tại Bắc Mỹ do các ông Doãn Quốc Sỹ và Vũ Ngự Chiêu tổ chức vào ngày 20-12-1997 tại Seattle, Washington.

Một sự thật đau lòng nữa, người viết xin viết ra đây để độc giả xem có đúng hay không. Tiếp xúc với những người Gia-tô, chúng ta thấy họ luôn luôn có thái độ trịch thượng, xấc xược và ngược ngạo trong ngôn ngữ và hành động của họ. Về ngôn ngữ thì họ luôn luôn có thái độ ngạo man khi sử dụng những từ như là “công giáo“, “dân Chúa“, ” Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” để nói về tín đồ Giá-tô và cái đạo Gia-tô của họ. Trong khi đó thì họ thường dùng những từ ngữ “tà đạo“, “dị giáo“, “tà ma ngoại đạo“, “đạo Bụt thần“, “ngoại đạo“, “không có đạo“, “vô đạo” và “tà ma ngoại đạo” để nói về các tôn giáo khác và những người thuộc các tôn giáo khác mà không cần biết làm như vậy là làm phật lòng nguời ta. Về hành động thì họ lại còn tệ hơn nữa. Thứ nhất, ở trong những nơi ăn uống đông người ngay cả khi tín đồ Gia-tô chỉ là thiểu số có một vài người trong số đông những người thuộc các tôn giáo khác, nếu có cơ hội, khi bắt đầu vào tiệc, họ tự động yêu cầu mọi người im lặng đọc kinh cầu theo họ trước khi bắt đầu ăn uống mà không cần biết làm như vậy là xấc xược và làm buồn lòng những người khác tôn giáo với họ. Thứ hai, khi con cái họ và một người khác tôn giáo tiến đến chuyện lập gia đình với nhau, thì họ đòi cho bằng được người hôn phu hay hôn thê của con cái họ phải từ bỏ tín ngưỡng cũ để theo học giáo lý Gia-tô và làm lễ rửa tội theo đạo Gia-tô rồi mới nói đến chuyện làm lễ thành hôn cho cặp trai gái này. Biết làm như vậy là xấc xược, ngược ngạo và trịch thượng, làm cho bên gia đình sui gia của ho phải dau lòng, nhưng họ cũng không cần quan tâm đến, và cũng không cần nghĩ tới chuyện nếu gia đình bên sui gia cũng đòi hỏi con cái họ phải từ bỏ đạo Gia-tô để theo tôn giáo mới của người phối ngãu thì họ sẽ nghĩ như thế nào? Sự kiện này không những nói lên thái độ trịch thượng của họ, mà nó còn cho chúng ta thấy cái tính cách bất nhân (không có lòng độ lượng và cũng là hành động vi phạm nhân quyền có chủ ý của người tín đồ Gia-tô.

Tiếp xúc với cô gái giang hồ, chúng ta thấy rằng họ còn ý thức được việc làm của họ là xấu xa, và không muốn cho con cái của họ làm đĩ làm điếm giống như họ. Tương tự như vậy, những tên lưu manh chuyên sống bằng nghề cướp đường cướp chợ vẫn còn ý thức được việc làm của chúng là xấu xa đê tiện, và không muốn con cái của chúng sẽ làm nghề cướp đường cướp chợ giống như cuộc đời ăn cướp của chúng. Trái lại, những người Gia tô cuồng tín biết rõ Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác, biết rõ Giáo Hội đã làm không biết bao nhiêu việc làm bất chính, bất nhân, và bất nghĩa, biết rõ tội ác của Giáo Hội nhiều hơn cả sao trời và cao hơn cả núi Thái Sơn, ấy thế mà họ vẫn một lòng tuân lệnh Giáo Hội làm những việc làm tội ác giống như Giáo Hội đã Làm. Tệ hơn nữa, họ lại còn mong muốn con cháu của họ cũng phải cuồng tín như họ, cũng phải tuyệt đối nghe theo lệnh của Giáo Hội để làm những việc làm tội ác như họ đã làm. Điều này chứng  tỏ rằng những người Gia-tô cuồng tín còn thua cả những cô gái giang hồ, tệ hơn cả những tên lưu manh cướp đường cướp chợ, cướp biển, cướp rừng. Ít ra, những cô gái giang hồ và những quân lưu manh cướp đường cướp chợ còn có lương tâm, còn có ý định và cố gắng dạy con cái của họ phải biết hướng thiện. Trái lại, những người Gia-tô cuồng tín, thì kể như là không còn lương tâm nữa, và họ cũng không muốn con cháu họ hướng thiện để trở về với đường ngay lẽ phải, trở về với quê hương và dân tộc. Còn nữa, khi những người Gia-tô cuồng tín viết sách hay viết báo nhằm mục đích bào chữa, bênh vực hay chạy tội cho Tòa Thánh Vatican và các chế độ đạo phiệt Gia-tô thì họ trở thành những hạng người vừa vô liêm sỉ vừa ngu dốt mà lại không ý thức được họ là những hạng người vô liêm sỉ và ngu dốt. Đây là trường hợp của các ông bạn cũng tập tành viết sách hay viết báo mà chúng tôi đã đề cập trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Tacoma, 1998) và cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, 1999). Về điểm này, họ còn tệ hơn cả ngàn lần nếu so với các cô gái giang hồ và những phương lưu manh cướp đường cướp chợ. Thường thường thì các cô gái giang hồ và những phường lưu manh cướp đường cứơp chợ rất là thành thực. “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri“, biết rằng không biết cái gì thì họ hiên ngang nói thẳng là không biết. Trái lại, những nguời Gia-tô cuồng tín viết văn hay viết báo có chủ ý bênh vực hay chạy tội cho Giáo Hội La Mã và các chế độ đạo phiệt Gia-tô thì lại hoàn toàn khác hẳn. Họ không có được cái liêm sỉ tối thiểu của hai giới người trên đây. Những người Gia-tô cuồng tín viết văn này đã ngu dốt lại không biết mình là người ngu dốt, mà lại còn lên mặt dạy đời nữa. Độc giả có thể tìm thấy những trường hợp này qua các ấn phẩm (sách hay báo) nhằm để gièm pha và phỉ báng các tôn giáo khác, chửi bới và hạ nhục các tác giả như Đỗ Mậu, Trần Văn kha, Lê Trọng Văn, Vũ Ngự Chiêu, Trần Chung Ngọc, Nguyễn Kha, Nguyễn Mạnh Quang, v. v… Vì mang chứng bệnh cuồng tín, họ không còn lương tâm nữa, và cũng không còn có một lý tưởng hay niềm tin nào khác ngoài niềm tin vào Giáo Hội, họ chỉ còn biết phát thanh và hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội. Tất cả những tội ác này đều do Giáo Hội mà ra cả. Vì giới hạn của bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến phần tội ác do Giáo Hội chủ ý gây ra, mà không đề cập đến phần tội ác do các tín đồ gây ra.

TỘI ÁC DO CHÍNH GIÁO HỘI CỐ Ý GÂY RA

Tất cả những tội ác do Giáo Hội gây ra đều là những tội ác do chính Giáo Hội chủ ý gây ra. Ta có thể phân loại những tội ác của Giáo Hội như sau:

1.- Bịa đặt ra những chuyện hoang đường để lường gạt và lừa bịp người đời
2.- Chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô
3.- Tạo nên những nghi thức và tác phong phong kiến
4.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dực nhồi sọ, làm cho tín đồ ngu đi để dễ bề cai trị
5.- Thiết lập các tòa án di giáo
6.- Phát động các cuộc thánh chiến
7.- H ành động dã man đối với nạn nhân
8.- Tích lũy tiền bạc và đồ ăn cướp của các dân tộc nạn nhân
9.- Thi hành sách lược “bóp méo sự thật lịch sử“, và “hàm huyết phún nhân
10.- Theo đuổi chính sách đế quốc thực dân xâm lược.
11.- Chủ trương hủy diệt các tôn giáo và các nền văn hóa khác.
12.- Vi phạm nhân quyền

(Riêng về tội ác “bán thánh và buôn bán các chức vụ trong giáo hội (sinmony), chúng tôi sẽ bàn tới trong một tác phẩm khác.)

1.- Bịa đặt ra những chuyện hoang đường.- Nói chung, tất cả 12 loại tội ác của Giáo Hội được nêu ra trên đây đều bắt đầu xẩy ra từ năm 325 trở về sau. Tội ác bịa đặt ra những chuyện hoang đường xẩy ra trước tất cả những tội ác khác. Những chuyện hoang đường mà chúng tôi đề cập ở trong bài viết này là những chuyện thiên đường, địa ngục, các phép bí tích, phép mầu, phép lạ và những chuyện Đức Bà Maria hiện xuống. Chúng tôi hoàn toàn không nói tới những chuyện hoang đường đã có sẵn trong Cựu Ước như các chuyện Ông Adam và bà Eva là thủy tổ của loài người, chuyện tạo dựng vũ trụ trong 7 ngày, chuyện Hồng Thủy, chuyện con tầu Noah, v.v… Trước đây, trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-63, chúng tôi đã nói đến Hội Nghị Nicaea được triệu tập vào năm 325 theo lệnh của Hoàng Đế Constantine (280-337) để hình thành thuyết lý ba ngôi. Ngay tại hội nghị này, khi đang thảo luận, bất kỳ người nào không tán đồng lý thuyết Chúa Ba Ngôi đều bị chụp cho cái mũ “tà giáo” và bị đuổi ra khỏi hội nghị. Những nạn nhân đầu tiên của sách lược chụp mũ này là ông Giám-mục Arius (256-336) thuộc địa phận Alexandria (Ai Cập) và các tu sĩ khác đồng quan điểm với ông (7). Giải quyết xong lý thuyết Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội cho ra đời thuyết lý Đức Mẹ Đồng Trinh để cho nó có vẻ phù hợp với thuyết lý Chúa Ba Ngôi. Người ta bảo “Tội ác đẻ ra tội ác” là vậy. Sau đó, các bản văn hồi ký ghi lại những mẩu chuyện có liên hệ với Chúa Jesus của các ông Luke, John, Mark và Mathiew được lệnh phải sửa lại bằng cách hoặc là thêm mắm thêm muối để thần thánh hóa Chúa Jesus, hoặc là bắt bỏ hay bớt đi những gì bất lợi cho chủ trương của Giáo Hội hay không hợp với ý muốn của Hoàng Đế Constantine. Kể từ đó, những bản văn này cùng với những lá thư giao dịch giữa các tín đồ Kitô Do Thái và ông Paul lúc sinh thời được gọi là Tân Ước Kinh. Năm 426, Giáo Hội lại cho ra đời một chuyện hoang đường vĩ đại khác nữa là cuốn sách The City of God (Nước Trời) làm nền tảng cho lý thuyết thần học của Giáo Hội (8).

Năm 451, Đế Quốc La Mã suy yếu trước sức tấn công như vũ như bão của người hùng Hung Nô Attila từ Châu Á tiến vào. Bạng duật tương trì, ngư ông thủ lợi. Nhân cơ hội này, Giáo Hội nhẩy ra đóng vai trò làm kẻ trung gian và được Hoàng Đế Valentinian (419-455) của Đế Quốc La Mã giao cho sứ mạng thương lượng. Thế là uy tín của Giáo Hội bắt đầu vươn lên và thoát khỏi thân phận của một Giáo Hội Quốc Doanh. Kể từ đó, Giáo Hội nhẩy lên sân khấu chính trị nắm giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền của Đế Quốc La Mã, và bắt đầu thủ vai Chúa Trịnh, dồn Hoàng Đế của Đế Quốc La Mã vào cái thế của Vua Lê. Việc Giáo Hoàng Leo I (440-461) tuyên bố thẳng thừng cho mọi người biết rằng “Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục” (9) là bằng chứng cho sự kiện này.

Năm 456 Attila bị sát hại. Thế lực Hung Nô tan rã. Hai mươi năm sau, năm 476, người hùng mới là Odovacer từ Đức nổi lên với quân hùng tướng mạnh tiến vào kinh thành Rome. Đế Quốc La Mã hoàn toàn sụp đổ. Nhờ có thiên tài khôn ngoan biết lựa gió phất cờ, Giáo Hội La Mã vẫn tồn tại, trơ như đá vững như đồng. Ít lâu sau, chính bản thân người hùng Odovacer cũng bị sát hại. Âu Châu rơi vào tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Sẵn có thiên tài chụp giật, không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thuở, Giáo Hội bèn tiến lên tóm thâu thêm một mớ quyền hành chính trị và sáng tác ra 7 phép bí tích để làm Giáo Hội có thêm vẻ nhiệm mầu và quyền phép. Chỉ tội cho lê dân lại phải è cổ ra đóng thêm một khoản lễ phí nữa. Vào thời kỳ này, ngôi vị Giáo Hoàng đã trở thành vô cùng béo bở, khiến cho các thế lực chính trị trong vùng phải tranh giành chiếm giữ để củng cố địa vị cho mưu đồ làm bá chủ trên sân khấu chính trị Âu châu. Cũng từ đó thỉnh thoảng lại có chuyện hoang đường Đức Bà Maria hiện xuống với những sản phẩm như Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Mẹ La Vang, v. v …. Vì vậy mới có chuyện “Fatima là trung tâm buôn thần bán thánh giống hệt như …”

2.- Chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô.- Nói đến chế độ đạo phiệt Gia-tô, người ta cũng thường nghĩ đến một chế độ độc tài tôn giáo với tất cả những tệ trạng tham nhũng, bất công, tàn ngược, dã man và bách hại những người thuộc các tín ngưỡng khác bằng những phương cách man rợ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Qua gần hai ngàn năm lịch sử của đạo Gia-tô, chúng ta thấy rằng hầu như tất cả thành phần tích cực bảo vệ chế độ đạo phiệt Gia-tô bất kỳ ở địa phương nào vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là những hạng người hung hãn, tàn bạo, bất nhân, bất nghĩa, phi cầm, phi thú đúng như nhà báo Long Ân nhận xét:

“Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh…” (10)

Chúng ta biết rằng bất kỳ chế độ độc tài chuyên chính nào cũng đều cai trị bằng bạo lực, theo đuổi chính sách thẳng tay tàn sát và hủy diệt tất cả những thành phần chính trị đối lập. Tuy nhiên, nếu so với chế độ đạo phiệt Gia-tô thì tất cả các chế độ độc tài chuyên chính khác đều phải ngả mũ chào thua. Lý do dễ hiểu là tất cả chế độ độc tài chuyên chế khác không có một mưu đồ nào khác hơn là mục đích duy trì quyền lực để bảo vệ địa vị ăn trên ngồi trốc của giai cấp thống trị. Trong khi đó thì các chế độ đạo phiệt Gia-tô, ngoài việc hủy diệt các thành phần hay thế lực chính trị đối lập để duy trì quyền lực, còn theo đuổi “Chính Sách Bất Khoan Dung” (Policy of Intolerance) đối với tất cả các thành phần không phải là Gia-tô giáo. Chủ trương của chính sách này là “diệt tận gốc, trốc tận rễ” tất cả các tôn giáo và văn hóa phi Gia-tô”. Biết rõ tình cách bạo ngược như vậy là thất nhân tâm, Giáo Hội cũng tiên liệu được là sớm hay muộn thì nhân dân dưới quyền cũng sẽ vùng lên chống lại. Vì vậy, Giáo Hội lại tính một nước cờ bịp bợm khác bằng cách ra lệnh cho tên tu sĩ tay sai Thomas Aquinas (1225-1274) đưa ra chủ thuyết nói rằng người dân không được nổi loạn chống lại chính quyền đã được Giáo Hội chuẩn nhận. Bất kỳ chính quyền nào đã được Giáo Hội chuẩn nhận, dù cho bạo ngược đến đâu đi nữa thì nhân dân cũng chỉ đuợc phép cầu xin Thượng Đế ban phép hay ra lệnh cho chính quyền bạo ngược đó sớm thức tỉnh mà thay đổi chính sách, chứ không có quyền nổi loạn chống lại. Chúng ta hãy nghe ông Dương Thành Lợi nói về chủ thuyết quái đản này:

Aquinas chủ trương rằng nhà vua được Thượng Đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một ông vua gian ác; nhân dân không thể làm cách mạng để giết vua và thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas, nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị độc ác của lãnh tụ có thể phản ảnh ý định trừng phạt người dân của Thượng Đế; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể truất xuất vị lãnh tụ gian ác đó, người dân chỉ còn có một cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thuợng Đế không đáp lời cầu nguyện để bắt buộc lãnh tụ quốc gia thoái vị thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì là ý của Thượng Đế.” (11)

Ai cũng biết rằng Thượng Đế đây là Thượng Đế của Giáo Hội, và theo ý của Giáo Hội thì ông Thượng Đế này chính là Giáo Hội. Giáo Hội bảo người dân bị trị cầu xin Thương Đế có nghĩa là kêu nài với Thượng Đế. Kêu nài với Thượng Đế tức là vác đơn đi kiện lên ông Thượng Đế, tức là kiện lên Giáo Hội. Như vậy là Giáo Hội bảo với người dân bị trị dưới chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội, nếu có chuyện gì bất mãn thì cứ việc thưa kiện lên chính quyền cao hơn tức là Giáo Hội để Giáo Hội xét xử những tội ác mà chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội đã gieo tai giáng họa cho họ. Chuyện đời phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Đi kiện như vậy thì có khác nào là “con kiến đi kiện của khoai“.

Vả lại, như đã nói ở phần trên, ông Thượng Đế của Giáo Hội vốn dĩ là một ông thần bạo ngược còn tệ hơn cả ông thần Hà Bá ở khúc sông Chương Thủy thuộc Đất Nghiệp ở bên Trung Hoa trong thời Tiền Tần. Giáo Hội lại còn bạo ngược hơn cả ông Thượng Đế mà Giáo Hội tôn thờ. Rồi đến nhà cầm quyền đia phương do chính Giáo Hội chọn lựa để làm tay sai cho Giáo Hội lại còn bạo ngược hơn cả Giáo Hội. Cả một hệ thống tổ chức từ ông Thượng Đế cho đến Giáo Hội và chính quyền do Giáo Hội chuẩn nhận đều bạo ngược cả. Rốt cuộc chỉ khốn nạn cho lê dân mà thôi. Vì cả một hệ thống tổ chức của Giáo Hội đều chủ trương thi hành chính sách bạo ngược như vậy, cho nên ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới là nhân dân ở đó phải gánh chịu những thảm họa đau thương cho tới mãi ngàn sau cũng không quên được. Bằng chứng là những thảm cảnh tàn sát người dân vô tội ở các nước Tây Ban Nha trong thời các bạo chúa Ferdinand V (1452-1516), Isabella I (1451-1504) Philip II (1527-1598), nước Pháp trong thời hai ông bạo chúa Clovis (465-511) và Louis XIV (1638-1715), nuớc Anh trong thời nữ bạo Chúa Bloddy Mary (1516-1588), nước Croatia trong những năm 1939-1945 dưới chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich, Cuba trong những năm 1940-1959 trong thời bạo chúa Fulgencio Batista, oứ Rwanda (Phi Châu) trong những năm 1993-1994 (cả nửa triệu người bị tàn sát bởi bàn tay ông Giám-mục Augustin Misago), miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 trong thời đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. Rõ rệt hơn nữa là thảm trạng của các dân tộc bản địa tại Quần Đảo Phi Luật Tân và tất cả các dân tộc Da Đỏ tại Mỹ Châu La Tinh. Cũng nên biết là “Kế Hoạch Puginier” nhằm hủy diệt các đạo Phật, đạo Lão và đạo Khổng và nền văn hóa cổruyền của dân tộc Việt Nam đáng lẽ đã được thi hành ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 giống như trước kia họ đã làm ở Phi Luật Tân và ở Châu Mỹ La Tinh nếu những thành phần tiến bộ thuộc Hội Tam Điểm trong chính quyền Pháp tại Paris và Đông Dương không thắng thế trên sân khấu chính trị của nước Pháp lúc bấy giờ. Kế hoạch này đã được Tiến-sĩ Cao Huy Thuần ghi khá đầy đủ trong cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, Hương Quê, 1988, trang 397-414). Cũng may cho dân tộc Việt Nam ta. Nếu lúc đó, phe thực dân thân Vatican nắm thế thượng phong trong chính quyền Pháp tại Paris và tại Đông Đương thì số phận dân tộc Việt Nam đã không khác gì số phận các dân tộc bản địa tại Phi Luật Tân và số phận các dân tộc Da Đỏ ở Châu Mỹ La Tinh. Nếu chẳng may như vậy, chúng ta sẽ thấy những đường xá, trường học, công viên và địa danh đều mang tên những tên quân giặc ngoại xâm cùng những phường xú uế như Trần Lục, Huyện Sĩ, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Bá Tòng, Hoàng Quỳnh, Đinh Xuân H., Mai Ngọc Khuê, Lê Hữu Từ , Phạm Ngọc Chi, Tô Đình Sơn, v.v…, những kẻ đã từng gục mặt cúi đầu đi trên bốn chân, cõng con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam.

3.- Tạo nên những nghi thức cực kỳ phong kiến làm hèn hạ con người.- Nói đến nghi thức và tác phong phong kiến, ta có thể nói rằng trong lịch sử nhân loại chưa hề có một hệ thống tổ chức quyền lực nào lại có những nghi thức và tác phong phong kiến làm cho con người hèn hạ đến cùng mức của hèn hạ như đạo Thiên Chúa La Mã. Người viết chưa hề thấy một tổ chức hay một thế lực nào lại đặt ra những nghi thức ban cho thuộc cấp cái vinh hạnh được hôn bàn chân của nhà lãnh đạo như đạo Gia-tô. Không thể nào hiểu được tại sao Tòa Thánh Vatican lại đặt ra cái nghi thức phong kiến vô cùng quái đản để áp đặt vào trong nếp sống và sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng của những người Thiên Chúa La Mã. Sách sử ghi lại như sau:

Tới thế kỷ thứ 11, quyền uy của Giáo Hoàng và Giáo Hội La Mã còn lớn hơn cả quyền uy của Tần Thủy Hoàng ở bên Trung Hoa trong thời Thượng Cổ. Gíáo Hoàng của Giáo Hội từ thời Trung Cổ đã trở thành một ông vua của các ông vua trong vùng Tây và Nam Âu. “Phú quý sinh lễ nghi” và “Quyền hành sinh hống hách, cao ngạo và tội ác”. Khi đã chễm chệ ngồi trên Ngai vàng trong Tòa Thánh La Mã nắm quyền bá chủ trên sân khấu chính trị Âu Châu,, Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) hứng chí đưa ra một loạt 27 nguyên tắc để làm cho chức vị giáo hoàng của Giáo Hội vốn đã oai phong lại càng thêm oai phong hơn nữa. Dưới đây là một số những nguyên tắc này:

1.- Chỉ có Giáo Hoàng mới được sử dụng phù hiệu của đế quốc.

2.- Chỉ có Giáo Hoàng mới được đưa bàn chân cho các ông hoàng hôn hít.

3.- Chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền truất phế các ông hoàng đế và các ông vua.

4.- Không ai có quyền phán xét hay phê phán Giáo Hoàng.

5.- Giáo Hoàng có thể giải trừ cho nhân dân khỏi phải làm bổn phận đới với các nhà cầm quyền bất công. [Bất công theo quan niệm của Giáo Hội.]… (12)

Không cần phải suy nghĩ cho nhiều, bất kỳ người nào có trình độ học vấn bậc tiểu học cũng nhìn thấy rõ đây là một thứ “quái thai” được sản xuất ra bởi những hạng người bất bình thường thuộc loại phi cầm phi thú. Theo định luật sinh sinh hóa hóa, vạn vật trong thiên nhiên đều biến chuyển và sinh sản theo thời gian. Cái nguyên tắc quái đản “Chỉ có các ông hoàng (nhà cầm quyền) mới được cái ân sủng cúi rạp mình xuống sụp lạy thì thụp hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng” theo thời gian lại đẻ ra truyền thống “tín đồ của Giáo Hội mới có vinh hạnh cúi gậﰠmình xuống sụp lạy thì thụp và hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo như là một ân sủng của Thượng Đế ban cho.” Chuyện quái đản này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh kể lại trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm như sau:

Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh Đa Minh, tất cả các linh mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải tới sụp lạy các thừa sai, kể cả đối với mấy người còn trẻ măng, hoặc chỉ là thầy phó tế thôi, và phải hôn kính giày của các thừa sai đó, để giúp mình nhớ lại lời thánh Phaolồ: “Phúc đức thay bàn chân các nhà truyền giáo!” (13)

Muốn được hưởng ân sủng quái đản này, là tín đồ Gia-tô cũng chưa đủ, phải là tu sĩ cỡ từ linh mục trở lên mới được. Còn các giáo dân thì lại được hưởng một thứ hồng ân khác của Thiên Chúa. Hồng ân đó là được quỳ mọp xuống trước ghế ngồi hay chỗ đứng của một ông giám mục để hôn hít chiếc cà rá của ông ta một cách vô cùng kính cẩn. Một trong muôn ngàn chuyện hôn hít cà rá như vậy được cụ Vương Hồng Sển kể lại cho chúng ta nghe qua đoạn văn dưới đây:

Lần thứ nhất tôi gặp quốc lão (Giám-mục Ngô Đình Thục), là nhơn nhóm họp tại dinh ông Tổng Trưởng Văn Hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội “Bác Cổ Thần Kinh” do giám-mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày 16-2-1963. Khi quốc lão bước vào văn phòng, các ông có mặt đều quỳ xuống hôn chiếc nhẫn, lần lượt hết người này đến người kia. Đến lượt tôi, tôi quýnh quá, không làm như vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay mình và nắm tay quốc lão gục gặc, vì chưa quỳ hôn nhẫn. Tôi vẫn biết mình làm như thế có thể bị sa thải, nhưng thà mất chén cơm còn hơn là mất phẩm giá… Trong khi tôi bắt tay không quỳ, quốc lão ngừng lại day mắt nhìn tôi chăm chăm. May thời lúc ấy ông Trương Công Cừu lẹ miệng giới thiệu bằng một câu tiếng Pháp: “Mr. Sển conservateur du muséQuốc lão hừ một tiếng rồi tiếp tục đưa tay cho người khác hôn.” (14)

Đối với những người Gia-tô ngoan đạo, nghi lễ quỳ mọp xuống để hôn bàn chân Giáo Hoàng, quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo, và khúm núm quỳ xuống hôn kính chiếc nhẫn (chẳng biết thiêng liêng hay dơ bẩn) của các ông giám mục là những ân huệ đặc biệt, một ân sủng vô cùng thiêng liêng (không biết có phải là một thứ Hồng Ân Thiên Chúa của đạo Gia-tô hay không), mà ho hằng ước ao khao khát. Không ước ao khao khát làm sao được khi mà hàng ngày chính bản thân họ lúc nào vênh vênh váo váo hãnh diện là tín đồ của Giáo Hội La Mã, tự phong cho họ là “Dân Chúa“, tự xưng là người “Công Giáo“, và ngang ngược đến độ khinh rẻ tất cả những người khác tôn giáo là “tà đạo” là những quân “mọi rợ“. Hãnh diện là tín đồ của Giáo Hội thì tất nhiên họ cũng ước ao khao khát được hưởng những ân sủng đặc biệt “quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít giầy dép của Giáo Hoàng, hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo hay hôn hít chiếc cà rá đeo tay của các ông giám-mục.” Nhưng đâu có phải người Dân Chúa (Gia-tô) nào cũng được hưởng tất cả những ân sủng quái đản trên đây. Chỉ có các ông hoàng hay những người đã đuợc Giáo Hoàng chọn lựa như Ngô Đình Diệm mới được cho phép vào bệ kiến quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng. Chỉ những Dân Chúa có chức vụ linh-mục trở mới được cái vinh dự vào bệ kiến quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo. Là tín hữu Gia-tô thuộc loại bạch đinh thì chỉ còn có nước đứng ngoài nhìn các đấng bề trên của họ khúm núm quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp làm cái công việc vĩ đại, cao cả và thiêng liêng này mà thèm rỏ rãi ra bằng quả bòng. Cũng vì thế mà hầu hết những người tín hữu Gia-tô ngoan đạo đều mơ ước muốn cho con trai của họ theo học nghề làm linh mục để hy vọng mang lại cho gia đình và dòng họ cái vinh dự cao cả này. Đối với những người tín hữu Gia-tô là như vậy. Nhưng đối với truyền thống đạo lý Đông phương thì việc làm như vậy là “một việc làm đê hèn đến cùng mức của đê hèn“. Những người có liêm sỉ không thể nào làm được như vậy. Cũng vì thế mà cụ Vương Hồng Sển đã quyết định là thà mất việc làm, chứ nhất định không thèm quỳ mọp xuống để hôn chiếc nhẫn của ông Giám-mục Ngô Đình Thục”.

Cùng một việc làm như trên, đối với những người được hấp thụ nền đạo lý cổ truyền của Đông Phương thì là một việc làm vô liêm sỉ, làm mất phẩm  giá con người, và là một việc làm đê hèn đến cùng mức của đê hèn. Nhưng đối với những người tín hữu ngoan đạo của Giáo Hôi La Mã thì lại là vinh dự vô cùng lớn lao, một việc làm vô cùng vĩ đaiﬠvô cùng cao cả, và vô cùng thiêng liêng. Không biết làm thế nào mà Giáo Hội La Mã đã nhồi sọ vào đầu óc tín đồ của Giáo Hội những nghi thức và tác phong phong kiến làm hèn hạ con người đến như vậyאָ khiến cho họ không còn biết đến phẩm giá và liêm sỉ là gì nữa. Viết đến đây, chúng tôi nhớ lại một đoạn văn của Giáo Sư Nguyễn Văn Trung nói về cái mức độ vô liêm sỉ những người Gia-tô ngoan đạo trong cung cách đối xử với nhau trong cộng đồng của họ. Nguyên văn đoạn văn này như sau:

Trong cách đối xử (họ) thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với các đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật nhất là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ Tòa Thánh, đến nỗi có những linh-mục nói rằng: “Tòa Thánh đánh rắm cũng thơm.” (15)

Không biết có phải vì cái nghi thức quái đản này mà trong thời kỳ kháng chiến 1946-1954, ngôn ngữ Việt Nam đã nẩy sinh ra cụm từ “liếm gót giầy” cho quân giặc (Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican.)

4.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ.- Biết rằng nếu không thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để làm cho tín đồ trở thành cuồng tín thì họ sẽ nhìn ra ông thượng đế bạo ngược, nhìn thấy những chuyện loạn luân dâm loàn cùng những tính cách bất nhân, bất nghĩa, phi nhân bản, phản khoa học trong những tín điều trong hệ thống lý thuết thần học mà Giáo Hội mà đã cấy vào đầu óc họ. Một khi đã biết rõ như vậy, thì rồi sớm hay muộn tín đồ cũng sẽ hoặc là chống lại Giáo Hội như các nhà trí thức trong Thời Kỳ Phục Hưng và Phong trào Đòi Cải Cách” [The Renaissance and Reformation (1350-1600)] rồi bùng nổ thành Cách Mạng 1789 và trở thành kẻ tử thù quyết không đội trời chung cùng Giáo Hội, hoặc là ầm thầm ra đi mà ca bài ca “giã biệt” để rồi nhìn Giáo Hội mà “kính nhi viễn chi” khiến cho Giáo Hội ra lệnh cho bọ nhạc nô viết bài ca trách móc “Sao ra đi mà chẳng nói năng gì?” (sao lâu nay không thấy đi nha thờ?). Mục đích của chính sách này là làm cho tín đồ (đúng hơn là nạn nhân) hoàn toàn bị điều kiện hóa, giống như một người máy, mất hết lương tri, mất hết lý trí, mất hết cá tính và cuối cùng mất luôn cả nhân tính, chỉ còn biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội. Biến được họ thành những tín đồ cuồng tín là Giáo Hội đã hoàn làm chủ họ, điều khiển họ như điều khiển một cái máy, và họ sẽ trở thành những tên lính cảm tử vô cùng hung ác trong các đạo quân thập ác được huy động đi tàn sát những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác. Trong các phần nói về “Phát động các cuộc chiến thập ác“, “Thiết lập các tòa án dị giáo” và “Những hành động dã man“, độc giả sẽ thấy những người Gia-tô cuồng tín quả là những hạng người phi cầm phi thú, tàn ác đến cùng độc của tàn ác, đến độ như không còn “nhân tính“. Sự kiện này đã khiến cho nhà báo Long Ân gọi họ là những hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về nguồn gốcon người súc sinh.”

Thực ra, nếu không dựa chính quyền đạo phiệt Gia-tô để vừa sử dụng bạo lực công an, mật vụ và cảnh sát để khủng bố và cưỡng bách nạn nhân phải theo đạo, vừa sử dụng những miếng mồi danh lợi và chức vụ trong chính quyền để dụ khị và câu nhử những phường háo danh hám lợi thì không thể thi hành được chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, và nếu có thi hành được thì cũng khó mà thành công. Vì vậy cho nên Giáo Hội cần phải nắm được chính quyền và cảnh sát hóa chính quyền rồi mới cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ. “Miệng kẻ sang có gang có thép, một khi đã có chính quyền chuyên chế trong tay rồi thì cái miệng của Giáo Hội sẽ trở thành có gang có thép, và tha hồ mà nói ngang nói ngược. Lúc đó, Giáo Hội mới cho thi hành chính sách ngu dân và phải tiến hành đúng theo phương pháp giáo dục nhồi sọ mà việc đầu tiên là phải dạy cho tín đồ học thuộc lòng cái quy luật “tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên” với câu châm ngôn do chính Giáo Hội đặt ra “Vâng lời quý hơn của lễ đúng ra là quý hơn vàng ngọc). Sau đó, tín đồ sẽ được nhồi sọ các tín điều nói về chuyện Đức Chúa Trời tạo nên trời đất, chuyện Chúa Ba Ngôi, chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh, chuyện các phép mầu và các phép bí tích. Biết rằng những chuyện hoang đường phi lý và phản khoa học trên đây sẽ không thể nào lọt được vào tai những người bình thường và những người còn có lương tri, cho nên trong khi dạy những tín điều phi lý trên đây, giảng viên luôn luôn nhắc nhở cho tín đồ phải ghi tâm khắc cốt lời dạy “Phải tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên“, “Phải có niềm tin thì mới thấy sự linh nghiệm của các phép bí tích và phép mầu“, “Chỉ cần có một chút niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể di chuyển được cả trái núi“. Trong lúc dạy, cán bộ giảng dạy được lệnh thỉnh thoảng lại chêm vào câu chữ Hán: “thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” với lời giải thích “Thiên là Chúa Trời tức là Giáo Hội” để nhắc khéo cho tín đồ biết rằng Giáo Hội là nhà nước đương quyền với những ông công an mật vụ ở khắp mọi nơi. Ở vào tình trạng dưới sứ ép của chế độ đạo phiệt với những màng lưới và công an mật vụ như vậy, dù có ngu bao nhiêu đi nữa, người dân cũng hiểu được câu chữ Hán trên đây là “thuận Gia-tô giả tồn, nghịch Gia-tô giả vong“. Muốn không vong mạng thì tốt hơn là phải ngoan ngoãn cắm đầu học thuộc lòng những tín điều quái đản của Giáo Hội, và mưốn thăng quan tiến chức cho mau cho lẹ thì phải biết khôn ngoan tỏ ra băng xng mong muốn có cái diễm phúc được hân hoan sung sướng hưởng cái ân phước “khúm núm quỳ mọp xuống sụp lạy thì thụp để hôn cà rá của các ông Giám Mục” và “hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo“.

Như đã trình bày trước đây, mục đích cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ là Giáo Hội muốniến tín đồ thành những con người máy, chỉ biết tin theo và thi hành những lệnh truyền của Giáo Hội mà không được thắc mắc hay lý luận. Có làm như vậy thì tín đồ mới ngoan ngoãn tin theo và tuân phục Giáo Hội giống như đàn cừu nghe theo người chủ chăn. Đây cũng là nguyên do mà Giáo Hội dùng những từ ngữ “con chiên” và “người chủ chăn“. Cả hai chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ đều có tác dụng là làm cho các tế bào thần kinh thuộc trung khu lý trí trong não bộ của nạn nhân sẽ dân dần bị thui chột vì lâu ngày không được sử dụng để lý luận và phân tách. Nếu tình trạng này kéo dài trong mấy năm, nhất là ở vào thời kỳ trong tuổi vị thành niên, nạn nhân sẽ dễ dàng trở thành những người mang chứng bệnh lười suy nghĩ. Khi đã ở vào tình trạng này rồi, nếu muốn dùng lý trí để phân tách một vấn đề gì phức tạp hay trừu tượng thì sẽ bị nhức đầu. Rốt cục, rồi cũng phải bỏ cuộc. Lâu ngày hóa thành quen, họ chỉ còn biết phát thanh và hành động theo lệnh truyền của các đấng bề trên (những người chủ chăn).

Đồng tiền nào cũng có hai mặt. Khi cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi so, dụng ý của Giáo Hội La Mã là làm cho dân ngu dễ trị, dân dốt dễ sài. Giáo Hội lại không biết hay không cần biết đến cái hậu quả phản tác dụng của nó. Muốn biết hậu quả phản tác dụng của chính sách này, chúng ta hãy lấy hành động của những người Gia-tô Việt Nam sáng lập ra cái gọi là “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm” làm thí dụ. Bọn người này là sản phẩm của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã. Phong trào quái đản này hăng say đánh bóng và suy tôn tên tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm lên thành một nhà “chí sĩ yêu nước” và “anh hùng dân tộc” mà không cần biết đến những thành tích của chính bản thân Ngô Đình Diệm cũng như cha và anh của hắn ta đã làm cái việc mà người Việt Nam ta gọi là “cõng rắn cắn gà nhà“. Vì dốt về lịch sử và vì không có khả năng lý trí để lý luận, họ không tiên liệu được làm như vậy là xô đẩy đại khối nhân dân yêu nước vào cái thế “cây muốn lặng mà gió chẳng muốn đừng.” Vì vậy cho nên mới có chuyện xuất hiện những ấn phẩm nói về những thành tích cướp của giết người của Tòa Thánh Vatican trong lịch sử nhân loại, những ấn phẩm nói về vai trò của Giáo Hội La Mã trong thời kỳ Việt Nam bị đánh chiếm và thống trị bởi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican, đặc biệt là những ấn phẩm nói về “Nguồn Gốc Cùng Bản Chất Của Chính Quyền Và Con Người Ngô Đình Diệm“. Thí dụ thứ hai là trường hợp của ông Linh–mục Vũ Đình Hoạt khi cho ra đời cuốn sách có tựa đề là “Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan“. Mục đích của tác giả khi viết cuốn sách này là để bào chữa tất cả những việc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa của Giáo Hội La Mã và của bạo quyền Gia-tô Ngô Đình Diệm. Trong cuốn sách này, tác giả dành ra tới hơn 5 trang và mượn đoạn văn của cụ Trần Trọng Kim trong bộ sách VNSL để chứng minh rằng Vua Hùng Vương của dân tộc Việt Nam là người Tàu và là chuyện hoang đường không đáng tin. Chúng ta hãy theo dõi đoạn văn dưới đây của ông Linh-mục Hoạt:

Có nên công nhận và coi Hùng Vương là Tổ dân tộc Việt Nam không? Hùng Vương thuộc dòng dõi Tàu… là chuyện hoang đường, không nên coi là đáng tin. Phải trừ bỏ cái lọạ chuyện hoang đường ra khỏi trí não con cháu Việt Nam để chỉ nhận chân giá trị lịch sử đích thật.” (16)

Chuyện này đã được chúng tôi nêu lên trong cuốn ViẹⴠNam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963, nơi Chương 13, và đặt vấn đề với các ông Linh-mục Hoạt như thế này: Các ông cho rằng Vua Hùng Vương là dòng dõi người Tàu và là chuyện hoang đường, không đáng tin, phải trừ bỏ ra khỏi trí não con cháu Việt Nam để chỉ nhận chân đích thực lịch sử, vậy thì xin hỏi các ông rằng: A.- Bà Maria và Chúa Jesus là dòng dõi người Do Thái hay người Việt Nam? B.- Những chuyện ông Adam và bà Evà là thủy tổ loài người, chuyện Chúa tạo dựng nên vũ trụ trong 7 ngày, chuyện Hồng Thủy, chuyện con Tầu Noah, chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh (không ăn nằm với đàn ông mà vẫn có bầu và sinh con), chuyện Chúa Ba Ngôi, chuyện 7 phép bí tích, chuyện các phép lạ, chuyện Đức Mẹ hiện xuống ở Fatima, ở Lourde, ở La Vang, tất cả có phải là chuyện hoang đường hay không? Và có cần phải trừ bỏ những loại chuyện hoang đường này ra khỏi trí não con cháu Việt Nam để chỉ nhận chân giá trị lịch sử đích thực hay không?

Quan sát rộng hơn nữa, chúng ta thấy rằng những người Việt Gia-tô cuồng tín ở hải ngoại đều là những người có đầu mà không có óc khi họ tổ chức và tích cực tham dự vào tất cả các vụ tập họp để phá thối và chống đối “buổi họp mặt ra mắt sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II” do nhóm Giao Điểm tổ chức tại Wesminster (California) vào ngày 19-8-1995, vụ phá thối và chống đối “buổi họp mặt anh em văn nghệ sĩ Bắc Mỹ” do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức vào ngày 20-12-1997 tại nhà hàng Caravan trong thành phố Seattle (Washington), và vụ bao vây Chùa Đức Viên tại San José vào những ngày cuối tháng 5-1998 để khủng bố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng từ Việt Nam qua Hoa Kỳ du ngoạn, v.v… Chuyện bao vây Chùa Đức Viên được tờ Thời Báo số 333 tại Oakland, California phát hành vào ngày 30-5-1998 ghi lại như sau:

SAN JOSÉ (Tin Việt Bắc Cali tổng hợp tin tức) – Chung quanh chuyến viếng thăm của Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng, vị cao tăng 93 tuổi (sinh năm 1906) đến từ Sàigòn, Việt Nam sóng gió đã nổi lên trong mùa Phật Đản, PL 2542: trong khi khắp mọi nơi của đất nước Hoa Kỳ từ Nam California với các thành phố Wesminster, Pomona, Los Angeles, hay Bắc California với Hayward, Mountain View, San Francisco đến Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, Washington State… Canada, Pháp v.v.. đã long trọng đón rước người đã có quá trình 86 năm xuất gia theo Đức Phật thì riêng tại San José, biểu tình đã xẩy ra, trong vòng chưa đầy một tuần lễ, đã có bốn cuộc biểu tình đả đảo với lý do “nhà sư quốc doanh, chùa của nhà sư trụ trì chưa súng AK trong dịp Tết Mậu Thân, nhà sư sang Hoa Kỳ do CSVN gủi đi là tuyên vận (?)….”

“Hòa Thượng Thích Trí Dũng sang viếng thăm Hoa Kỳ là theo tinh thần thơ mời đề ngày 2/2/1998 của tổ chức “Cộng Đồng Phật Giáo Á Châu tại Hoa Kỳ” do Hòa Thượng Thích Minh Thông ký tên, điện thoại (909) 670-7041. Tổ chức này gồm có:

1.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hải Ngoại tại Hoa Kỳ do Hòa Thượng Thích Đức Niệm và Thượng Tọa Thích Viên Lý lãnh đạo. 2.- Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy thuộc phái Nam Tông do Hòa Thượng Thích Hộ Giác lãnh đạo. 3.- Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới phái Nam Tông do Hòa Thượng Thích Giác Nhiên lãnh đạo. 4.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới do Hòa Thượng Thích Tâm Châu lãnh đạo. 5- Giáo Hội Phật Giáo Liên Tông do Hòa Thượng Thích Thanh Cát lãnh đạo.

Thư mời Hòa Thượng Thích Trí Dũng có nói rõ chương trình viếng thăm là:

a.- Cung thỉnh quang lâm tham dự chứng minh chủ lễ Đại Lễ Phật Đản PL 2542 được tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 10/5/1998 nhằm ngày rằm tháng 4 năm Mậu Dần.

b.- Thăm viếng một số danh lam thắng cảnh tại một vài tiểu bang Hoa Kỳ trong 1 tháng.

Vé máy bay khứ hồi và ăn ở cũng như các tiện nghi chi dụng của Hòa Thượng trong thời gian nói trên do Cộng Đồng Phật Giáo Á Châu tại Hoa Kỳ đài thọ.” (17)

Để biện minh cho những hành động khủng bố và những việc làm bất chánh trên đây, theo đúng sách lược “hàm huyết phún nhân“, những người Việt Gia-tô cuồng tín chụp cho Đại Lão Hòa Thương Thích Trí Dũng cái mũ “Nhà sư quốc doanh, vân vân và vân vân…” Sự kiện này chứng tỏ cái mức độ ngu xuẩn của họ đã lên đến tột cùng của ngu xuẩn. Tại sao? Xin thưa, thứ nhất, cứ giả dụ như Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng là nhà sư quốc doanh, là thân cộng, hay là Cộng Sản chính tông bà lang trọc đi nữa, thì ở xã hội Hoa Kỳ này họ có quyền tụ tập nhau lại đến bao vây Chùa Đức Viên và khủng bố nhà sư trên đây hay không? Điều này chúng tỏ vì họ đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã làm cho họ ngu đi cho nên họ không biết đến những quyền tự do căn bản và quyền hạn của một người dân sống trong một chế độ tự do dân chủ. Thứ hai, nói rằng Hòa Thượng Thích Trí Dũng là nhà sư quốc doanh, là thân Cộng, v.v…, cho nên họ mới tụ tập bao vây chùa Đức Viên và khủng bố nhà sư này như vậy, thì tại sao lại họ không kép nhau đến tòa đại sứ Việt Nam hiện nay ở Washington D.C. hay Tòa Lãnh Sự Việt Nam tại San Francisco, trong đó có cả một phái đoàn Cộng Sản công khai làm việc trong đó để mà bao vây và chửi rủa? Sự việc này cho chúng ta thấy tính cách vừa hèn hạ vừa lưu manh của những người chủ xướng việc làm bất chánh này. Nó cũng cho chúng ta biết vì ngu quá cho nên họ mới không nghĩ ra điều này. Thứ ba, “nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc“, ở Hoa Kỳ, đảng Cộng Sản được công khai hoạt động, có trụ sở công khai, có các tiệm bán sách tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng Sản, trong các kỳ bầu cử dân biểu, thượng nghị sĩ và tổng thống, đảng Cộng Sản đều có ứng cử viên ghi danh ứng cử và trong danh sách ứng cử viên, ứng cử viên Cộng Sản chiếm một vị thế ngang hàng với các ứng cử viên của các chính đảng Dân Chủ Cộng Hòa, v.v…Chính quyền Liên Bang, tiểu bang và địa phương ở Hoa Kỳ không những không chống đối Cộng Sản, không khủng bố các đảnhg viên và đảng Cộng Sản mà còn giúp đỡ các phương tiện cho những người Cộng Sản hành sử những quyền tự do căn bản của họ. Ấy thế mà, những người Việt Gia-tô cuồng tín mới được Hoa Kỳ cho vào nhập cư, đã không biết cái thân phân phận của chính mình là cái gì, mà lại còn nhẩy ra choi choi hành động giống như là một chính quyền đạo phiệt Gia-tô đối với những người Việt tỵ nạn (khác tôn giáo với họ) hay từ Việt Nam sang Hoa Kỳ du ngoạn. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ họ ngu xuẩn hon tất cả những người bị xếp hạng là ngu xuẩn. Đay là chứng bệnh ngu xuân dây truyền và di truyền. Thứ tư, nói rằng Hòa Thượng Thích Dũng phải là người của Cộng Sản thì chính quyền Cộng Sản mới cấp giấy thông hành sang Hoa Kỳ , vậy xin hỏi cũng trong thời gian này có khá nhiều tu sĩ Gia-tô cũng được chính quyền Việt Nam cấp giấy thông hành sang Hoa Kỳ thì họ cũng là Cộng Sản hay sao? Cũng trong thòi gian này, các ông ông Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn Tổng Giáo Phận Sàigòn, Linh-mục Hồ Bắc Xái (xin xem phần phụ bản) và rất nhiều tu sĩ Gia-tô khác cũng sang Hoa Kỳ để xin tiền) thì những người Việt Gia-tô ở Bắc Mỹ này ngậm miệng câm như hến, không nói năng gì cả. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ tâm địa hèn hạ và tính cách lưu manh của bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” khi họ hăng say tổ chức và tham gia vào những việc làm vi phạm các quyền tự do căn bản của những người khác tôn giáo với họ. Thực ra, tất cả những hành động xấu xa bỉ ổi trong các cuộc tập họp để bao vây và khủng bố Chùa Đức Viên trên đây là do tác dụng của lời kinh dạy họ đã được ghi rõ ràng:

Trong sách Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sàigòn in vào năm 1971 do Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt y ngày 19-3-1971, nơi trang 784-791, Kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e có những câu mang nặng tính chất kích động tiêu diệt đạo Phật và các tôn giáo khác như: “Ông Thánh Phan-xi-co Xa-vi-e phá tan đạo Bụt Thần” và “Ông Thánh P.X là lệnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.” (18)

Được nhồi sọ những tư tưởng bất nhân trên đây, những người Việt theo đạo Gia-tô đều coi những người thuộc các tôn giáo khác như là những “quân mọi rợ” theo đạo “But thần mọi rợ” và cần phải đánh tan bọn “Bụt thần mọi rợ” để “làm sáng danh Chúa“. Vì muốn “tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên“, tuyêt đối tin theo lời kinh dạy trên đây, họ tập họp thành những băng đảng đi khủng bố và phá thối buổi ra mắt sách của anh em trong nhóm Giáo Điểm, khủng bố và phá thối buổi hội thảo Văn Hóa của anh em văn nghệ tại Seattle, đi biểu tình, bao vây chùa Đức Viên ở San Jose để khủng bố vị Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng và Phật tử tại đây. Đây là “thành quả” của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã và là “cái di lụy khốn nạn nhất cho dân tộc Việt Nam“. Thật là tội nghiệp cho những người “có đầu mà không có óc” này! Vì không có khả năng lý luận, cho nên họ không biết rằng khi hành động như vậy là họ đã vi phạm các quyền tự do căn bản của những người khác. Họ cũng không biết rằng những quyền tự do căn bản này đã được hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ triệt để bảo vệ. Vì ngu dốt quá, họ không biết rằng làm như vậy là họ đã mâu thuẫn với chính họ: “Chính bản thân họ đãhải tìm đủ mọi cách để chạy trốn quê hương Việt Nam ra đi sống đời lưu vong dở câm dở ngọng ở nơi xứ lạ quê người cũng chỉ vì họ muốn được sống trong một quốc gia có luật pháp bảo vệ cho mọi người cùng được hưởng những quyền tự do căn bản này. Ấy thế mà khi vừa mới được an thân sống trong một chế độ tự do dân chủ thì họ lại đi kết bè kết đảng với những người đồng đạo thành băng đảng để khủng bố những người khác tôn giáo dù là đồng cảnh ngộ với họ. Âu cũng là hậu quả của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã đã làm cho họ ngu dốt quá hóa cho nên không nhìn ra điều nghịch lý này. Sự kiện này cho chúng ta thấy rằng, những hạng nguời này không thể thích nghi được với lối sống trong các quốc gia theo chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ và Tây Âu.

(Tờ phụ bản ông Linh-mục Hồ Bặc Xái sang Mỹ xin tiền)

5.- Thiết lập các Tòa Án Dị Giáo.- Giáo Hội La Mã cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ là có mục đích làm cho tín đồ ngu đi, không còn có khả năng thông minh để nhìn ra ý đồ bất chính của Giáo Hội khi bịa đặt ra những chuyện thiên đường, địa ngục, lò luyện tội, các phép bí tích, phép lạ và phép mầu. Ấy thế mà vẫn còn có nhiều người không bị làm cho ngu đi. Những người “không ngu” này đã nhìn thấy rõ dã tâm thâm độc của Giáo Hội khi đặt ra những chuyện hoàng đường phí lý và láo khoét này. Họ cũng đã nhìn thấy một bộ mặt thật cùi hủi vô cùng ghê tởm của Giáo Hội:

1.- Trong khi lên mặt đạo đức dạy dỗ tín đồ rằng “phải sống đời trinh bạch, sống nghèo và tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên” thì các ông giáo hoàng, các ông tu sĩ của Giáo Hội lớn cũng như nhỏ thi nhau sống đời phóng đãng, làm những chuyện thương luân bại lý, loạn luân dâm loàn còn tệ hơn cả loài sức sinh (xin coi phần nói về loạn luân dâm lọan trước đây).

2.- Trong khi Giáo Hội lên mặt thánh thiện dạy dỗ tín đồ “phải sống nghèo thanh bạch” với những lời những dạy láo khoét “Phúc thay cho những kẻ sống nghèo” thì Giáo Hoàng của Giáo Hội lại “mặc áo long bào hoàng đế, đội vương miện ba tầng, cầm gậy vàng, ngồi kiệu 16 người khiêng, lọng hoa tán tía rợp trời, đi giữa rừng gươm giáo sáng ngời, giữa rừng mâu thuẫn lóa mắt, leo lên hàng tột đỉnh vua trên hết các vua, chúa trên hết các chúa” (19).

3.- Trong khi Giáo Hội lên mặt kẻ cả của một nhà đaọ đức khiêm nhường và nhân từ dạy bảo giáo dân “phải thương nhau như anh em một nhà và tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên” thì các nhà lãnh đạo của Giáo Hội từ ngôi vị chóp bu là Giáo Hoàng xuống đến hàng tu sĩ cấp thấp nhất là linh mục trông coi một xóm đạo đã không từ nan một thủ đoạn thâm độc, gian ác và đê tiện nào để hạ thủ và thanh toán lẫn nhau trong việc giành giật ngôi vị và quyền hành trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Sự kiện này đã đưa đến tình trang Đại Ly Giáo (Great Schism) kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417. Trong thời gian này, Giáo Hội đấm đá và xâu xé nhau để tranh giành địa vị và quyền lực mà hậu quả là Giáo Hội đã phân hóa ra làm 3 phe đảng. Mỗi phe đưa một tên đầu đảng lên làm giáo hoàng, rồi ra công chửi bới, hạ nhục lẫn nhau trong cuộc chiến giành giật ngôi vị giáo hoàng giống như ba con chó gầm ghè với nhau khi cùng chợt thấy một cục xương do một người nào đó vừa liệng ra. Cả 3 phe đều tự xưng là chính thống và gọi hai phe kia là ngụy khiến cho giáo dân hoang mang chẳng biết ông giáo hoàng nào là chính thống và ông giáo hoàng nào là ngụy hay là giặc. Chúng ta hãy theo dõi một đoạn văn sử do Giáo-sĩ Malachi Martin ghi lại chuyện các phe phái trong Giáo Hội đấm đá nhau trong thời kỳ này:

Tại Đại Học Boligna, Cossa và mọi người khác đều nhìn thấy những gì đã xẩy ra. Giáo Hoàng Urban IV và các ông hồng y của phe ông ta thù ghét phe cánh Giáo Hoàng Clement VII. Và ngược lại. Giáo Hoàng Urban sống ở La Mã. Giáo Hoàng Clement sống ở Pháp. Giáo Hoàng Urban được các ông hoàng đế của các nước Đức, Na-Uy, Thụy Điển, Dan Mạch, Anh Cát Lợi, Ái Nhĩ Lan, Hung Gia Lợi và Ba Lan ủng hộ. Giáo Hoàng Clement được các ông hoàng của các xứ Naples, Savoy, Tô Cách Lan, Tây Ban Nha, Pháp và Đại Học Paris ủng hộ. Giáo Hoàng Urban ra lệnh rút phép thông công Giáo Hoàng Clement và tất cả những người thuộc phe cánh của ông giáo hoàng này. Đối lại, Giáo Hoàng Clement cũng ra lệnh rút phép thông công Giáo Hoàng Urban và tất cả những người theo phe Giáo Hoàng Urban. Mỗi ông giáo hoàng thăng chức cho một số chân tay lên chức hồng y, thiết lập giáo triều riêng, liên kết với các phe phái khác làm vây cánh, ban hành sắc lệnh riêng và bán giấy xá tội riêng để kiếm tiền (sold his own indulgences). Cả hai phe đều sử dụng gián điệp, sát thủ, lính đánh thuê, du côn, để lừa bịp lẫn nhau, sát hại lẫn nhau, đút lót hối lộ và phản phé lẫn nhau. Sự thù nghịch của họ đã tạo nên cuộc chiến khiến cho nhiều quốc gia Âu châu liên lụy và hàng ngàn lương dân bị tàn sát, bị thiêu sống và bị hành hạ. Phe nào cũng bảo phe kia là ngụy và tuyên bố sẽ rút lui nếu phe kia rút lui trước… Cả Âu châu bị rơi vào tình trạng chia rẽ theo phe với họ. Phe nào cũng nắm được một số người tốt, một số người xấu và đại khối lê dân khốn khổ nằm dưới ách thống trị của họ…” (20)

Không nói đâu xa, ngay cả trong thời hiện đại ngày nay, bộ mặt thật ghê tởm của các ông tu sĩ trong hàng chức sắc tại các địa phương được nhà văn Gia-tô J. Ngọc mô tả qua nhân vật Cha Y trong bộ sách “Cõi Phúc và Giây Oan” (Houston, TX, Văn Hóa, 1996). Rõ ràng nhất là bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” của Giáo-sư Nguyễn Văn Trung đã phơi bày bộ mặt thật trong cung cách đối vử với nhau và đối với giáo dân của các ông tu sĩ từ hàng cao cấp (áo hồng, áo tía) cho đến những người nắm giữ chức vụ bé nhỏ nhất trong hệ thống quyền llực của Giáo Hội tại Việt Nam. Chúng ta hãy theo dõi đoạn văn mở đầu cho bài viết này:

Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam, có những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Thực vậy, chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì chơi với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đọa trong Giáo Hội ngày càng tăng thêm. Trong Giáo Hội, người giáo dân ở địa vị thấp nhất, nữ giáo dân luôn luôn nằm dưới. Thật là nghịch lý trong khi Đức Mẹ lại được các cha, nhất là các cha Dòng Cứu Thế “ga lăng” hết cỡ. Người giáo dân chỉ có quyền vâng lời, đóng góp và hầu hạ các Đấng, các bậc trong Hội Thánh. Ai vâng lời dưới 100% có thể bị coi là “rối đạo” và bị loại trừ bằng dưới mọi hình thức, nhất là không vâng lời về chuyện chính trị và tiền bạc thì xem như lúa đời, phạm tội cực trọng, đáng sa hỏa ngục đời chẳng cùng Amen…” (21).

Tình trạng này đã khiến cho nhân miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1975 phải lợm giọng mà tỏ thái độ vô cùng khinh bỉ dối với bọn tu sĩ Gia-tô đến cùng mức của khinh bỉ bằng một cầu vè đi vào trong ngôn ngữ Việt Nam là “Nhất đĩ, nhì cha” và nhớ nằm lòng rằng “Đừng tin những gì Giáo Hội nói, mà hãy nhìn những gì Giáo Hội làm.” Đây là tình trạng bọn tu sĩ Gia-tô tại Việt Nam từ xưa cho đến nay. Ngày nay, ánh sáng khoa học đã chiếu rọi vào bức màn đen tối cho mọi người nhìn thấy rõ những thủ đoạn lường gạt người đời bằng những chuyện hoang đường trong hệ thống thần học và tín lý bịp bợm của Giáo Hội, đã biết rõ những món hàng rao bán của các ông là “đồ giả“, đã tặng cho các ông cái hỗn danh “bọn quạ đen” (les corbeaux noirs), và nhiều khi còn gọi là “bọn lưu manh buốn thần bán thánh độ lốt thày tu” mà các ông còn bất cần vẫn tìm cách để “chơi nhau” thay vì “chơi với nhau“,. Hơn thế thữa, các ông còn lộng hành “coi giáo dân như cỏ rác“, coi những người khác tôn giáo như những “phương mọi rợ“. Huống chi là vào thời tiền Cách Mạng Pháp 1789. Thời đó, chắc chắn là “bọn qụa đen” (les corbeaux noirs) này đã coi giáo dân còn tệ hơn cả cỏ rác! Thực hư như thế nào, xin độc gỉa cứ tìm đọc cuốn Cách Mạng Và Hành Động (Nghiêm Xuân Hồng, Saigon, Quan Điểm, 1964) thì sẽ thấy rõ. Chính vì vậy mà nhân dân Âu châu hồi đó lúc nào cũng bừng bừng uất hận, sôi máu căm hờn. Đối với họ, những bánh vẽ thiên đường, phép mầu, phép lạ, bí tích hay bí hiểm, hỏa ngục và lò luyện tội chỉ là những thứ trò hề bịp bợm. Trong lòng họ, mối lo lớn lao nhất là phải tìm cách dứt bỏ được cái ách thống trị bạo tàn của bè lũ quạ đen bằng bất cứ giá nào. Cao trào chống đối của nhân dân ngày một dâng cao khiến cho Giáo Hội ăn không ngon, ngủ không yên, phải bàn nhau tìm mưu tính kế chống lại nhân dân. Cũng vì thế mà vào đầu thế kỷ 14, Giáo Hội cho thiết lập các tòa án dị giáo (inquisitions) và ra lệnh cho các chính quyền tay sai cũng thiết lập các tòa án dị giáo như vậy. Các tòa án này có sẵn một hệ thống mật vụ riêng của Giáo Hội và được trao cho toàn quyền sử dụng quân đội truy lùng và càn quét để tóm cổ tất cả những người dân nào bị nghi ngờ là “tà giáo” hay không tin tưởng vào Giáo Hội. Nạn nhân bị tóm cổ phải trải qua một thời kỳ hành hạ và tra tấn vô cùng man rợ (sẽ nói ở phần tội ác tàn ngược và man rợ), và sau cùng sẽ bị thiêu sống cho đến chết. Về hệ thống mật vụ của Giáo Hội, ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, viết như sau: “Cha con tố các nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v. trước tòa án của Giáo Hội.” (22).

Nhà viết sử Lương Minh Sơn kể lại những hành động vô cùng man rợ của Tóa Án Dị Giáo tại Tây Ban Nha như sau:

Inquisition (Tòa Án Dị Giáo) có ba nghĩa tùy theo lối sử dụng câu văn: Thứ nhất là một sự kết tội và tuyên án mà Tòa Thánh Thiên Chúa Giáo La Mã (the Roman Catholic Church) đã từng áp đặt nhằm mục đích đè bẹp các giáo phái khác; thứ hai là một cuộc điều tra có tính cách vi phạm đến đời tư và quyền tư hữu của người khác; thứ ba là một cuộc tra khảo có tính cách nghiêm khắc và tàn nhẫn, [MIF, “Inquisition”].

“The Spanish Inquisition” là thời kỳ hoàng gia Tây Ban Nha ra lệnh bắt bớ và tàn sát những người theo các giáo phái khác vì cho là “dị giáo”. Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1478, khi Hoàng Hậu Isabella de Castille khởi động phong trào bắt bớ những người Do Thái, mặc dù đã theo Thiên Chúa Giáo La Mã nhưng vẫn còn bí mật duy trì những tục lệ của Do Thái Giáo. Năm 1483, Vua Ferdinand V và Hoàng Hậu Isabella cử giáo sĩ Tomas de Torquemada của dòng tu Spanish Dominican lên nắm quyền tư lệnh để thi hành chương trình “Inquisition” trên toàn lãnh thổ và những vùng thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1487, Đức Giáo Hoàng Innocent thứ VIII phong thưởng cho giáo sĩ de Torquemada danh hiệu “The Grand Spanish Inquisitor”, một “inquisitor vĩ đại”, và ra lệnh khởi động chương trình “Inquisition” trên toàn thế giới. Ngày 31-04-1492, Hoàng Gia Tây Ban Nha ra sắc lệnh bắt buộc 150 ngàn người Do Thái ở thành phố Granada phải bán tháo hết của cải để rời khỏi Tây Ban Nha trước ngày 31-7 (năm đó) vì lý do để làm sạch cho “danh dự và rực rỡ của Thượng Đế.” Hàng ngàn người Do Thái phải miễn cưỡng “theo đạo” nhưng sau này vẫn bị nguyền rủa là “Los Marranos” (Loài Heo Dơ Bẩn). Hơn 60 ngàn người phải đút lót tìm đường vào định cư ở Bồ Đào Nha. Một số khác được Hoàng Đế Bajazet của Ottoman (Cổ Thổ Nhĩ Kỳ) thâu nhân, mặc dù giáo phái chính của đế quốc này là Chánh Thống Giáo (Orthodox).

Năm 1499, một “Spanish Inquisitor” khác là Tướng Francisco Jimenez de Cisneros áp đặt phương cách làm lễ biến đổi những người “dị giáo” sang Thiên Chúa Giáo La Mã một cách tập thể, và chuyện này đã bắt lửa cho cuộc đại loạn đẫm máu ỏ Granada. Năm 1543, các “Spanish Inquisitors” ra lệnh xử đốt những người Tin Lành trên các phong thánh giá. Cuộc đàn áp tôn giáo này kéo dài 342 năm. Năm 1820, khi Hoàng Đế Fredinand VII ra lệnh chấm dứt thời kỳ “Inquisition” thì Đế Quốc Tây Ban Nha đã mất gần hết các thuộc địa vùng Trung Mỹ, [TRA, “Human Rights and Social Justices”: 1478, 1483, 1492, 1499, 1543, 1820]. (23)

Một vài hình ảnh vô cùng man rợ của Tòa Án Dị Giáo được Giáo-sư Trần Chung Ngọc kể lại trong cuốn Công Giáo Chính Sử như sau:

Tòa Án Dị Giáo vói những hình cụ tra tấn ác ôn không thể đếm xuể; chúng ta thấy Auto-fé (cuộc lễ sau phiên tòa xử dị giáo, trao nạn nhân cho chính quyền hành hạ và thiêu sống; TCN). – nơi mà những người bị kết án là dị giáo bị chế riễu rồi dẫn đi tra tấn hay thiêu sống; chúng ta thấy con người bị căng ra trên cái giá, bị trẹo khớp xương, và chân tay bị xé ra; chúng ta thấy họ bị lột da sống – thân xác đẫm máu của họ bị đóng dấu bằng một miếng sắt nung đỏ; chúng ta thấy những con người bị phủ đầy hắc ín rồi thiêu sống; chúng ta thấy họ bị ném từ trên các chòi cao xuống đường phố, đầu dọng xuống đất; chúng ta thấy họ bị chôn sống; chúng ta thấy họ bị treo cổ và cắt ra từng mảnh; chúng ta thấy bị những móc sắt hơ nóng móc lòi con ngươi ra, lưỡi họ bị kéo ra, xương họ bị gẫy nát, thân mình họ bị cả ngàn mũi kim đâm vào; chúng ta thấy những bà già bị trói chặt vào chân những con chiến mã hung hăng, và hàng triệu người bị tra tấn bởi những hình cụ ác ôn mà các bọn cuồng tín tôn giáo có thể nghĩ ra. Bọn người này (tin rằng họ) nhận được quyền lực trực tiếp từ Thượng Đế vì mọi điều này được dạy ngay trong Thánh Kinh.” (24)

Cho đến ngày nay, chưa ai biết chắc con số nạn nhân bị các Tòa Án Di Giáo của Giáo Hội La Mã tra tấn, gây thương tật và sát hại là bao nhiêu triệu người. Sách Smokesecreens được biên soạn và phát hành vào năm 1983 (năm này Giáo Hoàng John Paul II chưa mở kho mật hàm cho các nhà viết sử đến tham khảo) cho biết là con số nạn nhân này trong thời các Tòa Án Dị Giáo của Tây Ban Nha hoạt động là 68 triệu:

Chỉ nội trong thời kỳ thi hành chương trình Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mã đã tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh.” [The Roman Catholic Institution tortured, mained and murdered 68 million people during the Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians.] (25)

Ngoài con số 68 triệu nạn nhân trên đây, còn bao nhiêu chục hay trăm triệu nạn nhân khác nữa ở ngoài tầm tay của chính quyền Tây Ban Nha, nhưng vẫn nằm trong ách thống trị bạo tàn của Tòa Thánh Vatican mà chúng ta chưa biết được. Nhờ việc kho mật hàm của Giáo Hội mới được mở cho các nhà viết sử đến tham khảo, trong tương lai rất gần, sẽ có những ấn phẩm mới nói về chuyện này. Khi đó nhân thế giới sẽ được biết rõ hơn về con số nạn nhân bị Giáo Hội La Mã sát hại và mức độ tàn ác của Tòa Thánh Vatican như thến nào.

6.- Phát động các cuộc chiến thập ác.- Thiết lập các Tòa Án Dị Giáo là để đàn áp và sát hại người dân nằm trong vòng quyền lực của Giáo Hội và chính quyền tay sai của Giáo Hội. Phát động các cuộc chiến thập ác là đem quân đi đánh chiếm các vùng đất lân cận nằm ngoài vùng kiểm soát của các chính quyền tay sai của Giáo Hội. Vì cảm thấy ảnh hưởng của Giáo Hội càng ngày càng co lại (vì nhân dân căm thù chính sách bạo ngược của Giáo Hội), năm 1095, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099), kêu gọi các chính quyền tay sai ở Tây và Nam Âu thành lập các đạo quân viễn chinh tiến vào Palestine để giành lại vùng đất này đang nằm trong tay người Hồi Giáo. Nói là như vậy, nhưng thực ra Giáo Hội ra lệnh xua quân tiến vào nhiều vùng ở ngay trong nước Pháp, nơi mà có nhiều nhóm dân không tin theo cái lối thờ phượng thần linh một cách vô cùng quái đản của Giáo Hội. Tất cả có vào khoảng 8 cuộc chiến Thập Ác kéo dài vào khoảng 2 thế kỷ khởi đầu từ năm 1096. Thành phần của đoàn quân xâm lăng cướp của giết người này là do các chính quyền tay sai Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha cung cấp cho Giáo Hội. Mỗi chiến binh trong đoàn quân ăn cướp này đều may một miếng vài hình chữ thập to tổ bố ở trên bộ quân phục. Vì thế cho nên các sử gia gọi những người lính trong đoàn quân này là quân Chữ Thập (Crusaders) và các trận chiến này là Cuộc Chiến Chữ Thập (Crusades). Vì quân lính trong đạo quân này tàn ác quá cho nên người ta còn gọi là Quân Thập Ác. Về mức độ tàn ác và dã man với những thành tích giết người và cướp của thì chắc chắn là đoàn quân này chiếm kỷ lục trong lịch sử nhân loại. Trước hết chúng ta hãy xem những thủ đoạn lưu manh, thâm độc và gian ác của Giáo Hội trong việc khơi dậy và khích động lòng tham lam ích kỷ hèn hạ của con người để lôi cuốn họ đi làm cái công việc cướp của giết nguời cho Giáo Hội. Sách Men and Nations viết:

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trùng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán.” (26)

Đoạn văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội có chủ tâm khêu gợi lòng tham lam, ích kỷ, háo danh và hám lợi của tín đồ để lợi dụng họ bằng cách ban phát cho họ cả món quà thưởng về tinh thần là cho lên thiên đường (món quà bịp của Giáo Hội) và cả những món quà về vật chất như đoạn văn trên đây đã nêu ra. Cùng một thủ đoạn và mục đích như trên, chủ trương thiết lập các chế độ đạo phiêt Gia-tô, Giáo Hội có chủ đích nắm độc quyền sử dụng các chức vụ và bổng lộc trong chính quyền làm miếng mồi khêu gợi lòng tham lam ích kỷ của tín đồ để lôi cuốn họ chạy theo làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội. Tới đây, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao Giáo Hội lại suy tôn và vinh danh ông thần của người Do Thái với đủ các thứ tính nết xấu xa, đê tiên, tham lam, ích ky, háo danh, hám lợi, … lên hàng Thượng Đế rồi cưỡng bách người đời phải thờ phượng. Giáo Hội làm như vậy không có gì khác hơn là nuôi dưỡng và phát triển những thứ tính nết xấu xa tồi tệ này trong lòng tín đồ làm nguồn năng lực dự trữ chờ khi cần đến thì đã có sẵn để lôi cuốn họ nhẩy ra tranh nhau làm tay sai như một đạo quân thập ác trong việc bành trướng và bảo vệ quyền lực của Giáo Hội.

Trở lại chuyện các cuộc chiến Thập Ác, về mức độ tàn ác của đoàn quân này thật là xứng đáng với danh xưng của nó là “Quân Thập Ác”. Sử gia Malachi Martin viết:

Một chế độ quân phiệt ra đời: Các nước có người cầm quyền là tín đồ của Giáo Hội La Mã phải được bảo vệ bằng những tín đồ của Giáo Hội La Mã (quân Thập Ác) (*). Phải tiến hành những cuộc thánh chiến và chiến tranh là nhiệm vụ thần thánh. Tàn bạo đối những kẻ thù của Chúa Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất do Giáo Hội La Mã kiểm soát là sự trả thù của Thượng Đế. Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân tà giáo Albigences tuyên bố: “Bất kể gì là nam hay nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau.” Hiệp sĩ ngoan đạo Gia-tô tên là Roland, khi chỉ huy đạo quân tiêu diệt người Moors (Hồi Giáo) đã hô lớn khẩu hiệu “Tà giáo là những người xấu xa. Tín đồ Gia-tô là những người công chính ngay thẳng.” Khi tiến tới bao vây kinh thành Jerusalem, những người lính Thập Ác trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất hăng say với niềm tin rằng thiên thần đại diện cho Chúa đang chiến đấu bên cạnh họ. Thành tích của họ là 17 ngàn dân Hồi Giáo bị tàn sát dưới lưỡi gươm của họ ở ngay nơi đền thờ Solomon và tất những người Do Thái ở trong các giáo đường đều bị thiêu sống.” (27)

(*) Cũng vì Giáo Hội La Mã dạy rằng “Các nước có người cầm quyền là tín đồ của Giáo Hội La Mã phải được bảo vệ bằng những tín đồ của Giáo Hội La Mã (quân Thập Ác)” cho nên khi ông Gia-tô Ngô Đình Diệm vừa được Vatican và Hoa Kỳ đưa về Việt Nam cho giữ chức thủ tướng vào tháng 7 năm 1954 (rồi truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại) thì ngày 25-2-1955, tín đồ Gia-tô Nguyễn Văn Chức viết thư đề nghị với chính quyền đạo phiệt Gia-tô này phải thành lập một Đạo Quân Thập Ác (gồm toàn những tín đồi Gia-tô cuồng tín) để thực thi lời dạy của Giáo Hội. (Nguyên bản lá thư đã được phong ảnh và in lại nơi các trang 527-529 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963).

Sách Men and Nations – A World History viết:

Trong cuộc chiến Thập Ác lần thứ nhất,… Sau một thời gian bao vây, quân Thập Ác chiếm được thành Jerusalem. Họ tàn sát dân Hồi giáo thật là vô cùng rùng rợn. Một vị chỉ huy quân Thập Ác viết cho Giáo Hoàng rằng con chiến mã của ông ta phải đi băng qua những xác chết và máu người lênh láng lên đến đầu gối…” (28)

Sách Lòng Tin Âu Mỹ Đấy ghi lại:

Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến diệt họ (khối nhân dân ở vùng Toulouse thuộc miền Nam nuớc Pháp ngày nay. Lý do là vì họ không tin theo cái lối thờ phượng quái đản của Giáo Hội)… Đám quân Thập Ác dưới quyền chỉ huy của giáo sĩ Armaud Amauri, đại diện Giáo Hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ vào ngày 22-7-1209. Toàn dân ở trong thành đều bị giết hết kể cả đàn bà và trẻ con.” (29)

Các cuộc chiến thập ác này kéo dài gần hai thế kỷ. Chúng ta không biết rõ có bao nhiêu sinh linh bị tàn sát tại các vùng đất được Giáo Hội gửi các đạo quân Thập Ác mang Hồng Ân Thiên Chúa đến cho họ. Trong cuốn Công Giáo Chính Sử, Giáo–sư Trần Chung Ngọc ghi lại là hơn 20 triệu nạn nhân bị giết hại (30). Cho đến ngày nay, chưa có sách sử nào nói rõ có bao nhiêu triệu nạn nhân bị thương tật và bao nhiêu triệu nạn nhân lâm vào cảnh con mất cha, vợ mất chồng, trẻ thơ bơ vơ không người chăm sóc, phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, co ro trong những đêm đông dài lạnh giá tuyết phủ ngập trời và trần mình chịu đựng trong những ngày hè oi ả giữa trời nắng chang chang như thiêu như đốt. Chúng ta cũng không biết rõ con số thiệt hại về mùa màng bị tiêu hủy và về các công trình kiến trúc bị những người lính trong các Đoàn Quân Thập Ác này đã cố tình tiêu hủy như đám lính Gia-tô của ông Linh-mục Hoàng Quỳnh cố tình tiêu hủy ngôi Chùa Một Cột vào ngày 10 tháng 09 năm 1954, trước khi rút vào miền Nam.

7.- Hành động dã man đối với nạn nhân.- Người ta thường nói rằng chiến tranh là tàn ác. Thiết tưởng câu nói trên đây vẫn còn thiếu sót. Phải nói rằng chiến tranh tôn giáo luôn luôn là tàn ác và tán ác hơn tất cả các loại chiến tranh khác trong lịch sử loài người. Những đoạn văn đã trình bày trên đây là bằng chứng chứng minh cho điều này. Tất cả những sự tàn ác đã trình bày trong phần “Phát Động Các Cuộc Chiến Thập Ác” chỉ là bản chất bạo ngược của những người lính Thập Ác vì lòng cuồng tín về tôn giáo do Giáo Hội đã nhồi sọ cho họ qua những tín điều hay lời kinh bất nhân thất đức như chúng ta đã thấy như là “Phá tan đạo Bụt thần“. Tuy nhiên, ở nơi chiến trường, vì phải tranh thủ thời gian bảo vệ mạng sống trong lúc phải xông pha đối đầu với làn đạn và họng súng của địch quân, bọn lính Gia-tô trong các Đoàn Quân Thập Ác không đủ thì giờ và phương tiện để cho chúng trổ tài cho chúng ta thấy hết những thú tính man rợ của chúng mà nhà báo Long Ân phải gọi là “bon người đã cúi đầu đi trên bốn chân, trở về nguồn gốc con người súc sinh” (31). Xin mời quý vị theo dõi phần trình bày dưới đây để xem nhà báo Long Ân gọi những người tín hữu Gia-tô cuồng tín như vậy có đúng hay không. Sách The Decline and Fall of The Roman Church viết:

Giáo Hoàng Formosus (891-896) chết và đã chôn được hơn 11 tháng rồi. Theo ý muốn của bà Agiltruda (một bà Hoàng có thế lực trong giáo triều Vatican), tân Giáo Hoàng Stephen VII (896-897) ra lệnh quật mồ Ngài, lấy xác đem về Dinh Lateran cho mặc áo choàng của Giáo Hoàng và để ngồi vào chiếc ngai vàng của giáo triều, rồi tiến hành phiên tòa xử tội. Phiên tòa xử tội này do chính Giáo Hoàng Stephen VII cùng các ông hồng y và giám mục trong Tòa Thánh Vatican cùng ngồi xử. Đây là một phiên tòa lừng danh về việc xử xác chết lừng danh (trong lịch sử). Bà Agiltruda muốn có phiên tòa này đã từ lâu. Đó là lý do khiến cho bà đem theo cô bé Morozia cùng đi với bà tới Dinh Lateran và bà vui cười sung sướng vào lúc này. Trong phòng xử, mọi sự việc đều tiến hành đúng như dự trù. Chính Giáo Hoàng Stephen VII và một công tố viên của giáo triều đối chất với xác chết đã rữa thối này. Có một thanh niên trợ tế 18 tuổi run rẩy đứng bên cạnh để trả lời thay cho xác chết theo lời đã dặn trước. Phiên xử bắt đầu khi Giáo Hoàng Stephen VII quát tháo với vẻ mặt xanh xám trong cơn giận dữ: “Tại sao mày lại tiếm đoạt ngôi vị giáo hoàng?” Cậu thanh niên trợ tế trả lời thay cho xác chết của Giáo Hoàng Formosus: “Vì tôi là kẻ xấu.” Vào lúc gay cấn nhất của phiên tòa, các ông Hồng Y Sergius, Benedict, Paschalis, Leo, John và nhiều nhân vật khác trong hàng giáo phẩm chạy ào tới xác chết lột bỏ áo choàng (dành riêng cho chức vụ giáo hoàng) và xé rời 3 ngón tay của bàn tay mặt ra khỏi bàn tay. (Giống như các ông giáo hoàng khác, khi còn sống, Giáo Hoàng Formosus thường dùng 3 ngón tay này để ban phước lành trong khi làm lễ.) Sau đó, họ lôi xác chết này ra khỏi phòng xử. Khi các ông hồng y và tu sĩ khác xúm nhau lôi xác chết này ra khỏi Dinh Lateran và kéo lê theo dọc đường phố thì cô bé Marozia cũng có mặt ở đó… Rồi thì họ liệng cái xác chết đó xuống sông Tiber làm cho nước sông bắn tung tóe lên. Sau đó, Giáo Hoàng Stephen VII sai Hồng Y Sergius đem 3 ngón tay đã xé rời khởi xác chết dâng lên cho bà Agiltruda theo lời yêu cầu của ba ta.”

[“Formosus had been dead and buried for over eleven months. On Agiltruda’s suggestion, Pope Stephen had the rotting corpse dug up, brought to the Lateran Palace, clothed in pontifical vestments, placed sitting on a papal throne, and then tried for capital crimes by Stephen and his cardinals and bishops. This was the famous Corpse Synod. Agiltruda had looked forward to it for a long time. This is why she came to the Lateran Palace with Marozia. This is why she was smiling and gay. Inside the synod, all went according to the plan. Pope Stephen himself and a papal accuser crossed-questioned the rotting corpse (a trembling eighteen-year-old deacon stood beside the corpse and answered for voiceless Formosus). The conviction came when Pope Stephen, livid with fury, shouted: “Why did you usurp the See of the Apostle?”. And the young deacon answered for the dead Formosus: “Because I was evil.” At that crucial confession, Cardinals Sergius, Benedict, Paschalis, Leo, John, and the others rushed on the corpse, ripped the pontifical vestments from it, tore off the first three of the right hand (Formosus like every pope, gave the papal blessing with those fingers), and then dragged the corpse from the hall. Marozia was there as the cardinals and clergy dragged the corpse out of the palace and along the streets….And then there was the dull splash as they threw the remains of Formosus into the River Tiber. Pope Stephen then sent the three torn fingers to Agiltruda, by the hand of Cardinal Sergius. This was Agiltruda’s request.”] (32)

Chuyện này xẩy ra vào cuối thế kỷ thứ 9 và đã thành một truyền thống, đúng hơn là một thứ đạo lý man rợ và luôn luôn được Giáo Hội La Mã truyền dạy để “làm sáng danh Chúa” trong việc trả thù những người bị Giáo Hội thù ghét. Vì thế cho nên, sau này chúng ta còn thấy có nhiều người Gia-tô khác cũng đào mả trả thù xác chết những của người mà đạo Gia-tô cho là quân “tà giáo” và “mọi rợ“. Sách “Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!” ghi lại một trường hợp tương tư như vậy:

Tòa án Giê-su (Tòa Án Dị Giáo của Giáo Hội La Mã) theo đuổi trừng phạt cả những người bị kết tội là tà giáo nhưng đã chết. Chẳng hạn, năm 1329, tòa án đạo Giê-su ở Carcassonne cho đào mả 7 người phạm tội theo tà giáo, móc xác lên đốt đi; của cải của họ bị tich thu, dòng dõi họ bị trừng phạt.” (33)

Sau này, cuối thế kỷ thứ 19, vị anh hùng dân tộc lãnh đạo lực lượng nghĩa quân Văn Thân ở Vụ Quang là cụ Phan Đình Phùng cũng bị bọn Gia-tô Ngô Đình Khả đào mồ lấy xác đem đốt thành tro, rồi lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông Lam Giang để trả thù cho những chiến dịch “Bình Tây Sát Tả” của nghĩa quân ta dưới quyền lãnh đạo của Người trước kia. Chuyện này được cụ Lê Hữu Dản ghi lại như sau:

Theo tài liệu lịch sử, Ngô Đình Khả được triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đình Phùng và đặc biệt đã đào mả cụ Phan (lấy xác đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng bắn đi cho tiêu tan hài cốt cụ Phan.” (34)

Trên đây là những “Hồng Ân Thiên Chúa” dành cho những người bị Giáo Hội cho là những quân “tà giáo” hay “mọi rợ” dù là đã chết và đã nằm yên trong lòng đất. Nhưng nếu những người “tà giáo” hay “mọi rợ” này còn sống mà chẳng may lại lọt vào tay những nguời Gia-tô thì cái “Hồng Ân Thiên Chúa’” dành cho nạn nhân còn man rợ hơn gấp ngàn lần. Trước hết, chúng tôi xin nói về dụng cụ tra tấn mà Giáo Hội dùng để tra khảo nạn nhân. Giáo-sư Trần Chung Ngọc chỉ cho chúng ta thấy ở viện bảo tàng “Medieval Dungeon” ở đường Jefferson, thuộc khu Fisherman Warf trong thành phố San Francisco, California, có trưng bày hơn 40 hình cụ mà các tòa hình án dùng để tra tấn nhưng nạn nhân bị cáo là dị giáo. Ngoài cửa viên bảo tàng có hàng chữ:

Trưng bày hơn 40 hình cụ man rợ để tra tấn và hủy diệt con người trong thời đại Trung Cổ ở Âu châu. Đằng sau những cánh cửa này là sự khủng khiếp thực sự của thời đại Trung Cổ ở Âu Châu. Những ngày đen tối nhất của cái quá khứ nhơ nhớp của họ.” (35)

Cũng trong trang sách này, Giáo sư Ngọc ghi lại lời viết của Linh-mục Joseph Dunn viết trong cuốn Đám Tín Đồ Gia Tô Chúng Tôi “The Rest of Us Catholics”, trang 184, như sau:

Có một cuộc triển lãm thường xuyên những hình cụ tra tấn tại Amsterdam – Đã một lần tôi đặc biệt tới xem cuộc triển lãm này… Đây là những hình cụ tra tấn của những tòa hình án xử dị giáo mà Văn Phòng Thánh là cơ quan thừa kế. Có những hình cụ nghiền nát đầu, nghiền nát ngón tay, giá thang để căng (banh) người, phanh ngực, chẻ đầu gối, có` những hình cụ giống quả lê và làm nó nở ra dần dần sau khi đâm vào miệng, hậu môn, âm hộ, khuôn người bằng sắt, những cái chĩa dành cho dị giáo, và những con nhện Tây Ban Nha – kèm theo những bản khắc và tài liệu chỉ cách thưc sử dụng những hình cụ này.” (36)

Sách Smokescreens ghi lại khá nhiều chuyện thật là vô cùng rùng rợn mới xẩy ra trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Dưới đây là một chuyện:

Nạn nhân của bọn mật vụ Ustachi (đạo phiệt Gia-tô Croatia trong thời bạo chúa Ante Pevalich) không những bị tra tấn tàn nhẫn về thể xác, mà còn bị hành hạ đau đớn về tinh thần và lương tâm nữa. Một trường hợp vô cùng dã man và tàn ác chưa từng thấy như trường hợp dưới đây đã được ghi lại và phối kiểm qua nhiều nhân chứng có tuyên thệ: “Tại Nevesinje, bọn mât vụ Ustachi càn bắt hết tất cả cha mẹ (vợ chồng) và bốn người con của một gia đình người Serb (theo đạo Chính Thống). Người cha bị giam riêng ở một chỗ khác và người mẹ và 4 người con bị giam ở một chỗ khác. Suốt trong 7 ngày giam giữ, chúng hành hạ và tra tấn nạn nhân bằng cách không cho ăn uống gì hết. Rồi thì chúng mang đến cho người mẹ và 4 đứa con một miếng thịt nướng khá lớn và nước uống thừa thãi. Sau nhiều ngày không được ăn uống, những người bất hạnh này ăn hết sạch miếng thịt nướng đó. Sau khi ăn xong, bọn mật vụ Ustachi cho họ biết rằng miếng thịt nướng đó thực sự là thịt của người cha của chúng.” [“The atrocities of the Ustachi far surpassed mere physical torture. Their victims were tormented emotionally as well. An example of the unprecedented brutality is recorded by the sworn testimony of several witnesses regarding the following incident. At Nevesinje, the Ustachi arrested one whole Serbian family consisting of father, mother and four children. The mother and children were separated from the father. For senven days they were tortured by starvation and thirst. Then they brought the mother and children a good-sized roast, and plenty of water to drink. These unfortunates were so hungry that they ate the entire roast. After they finished, the Ustachi told them that they had eaten the flesh of their father.”] (37)

Trên đây là một trong muôn ngàn hành động man rợ của những người con chiên ngoan đạo của Giáo Hội. Chuyện này xẩy ra vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) ở tại một vùng đất thuộc nước Nam Tư mà tên cuồng tín Gia-tô Ante Pelvalich được Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican (lúc bấy giờ đang liên kết chặt chẽ với Phát Xít Ý và Đức Quốc Xã đưa lên cầm quyền. Nhờ quyền lực của Đức Quốc Xã, bạo chúa Ante Pelvalich tách rời vùng đất Croatia có nhiều tín đồ Gia-tô cư ngụ để thành lập nước Croatia và lấy đạo Gia-tô làm quốc giáo. Hành động này cũng được Giáo Hội La Mã tái diễn ở East Timore (thuộc Indonesia) trong năm 1999 vừa qua. Trông người lại nghĩ đến ta. Trong thời kháng chiến 1949-1954, Vatican âm mưu cùng với giặc Pháp thực hiện mưu đồ tách rời các vùng Bùi Chu và Phát Diệm ra để thành lập “Quốc Gia Gia-tô Bùi Chu” và “Quốc Gia Gia-tô Phát Diệm” (dưới danh nghĩa là các “Giáo Khu Tự Trị Bùi Chu” và “Giáo Khu Tự Trị Phát Diệm” giống như họ đã làm ở Nam Tư trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Cũng may là cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã thành công khiến cho dã tâm thâm độc này của Vatican đã không thành tựu được. Mong rằng chính quyền Việt Nam hiện nay và những người Việt Nam còn thiết tha với tổ quốc và dân tộc Việt Nam, dù là ở hải ngoại hay ở trong nước, phải lưu tâm đến chuyện này. Nếu Vatican vẫn còn đang tiến hành cái ý đồ đại gian đại ác này ở Việt Nam thì đây quả là một mối nguy hại vô cùng lớn lao đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam ta.

Trở lại câu chuyện man rợ của người Gia-tô cho nạn nhân ăn thịt người và là thịt của người cha trong gia đình của họ, chúng ta không biết những người Dân Chúa hay tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội La Mã theo cái đạo lý nào mà ghê gớm như vậy. Chuyên dã man này không phải chỉ xẩy ra ở Nam Tư, mà cũng đã từng xẩy ra ở Việt Nam và còn mới hơn nữa. Chuyện này đã được ông Lê Trọng Văn ghi đầy đủ chi tiết trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng Hay Đến Bờ Ảo Vọng (Cửu Long Lê Trọng Văn, San Diego, Mẹ Việt Nam, 1996, trang 188-193) và chúng tôi cũng đã ghi lại khá đầy đủ nơi Chương 11 trong bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, 1999). Dưới đây xin tóm lược chuyện này như sau:

Vào khoảng những năm 1950-1953, có ba người đàn ông chẳng may bị đám lính Gia-tô dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Hoàng Quỳnh (tại Giáo Khu Tự Trị Phát Diệm) bắt được. Nạn nhân bị nghi là hoạt động cho Việt Minh. Sau một đêm tra tấn hết sức là dã man, sáng hôm sau, cả ba nạn nhân tay bị trói chéo lại sau lưng và bị điệu ra sân chợ để hành hình. Trước khi trói nạn nhân vào cọc để hành hình, bọn lính Gia-tô bắt cả ba nạn nhân quỳ xuống và bắt phải hô khầu hiệu rập khuôn theo chúng: “Đả đảo Việt Minh! Đả đảo Hồ Chí Minh”. Chỉ có một người trong ba nạn nhân gượng gạo hô theo rất yết ớt. Nhưng lại có một người cố gắng hô rất lớn “Đả đảo bọn Việt gian bán nước! Việt Nam Độc Lập muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!” Việc này làm cho bọn Gia-tô cuồng tín ngồi nhậu nhẹt ở một xó chợ gần đó la lối “Đập bỏ mẹ chúng nó đi”, “Cứ giết hết bọn đi lương”. Những lời hò hét của bon  cuồng nô này làm cho tên thiếu úy chỉ huy toán lính hăng máu tiến đến rút dao găm đâm lia lịa vaò ngang hông và vào ngực người tù vừa hộ khầu hiệu “Đả đảo bọn Việt gian bán nước…” Máu tuôn ra xối xa và nạn nhân chết ngay tức thì.. Tên cai xếp (hạ sĩ nhất), phụ tá tên thiếu úy, hung hãn hơn, tiến ra yêu cầu tên thiếu đi rửa bàn tay đầy máu của y. Tên thiếu úy bỏ đi vào chợ. Tên cai xếra lệnh cho một tên lính chạy vào trong chợ mượn cái lò than nướng bánh đa và một tên khác đi mua một chai rượu trắng. Trong khi đó thì tên cai xếp lấy dao banh ngực nạn nhân, moi ra một cái mật và một buồng gan dính đầy máu rồi bỏ vào một cái thau kế bên đó. Vừa lúc đó hai tên lính cũng vừa trở lại. Một đứa mang cái lò than đang cháy tới để trên sạp. Một đứa mang một chai rượu trắng đưa cho tên cai xếp. Tên cai xếlấy mũi dao găm chích cái mật người cho thủng ra rồi cho vào chai rượu, một ngón tay cái bịt miệng chai rượu trong khi cả hai tay nắm chai rượu xóc xóc và lắc lắc cho nước mật hòa tan trong rượu trắng. Chai rượu trắng dần dần chuyển thành một mầu xám không ra xám, xanh không ra xanh và đen không ra đen. Đồng thời, mấy tên lính kia xúm nhau lẻo lá gan ra thanh từng miếng nhỏ, rồi cho vào cái vỉ nướng trên lò nướng, nướng cho chín. Sau đó, chúng ngồi nhậu hả hê với nhau. Sáng hôm sau, ngưồi ta thấy có ba cái đầu lâu người xỏ vào ba cái sào tre cắm ở vệ đường bên đầu làng và ruồi nhặng bắt đầu bu lại, trông rất là rùng rợn.” (38)

Trên đây là chuyện tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội giết nạn nhân lấy thịt cho thân nhân ăn và chuyện bọn lính Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội giết người lấy mật hòa với rượu và lấy gan đem nướng ngồi nhậu hả hê với nhau. Chuyện chính quyền đạo phiêt Gia-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu và tra tấn nạn nhân dã man như thế nào đã được Giáo-sư Trần Tương và ông Cửu Long Lê Trọng Văn ghị lại khá đầy đủ trong bộ sách Biến Cố 11 (Trần Tương, Los Alamitos, Xuân Thu, 1980 (?)) và cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm (Lê Trọng Văn, San Diego, Mẹ Việt Nam 1989). Riêng ông Ngô Đình Diêm, khi còn giữ chức tri phủ ở Hòa Đa và tri huyên ở Hải Lăng vào giữa thập niên 1920, cũng đã từng nổi tiếng về phương cách tra khảo tù nhân. Chuyện này được nhà báo lão thành An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

Khi ông (Diệm) làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cầy) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy cung vào ghế, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn người ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần dần ruột gan tim phổi nạn nhân bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để dứt cực hình, nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của Pháp cũng chưa dám dùng…” (39)

Trong lá thư khá dài viết cho chúng tôi đề ngày 31-5-2000, ông Văn Phú Cẩm hiện cư ngự ở Tacoma (Washington), người đã từng bị chính quyền Gia-tô Ngô Đình Diệm giam giữ 7 năm cho đến Cách Mạng 1-11-1963 bùng nổ mới được thả ra, nói về những hành động giết người, đốt nhà và những đòn tra tấn cực kỳ dã man của chế độ đạo phiệt này. Chúng tôi xin tóm lược một vài đoạn để độc giả hiểu rõ về những hành động man rợ của chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm đối xử với các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng và nhân dân địa phương khi ra tiếp thu vùng Quế Sơn, quê hương của ông (Cẩm):

Ba tên đầu nậu của quận Quế Sơn là Nguyễn Lê Th. (Gia-tô, người Bình Định, Quận Trưởng, mới chếcách đây 1 tháng ở California), Lê Quang T. (Gia-tô, người Quảng Tín, Thư Ký Trưởng, hiện ở California) và Trần Ngh. (Gia-tô, người Điện Bàn, Quảng Nam, Trưởng Chi Công An) cho Tiểu Đoàn 43 do Đại Úy Huỳnh Ngọc Em, người Hội An (Quảng Nam) làm Tiểu Đoàn Trưởng được tự tung tự tác, dân tình khốn đốn kêu ca. Bộ Tư Lệnh Quốc Dân Đảng Chiến Khu Nam Ngãi quyềt định tiêu trừ tên đại úy này. Trong vụ phục kích tại Cầu Chợ Đụn, thuộc xã Phuớc Thượng, tên đại úy này đã đền tội. Liền sau đó, một vụ trả thù vô tiền khoáng hậu đã xẩy ra. Chúng cho tiểu đoàn hàng ngày vào xã (nay là ấp) hầm hầm sát khí, đốt nhà, gặp ai bắn nấy, một ấp nhỏ mà phần đông đã đi chiến khu, một số thì chạy trốn vào núi, vào hang, xuống hầm. Chúng đốt mấy chục căn nhà, giết hại 47 dân lành vô tội. Thêm nữa, khi lui quân, chúng gặp hai em học sinh tên là Nguyễn An (người xã Phước Thượng) và Hà Lệnh (người xã Sơn Khánh) từ Hội An trở về bị chúng bắt và dẫn xuống xã Phú Thọ, đem vào nhà cụ Ngô Thương trói lại ở trong nhà rồi đốt nhà. Hai em chết cháy một cách vô cùng thảm thương. Cụ Ngô Thương hiện nay đang cư ngụ ở Tacoma, Washington. Thân phụ của em Nguyễn An là Nguyễn Phổ cũng đã bị bắn chết cùng ngày hôm đó. Cũng trong cuộc càn quét này, chúng bắt được anh Trần Văn Tùng (người Hội An) đem về quận và dùng đủ mọi cách tra tấn. Sau đó, chúng bắn anh và chặt lấy đầu xâu vào cọc cắm ở ngay chợ tại quân lỵ

Thấy rằng đàn áp không được, chúng quay ra thương thuyết để hợp tác với Quốc Dân Đảng của chúng tôi. Sau một thời gian thương lượng, VNQDĐ đồng ý hợp tác và được chính quyền đưa xe đến địa điểm tập trung tại quân Tiên Phước tiếp đón đưa về Hội An với những biểu ngữ rợp trời. Sau đó, chính quyền tỉnh tổ chức buổi lễ hợp tác vô cùng trọng thể có đại diện của chính quyền miền Trung và Trung Ương đến tham dự. Thế nhưng, thỏa hiệp hợp tác ký chưa ráo mựthì chúng nó (chính quyền Ngô Đình Diệm) đã trở mặt phản bội. Chúng cho mật vụ đi ruồng bố từ Quảng Trị tới Cà Mâu, lần lượt bắt nhốt từ Phạm Thái (giữ chức vụ cao cấp nhất) xuống đến tận cùng cơ sở. Riêng tại quận Quề Sơn, một số cơ sở đã bị chúng ruồng xét, anh em chúng tôi bị bắt, một số bì tù đầy, một số bị thủ tiêu. Đặc biệt là vào lúc nửa đêm, chúng cho người đột nhập vào nhà anh Thái Hoàng người xã Sơn Thạch và nhà anh Lê Phổ người xã Sơn Lãnh bắt rồi dẫn ra đường móc hai mắt và đánh đến chết rồi liệng xác xuống hố.

Những người trốn vào miền Nam ở khắp các tỉnh nhưng cũng bị bọn đặc nhiệm miền Trung của Ngô Đình Cẩn bắt đem về nhốt tại Chí Hòa và Nhà Lao Gia Định.. Ở những nơi này, thôi thì khỏi nói, chúng tra khảo ngày đêm không nghỉ ngơi. Mới nghe qua, người không biết tưởng nơi đó là Lò Heo Chánh Hưng. Từ tra điện (nhẹ nhàng và khỏe nhất) đến đổ nước xà bông cho đầy bụng rồi nhẩy lên dậm cho trào ra, rồi lại đổ tiếp… Cứ như thế cho tới khi không còn biết gì, giống như người đã chết thì chúng mới thôi. Chưa hết, chúng còn dùng dùi cui đánh tới tấp, bất kể chỗ nào, đánh cho tới khi nào thấy máu đầu tuôn xối xả hoặc xương sườn bật ra thì chúng mới dừng tay. Còn nửa, chúng dùng ét xăng, thấm bông gòn châm lửa rồi để lên đâu nạn nhân cho cháy tóc tróc da đầu. Nhân danh Chúa, thôi thì chúng không từ nan bất kỳ hành động dã man nào.

Chúng tôi lúc nào cũng lo sợ. Mỗi lần nghe tiếng cót két mở cửa, nhìn ra thấy chiếc thập tự giá đeo lủng lẳng trước ngực chúng thì cả phòng giam giống như một khu nhà xác vì chẳng ai còn hồn vía nào cả. Trong nhà lao ấy, tôi đã gặp đủ mọi thành phần từ Hòa Hảo, Bình Xuyên đến Cao Đài cùng những đảng viên của các đảng phái khác trong Nam… Sau 8 tháng bị giam ở Saigòn, tôi bị đưa ra giam ở Lao Phủ Thừa Thiên. Sau 7 năm giam giữ mà không đưa tôi ra tòa xử án vì tôi đâu có phạm tội gì mà chúng xử được. Tôi được về vì nhà Ngô sụp đổ…

Tôi bị Cộng Sản bắt tù và chịu cực khổ ở trong tù như mọi người khác vì tôi là đảng viên Quốc Dân Đảng, hai bên thù nhau. Âu đó cũng là lẽ công bằng. Còn bọn Ngô Đình Diệm và đám Cần Lao Thiên Chúa Giáo sao lại đánh giết người Quốc Gia và lương dân vô tội một cách không gớm tay như vậy thì chúng ta phải gọi chúng nó là “THỨ GÌ?” (40)

Trên đây là những chuyện dã man mà Giáo Hội La Mã chủ trương hành hạ và tàn sát những thành phần thuộc các tôn giáo khác bị gán cho là “tà giáo” và những thành phần đối lập với chính quyền đạo phiệt Gia-tô. Dưới đây là một vài chuyện dã man phá nát hạnh phúc gia đình của các thành phần chống đối chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. Những gia đình nạn nhân này là gia đình Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và gia đình Đại Úy Phan Lạc Tuyên. Đại Tá Nguyễn Chánh Thi là người chỉ huy Binh Đoàn Nhẩy Dù và cũng là người chỉ huy đạo quân bao vây Dinh Độc Lập trong vụ Biến Cố 11/11/1960. Đại Úy Phan Lạc Tuyên là vị sĩ quan tham gia cuộc chính biến này. Cuộc chính biến bắt đầu vào đêm 10-11-1960 và tiến hành tốt đẹp cho tới chiều tối ngày hôm sau. Tới chiều tối ngày 11/11/1960 thì nội bộ phe đảo chánh không thống nhất ý chí trong vấn đề thương thuyết với anh em ông Ngô Đình Diệm vì các ông Hoàng Cơ Thụy và Vương Văn Đông nhẹ dạ nghe theo đề nghị của anh em nhà Ngô hứa hẹn sẽ nhượng bộ cho họ một số chức vụ quan trọng trong chính quyền. Trong khi đó thì đạo quân dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Trần Thiện Khiêm thân nhà Ngô từ Mỹ Tho kéo về tới Phú Lâm làm cho thế lực của phe Tướng Thi vốn đã lủng củng lại càng yếu thêm. Thấy tình thế đã đổi chiều, anh em nhà Ngô trở mặt. Biết rằng thua cuộc, các vị sĩ quan chỉ huy cuộc chính biến này, trong đó có Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Đại Úy Phan Lạc Tuyên, rút lui về phi trường Tân Sơn Nhứt rồi trốn sang Cao Mên tỵ nạn bằng một chiếc máy bay Dakota C47.

Sau khi các vị sĩ quan này trốn khỏi Việt Nam, chính quyền đạo phiệt Gia-tô nhắm vào gia đình họ để trả thù bằng cách phá nát hạnh phúc gia đình của họ. Việc đầu tiên là bạo quyền Ngô Đình Diêm cho mật vụ đến bắt các bà vợ của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Đại Úy Phan Lạc Tuyên đem đi giam tại một nơi bí mật. Không biết chúng hành hạ tra tấn hay khủng bố tinh thần bà vợ Đại Tá Nguyển Chánh Thi như thế nào mà ngay sau đó một tên Đại Úy An Ninh Quân Đội (mật vụ thì đúng hơn)ại công khai sống chung với Bà Thi như vợ chồng. Thế là hạnh phúc gia đình của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi tan nát. Người viết xin dừng chuyện này ở đây vì không muốn gợi lại cảnh đau lòng của một vị sĩ quan đáng kính của miền Nam Việt Nam. Bà vợ Đại Úy Phan Lạc Tuyên còn điêu đứng hơn nữa. Chuyện này được ông Phan Lạc Giang Đông, em ruột của Đại Úy Phan Lạc Tuyên kể lại trong bài viết in trong cuốn Nhìn Lại Biến Cố 11/11/60 (Houston, Văn Hóa, 1997, trang 207-231). Đại lược là Bà Phan Lạc Tuyên bị một chiếc xe Jeep trong đó có một Trung Úy An Ninh Quân Đội đến bắt mang đi giam ở một nơi mà gia đình không biết là ở đâu. Không biết Bà Tuyên bị hành hạ, tra tấn và khủng bố tinh thần như thế nào. Sau mấy ngày, Bà Tuyên được một chiếc xe Jeep đưa về lấy quần áo và đồ đạc riêng tư đi ở chung nhà với viên trung úy đó. Một thời gian sau, tên sĩ quan này bỏ rơi Bà Tuyên và Bà Tuyên trở thành người điên khùng. Sau đó, bà Tuyên chết vì chứng bệnh điên này.

Nhân loại đã từng trải qua nhiều chế độ độc tài như quân chủ chuyên chế, quân phiệt, đế quốc thực dân xâm lược, Phát Xít Đức, Đức Quốc Xã và độc tài Cộng Sản. Nhưng không có chế độc tài chính trị nào lại bạo ngược và dã man như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. Thực ra, không phải chỉ có chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm mới bạo nguợc và dã man như vậy, mà phải nói là tất cả các chế độ đạo phiệt Gia-tô đều bạo ngược và dã man như thế cả. Lý do là tất cả các chế độ đạo phiệt Gia-tô đều là con đẻ của Giáo Hội La Mã và Giáo Hội La Mã chủ trương như vậy. Luật pháp của bất kỳ chế độ chính trị nào cũng minh thị là “tội của ai thì người đó chịu“. Nhưng đối với Giáo Hội La Mã và tất cả các chế độ đạo phiệt Gia-tô thì lại khác hẳn. Chúng ta không biết phải dùng lời lẽ nào để có thể diễn tả được cái mức độ dã man của những người cuồng tín của Giáo Hội La Mã và của các chế độ đạo phiệt Gia-tô. Đào mả người chết lên để trả thù, cũng là họ. Giết người lấy mật hòa với rượu, lấy gan đem nướng rôi ngồi nhậu hả hê với nhau, cũng là họ. Càn bắt cả gia đình hai vợ chồng và 4 đứa con, giam riêng người cha ở một nơi, 5 mẹ con ở riêng một nơi và bỏ đói cả một tuần; sau đó đem giết người cha, lẻo thịt đem nướng rồi cho 5 mẹ con ăn, ăn xong rồi mới cho nạn nhân biết đó là thịt của người cha, cũng là họ. Chồng có tội trốn đi, không bắt được chồng, bắt vợ đem đi hành hạ, tra tấn, dụ dỗ, quyến rũ và hãm hiếp với mục đích phá nát hạnh phúc gia đình của nạn nhân, cũng là họ. Bắt vợ trói vào một cọc, bắt chồng trói vào một cọc đối diện để nhìn người vợ bị hành hạ cho đến chết bằng cách lột trần cho đến thắt lưng, lấy dao lẻo cả hai vú để cho máu chảy ra cho đến khi tắt thở, cũng là họ. Họ không từ nan một hành động dã man nào cả. Quả thật Giáo Hội La Mã đã biến họ thành những hạng người “phi cầm, phi thú” đúng như viên tướng Gia-tô chỉ huy đạo quân Thập Ác Lần Thứ Nhât tuyên bố: “Bất kể gì là nam hay nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau.” Cái bản chất dã man này đã được Giáo Hội La Mã truyền dạy và cấy vào trong tim óc họ, ăn sâu vào trong não tủy, biến thành những nhiểm thễ nằm trong máu cốt để rồi truyền tử lưu tôn cho nên họ mới độc ác và dã man ghê gớm đến như vậy.

Thực ra, theo truyền thống và bản chất dã man của những người Gia-tô ngoan đạo thì những việc làm dã man trên đây của cha con ông Ngô Đình Diệm và của những người Gia-tô cuồng tín khác cũng chỉ là một việc rất bình thường đối với Giáo Hội La Mã vì Giáo Hội chủ trương như vậy. Sách Smokescreens ghi lại khá nhiều vụ chính quyền đạo phiệt Gia-tô tàn sát người tập thể một cách vô cùng man rợ. Dưới đây là một vài trong những chuyện mà sách này ghi lại:

Ngày 22-8-1572 bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tinh Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô ĐốColigny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín nhu vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng.

“Một vụ tàn sát người tập thể tương tự như vậy cũng xẩy ra ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641. Bọn tín đồ Gia-tô chủ mưu chọn ngày 23 tháng 10 là ngày kỷ lễ niệm Ignatius Loyola, người sáng lập ra Dòng Tên: Chúng dự trù một cuộc tổng nổi dậy trong toàn quốc. Tất cả những người theo đạo Tin Lành đều phải bị giết ngay tức thì. Để làm cho những người Tin Lành không chú ý đến việc làm của chúng, chúng tỏ ra rất là tử tế với họ. Sáng sớm ngày vùng dậy, bọn chủ mưu đều có võ trang đi lùng bắt những người Tin lành. Gặp người nào là chúng giết người đó, không một chút thương xót. Những người Tin Lành này chưng hửng trong kinh hoàng. Họ đã sống trong yên bình từ nhiều năm. Giờ đây, gặp cảnh ngộ như vậy, họ không biết phải chạy trốn đi đâu. Những kẻ tàn sát họ lại là những người láng giềng, bạn bè và bà con của họ. Phụ nữ bị trói vào cọc (cột) lột trần đến thắt lưng, vú bị cắt đứt ra để cho máu chẩy cho đến chết. Những đàn bà mang thai thì bị trói và treo vào cành cây. Chúng mổ bụng nạn nhân lấy thai nhi ra để cho chó ăn. Trong khi đó thì những ông chồng của nạn nhân bị cưỡng bách phải đứng nhìn những cảnh dã man như vậy.” (40)

Qua chuyên tàn sát dân Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan, chúng ta mới hiểu được tại sao anh em ông Ngô Đình Diệm bọn Cần Lao Công Giáo lại chọn ngày 23-10-1955 để làm ngày truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại.

Chúng ta không biết có bao nhiêu chuyện man rợ khủng khiếp như chuyện trên đây đã xẩy ra từ khi Giáo Hội La Mã nhẩy lên làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị tại Âu Châu và trở thành một đế quốc thực dân xâm lược thâm độc và dã man nhất trong lịch sử loài người. Hy vọng rằng sau này các nhà viết sử sẽ cống hiến cho chúng ta nhiều sự thật ghê gớm và khủng khiếp mà chúng ta không thể nào tưởng tượng lại có thể xẩy ra như vậ

8.- Tích Lũy của cải và đồ ăn cướp.- Trong các phần trên, chúng tôi đã trình bày những thành tích của Giáo Hội La Mã đã dùng đủ mọi thủ đoạn gian manh để bịp bợm và lường gạt người đời song hành với chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ đi kèm theo với bạo lực trong các sách lược khủng bố, hành hạ, tra tấn và tàn sát nhân dân một cách vô cùng man rợ hầu củng cố nền thống trị và tiến hành sách lược nô lệ hóa nhân loại. Phần duới đây, chúng tôi xin trình bày những khối lượng tài sản khổng lồ mà Giáo Hội đã tích lũy được qua những việc làm bất chánh từ xưa cho tới nay. Thành tích bóc lột và ăn cướp mồ hôi nước mắt của nhân dân đã được sách sử ghi chép rõ ràng. Sách Living World History viết:

Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức hàng năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận nhũng khối tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà giầu có dâng cúng). Ngoài ra, Giáo Hội còn thu thuế 10 phần trăm lợi tức của mỗi người dân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội.” (42)

Bản Tuyên Cáo 6 của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh được công bố ngày 15-6-1999, trong đó có một đoạn viết như sau:

Vào thế kỷ 15 và 16, không kể đất đai cát cứ, chỉ nguyên bất động sản thuộc loại kiến trúc của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu và Địa Trung Hải, nếu đặt gần nhau, chiều dài bằng (hay) dài hơn “Vạn Lý Trường Thành” của nhà Tần bên Trung Quốc, nhưng bề dầy thì dầy hơn kiến trúc của nhà Tần gấp nhiều lần. Nông nô hay tá điền, lao nô hay công nhân phục vụ cho Giáo Hội có thời, có nơi lên đến 1/3 dân số đất nước của các vua chúa thời phong kiến. Ngoài ra, Giáo Hội còn thiết lập một hệ thống thuế vụ riêng, một hệ thống pháp đình riêng, cả hai độc lập, ngoài quyền kiểm soát của các ông hoàng đế và các ông vua. Khối lượng “mammom” (tài sản) của Giáo Hội là khối tài sản thủ đắc khổng lồ, vô địch thiên hạ cổ kim. Một Giáo Hội “kinh bang tế thế” thành công vẻ vang huy hoàng như thế, người ta không thể nói đến dân chủ.” (43)

Tác giả sách Smokescreens dành cả chương 10 viết về sự giầu có của Giáo Hội La Mã. Chúng tôi xin rút gọn mấy nét chính như sau:

Vatican có những phần hùn rất lớn trong Công Ty Rothschilds ở các nước Anh, Pháp và Mỹ Châu, có những phần hùn với Hambros Bank, Credit Suisse ở Luân Đôn và Zurich. Ở Hoa Kỳ, Vatican còn có phần hùn với the Morgan Bank, the Chase-Manhattan Bank, the First National Bank of New York, the Bankers Trust Company và nhiều nhà ngân hàng khác. Vatican lại còn có hàng tỷ cổ phần trong các đại công ty lớn hoạt động khắp nơi trên thế giới như các công ty Gulf Oil, Shell, General Motors, Bethlehem Steel, General Electric, International Business Machines, T.W.A., vân vân. Riêng ở Hoa Kỳ không thôi, số vốn của Vatican đầu tư vào các công ty hoạt động kinh doanh cũng lên đến trên 500 triệu Mỹ kim…

“Tờ the United Nations World Magazine ước lượng trị giá kho tàng vàng khối của Tòa Thánh Vatican lên đến nhiều tỉ Mỹ kim. Phần lớn những số vàng khối là những vàng thỏi được cất giữ trong Nhà Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ. Số còn lại thì được cất giữ ở các nhà ngân hàng ở Anh Quốc và Thụy Sĩ. Nhưng tất cả đây chỉ là một phần nhỏ của khối lượng tài sản khổng lồ của Tòa Thánh Vatican. Tài sản của Vatican ở Hoa Kỳ không thôi cũng đã lớn hơn tài sản của 5 đại công ty lớn nhất và giầu nhất ở Hoa Kỳ. Nếu tính chung tất cả các thứ tài sản như bất động sản, chứng khoán, cổ phần ở các nước khác nữa thì tài sản của Giáo Hội La Mã thật là ghê gớm lắm. Giáo Hội La Mã là một thế lực hùng mạnh nhất về tài chính… Giáo Hội thực sự là một thế lực giầu có nhất trong thế kỷ 20 và không ai có thể ước lượng được Giáo Hội có bao nhiều tiền của tính theo đơn vị là tỉ Mỹ kim.” (44)

Nhìn vào khối lượng tài sản vĩ đại của Giáo Hội hiện nay, chúng ta phải công nhận rằng Vatican là một thế lực giầu có nhất trên thế giới vào thế kỷ thứ 20 và cho tới ngày nay. Vấn đề đặt ra là Vatican là một quốc gia nhỏ bé, diện tích vỏn vẹn chỉ có 0.2 dặm vuông (0.4 cây số vuông) với một dân số chỉ có người mà hầy hết là tu sĩ cả, làm thế nào mà Vatican lại có thể tích lũy được khối lượng tài sản lớn như vậy và là một thế lực giầu có hơn cả bất kỳ thế lực tài chánh nào khác trên thế giới? Người Trung Hoa thường nói “Phi thương bất phú“. Nhưng Tòa Thánh Vatican là một tổ chức tôn giáo với nhân số vỏn vẹn chỉ có 900 người, làm thế nào có thể lao vào các dịch vụ kinh doanh mà trở thành giầu có như vậy được?. Vả lại, theo các tài liêu lịch sử trên đây, Giáo Hội đã trở thành một thế lực giầu có nhất Âu Châu ngay từ thời Trung Cổ. Thời đó, công việc thương mại và kinh doanh chưa phát triền thì làm gì có chuyện buôn bán và kinh doanh để trở nên giầu có! Tới đây, người viết xin nhại lời nói “Phi thương bất phú” của người Trung Hoa mà nói là “Phi nhân bất phú“. Thiết tưởng điều này rất chính xác với sự giầu có của Tòa Thánh Vatican. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một vài trường hợp nói về phương cách mà Giáo Hội đã thu vơ tiền bạc ở Việt Nam và một vài nơi khác để quý vị có thể suy ra xem câu nói “Phi nhân bất phú” áp dụng cho Giáo Hội La Mã đúng hay là sai. Trước hết xin nói về phương cách vơ vét tiền bạc của Giáo Hội tại Việt Nam. Sách Thập Giá và Lưỡi Gươm viết:

Năm 1939, tài sản Nhà Chung thừa sai Pháp (tại Việt Nam) trị giá 50 triệu quan Pháp. trị giá đó là chính thức, nhưng theo các luật gia thuộc địa Caratini và Grandjean thì thấp hơn giá trị thực tế và không bao gồm tất cả tài sản của Giáo Hội, vì đã bỏ ra ngoài của cải của các xứ đạo và nhiều pháp nhân giáo hội khác vốn có quyền sở hữu. Tài sản các Nhà Dòng Đa Minh Tây Ban Nha cũng rất quan trọng… Nhà Chung được liệt vào hạng địa chủ lớn nhất của thời ấy.” (45)

Chỉ một mình Nhà Chung Công Giáo mà chiếm hết một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu đất đai đó rất đơn giản: dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là một vài ví dụ rõ ràng. Nhà Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền. Tiền lời cho vay rất nặng, nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả, và như thế là đất cầm trở thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để nắm được những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm theo muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác những vùng đất nhượng cho không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo Hội có người của mình nắm những vai trò thế giá trong chính quyền thuộc địa…” …Paul Mené trong cuốn “Pháp và An Nam Giữa Hai Lằn Đạn (Paris,1928)… viết “Hội Nhà Chung được tổ chức hùng mạnh ở Nam Kỳ. Nhà Chung rất giầu có, chiếm hữu nhiều vùng đất bao la và có nhiều bổng lộc quan trọng tại phần lớn các xí nghiệp địa phương, nhờ những khoản tiền vốn Nhà Chung bỏ vào đó, nhân danh Nhà Chung hoặc phần nhiều là qua trung gian người thứ ba. Trong thời gian Pháp xâm lăng Việt Nam, Nhà Chung đóng một vai trò quan trọng như ai cũng biết. Nhà Chung đã tổ chức một hệ thống tình báo hoàn bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những gì liên hệ tới con người, những công ty, những công cuộc, những hành động và phương án chính trị tại Đông Dương. Nhà Chung đã đặt được người thân tín của mình vào tất cả các cơ quan, vào hầu hết các xí nghiệp tại các trung tâm lớn cũng như tận cùng những tỉnh xa xôi.” …”Trong một báo cáo mật gửi lên Toàn Quyền Đông Dương, viên Thống-sứ Nam Kỳ đã trình bày với quan thày rằng: “Không nên quên rằng những năm đầu của cuộc chiếm đóng của chúng ta, Nhà Chung đã quan tâm chiếm cho được tại Nam Kỳ những tài sản khổng lồ. Nhà Chung có tất cả 28.500 hecta ruộng, không kể đất đai ở thành thị cũng như bất động sản và của cải khác. Tại miền Tây Nam Kỳ, Nhà Chung làm chủ vùng đất lớn rộng tới ba bốn hoặc sáu ngàn hecta.” (Saigon 14-12-1934). (46)

Người ta đọc thấy trong một báo cáo vào cuối tháng 5-1974 do một cơ quan viện trợ quốc tế biên soạn như sau: “Giáo Hội Công Giáo tại miền Nam có một ngân hàng lớn tại Sàigon (Đại Nam), những khách sạn lớn nhất (Caravelle), những nhà hàng (Kim Đô), những dãy nhà cho thuê (Lam Sơn, Building Tax), v.v… Tiền đầu tư của Giáo Hội vào trong các cơ sở kinh doanh kỹ nghệ từ việc mai táng cho tới nhà máy giấy (Cogido). Điều dân chúng thường nói cho thấy thực tế đó: Đất nước chúng tôi nằm trong Ba Tầu và Giáo Hội.” .. “Tất cả các nhà quan sát có chú ý một tí, tất cả người dân Việt đều công nhận rằng “Giáo Hội là một hòn đảo trú phú ở giữa đại dương nghèo đói” của Nam Việt. Linh-mục Gheddo, chủ nhiệm tờ Mondo e Missione, đã phải viết trong một bản phúc trình bí mật gửi cho Vatican đề ngày 30-21-1973 như sau: “Thật là gương mù gương xấu, khi thấy Giáo Hội cứ tiếp tục xây cất những kiến trúc to lớn như nhà thờ, tòa giám mục, chủng viện, dòng tu… đang khi 80-85% dân chúng miền Nam hiện còn sống trong các lều tranh vách ván”… “Giáo Hội tại Việt Nam đặt nền tảng trên tiền bạc, trên chuyện xoay sở tiền bạc, trên chuyên đầu tư tiền bạc. Phải nói là Việt Nam là biển tham nhũng… Điều còn tệ hơn nữa là những trường hợp lừa đảo: Các tu sĩ Biển Đức tại Ban Mệ Thuột có một xưởng cưa. Họ lường gạt dân miền núi khi mua rẻ cây cối dân Thượng chở tới, rồi lại đem bán với giá cao và lừa dối người mua cả về phẩm chất của cây gỗ. Các tu sĩ Xa Lê Diêng mua xi măng rẻ tiền tại Saigon, đem chở đi với hai linh mục áp tải để tránh thuế vụ (tại Viêt Nam, các linh mục tự do làm mưa làm gió) và bán lại giá cao tại Đà Lạt. Một viên đồn điền người Ý tại Ban Mê Thuột đã có tuổi và đáng tin cậy, đã khẳng định với tôi rằng, khắp đó đây tại Việt Nam, Giáo Hội bỏ tiền ra mua các vùng đất bị bỏ hoang vì chiến tranh: mua với giá rẻ mạt mà lại khỏi phải đóng thuế sang tên. Khi vùng này trở lại cuộc sống bình thường (hoặc nay mai sẽ bình thường), thì các đám đất ngon nhất đã nằm trong tay các giám mục, linh mục… Người ta có cảm giác rằng, Giáo Hội mắc phải chứng bệnh “xây cất và kiếm tiền” và có thể quả quyết rằng trong cảnh nghèo đói chung và cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay, Giáo Hội là cơ quan duy nhất có tầm cỡ quốc gia, vẫn tiếp tục xây cât mở mang, có phương tiện lớn lao và những con người được chuẩn bị cho việc đó. Một linh mục (giám đốc tờ Nhật báo Thẳng Tiến) nói với tôi rằng đó là dấu hiệu phúc lành Chúa ban.” (47).

Theo Sách Rơi Mặt Nạ thì Giáo Hội Gia Tô đã dựa vào thế lực chính quyền Bảo Hộ Pháp-Vatican và bạo quyền Ngô Đình Diệm để ăn cướp hay cưỡng chiếm những tài sản dưới đây:

1.- “Chùa Thiên Mụ bị Gia Tô đánh cướp 32 pho tượng vàng ý.

2.- Chùa Diệu Đế bị Gia-tô cướp đất: Năm 1885 lấy Cát Tường Tư Thất. Lấy Trí Tuệ Tịnh Xá. Năm 1887, một số căn nhà khác trong chùa bị triệt hạ Năm 1910 Đào Nguyên bị triệt hạ.

3.- Chùa Giác Hoàng bị đánh cướp vào năm 1885 .

4.- Đất Nghĩa Trang Anh Hùng Văn Thân Và Cần Vương bị cướp để xây nhà thờ Gia-tô đối diện với Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Chuông nhà thờ Phát Diệm là một quả chuông đồng pha vàng do Trần Lục đem quân đi chiếm đoạt ở một ngôi chùa xa lắm.

5.- Nhà thờ Lớn ở Sàigòn hiện là Nhà Thờ Đức Bà được xây trên một ngồi chùa bị phá.

6.- GM Nguyễn Văn Thuận ăn cướp đất ở bờ biển Hòn Chồng để xây Giáo Hoàng Chủng Viện.

7.- Giám-mục Ngô Đình Thục và Trần Lệ Xuân ăn cắp 18 tỷ đô la gửi vào ngân hành Vatican

8.- Linh-mục Đinh Xuân Hải lấn đất của một ngôi chùa ở Hóc Môn.” (48)

Sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:

Theo hồi ký của Trần Văn Đôn cho biết, (Ngô Đình) Cẩn đã gởi được ra ngoại quốc 7 triệu đô là vào năm 1961. Vào tháng 10 năm 1963, hình như đã cảm thấy tình hình có thể nguy ngập cho chế độ và cho gia đình, cho nên Cẩn cho chuyển vào nhà thờ Dòng Cứu Thế 14 thùng vàng (thùng đạn quân đội), riêng Cẩn chỉ giữ lại một hộp hột xoàn, kim cương bên mình. Trưa ngày 1-11-1963, khi tiếng súng Cách Mạng bắt đầu nổ tại Sàigòn, Tướng Đỗ Cao Trí, lúc bấy giờ là Tư Lệnh Quân Đoàn I và là thuộc hạ thân tín của Tổng Thống Diệm, bèn ra lệnh cho Đại Tá Nguyễn Văn Mô (Tiểu Khu Trưởng Thừa Thiên) và Thiếu-tá Hiển (Chánh văn phòng của Tướng Trí) đem một trung đội đến bố trí quanh dinh thự của Cẩn, súng chĩa ra ngoài để “bảo vệ an ninh cho ông Cố Vấn (Cẩn)”. Nhưng sáng mồng 2, khi nghe tin ông Diệm đã đầu hàng và đã xin hội đồng tướng lãnh để xuất ngoại, trung đội bảo vệ cho ông Cẩn lại được lệnh quay súng chĩa vào dinh thự của Cẩn. Sau vụ lật đổ chế độ Diệm, tôi vì quá bộn bề công việc chỉ nghe kể lại rằng hột xoàn kim cương của Cẩn được đổ đầy một mũ sắt nhà binh, và tất cả đồ lề quý giá trong dinh của Cẩn đều về tay Tướng Trí. Tướng Đỗ Cao Trí cũng lấy lại được 7 thùng vàng trong số 14 thùng sau mấy ngày thương lượng gay go với các bề trên Dòng Chúa Cứu Thế.” (49)

Sách Việt Nam Nhân Chứng viết:

Hai tháng sau ngày Chỉnh Lý, ông Khánh phái ông Lâm Văn Phát liên lạc qua bà Trần Trung Dung vào khám nói với ông Cẩn chuyển số tiền 6 triệu Mỹ kim (mà) ông Cẩn có trong ngân hàng Thụy Sĩ qua cho ông Khánh. Đổi lại, ông Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ Dakota đưa ông Cẩn đi Singapore sống tự do. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng thâu băng khi bà ấy vào khám hỏi ý ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, Ông (Cẩn) hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao cho. Lúc đó, bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy hôm sau, nhân dip một vị linh-mục ra vô làm lễ cho ông Cẩn, ông Cẩn ký giấy ủy quyền cho nhà Dòng Cứu Thế số tiền đó. Trong cuốn kinh sách, một giấy ủy quyền để sẵn cho ông Ngô Đình Cẩn ký tên tặng mấy triệu bạc. Sau đó, Ông Cẩn bị tuyên án tử hình.” (50)

Sách Our Own Worst Enemy viết:

Ngoài sự tăng lên rõ rệt về số vàng dự trữ của Saigon, theo các mật báo viên người Thụy Sĩ và người Trung Hoa của tôi, từ năm 1956, một số người Việt Nam (quyền thế) đã chuyển 18 tỉ Mỹ kim vào các nhà ngân hàng ngoại quốc. Sau đó, không bao lâu, qua một người hùn vốn kín miệng, Bà Ngô Đình Nhu mua một nhà ngân hàng lớn hàng thứ nhì tại kinh thành Paris, trả bằng tiền mặt.” [“In addition to the visible increase in Saigon’ gold reserve, approximately $ 18 billion, according to my Swiss and Chinese informants, had been sent to foreign banks by private Vietnamese individuals since 1956. Not long ago, Madame Nhu, through a silent partner, purchased outright the second largest private bank in Paris. For cash.”] (51)

Sách Tường Trình Cùng Đồng Bào Trong Nước viết:

Còn nhớ rằng khi chính quyền miền Nam Việt Nam còn ở trong tay những người Gia-tô, chỉ nguyên ở Việt Nam không thôi, Vatican đã thu được 19 tỉ đô la do Ngô Đình Diệm ăn cắp được ở Việt Nam gửi cho Tòa Thánh Vatican (19 tỉ đô là vào năm 1963 nay đã thành 50 tỉ), đấy là chưa kể tiền giáo dân đóng góp. Con số này rất chính xác, đuợc vô tình tiết lộ bởi một nhân chứng sống, Trần Đình Tr., một giáo dân Gia-tô đạo gốc thuần thành, được một vị linh-mục ở Khu Tư viết một bức thư giới thiệu với Ngô Đình Diệm. Tr. cầm lá thư đó rồi vượt tuyến vào Nam năm 1957 và được Ngô Đính Diệm trọng dụng, giao cho Tr. làm nhiệm vụ kinh tài. Sau nhiều chuyến mang tiền sang gửi ở Vatican thành công, Diệm rất tin tưởng. Năm 1963, Tr. mang một số tiền lớn trên đường từ Saigon đi Vatican qua ngả Pháp, nhưng vừa đến Paris thì nghe tin Diệm-Nhu đã chết, Tr. bèn lấy luôn số tiền đó gửi ở ngân hàng ngoại quốc và trở thành một người Việt Nam giầu nhất thế giới…” (52)

Sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam ghi lại lời Courcy viết về vụ Liên Minh Pháp-Vatican ăn cướp kho tàng tại Huế vào đêm 4-7-1885 như sau:

” Giá trị số vàng bạc cất giấu trong các hầm, ước tính khoảng 9 triệu, ngoài ra, còn tìm được những ấn tín và cuốn sách bằng vàng, trị giá 1 triệu. Đã bắt đầu tập họp lại một cách khó khăn được một phần những kho tàng nghệ thuật. Cần gửi ngay 1 tầu thủy và nhiều chuyên viên giỏi để chuyển những kho tàng nghệ thuật này về cùng với các báu vật, bạc vàng.” (53)

Đồng thời, sách này cũng ghi lại lời nhân chứng P. Pène–Siefert kể lại:

“…Họ (người Việt Nam) làm cho chúng ta phải ngượng ngùng khó nghĩ khi họ kể với chúng ta rằng: với những bản mục lục tài sản đã có trước ngày 5/7 cầm tay, người Pháp đã lấy, ở nhà các đội thân binh, 113 lượng vàng, 742 lượng bạc, 2.727 quan tiền; tại cung bà Thái Hậu, mẹ vua Tự Đức, 228 viên kim cương, 266 đồ nữ trang nạm kim cương, ngọc trai và đá quý, 271 đồ dùng bằng vàng; tại các lăng Thiệu Trị, Minh Mạng, Gia Long, đầy ắp những đồ dùng của cá nhân các vua đó lúc sinh thời. Tất cả những thứ gì có thể lấy mang đi được: vương miện, đai lưng, đêm trải nhà, nệm giường, áo đại lễ, giường và bàn tròn chạm trổ… Tại các ngân khố hoàng gia, cướp đi một số vàng trị giá khoảng 24 triệu Francs.. Một vụ cướp phá trắng trợn như vậy, kéo dài hai tháng ròng, nổi tiếng một cách đáng buồn gấp nhiều lần hơn so với những vụ cướp phá cung điện mùa hè tại Bắc Kinh, và nó có thể làm bại hoại tinh thần người lính.” (54)

Còn nữa, theo sự hiểu biết của người viết, sáng ngày 2-11-1963, khi chạy đến nhà Thờ Cha Tam, hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu có sĩ quan tùy viên là Đỗ Thọ cùng đi và xách theo một cái cặp da trong đó có một triệu Mỹ kim. Chiếc cặp da này biến mất kể từ chỗ nhà thờ Cha Tam. Chúng ta chưa biết cái cặp da chứa một triệu Mỹ kim này lọt vào tay ông Linh-mục ở nhà thờ Cha Tam hay lọt vào tay Tướng Mai Hữu Xuân, người chỉ huy toán linh đi bắt hai anh em ông Diệm và ông Nhu. Sau đó, Đỗ Thọ chết vì rớt máy bay vào thời Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Lúc đó Tướng Mai Hữu Xuân đang bị Tướng Khánh nhốt giam ở Đà Lạt. Sự kiện này khiến cho chúng ta có thể đặt nghi vấn là cái cặp da này không phải do Tướng Xuân lấy mà có thể do thế lực trước kia đã chạy chọt cho ông Diệm lên cầm quyền ở Việt Nam.

Trên đây là chuyện vơ vét tiền một cách bất chính ỏ Việt Nam, chuyện dưới đây là ở Peru thưộc Châu Mỹ La Tinh. Sách This Is America’s Story viết:

Hàng ngàn quan quân xúm quanh mình, vua Atahualpa (bộ tộc Inca) chễm chệ ngồi trên chiếc ngai vàng bằng vàng thiệt… Người Tây Ban Nha bèn nẩy ra ý kiến biến cải vua Atahualpa thành tín đồ Gia-tô và thôi thúc ông ta tin nhận Chúa. Atahualpa lằng nghe lời vị linh-mục thuyết giảng, nhưng không một mảy may xiêu lòng. Ông ta chỉ lên mặt trời và nói rằng “Thượng Đế của ta còn đang ngự trị ở trên trời cao và đang thương mến nhìn xuống đàn con của Ngài ở dưới thế gian này.” Rồi ông ta liệng cuốn Thánh Kinh mà vị linh-mục vừa mới trao cho ông ta. Thật là quá đáng đối với người Tây Ban Nha mộ đạo. Pizarro hạ lệnh khai hỏa. Vua Atahualpa kinh hoàng lặng nhìn người Tây Ban Nha ngoan đạo tàn sát hàng ngàn quần thần và quân sĩ của ông ta. Ngay khi đo, Pizarro bắt Atahualpa giam lại. Thấy người Tây Ban Nha ngoan đạo này ham muốn vàng hết sức, ông vua bị cầm tù quay ra mà cả với Pizarro để được tự do. Atahualpa đứng thẳng người vươn tay lên cao hết tầm tay của ông ta mà hứa rằng nếu được thả ra thì ông ta sẽ biếu Pizarro một số vàng có thể chưa đầy căn phòng này. Pizarro đồng ý. Những ngày kế tiếp, dân Da Đỏ lũ lượt khuân vác báu vật bằng vàng từ các lâu đài, miếu điện đem đến chất chứa cho đầy căn phòng. Số vàng bạc châu báu này trị giá vào khoảng 15 triệu Mỹ kim. Atahualpa đã thực hiện lời hứa, nhưng Pizarro lại không hề nghĩ tới việc giữ lời hứa. Đối với Pizarro, mà cả chỉ là một cách đơn giản để dễ dàng thâu tóm được vàng của bộ tộc Inca. Sau đó, ông tìm cách sát hại Atahualpa bằng cách hạ lệnh cho người bóp cổ cho chết…. Tuy nhiên, Pizarro lại không có cơ hội an hưởng của cải này… Có nhiều sự ganh ghét tị hiềm và âm mưu tranh giành chiến lợi phẩm (vàng bạc châu báu đã của ăn cướp được) trong những người Tây Ban Nha ngoan đạo này. Không bao lâu, Pizarro bị ngay chính những người Tây Ban Nha Gia-tô đã hết lòng Tin Chúa này sát hại…” (55)

Điều khôi hài là mới trước đó, một ông linh-mục Gia-tô cùng đi với Pizarro tay cầm Thánh Kinh, miệng đọc Thánh Kinh và thuyết phục Atahualpa nên tin Chúa theo đạo Gia-tô. Atahualpa không theo, thì chính ông linh-mục này cùng với Pizarro cướp đoạt vàng bạc châu báu của Atahualpa, rồi bóp cổ Atahualpa cho chết một cách ngon lành. Không hiểu cái đạo lý trong Thánh Kinh của Giáo Hội La Mã dạy người ta như thế nào mà các nhà truyền giáo của Giáo Hội mang Thánh Kinh đi giảng đạo và truyền giáo lại dã man đến như vậy? Thế rồi chính Pizarro cũng bị sát hại bởi ban tay của những người Tây Ban Nha Gia Tô ngoan đạo hết lòng tin Chúa nhưng lại thương vàng hơn thương Chúa. Nếu Đỗ Thọ chết vì biết rõ cái vali của ông Ngô Đình Diệm có 1 triệu Mỹ kim lọt vào tay ai thì cái chết của Pizarro cũng có kẻ chủ mưu. Có thể là thế lực tham vàng đã chủ mưu sát hại Pizarro. Đó là chuyện ăn cướp vàng ở Trung và Nam Mỹ. Dưới đây là chuyện ăn cướp tiền của và bạc vàng từ những người Serbs theo đạo Chính Thống và người Do Thái ở Croatia. Bản văn của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh công bố như sau:

Từ xửa từ xưa ngàn năm, Giáo Hội Roma Latinh đã bỏ Thiên Chúa chạy theo tiền của. Vàng của Đức Quốc Xã là wealth! Hiển nhiên như một công lý, không còn lý luận! “Thấy vàng là tối mắt” như thời đêm đen Trung Cổ tại “Âu Châu Toàn Cầu Công Giáo”, Vatican và Giáo Hoàng quá chủ quan. Từ 3 năm trước hãng tin Infoseek + Reuters ngày 3-8-1997 đã đưa lên www bản tin của ký giả Arthur Spiegelman nguyên văn như sau:

“Los Angeles, Aug 3 (Reuter)- New documents have been found in the U.S. National Archives implicating the Vatican’s bank in possibly illegal transactions with Nazi Germany and its Axis partners during the Second World War. U.S. Inelligence documents obtained by Reuters on Sunday said the Vatican bank known as the Institute For Religious Work, used Swiss banking middlemen in at least three cases to obtain money from the German Reichsbank or to transfer funds to a bank that was blacklisted by the Allies for its dealings with Nazi Germany. The documents come almost 2 weeks after a storm erupted over postwar U.S. Intelligence report that claimed the Vatican stored $130 million worth of gold coins and cash taken by the Croatian Nazi puppet state from Serbs and Jews.

Hai tờ USA Today và Washington Post những ngày 21,22, và 23 tháng 7 năm 1997 còn loan tải nhanh hơn nữa, và tất cả các thỏi vàng, tiền vàng của Nazi được tập trung ném vào Ngân Hàng Vatican. Trong khu vực tài chánh thời Thế Chiến Thứ Hai, Vatican đứng về “Phe Trục” Đức-Ý-Vatican. Đức Ý đánh nhau với đồng Minh Âu Châu, nhưng Vatican đi hàng hai trực lợi. Đồng Minh biết hết, gián điệp Hoa Kỳ và Đồng Minh Âu Châu biêt hết, biết tỏng cả.

Đức Giáo Hoàng Pio XII thành lập Ngân Hàng Vatican ngày 27-6-1942, ngụy trang dưới danh xưng “Institudo per le Opere di Religione” viết tắt là “IOR”, tạm dịch là “Viện Giáo Vụ”. Mục tiêu hoạt động của Ngân Hàng Vatican trong Annuario 1942, trang 1570 viết rằng: “Founded and set up in the city of the Vatican under the auspices of Pius XII on 27 June 1942. The scope of the institute provides for the care and administration of the capital destined for the works of religion”. Giữa lúc cường độ chiến tranh Đệ Nhị Thế Chiến lên cao điểm, Đức Giáo Hoàng thành lập ngân hàng để làm gì? Tiền ở đâu ra? Cho mục tiêu khẩn cấp nào giữa lúc Âu Châu bị tàn phá khốc liệt, người chết vì bom đạn và chết đói nằm như rạ trên lục địa?… Ngòai Đức Quốc Xã và Đức Giáo Hoàng, chẳng ai có tiền vào thời buổi này. Ngân hàng này chẳng bao lâu rơi vào tay một nhóm Mafia trong 4 thập niên, và Ngân Hàng Vatican IOR là nguyên nhân trực tiếp đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử của Đức Giáo Hoàng John Paul I…

Thế rồi mới năm ngoái vừa tròn một năm, Dow Jones News đánh dứ một đòn 2 tỉ dollars tiền lường gạt của tay gian hùng Martin Frankel chạy vào Ngân Hàng Vatican, vào túi Đức Giáo Hoàng. Tờ Time Magazine số July 5, 1999 có cả một bài phóng sự về vụ tai tiếng này. Giáo Hội rất ham tiền bất kể xuất xứ! Tiền sạch cũng như tiền bẩn, Giáo Hội vơ vào tuốt luốt. Cho dù Giáo Hội biết là tiền bẩn, vàng bẩn, Giáo Hội cũng đủ lực đủ tài hóa phép rửa tiền bẩn vàng bẩn ra tiền sạch vàng sạch… Giáo Hội đi đêm hoài có ngày gặp ma. Con ma Bồ Đào Nha phản Đức Giáo Hoàng! Một tuần trước ngày Đức Giáo Hoàng đến Fatima, ngày Đức Mẹ hiện ra liên tiếp từ 13 tháng 5 đến 13 tháng 10, đòn hiểm đống vàng bày ra, đạo binh truyền thông la toáng lên “Fatima là trung tâm thương mại buôn thần bán thánh giống hệt Mecca của Hồi Giáo”… Vàng Nazi và thương mại Fatima… Đức Quốc Xã là bọn ăn cướp vàng, Giáo Hội rửa vàng bẩn ra vàng sạch, bán vàng xây tượng đài Đức Mẹ nguy nga tráng lệ để làm thương mại, mỗi năm thu hút 6 triệu khách hành hương. Năm thánh hoàn toàn đổ vỡ tan tành duới sức nặng của vàng Đức Quốc Xã: “Ingots bearing the German Third Reich insigna.” (56)

Trong phần trên, chúng ta thấy rằng ngày 1-11-1963, nhà thờ Dòng Cứu Thế chứa chấp 14 thùng vàng của Ngô Đình Cẩn ăn cướp được của nhân dân Việt Nam. Sau đó, Ngô Đình Cẩn bị giam ở trong khám. Tướng Đỗ Cao Trí phải khó khăn lắm mới đòi lại đước 7 thùng. Còn lại 7 thùng vàng ăn cướp này, Nhà Thờ Cứu Thế của Giáo Hội La Mã đớp ngon lành. Vàng này là vàng ăn cướp, vàng bẩn, những lọt vào tay Giáo Hội thì Giáo Hội làm lễ hóa phép biến thành vàng sạch. Còn nữa, ông linh-mục nào đó của Giáo Hội nói rằng vào khám rửa tội cho tên tử tù Ngô Đình Cẩn mà kỳ thực là vào khám để bàn mưu tính kế với tên tử tù này về việc chuyển tiền bất hợp pháp (làm ăn bất chính hay là ăn cắp) 6 triệu Mỹ kim từ tên tử tù Ngô Đình Cẩn cho Giáo Hội La Mã. Rồi lúc đi ra khỏi khám, ông linh-mục này lại dùng cuốn Thánh Kinh che giấu tờ ủy quyền bất hợp pháp của tên tử tù Ngô Đình Cẩn để đớp (ăn cắp) 6 triệu Mỹ kim của nhân dân Việt Nam. Còn nữa, ông Linh-mục đi cùng với Pizarro cũng cầm cuốn Thánh Kinh giảng đạo và thuyết phục ông vua Atahualpa của bộ tộc Inca ở Peru theo đạo. Vua Atahualpa không theo đạo thì quay ra bắt giam, rồi đòi đem cả một khối lượng khổng lồ vàng và châu báu đến để chuộc mạng. Vàng và châu báu thì lấy hết nhưng mạng vẫn không tha. Thì ra Thánh Kinh và linh-mục của Giáo Hội La Mã đều được sử dụng vào các công việc cướp của và giết nguời. Đây là những nét độc đáo nhất của nền đạo lý Gia Tô hay Thiên Chúa La Mã. Chúng ta nhớ lại lời Giám-mục Tutu, người Phi Châu, đã từng tuyên bố:

Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi.” [“We have our lands and they came here with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened our eyes, we have the Bible and they have our lands.”] (57)

Người viết không biết câu nói “Tous les chemins mènent à Rome” do ai sáng tác ra. Nhưng ý nghĩa của câu nói này áp dụng vào thành tích dùng những thủ đoạn bất chính của Tòa Thánh Vatican để thu vơ và tích lũy tài sản thì đúng quá, không sai một li nào cả. Xin chuyển dịch câu nói trên đây sang tiếng Việt là “Của cải ở bất kỳ nơi nào có quyền lực của Tòa Thánh Vatican vươn tới rồi cũng được chuyển về kho tàng của Giáo Hội La Mã.” Đúng hay sai là tùy theo cái nhìn của mỗi người.

9.- Thi hành sách lược “bóp méo sự thật lịch sử” và “hàm huyết phún nhân”.- Nói đến đạo Gia-tô là người ta thường nghĩ đến sách lược “bóp méo sự thật lịch sử” và “hàm huyết phún nhân” của Giáo Hội La Mã. Về sách lược “bóp méo sự thật lịch sử”, Giáo Hội có một kỹ thuật siêu việt về lối diễn dịch sự kiện lịch sử, siêu việt về phương cách sử dụng ngôn từ trong cách viết, siêu việt về kỹ thuật phớt lờ (không nói tới) những việc làm xấu xa của Giáo Hội, và siêu việt về cách thêm thắt, thêu dệt để tô vẽ cho Vatican và tín đồ tay sai của Giáo Hội. Chúng ta có thể nhận ra những sự kiện này trong ba đoạn văn ngắn ngủi dưới đây trích ra từ trong cuốn “Những Bí ALịch Sử Đàng Sau Cuộc Thánh Chiến Việt Nam” của người tín hữu Gia-tô ngoan đạo có bút hiệu là Lữ Giang:

1.- “Năm 1893, ông (cụ Phan Đình Phùng) bắt đầu khởi binh tại vùng Thanh Hóa , Nghệ An và Hà Tĩnh, có nhóm Văn Thân cũ đi theo. Khâm sứ Pháp ra lệnh cho triều đính Huế đem quân đi đánh dẹp. Cuộc chiến kéo dài từ năm 1893 cho đến năm 1895. Triều đình Huế phải sai Nguyễn Thân, Tổng Đốc Bình Định đem quân đi đánh dẹp. Cụ Ngô Đình Khả bị chỉ định đi phụ tá Nguyễn Thân. Quân của Phan Đình Phùng chống không nổi. Phan Đình Phùng mắc bệnh lỵ chết vào ngày 28-12- 1895. Nghĩa quân của Phan Đình Phùng tan rã. Nguyễn Thân được thăng lên Phụ Chánh thay cho Nguyễn Trọng Hợp về hưu.”

2.- “Lúc đó Pháp đã nắm hết quyền hành, nên Thành Thái chỉ lo ăn học và giải trí. Cụ Ngô Đình Khả được cử làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái. Năm 1904, cụ được cử làm Tổng Quản Cấm Thành…”

3.- Khi đưa cụ Ngô Đình Khả vào làm Phụ Đạo cho Thành Thái, người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để có biện pháp kịp thời. Nhưng cụ Ngô Đình Khả đã hướng Thành Thái đi một hướng khác.” (58)

Phân tách các đoạn văn trên đây, chúng ta thấy rõ gian ý của tác giả:

Câu văn “Khâm sứ Pháp ra lệnh cho triều đình Huế đem quân đi đánh dẹp.” trong đoạn văn 1 và mệnh đề “Lúc đó Pháp đã nắm hết quyền hành” trong đoạn văn 2 nói lên sự kiện là “Người Pháp đã nắm hết quyền hành và triều đình Huế đã cam phận làm tay sai cho giặc Pháp và Vatican“, cho nên mới bị người Pháp ra lệnh (tức là sai khiến)đem quân đi đánh dẹp lực luợng nghĩa quân kháng chiến. Lực lượng nghĩa quân này dưới quyền lãnh đạo của cụ Phan Đình Phùng. Như vậy là triều đình Huế làm tay sai (Việt gian bán nước) cho quân cướp ngoại xâm Pháp và Vatican.

Câu văn “Cụ Ngô Đình Khả được cử làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái” trong đoạn văn 2, câu văn “người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động của vua vàbáo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để có biện pháp kịp thời” trong đoạn văn 3 nói lên sự kiện Ngô Đình Khả được người Pháp gài vào làm mật thám cho Pháp. Như vậy có nghĩa là Ngô Đình Khả là Việt gian làm tay sai bán nước cho cả Pháp và Vatican.

Câu văn “Nhưng cụ Ngô Đình Khả đã hướng Thành Thái đi một hướng khác.” trong đoạn văn 3 là câu văn tác giả thêm thắt để tô vẽ hay đánh bóng cho người đồng đạo Ngô Đình Khả để bóp méo một “sự kiện lịch sử” là Ngô Đình Khả làm tay sai bán nước cho quân giặc cướp ngoại xâm là Pháp và Vatican.

Khi nói đến cụ Phan Đình Phùng (là vị anh hùng của dân tộc) thì tác giả dùng lối văn xách mé, chỉ viết tên của cụ không thôi mà không viết chữ “cụ” ở trước. Trong khi đó, khi viết đến tên Gia-tô Việt gian làm mật thám và chỉ điểm cho giặc Pháp và Vatican thì tác giả lại viết là “cụ Ngô Đình Khả”.

e. Cả 3 đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ là Pháp và Vatican nắm hết quyền hành, triều đình Huế và tất cả quan lớn quan nhỏ trong triều đình nhà Nguyễn từ thời Đồng Khánh trở về sau đều là tay sai bán nước cho giặc Pháp và Vatican. Riêng Ngô Đình Khả được cả Pháp và Vatican gài vào triều đình Huế làm mật thám và báo cho cho giặc. Ấy thế mà ở trang 396, tác giả Gia-tô Đắc Lộ Lữ Giang lại viết một câu văn rất ngon lành: “Cuộc đời tham chính của cụ Ngô Đình Khả có hai thành tích nổi bất nhất.” Người viết xin đặt vấn đề là “Với cái thân bị Pháp cử vào (gài vào) làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái” để theo dõi các hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết…” thì ông Ngô Đình Khả có cái tư cách gì mà gọi là tham chính? Chỉ có những người Gia-tô Đắc Lộ mới viết được câu văn khó ngửi như vậy. Tới đây, chúng tôi xin phép được nhại hai câu thơ của cụ Cao Bá Quát thành ra như sau: “Ngán cho cái mũi vô duyên, Ngôn từ Đắc lộ, còn thuyền Nghệ An.”

f. Khi nói đến việc Nguyễn Thân và Ngô Đinh Khả đem quân đi đánh dẹp lực lượng kháng chiến Văn Thân, Gia-tô Đắc Lộ Lữ Giang tuyệt nhiên không hề đả động gì đến việc hai tên đại Việt gian này cho đào mả cụ Phan lấy xác đốt thành tro, lấy tro đem trộn vào thuốc súng rồi bắn xuống sông Lam Giang để trả thù cho những chiến dịch “Bình Tây Sát Tả” của Nghĩa Quân Văn Thân trước kia. Hành động dã man này của Ngô Đình Khả cũng chỉ là làm theo cái truyền thống dã man của những người Gia-tô ưa thích đào mả để trả thù người chết đã bị gán cho là “tà giáo” khi còn sống. Tương tự như vậy, khi nói hay viết đến việc Liên Quân Pháp-vatican đem quân đánh phá chiến lũy Ba Đình vào giữa thập niên 1890 thì những người Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã cố tình lờ đi, không nói đến vai trò của ông Linh-mục Trần Lục đem 5 ngàn lính thân binh Gia-tô trợ giúp cho giặc. Nhờ vậy mà giặc mới thành công. Khi nói đến Kế Hoạch đầu độc quân Pháp trong một trại lính ở Hà Nội mà các nhà viết sử gọi là vụ Hà Thành đầu độc do cụ Hoàng Hoa Thám chủ mưu vào năm 1908 thì những Gia-tô viết sử cố tình lờ đi, không nói đến vài trò của Cố Ân và tên lính Gia-tô làm mật thám báo tin cho Pháp cho nên kế hoạch này mới bị giặc khám phá kịp thời. Khi nói đến Ngô Đình Diệm thì họ tìm đủ mọi cách che giấu cái gốc tam đại Việt gian của tên Ngụy Diên họ Ngô này, và cố tình lờ đi, không nói đến khi còn làm tri phủ Hòa Đa và tri huyện Hải Lăng, hắn đã sử dụng kỹ thuật tra tấn tù nhân một cách vô cùng man rợ bằng cách trói nạn nhân vào một cái ghế có khoét lỗ lớn ở chỗ hậu môn rồi dùng đèn cầy (nến) đốt ở dưới để khảo cung. Khi nói đến toán lính Phát Diệm của Linh-mục Hoàng Quỳnh chạy trốn vào Nam, thì họ cố tình lờ đi không nói đến lúc dừng chân ở Hà Nội bọn lính Gia-tô này đã đặt mìn giật xập ngôi Chùa Một Cột vào đêm ngày 10 tháng 9 năm 1954.

Trong khi tín đồ Gia-tô Lữ Giang cố gắng tìm cách bóp méo những sự thật lịch sử Việt Nam để chạy tội cho Giáo Hội La Mã và bọn Gia-tô cuồng tín Việt gian phản quốc bán nước làm tay sai cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican, thì tín đồ Gia-tô Nguyễn Kim Khánh có bút hiệu là Phan Thiết theo sách lược “hàm huyết phún nhân” của Vatican, viết cuốn Hành Hương Đất Phật với những ngôn từ vô cùng tục tĩu nhắm vào Phật giáo để gièm pha và phỉ báng. Vì giới hạn của bài viết này, chúng tôi không bàn đến cuốn sách này ở đây. Đôc giả có thể tìm đọc cuốn Pha Ngầm Phật Giáo của hai tác giả Thích Nhật Từ & Trần Chung Ngọc (Garden Grove, CA., Giao Điểm 2000) để biết rõ hơn.

Còn một điều nữa mà chúng ta cần phải nhớ là chính một người Gia-tô Đắc Lộ cuồng tín đã viết và phổ biến trên báo chí một câu nói nói lên cái đạo lý “bóp méo sự kiện lịch sử” của Tòa Thánh Vatican. Đây là nguyên văn câu nói này: “Một sử gia có lương tri, hãy tôn trọng các bậc tiền bối (*) răn dạy con cháu: Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đạy lại” (59). (Xin hiểu cụm từ “các bậc tiên bối” của những người Gia-tô Việt Nam có nghĩa là “Tòa Thánh Vatican” truyền qua các nhà truyền giáo hay các ông linh-mục” của họ.) Với cái đạo lý viết sử “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đạy lại “, Tòa Thánh Vatican đã thành công biến hóa bộ mặt thật cùi hủi ghê tởm của Giáo Hội La Mã thành những hình ảnh mà Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh của ông Phan Đình Diệm gọi là:

Đến chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê Đức Giêsu, Giáo Hội la Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa. Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây “vạn lý trường thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là cái loa tuyên truyền dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật “núi tội thành con chuột”, “kẻ cướp mặc áo thày tu”, và “quỷ Satan có diện mạo ông Thánh.” (60)

Trên đây là kỹ thuật bóp méo những sự thật lịch sử và nghệ thuật tuyên truyển để che giấu bộ mặt thât cùi hủi ghề tởm của Giáo Hội. Còn sách lược “hàm huyết phún nhân” của Giáo Hội thì ra sao? Xin thưa, đây là những thủ đoạn chụp mũ, vu khống, thêm thắt hay thêu dệt ra những điều xấu xa đi kèm theo với những ngôn từ hàm ý không đẹp để gán cho những thành phần bị coi như là thù địch của Giáo Hội La Mã. Sách lược này đã được Giáo Hội và những người Gia-tô cuồng tín thi hành từ năm 325, khi họ chụp cái mũ “tà giáo” cho Giám-mục Arius và các ông tu sĩ khác đồng quan điểm trong việc không đồng ý chấp thuận lý thuyết Chúa Ba Ngôi. Ngay khi đó, những nạn nhân này bị đuổi ra khỏi Hội Nghi Nicaea. Kể từ đó, sách lược “hàm huyết phún nhân” được Giáo Hội áp dụng liên tục cho đến ngày nay. Hơn 60 triệu dân nạn nhân Âu Châu bị các Tòa Án Dị Giáo hành hình đều bị gán cho tội tà giáo. Thế kỷ 16, nhà truyền giáo Alexander de Rhodes dành cả Chương Bốn trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày để dạy cho người Việt Nam theo đạo Gia-tô biết cach sử dụng sách lược “hàm huyết phún nhân“. Với cụm từ “những dân mọi rợ” trong câu kinh “Ông thánh P.X là lịnh rao truyền tiếng Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rơ” trong cuốn Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Saigon in năm 1971 cho ta thấy tính cách “hàm huyết phút nhân” đã thành truyền thống của Giáo Hội La Mã. Cũng vì vậy mà khi phải viết bài để tranh luận những vấn đề có liên hệ đến những việc làm bất chính, bất nhân và bất nghĩa của Giáo Hội La Mã và chính quyền tay sai thì những người Gia-tô Đắc Lộ đều sử dụng sách lược “hàm huyết phún nhân“.

10.- Theo đuổi chính sách “Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược”.- Sự việc Giáo Hội La Mã theo đuổi chính sách đế quốc thực dân xâm lược đã được thể hiện ra bằng việc phát động gần mười cuộc chiến Thập Ác mà chúng tôi đã trình bày trong phần trên. Hơn nữa, chính sách đế quốc thực dân xâm lược của Tòa Thánh Vatican lại còn được các nhà viết sử ghi lại rõ ràng trong các sách sử. Sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam viết:

Ngay từ thế kỷ 15, người ta thấy chính sách Giáo Hoàng đưa ra cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để thu người vào đạo. Vì thế với điều kiện mang theo các thầy tư tế để “mang thông điệp của đấng Kitô”, người Bồ Đào Nha được Giáo Hoàng Marin V, bằng một sắc lệnh năm 1449, cấp cho tất cả đất đai họ tìm ra đuợc giữa Châu Phi gồm cả Ấn Độ nữa. Henry Martin viết: “Sắc lệnh được phát xuất từ nguyên lý rằng đất đai thuộc về Chúa Kitô và người đại diện Chúa Kitô có quyền sử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu. Những kẻ ngoại đạo không thể là những kẻ chiếm hữu hợp lý bất cứ một mảnh đất nào. Phần đất ban cấp nằm trong tay những kẻ ngoại đạo đã mặc nhiên khiến cho họ tuân phục trước hạnh phúc lớn hơn, trước việc họ đổi đạo dù tự ý hay bắt buộc.” (61)

Nhà viết sử Nguyễn Hiến Lê viết trong cuốn Sách Lịch Sử Thế Giới như sau:

Năm 1452 Giáo Hoàng (người Y Pha Nho) Calixte III ký sắc lệnh cho (thái tử) Henry le Navigateur bắt thổ dân những đất khám phá được làm nô lệ. Ngày ký sắc lệnh ấy là ngày ảm đạm nhất trong lịch sử chế độ thực dân.” (62)

Sách This Is America’s Story viết:

Năm 1493, Giáo Hoàng (Alexander VI) vạch một đường tưởng tượng ở phía tây quần đảo Cape Verde chạy qua Bắc và Nam Cực để chia đôi trái đất ra làm hai. Nửa phía tây ban cho Tây Ban Nha và nửa phía đông ban cho Bồ Đào Nha.” (63).

Sự kiện tự ý chia đôi trái đất ra làm hai để ban cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, mỗi nước một nửa chứng tỏ Giáo Hội La Mã đã coi toàn bộ trái đất này là của riêng của Giáo Hội và Giáo Hội muốn cho người nào thì người đó được, muốn cho quốc gia nào thì quốc gia đó được. Việc làm này chứng tỏ rằng Giáo Hội La Mã đã hành động bất chính với một thái độ vô cùng xấc xược và ngược ngạo. Thượng bất chính thì hạ tắc loạn. Bởi thế cho nên dù là tín đồ của Giáo Hội, nhưng vì Giáo Hội đã hành động bất chính thì Pháp Hoàng cũng nổi loạn chống lại, trả lời Giáo Hội bằng một câu tuyên bố lịch sử dưới đây:

Ai là người chỉ cho ta biết tờ di chúc của ông tổ Adam nói rằng quả địa cầu này để lại cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.” (64)

Sau khi ban hành các sắc lệnh trên đây, Giáo Hội La Mã đã liên kết chặt chẽ với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Phát Xít Ý, Đức Quốc Xã trong việc đánh chiếm các đất đai tại các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu để củng cố quyền lực và thực thi “Chính Sách Bất Khoan Dung” “diệt tận gốc, trốc tận rễ” tất cả các tôn giáo và văn hóa khác mà Giáo Hội đã quyết tâm theo đuổi từ ngàn xưa cho đến nay. Tất cả những sự kiện trên đây chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mã là một đế quốc thực dân xâm lược thâm độc nhất, gian ác nhất, bạo ngược nhất và dã man nhất trong lịch sử nhân loại từ thời Thượng Cổ cho đến ngày nay.

11.- Chủ trương hủy diệt các tôn giáo và các nền văn hóa khác.- Việc chủ trương hủy diệt các tôn giáo khác đã được thể hiện ra bằng “Chính Sách Bất Khoan Dung” được cụ thề hóa bằng những hành động: Thứ nhấttự phong là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (65) rồi chụp mũ cho các tôn giáo khác là “tà giáo“, gọi những người thuộc các tôn giáo khác là “những quân mọi rợ“. Thứ haithiết lập các tòa án dị giáo để tàn sát bằng cách thiêu sống cho đến chết những người bị gán cho là “tà giáo“.Thứ baphát động các cuộc chiến thập ác, đem quân đi đánh cướp tại các vùng ở ngay tại Âu Châu và kế cận để chiếm đất và tiêu diệt các dân tộc không phải là tín đồ của Giáo Hội. Thứ tưtàn sát những người Kitô giáo thuộc các hệ phái khác như Tin Lành và Chính Thống Giáo. Thứ nămbách hại dân tộc Do Thái và những người theo đạo Do Thái. Thứ sáu, ban hành hai sắc lệnh vào năm 1449 và vào năm 1452 ra lệnh cho các chính quyền tay sai đem quân đi chinh phục các vùng đất nằm ngoài vùng ảnh hưởng để cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải theo đạo và làm nô lệ. Thứ bẩymưu toan hủy diệt các tôn giáo khác và nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam qua “Kế Hoạch Puginier“. Thứ tám, hủy diệt các tôn giáo và các nền văn hóa khác tại Quần Đảo Phi Luật Tân và Châu Mỹ La Tinh. Ông Phan Quốc Đông viết về sự kiện này như sau:

Tôi cũng đọc kỹ lịch sử của Giáo Hội Vatican, tiểu sử từng vị Giáo Hoàng, các phương pháp bành trướng tôn giáo của họ tại các lục địa khác ngoài Âu Châu, phương pháp nào nhanh, phương pháp nào chậm. Phương pháp nhanh nhất được thực hiện bởi thực dân Tây Ban Nha tại các xứ thuộc Châu Mỹ La Tinh thật là vô cùng tàn ác. Họ dùng gươm súng giết hết những người đàn ông bản xứ, chỉ còn lại toàn đàn bà con gái thôi, để họ vừa bắt buộc theo đạo, vừa hãm hiêp đồng hóa. Số người bị giết lên đến mấy chục triệu. Đây là phương pháp truyền đạo của phái bộ truyền giáo Tây Ban Nha được Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) hỗ trợ. Đi du lịch ở các xứ này ta chỉ thấy toàn những người lai mà thôi, hầu như không còn một người bản xứ nào sống sót. Tại Phi Luật Tân, họ cũng giết hàng triệu người, đập phá toàn bộ đền thờ cổ, thủ tiêu hoàn toàn mọi chứng tích của nền văn minh cổ xưa của xứ này. Ngôn ngữ, văn tự, truyền thống văn hóa hoàn tòan mất hẳn.” (66)

Riêng về tội ác mưu toan hủy diệt các tôn giáo khác và nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, sách sử ghi rõ nói rõ:

1.- Kế Hoạch Puginier nhằm xé nhỏ nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh biến thành những tiểu quốc theo biên giới sắc tộc và địa lý, rồi hủy diệt hết tất cả ảnh hưởng của các nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Kế hoạch này đã được Tiến-sĩ Cao Huy Thuần nói rõ ràng trong cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los, Angeles, 1989, trang 395-414).

2.- Toán lính Gia-tô Phát Diệm dưới quyền Linh-mục Hoàng Quỳnh phá hủy ngôi chùa Một Cột tại Ha Nội vào đêm 10 tháng 9 năm 1954 trên đường chạy trốn từ Phát Diệm qua Hà Nội xuống Hải Phòng vào Nam.

3.- Chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm không cho tổ chức lễ giỗ tổ Hùng Vương và viêc Linh-mục Vũ Đình Hoạt biện minh cho việc này trong cuốn Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Falls Church, CA., Alpha, 1991).

12.- Vi phạm nhân quyền.- Không cần phải nói đâu xa, 11 chương tội ác mà chúng tôi vừa mới trình bày trên đây là 11 rặng Hy Mã Lạp Sơn tội ác mà Giáo Hội La Mã đã gieo rắc đau thương cho nhân loại từ năm 325 cho đến ngày nay. Nội dung của hai sắc lệnh do Tòa Thánh Vatican ban hành vào những năm 1449 và 1452 nói lên cái tội ác Giáo Hội La Mã đã vi phạm nhân quyền một cách vô cùng trằng trợn. Ngoài ra, những việc làm như Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) tuyên bố: “Tự do báo chí là thứ tự do tai hại nhứt, đáng ghét nhứt, kinh tởm nhứt mà mọi người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi..” (67) và việc ban hành giáo luật “bắt buộc những người phối ngẫu phải từ bỏ tín ngưỡng cũ để làm lễ rửa tội theo nghi thức thờ phượng của Giáo Hội trước khi làm lễ thành hôn” là những bằng chứng hùng hồn cho chúng ta thấy Tòa Thánh Vatican luôn luôn có chủ ý vi phạm nhân quyền một cách vô cùng trơ tráo, bất chấp cả công lý, bất chấp lẽ phải, bất chấp cả lương tâm và tình người.

(Hình Giáo Hoàng John Paul II còng lưng gánh chịu tội ác của Giáo Hội La Mã)

SỰ CHUẨN BỊ CHO NGÀY CÁO THÚ TỘI ÁC
CỦA GIÁO HỘI LA MÃ VÀO NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 2000

Chuẩn bị: Ngay từ khi mới hình thành, Giáo Hội La Mã có chủ tâm thiệt lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô đề thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ song hành với bạo lực, khủng bố thường trực để duy trì địa vị độc tôn của Tòa Thánh Vatican. Dã tâm này được che đậy bằng một lá chắn có danh xưng tôn giáo là Giáo Hội La Mã với lý thuyết thần học “thần quyền chỉ đạo thế quyền” để lường gạt và lừa bịp người đời bằng những chuyện hoang đường phi nhân bản, phản khoa học như thiên đường, địa ngục, phép mầu, phép lạ, v.v…. Ấy thế mà không hiểu tại sao đến đầu thập niên 1960 Giáo Hội lại cảm thấy nhột, cảm thấy bất an trong cái tháp ngà lý thuyết thần học quái đản này. Phải chăng tội ác quá nhiều đã làm cho lương tâm những người cầm cân nẩy mực trong Tòa Thánh Vatican phải hồi tưởng lại mà ăn năn xám hối và đền tội để cho lương tâm các Ngài được thanh thản? Phải chăng những yếu tố ngoại cảnh do việc hai siêu cường Nga và Mỹ cùng thành công rực rỡ trong công cuộc thám hiểm không gian với những thành tích “chó Laika (October 4, 1957)”, “Yuri Gagarin (4-1961)”, “John Glenn (2-1962)” và “Man on the Moon (7-1969)”, đem ánh sáng khoa học chiếu rọi cho người đời nhìn thấy rõ tính cách lưu manh bịp bợm trong các trò ảo thuật bánh vẽ thiên đường, địa ngục, các phép bí tích, phép mầu và Đức Mẹ hiện xuống trần gian? Có thể là cả hai. Vì thế cho nên Giáo Hội mới quyết định đi trước một bước là thà “tự nguyện nói ra (tự cáo thú) tội ác còn hơn là bị lật tẩy” (để cho nạn nhân tố cáo) như trước kia đã từng bị lật tẩy khi nhà thiên văn học Galileo Galilie (1564-1642) khám phá ra sự thực là “Trái đất quay chung quanh mặt trời“, chứ không phải như Thánh Kinh của Giáo Hội cho là “Mặt trời quay chung quanh trái đất”.

Kể từ đây, Giáo Hội đã có những quyết định cấp tiến cho chuẩn bị việc cáo thú những tội ác tích lũy từ ngàn năm trước. Việc đầu tiên, Giáo Hoàng John XXIII (1958 – June 3,1963) cho thiết lập Công Đồng Vatican II. Công Đồng này khai sinh ra luật cho phép giáo dân được phép ăn đồ ăn đã dâng cúng theo các nghi thức của các tôn giáo khác. Việc thứ hai là chính Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) đã chính thức “bày tỏ sự bàng hoàng” trước việ⣠chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm trong việc bách hại Phật Giáo Việt Nam vào mùa xuân năm 1963. Nhưng anh em nhà Ngô và băng đảng Cần Lao Công Giáo lúc bấy giờ đã trở thành những con chó điên, không còn biết đến lương tâm con người và lời hay lẽ phải nữa, cho nên chúng mới có thái độ hỗn xược lên mặt dạy đời với Ngài:

Đức Giáo Hoàng thật cũng lo âu một cách quá dễ dàng. Là một người Công Giáo tôi chỉ buộc phải tin vào tín điều của tôn giáo và tin vào Đức Giáo Hoàng mà thôi. Đức Giáo Hoàng sẽ không sai lầm khi Ngài tuyên bố về những diều đặc thù về tôn giáo. Tôi không tin rằng Ngài sẽ đứng ở tư thế của mình mà chối bỏ tôi, vì làm như thế quả là Ngài đã làm hại lớn cho Thiên Chúa Giáo.” (68)

Thứ ba, năm 1969, Giáo Hoàng Paul VI cho thiết lập “Ủy Ban Thần Học Quốc Tế” để cứu xét cho việc cáo thú tội ác với nhân dân thế giới. Thứ tư, năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã chính thức nhìn nhận tội ác trong vụ án Galileo. Thứ năm, năm 1994, Ngài lại kêu gọi giáo dân hãy tự xét mình ăn năn thống hối để chuẩn bị cho năm thánh bước sang thiên kỷ thứ ba. Thứ sáu, từ đó cho đến nay, đi đến đâu Ngài cũng xin lỗi các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội, tính ra có tới cả 100 lần. Thứ tám, bằng những hành động sử dụng chiếc xe chống bom chống đạn Popemobile đặc biệt mỗi lần thánh du sang bất lỳ một quốc gia nào khác, Ngài đã để cho nhân dân thế giới biết rằng tín điều mà Giáo Hội thường dạy bảo giáo dân “Tin theo Chúa thì sẽ được Chúa che chở” là một điều láo khoét, chỉ có một mục đích duy nhất là lừa bịp người đời mà thôi. Thứ chín, song song với việc sử dụng chiếc xe chống bom chống đạn Popemobile trên đây, Ngài cho mở kho mật hàm của Tòa Thánh Vatican cho phép các sử gia đến tham khảo để tìm hiểu sâu rộng về những thành tích dã man của Giáo Hội từ đầu thời Trung Cổ cho đến hết thế kỷ 19. Thứ muời, cũng trong năm 1999, Ngài chính thức tuyên bố với nhân dân thế giới rằng “Thực sự là không có Thiên Đường ở trên chín tầng mây và cũng không có địa ngục gì hết.” Như thế có nghĩa là Ngài đã chính thức công nhận Giáo Hội đã bịa đặt ra những chuyện thiên đường và địa ngục để lường gạt người đời.

Tất cả những sự kiện trên đây cho chúng ta thấy tỏ rằng Giáo Hội La Mã là vua bịp, vua lường gạt người đời và đã phạm không biết bao nhiêu tội ác tầy trời khiến cho lương tâm các Ngài phải trăn trở, ăn ngủ không yên. Có thể vì thế mà trong gần mười năm qua, Giáo Hoàng John Paul II đã làm được không biết bao nhiệu việc vô cùng cao cả như trên, và quyết tâm chọn ngày 12-3-2000 là ngày Ngài chính thức long trọng cáo thú tội ác của Giáo Hội với nhân dân thế giới.

Cáo thú: Thế nhưng, dù là bốn vị giáo chủ của Giáo Hội từ Giáo Hoàng John XXIII, Paul VI, John Paul I và John Paul II có lòng thành khẩn ăn năn và có ý muốn đền tội (bồi thường thiệt hại) cho các dân tộc nạn nhân trong niềm hy vọng hàn gắn những vết thương nhức nhối từ ngàn năm xưa, và cũng là để làm dịu bớt ngọn lửa căm hờn đang bừng bừng trong lòng của hàng triệu triệu nhân dân thế giới, thì lòng thành khẩn và cố gắng của các Ngài cũng chỉ là lòng thành khẩn và cố gắng đơn lẻ của một vài con én, không thể nào mang lại được mùa xuân vào trong giáo triều Vatican. Các Ngài dù có cố gắng bao nhiêu đi nữa cũng không làm sao lay chuyển được những tảng băng cuồng tín đóng cứng trong đầu của những người bảo thủ đang vây quanh trong Tòa Thánh Vatican. Mức độ cuồng tín của đám người này đã lên đến cùng độ của cuồng tín. Chính bọn người này đã và đang làm áp lực để ngăn chặn, không cho các Ngài tiến mạnh trong những cố gắng cáo thú tội ác và bồi thường thiệt hại cho các dân tộc nạn nhân mà Giáo Hội đã gieo rắc đau thương cho họ từ ngàn xưa cho đến nay. Nội dung của bản cáo thú tội ác do băng đảng thủ cựu này soạn thảo và được Giáo Hoàng John Paul II tuyên đọc vào ngày 12-3-2000 vừa qua là bằng chứng cho sự kiện này.

NHẬN XÉT

Đọc hết các trang nói về tội ác của Giáo Hội, đọc hết phần nói về việc Giáo Hội đã dành ra cả một thời gian hơn 30 năm trời để chuẩn vị cho việc cáo thứ tội ác với nhân dân thế giới, rồi đọc bản cáo thú tội ác của Giáo Hội được tuyên đọc vào ngày 12-3-2000 vừa qua, tất cả những người còn có một chút lương tâm đều cảm thấy vô cùng thất vọng. Không thất vọng làm sao được! Tất cả tội ác tầy trời như đã trình bày trong 12 chương tội ác trên đây mà chính Giáo Hoàng John Paul II đã chính thức nhìn nhận và công khai xin lỗi với nhân dân thế giới từ 8 năm qua tính ra có cả đến trên dưới cả trăm lần. Ấy thế mà vào khi quan trọng nhất trong giờ phút long trọng cáo thú tội ác với toàn thể nhân dân thế giới vào ngày 12-3-2000 vừa qua, người chủ chăn của Giáo Hội chỉ nhận lỗi với Chúa, cầu xin Chúa tha thứ cho Giáo Hội đã lầm lỗi mà không hề nói một lời xin lỗi các dân tộc nạn nhân và cũng không hề đến việc gửi người đi đến các quốc gia nạn nhân để trực tiếp bàn chuyện chính thức nhìn nhận tội ác và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của Giáo Hội. Giáo Hội đã hành động như vậy thì xin hỏi công lý ở chỗ nào? Làm như vậy, có phải là Giáo Hội đã bất chấp cả lẽ phải, bất chấp cả lương tâm và bất chấp cả công lý hay không? Cáo thú tội ác với nhân dân thế giới mà làm như vậy thì chỉ làm cho nhân dân thế giới vốn đã ghê tởm Giáo Hội thì lại càng ghê tởm hơn nữa. Hành động như vậy lại càng làm cho nhân dân thế giới nhìn thấy rõ hơn cái dã tâm của Giáo Hội vẫn còn mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử. Khôi hài hơn nữa là trong lời cáo thú, lại có câu văn: “Chúng tôi xin tha thứ vì những…, vì việc sửụng bạo lực mà một số Kitô Hữu đã dùng trong khi bảo vệ chân lý…” (69)

Đọc hết 12 chương trên đây nói về tội ác của Giáo Hội, chúng ta thấy rằng tất cả tội ác trên đây đều do Giáo Hội chủ động gây ra cả. Không có một thế lực hay một tôn giáo nào đem quân đến đàn áp tín đồ Gia-tô mà tại sao Giáo Hội lại bảo rằng “việc sử dụng bạo lực trong khi bảo vệ chân lý“. Thật là vô cùng khôi hài!

1.- Chính Giáo Hội chọn ông thượng đế bạo ngược để thờ phượng rồi bắt chước ông thượng đế bạo ngược này để làm những việc bạo ngược.

2.- Chính Giáo Hội đã và đang dùng cuốn Thánh Kính có những chuyện loạn luân dâm loàn làm tài liệu dạy dỗ tín đồ để rồi chính Giáo Hội đã từng có những ông giáo hoàng và nhiều tu sĩ sống đời phóng đãng, loạn luân dâm loàn còn tệ hơn cả những chuyện xấu xa trong thánh kinh của Giáo Hội.

3.-Chính Giáo Hội đã bịa đặt ra những chuyện hoang đường như thiên đường, địa ngục, Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Đồng Trinh, các phép bí tích, phép mầu, Đức Mẹ hiện xuống, và chuyện có Chúa che chở tín đồ của Chúa để lừa bip người đời và dùng bạo lực để cưỡng ép nạn nhân phải tin theo.

4.- Chính Giáo Hội đã phát động các cuộc chiến thập ác dẫn quân đi giết người cướp của ở các vùng Cận Đông và miền Nam nước Pháp.

5.- Chính Giáo Hội đã cho thiết lập các tòa án dị giáo và đã tàn sát hơn 60 triệu lương dân vô tội bị Giáo Hội gán cho là “tà giáo“.

6.- Chính Giáo Hội đã cho thi hành chính sách đế quốc thực dân xâm lược qua việc ban hành các sắc lệnh vào những năm 1449, 1452 và 1493.

7.- Chính Giáo Hội đã sai phái các tay tổ gián điệp đến các lục địa Phi, Mỹ và Á châu để thâu thập các tin tức tình báo chiến lược tại các nơi này để chuẩn bị cho việc đem quân đi đánh chiếm các thuộc theo đúng như Giáo Hội đã dự trù. Việt Nam là một thí dụ điển hình.

8.- Chính Gíáo Hội đã liên minh với các đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem quân đi đánh chiếm các vùng đất ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh và Phi Luật Tân. Tại các vùng đất này, chính Giáo Hội đã thi hành “kế hoạch Inquisition“, thẳng tay hủy diệt gần hết các dân tộc bản địa và nền văn hóa của họ.

9.- Chính Giáo Hội đã có chủ tâm đánh chiếm Đông Dương làm thuộc địa rồi gửi người đi vận động và liên kết với chính quyền Pháp đem quân đi đánh chiếm và thống trị Đông Dương.

10.- Cũng chính Giáo Hội đã đem ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ, vận động với chính quyền Hoa Kỳ cùng làm áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại để đưa tên Ngụy Diên Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Viêt Nam với dã tâm thâm độc   tiến hành Kế Hoạch Puginier đã bị chính quyền Pháp gạt bỏ trước kia.

11.- Chính Giáo Hội đã ban hành giáo luật cưỡng bách những người phi Gia-tô muốn lập gia đình với tín đồ của Giáo Hội thì phải học giáo lý và làm lễ rửa tội để trở thành tín đồ Gia-tô trước đã rồi mới được làm lễ hôn phối.

12.- Các dân tộc tại Phi, Mỹ và Á Châu đều không hề đem quân lính đến Tây và Nam Âu đánh chiếm đất và cưỡng bách tín đồ Gia-tô phải theo tín ngưỡng của họ. Trái lại, các dân tộc này là nạn nhân của Giáo Hội.

13.- Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thần đạo, Chính Thống giáo và Tin Lành, tất cả đều không hề phát động thánh chiến đem quân đến Tây và Nam Âu đánh chiếm đất đai và tàn sát tín đồ Gia-tô. Trái lại, các tôn giáo này là nạn nhân của Giáo Hội.

Tất cả những hành động tội ác trên đây đều do Giáo Hội chủ động cả. Có chỗ nào Giáo Hội ở “tư thế bị động” hay ở trong “tình trạng phải tự vệ” đâu mà bảo rằng: “sử dụng bạo lực .. trong khi bảo vệ chân lý.” Gíáo Hội nói như vậy có nghe được không? Giáo Hội nói như vậy thì quả thật là “Miệng kẻ sang có gang có thép.” Thú thực, chúng tôi cảm thấy lợm giọng quá!

“Ngán cho cái mũi vô duyên,
Ngôn từ La Mã, con thuyền Nghệ An.”

Hậu quả là việc chính thức cáo thú tội ác của Giáo Hội vào ngày 12-3-2000 vừa qua không những đã không làm cho các dân tộc nạn nhân nguôi ngoai được mối hận thù chất chứa trong lòng từ bao nhiêu thế kỷ, mà ngược lại Giáo Hội còn phạm thêm các tội khác nữa như là tội “lươn lẹo và lắt léo” và tội “lừa bịp nhân dân thế giới“. Làm như vậy chỉ có phản ứng ngược mà thôi. Hậu quả là không còn ai tin vào những lời hứcủa Giáo Hội nữa. Đừng tin những gì Giáo Hội nói, mà hãy nhìn kỹ xem những gì Giáo Hội đã và đang làm. Cũng vì thành tích bất tín của Giáo Hội mà Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh mới đưa ra lời nhận xét dưới đây:

“Trong 7 Chương Tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là “vượt tội” mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tôi B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội lại phạm thêm tội C để bảo vệ tội A + tội B… Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Jeanne d’Arc (vào năm 1431) cho đến ngày bà được phong thánh (vào năm 1920) là (hơn) 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà (Jeanne d’Arc) bao nhiêu lần? Giết Bà cũng một tay Giáo Hội. Phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội. Nhưng có mấy ai được may mắn như Bà! Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội phạm tại các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.”. “… Trong lần công du nước Pháp lần sau cùng, Ngài cáo thú “Tội ác của Giáo Hội về việc sử dụng bạo lực đẫm máu để phục vụ chân lý”. Trong lễ thánh Bartholomeo tại Huguenots đêm 23 rạng 24 tháng 8 năm 1575: Người Công Giáo xông vào khu người Tin Lành tàn sát một đêm 400 xác trôi trong sông Seine… Đạo Công Giáo Roma La Tinh là tôn giáo xuất sinh từ nền văn hóa du mục gốc La Hy, có nền thần học cực kỳ lắt léo thâm hiểm pha tính tàn bạo ác độc của dân du mục hoang dã.” (70)

Đến đây, người viết xin trân trọng kính gửi lên Đức Giáo Hoàng John Paul II một vài lời tâm huyết để thay cho phần kết luận của bài viết này.

Thưa Đức Giáo Hoàng John Paul II,

Với tư cách là một người dân hèn của một dân tộc nạn nhân của Giáo Hội, ngày 11-3-2000 vừa qua, tôi đã gửi lên Ngài lá thư đề ngày 19-9-1999, trong đó tôi thành khẩn trình bày tất cả những lời tâm huyết của cá nhân tôi về:

1.- Những việc làm của Giáo Hội từ giữa thế kỷ 17 đến ngày 30-4-1975 có liên can đến đất nước Việt Nam thân thương của chúng tôi.

2.- Những đề nghị mà Giáo Hội nên làm để nhận lỗi và bồi thường thiệt hại cho các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội và đặc biệt là cho dân tộc Việt Nam, một nạn nhân lâu dài nhất và thảm thương nhất của Giáo Hội tại lục địa Á Châu.

Thưa Ngài, cho đến nay, tôi vẫn chưa được cho biết là Ngài đã nhận được lá thư đó hay chưa. Chắc có lẽ Ngài và văn phòng của Ngài còn bận rộn nhiều chuyện lớn, không có thì giờ để ý đến một người hèn mọn đem chuyện hèn mọn liên hệ đến một dân tộc mà Giáo Hội của Ngài thường khinh rẻ là “quân mọi rợ“. Chuyện đó xin tạm gác lại. Hôm nay, nhân tiện biên soạn bài viết này, tôi xin trân trọng và thành kính gửi lên Ngài mấy lời tâm huyết khác. Kính mong Ngài dành ra mấy phút đọc qua để thấu hiểu được nỗi lòng của một người dân hèn mọn của một dân tộc đã từng là nạn nhân trực tiếp của chính sách xâm thực triền miên của Giáo Hội mà Ngài là Giáo Chủ.

Thưa Ngài, thiển nghĩ rằng, Ngài đã nhìn thấy rõ thủ đoạn lưu manh của Giáo Hội để lường gạt nguời đời trong việc dùng những chuyện hoang đường như thiên đàng địa ngục, Chúa sẽ che chở, v.v.., trong hệ thống tín lý của Giáo Hội, rằng chính Ngài đã nhìn thấy rõ những ngọn núi tội ác của Giáo Hội đối với nhân loại cao lớn như mấy chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn, rằng chính Ngài rất mong muốn cáo thú tội ác với nhân dân thế giới một cách thành thật và bồi thường thiệt hại cho các dân tộc nạn nhân để tẩy xóa và rửa sạch những vết hằn xấu xa nhơ bẩn của Giáo Hội vốn đã nhơ bẩn từ ngàn xưa. Nhưng Ngài đã không làm được như ý muốn của Ngài chỉ vì những nhân vật có thế lực trong giáo triều Vatican vây quanh Ngài đã cản trở Ngài. Họ cản trở Ngài vì họ vẫn còn mơ ước có thể bơi ngược được dòng lịch sử để sống lại cái thời oanh liệt hét ra lửa mửa ra khói của thời kỳ tiền Cách Mạng Pháp 1789. Sở dĩ họ còn có thể mơ ước như vậy là vì đầu óc họ đã đặc cứng với những tư tưởng thần học huyễn hoặc, viển vông, phi nhân bản, phản khoa học, không còn thích hợp với thời đại tin học của ngày nay. Ngày nay, nhân loại đã tiến vào thời đại của điện toán, vượt không gian thi nhau cắm cờ trong Cung Quảng khiến cho chính Ngài cũng đã phải công nhận là không có thiên đưòng, không có địa ngục và cũng không có chuyện Chúa che chở cho bất kỳ ai. Ấy thế mà bọn người có thế lực vây quanh giáo triều Vatican lại không chịu chấp nhận sự thật này. Họ vẫn còn u mê, mông muội, lạc hậu và ngu dốt hơn tất cả những người ngu dốt hiên nay trên trái đất này. Họ là sản phẩm của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ cuả Giáo Hôi. Cũng vì thế cho nên họ mới ngu như vậy. Trong hoàn cảnh này, Ngài quả thật giống như một con chim câu trắng trong bầy quạ đen, một thiên thần trong bầy ác quỷ, một người khôn trong đám người ngu xuẩn đến cùng độ của ngu xuẩn. Người Việt Nam chúng tôi thường nói, “Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng Ngu“. Ngày nay, Ngài không phải chỉ làm thầy cho một thằng ngu, mà làm thầy cho cả một lũ ngu đã cản trở không cho Ngài thành thực cáo thú tội ác với nhân dân thế giới và bồi thường thiệt hại cho các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội.

Thưa Ngài, nếu không cương quyết mạnh tiến lên như lòng mong muốn của Ngài, Ngài sẽ bị phe đảng bảo thủ vây quanh bên Ngài thuyết phục và sẽ bị đồng hóa thành quạ đen như bọn chúng. Thư Ngài, thôi thì “Gặp thời thế thế thì phải thế”, “Khôn tính dài, dại tính ngắn”, “Khôn tính vạn đại, dại tính nhất thời.” Một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam chúng tôi đã từng nói: “Không thành công thì cũng thành nhân“, người viết xin trân trọng đề nghị: Xin Ngài hãy theo gương các ông Mikhail Gobachev và Boris Yeltsin của Liên Bang Sô Viết trước đây mà long trọng tuyên bố giải thể cái tổ chức tội ác trời không dung, đất không tha này đi. Làm được như vậy, Ngài đích thực là vị cứu tinh của nhân dân thế giới. Lịch sử sẽ ghi danh Ngài và nhân loại sẽ đời đời nhớ ơn Ngài. Mong lắm thay!

Ngày 15 tháng 6 năm 2000
Nay kính –  Nguyễn Mạnh Quang (giaodiem.com)

CHÚ THÍCH

[1] Sàigon Nhỏ số 170, ngày Thứ Sáu 17-3-2000.
[2] Holy Bible – The New King James Version (N Y: American Bible Society, 1982), trg 112.
[3] Bản Anh ngữ, Sđd., trạng 15. Bản Việt ngữ: Kinh Thánh Cựu và Tân Ước – United Bible Socieies, trang 19-20.
[4] Phan Đình Diệm, “Mea Culpa” Bài 3. Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm. Ngày 12 tháng 3 năm 2000.http://www.kitohoc.com/Bai/Net066.html. 13 March 2000.
[5] Chu Văn Trình, Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (Taveres, Fl: Ban Tu Thư, 92), tr 120-125
[6] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897) (Westminster, CA., 1994) trang 17.
[7] Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Living Word History (Glenview, Illinois, Scott Foresman and Company, 1974) trang 119.
[8] Arnold Schrier & T. Walter Wallbank. Sđd., trang 122. Nguyên văn: “In 426, anther of the Church Fathers, St. Augustine of Hippo in Africa, finished The City of God. This book provided much of foundations of Christian theology.” Trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1972), Giáo Sư Lý Chánh Chung đã dành ra tời 5 trang (64-69) để nói về cái chuyện Nước Trời hoang đường này.
[9] Malachi Martin, The Decline and Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981), trang 64. Nguyên văn như sau: “But more than that, he (Pope Leo I) has declared the authority of the Roman bishop over all temporal rulers as well.”
[10] Long Ân. “Thiên Hạ Phong Trần.” Việt Nam Mới số 207. Ngày 23-12/1994.
[11] Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Đông Phương (Toronto, Làng Văn 1997) trg 93
12] Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Tac., WA: TXB, 1998), trang 299-300.
[13] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr 53.
[14] Vương Hồng Sển, Hơn Nửa Đời Hư (West., CA., Văn Nghệ, 1994), tr 484.
[15] Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998), trang 116.
[16] Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Falls Church, VA: Alpha, 1991), trang 1592.
[17] Tuần Báo Thời Báo (Oakland – San Jose – SF) Số 333, ngày 30-5-1988.
[18] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA., Giao Điểm 99), tr 436.
[19] Phan Đình Diệm (Học Hội Giêsiu Kitô Phục Sinh), Kiến Nghị 5, tháng 11/1998. Tanvien@kitohoc.com ( September 19, 1999).
[20] Malachi Martin, Sđd., trang 189.
[21] Nhiều tác giả, Sđd., trang 115.
[22] Phan Đình Diệm (Học Hội Giêsu Kitô Phục Sinh), Kiến Nghị 6, ngày 15-6-1999. Tanvien@kitohoc.com ( September 19, 1999).
[23] Lương Minh Sơn, “Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ.” Người Việt (Wesminster, California), Saturday, November 6, 1996.
[24] Trần Chung Ngoc, Sđd., trang 204.
[25] J.T.C., Smokescreens (Chino, CA., Jack T. Chick, 1983), trang 35. Xin đọc thêm Chương 11, sách Thực Chất Của Giáo Hội La MaNguyễn Mạnh Quang, Tacoma, 1999) để biết thêm về sựàn ác của Tòa Án Dị Giáo và của những người tín hữu Gia-tô.
[26] Anatole G. Mazour & John M. Peoples Men and Nations – A World History (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1975), trang 217-218.
[27] Malachi Martin, Sđd., trang 110-111.
Anatole G. Mazour & John M. Peoples, Sđd., trang 218.
[28] Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (CA., Đồng Thanh, 1996), trang 132-133.
[30] Trần Chung Ngọc, Sđd., trang 203.
[31] Xem ghi chú số 10.
[32] Malachi Martin, Sđd., trang 121-122.
[33] Trần Quý, Sđd., trang 133.
[34] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật (West., CA: Văn Nghệ, 1996), trg 18.
[35] Trần Chung Ngọc Sđd., trang 107.
[36] Trần Chung Ngọc. Sđd., trang 107.
[37] J.T.C., Sđd., trang 32.
[38] Lê Trọng Văn, Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng Hay Đến Bờ Ảo Vọng (San Diego, Mẹ Việt Nam, 1996), trang 188-193.
[39] Lê Hữu Dản, Sđd., trang 327.
[40] Thư đề ngày 31-5-2000 của ông Văn Phú Cẩm hiện cư ngụ tại Tacoma (Washington) gửi cho tác giả.
[41] J.T.C., Sđd., trang 14-17.
[42] Arnold Schrier & T. Walter Wallbank. Sđd., trang 148.
[43] Phan Đình Diệm (Học Hội Giêsu Kitô Phục Sinh), tài liệu đã dẫn, trang 2.
[44] J.T.C., Sđd., trang 71-73.
[45] Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 48-49.
[46] Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 76-78.
[47] Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 177-179.
[48] Tường Minh & Chu Văn Trình, Rơi Mặt NaFlorida, Văn Sử Địa, 99), trg 196-198.
[49] Đỗ Mậu, Việt Nam Lửa Máu Quê Hương Tôi (West. CA., Văn Nghệ, 93), trang 427.
[50] Trần Văn Đôn , Việt Nam Nhân Chứng (Los Alamistos, Xuân Thu, 1989), trg 248-49.
[51] William J. Lederer, Our Worst Enemy (New York, W. W. Norton & Company – Inc.,, 1968) trang 165.
[52] Nhiều tác giả, Tường Trình Cùng Đồng Bào Trong Nước (Hoa Ký, 1998) tr 98.
[53] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897) (Westminster, CA., 1994) trang 386.
[54] Nguyễn Xuân Thọ, Sđd., trang 386-387.
[55 Harriett Brown, Robert Ludlum & Howard Wilder, This Is America’s Story (Atlanta, GA: Houghton Mifflin Company Boston, 1975), trang 52-53.
[56] Phan Đình Diệm (Học Hội Giêsu Kitô Phục Sinh), Vàng Đức Quốc Xã Dưới Chân Tượng Đức Mẹ Fatima Tanvien@kitohoc.com (Ngày 6-6-2000).
[57] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan-Phaolồ II (Garden Grove, CA., 1995) trang 280.
[58] Lữ Giang, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Thánh Chiến (Garden Grove, California, 1999) trang 394-395.
[59] Bùi Hoàng Thư “Bạn Đọc Góp Ý.” Văn Nghệ Tiền Phong. Ngày 16-11-98, trg 44-45. Chúng ta nên hiểu bậc tiền bối.
[60] Phan Đình Diệm, “Mea Culpa” Bài 3, Tlđd., trang 9-10.
[61] Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, Hương Giang, 1989), trang 7.
[62] Nguyễn Hiến Lê, Lịch Sử Thế Giới (West., CA., Văn Nghệ, 1994), trg 349.
[63] Harriett Brown, Robert Ludlum & Howard Wilder. Sđd., trang 30.
[64] Nguyễn Mạnh Quang, Viêt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Tac., 1999), trang 309.
[65] Vũ Đình Hoạt. Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Falls Church, VA., Alpha, 1991), trang 1014.
[66] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II (Garden Grove, CA., Giao Điểm, 1995), trang 339-340.
[67] Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Saigon, Lủa Thiêng, 1973) trang 76.
[68] Đỗ Mậu, Sdd., trang 513.
[69] Sàigon Nhỏ Số 170, ngày Thứ Sáu 17-3-2000.
[70]Phan Đình Diệm, “Mea Culpa” Bài 3. Tlđd., trang 10.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: