RSS

KBC hải ngoại: Đọc để tìm hiểu “kiến thức thiên hạ”

28 Jul

Source: http://kbchaingoai.wordpress.com

From: Tran Quang Dieu [mailto:tranquangdieu@hotmail.com]
Sent: Saturday, July 09, 2011 4:04 AM
To: …………………
Subject: FW: NÓI VỚI ÔNG/BÀ FRANCIS DƯƠNG

 NÓI VỚI ÔNG/BÀ FRANCIS DƯƠNG

Sau khi tôi viết mấy điều phát biểu, như là ý nghĩa của sự cảnh cáo, nhắc nhở, góp ý mà ông Trần Tiên Long khi chuyển tiếp hộ đã ghi xuống là “góp ý của ông TQD” thì thật chích xác với tâm ý của tôi. Xin kính cảm ơn ông Trần Tiên Long vậy.

Sau đó, có ông/bà Francis Dương gì đây viết lảng xẹt, có vẻ lái câu chuyện sang việc chống cộng để nhằm phủ đầu. Rồi đem chuyện Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh,… ra nói lơi bơi không ăn nhập gì đến chủ đề.

Điều rất lý thú, chỉ bởi mấy đoạn tôi viết, nó đã làm cho Francis Dương lõa thể về thái độ vong nô từ tận thâm tâm, mà nếu thường nhật, khi ông/bà ấy có bô bô về tinh thần “yêu nước” ra sao thì cũng đố mà ai có thể biết được!

Tôi nói Francis Dương lõa thể ra sao? –

1) Tại quê nhà hiện nay, mặc dù nó đang bị cai trị bởi một chế độ CS ra sao là một chuyện. Song cùng, ở đấy, ít ra cũng có tổng số trên tám chục triệu đồng bào ruột thịt đang phải ngày đêm trong sinh cơ lập nghiệp. Thế, cớ làm sao Francis Dương dám trưng dụng một ngoặc kép là “Nước Đại Ngu” để miệt thị là nghĩa gì? “Ngu” là tên của một nước bên Trung Hoa vào thời nội chiến Xuân Thu Chiến Quốc (?). Nhưng tôi hiểu ra được, “Nước Đại Ngu” mà Francis Dương đã dùng ở đây là nước Việt Nam ngu ngốc?

Nếu chỉ vì lý do chống cộng, mặc sức Francis Dương có thể tha hồ viết trưng dẫn những cái ngu của họ ở bất cứ hình thức nào mà Francis Dương muốn, và để cho mọi người được ảnh hưởng. Còn một khi rủa hổ lốn vào bất cứ ai, là những đồng bào đang ở trong nước bằng ba chữ “Nước Đại Ngu” là vô cùng xấc xược, ngạo mạn, và đó đích thực là kẻ đã khoán trắng linh hồn mình cho ngoại bang, cho một giáo triều nào đâu đó mà lịch sử dân tộc Việt đã từng bị mạ lị là “những dân mọi rợ”???

2) Văn Thân là một phong trào yêu nước vào hồi cuối thế kỷ 19, do cụ Phan Đình Phùng và danh tướng Cao Thắng chỉ huy nhằm chống lại ách đô hộ của thực dân xâm lăng Pháp. Thời VNCH, tại thủ đô Sài gòn, Phan Đình Phùng và Cao Thắng đều được đặt tên đường để cho lịch sử, cho quốc dân đồng bào luôn tưởng nhớ, tri ân đến công lao trên tinh thần vị quốc vong thân nơi các vị ấy. Vậy mà, hôm nay đây, Phong trào Văn Thân, nhà yêu nước Phan Đình Phùng lại phải bị Francis Dương làm thơ nguyền rủa là “Bọn Văn Thân xưa gọi Cần Vương” (Hịch Cần Vương do vua Hàm Nghi xuất bôn kêu gọi).

Cách đây không lâu, tôi đã trích thuật câu chuyện về sự hy sinh trong vô vàn gian khổ, vì nước vì dân của cụ Phan Đình Phùng và tướng Cao Thắng ở trên núi Quạt, Vụ Quang thê thảm như thế nào. Thế nhưng trường hợp liên quân Pháp và Tây Ban Nha xâm lăng nước ta thì giờ đây Francis Dương cũng ra thơ hả hớn là “Hoàng Hậu Eugénie” (của nước Tây Ban Nha) “bèn tâu chồng đưa quân sang đục”.

Đồng bào, sinh viên học sinh, “quân đội nhân dân VN” (mà người Việt hải ngoại luôn kêu gọi họ “đứng về phía nhân dân”) của nước VN hay “Nước Đại Ngu” (mà Francis Dương đã tặng cho!) đang sống dưới bản đồ hình cong chữ S, trong tình thế sôi động hiện nay trước hiểm họa Bắc phương láng giềng hung hãn, nếu chúng có mang quân sang “dạy cho VN một bài học” nữa như năm 1979 thì hãy liệu hồn, người Việt cỡ Francis Dương này cũng trông họ “đục” cho chết luôn!!!???

3) Đối với Francis Dương, mấy ông tây mắt xanh mũi lỏ ngồi ở Vatican thì tôn thờ là “đức thánh cha”. Mấy giám mục Pháp và Tây Ban Nha thì xưng bằng “ông cố”. Trong khi đó, với một vì vua Việt Nam thì Francis Dương mạt sát là “Tự Đức, Tên Vua Thơ Thẩn vô lương tâm”???

Dưới triều Tự Đức (1847-1883), cách VN 12 nghìn cây số, quân đội Pháp và Tây Ban Nha của ông Francis Dương đã kéo quân sang VN “đục”. Và sau khi chiếm đóng, họ lại còn vô cùng ngang ngược, buộc triều đình vua Tự Đức và nhân dân VN phải bồi thường chiến phí cho họ lên đến bốn triệu tiền Pháp thời bấy giờ, bằng 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) lượng bạc (1). Vậy thì, ngày nay, ngồi ngẫm lại, Francis Dương cũng đã phải khoái lòng và hả dạ?

Francis Dương thì nguyền rủa vua Tự Đức, hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi và phong trào Văn Thân của cụ Phan Đình Phùng khi phải trừng trị những kẻ phản loạn, bất tuân luật vua phép nước. Còn chính tư lệnh quân đội Pháp, Đô Đốc Page thì, ngày 25.12.1859, ông viết thế này: “Nhng năm đu mi lên ngôi, vua T Đc đã có mt thái đ đi x khá ân cn vi h (các giáo sĩ). Nhà vua đã ra lnh cho các quan li đa phương có thái đ khoan dung, rng rãi vi h trong nhng chuyn làm trái pháp lut, nhng v phm pháp nh. Nhưng ri các giáo dân, do các giáo sĩ lãnh đo đã ngày càng xc xược ngo mn đến mc đ, hkhông cn biết đến c chính quyn đa phương. H công khai ni lon; h tuyên b người Kitô giáo không th vâng li nhng ktheo mt tôn giáo khác (…)” (2).

Nó còn nhiều lắm những điều trái ngang ngược ngạo, thậm chí nguy hiểm (khi xúi giục toàn quyền Pháp tiêu diệt các sĩ phu VN như tôi đã từng trích nêu) từ các giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha đã dựa thế vào quân lực của nước mình để làm những chuyện mà thống chế Nguyễn Tri Phương đã ngay trên giường bệnh (khi ông đánh trận và bị thương), mắng thẳng vào mặt các giáo sĩ rằng “các ông đã thỏa mãn lắm rồi phải không, ” khi kẻ cướp đã cướp mất lãnh thổ của chúng tôi”?

– …

Bây giờ, đến phần cá nhân tôi. Trong mấy cái ngoặc đơn mà Francis Dương cho dấu hỏi “(?)” và cho màu, làm đậm vô đấy sau một số đoạn tôi viết là ý nghĩa chất vấn? Có điều tôi cần lưu ý Francis Dương là không nên xóa bỏ dấu chấm câu cuối cùng trong mỗi đoạn văn khi kết thúc của tôi (.). Vì làm như vậy là bất lịch sự! Ông/bà muốn dùng bao nhiêu dấu hỏi như thế này (?) là tuỳ. Nhưng khi xóa mất dấu chấm dứt đoạn của tôi để rồi đưa ngoặc đơn mang dấu hỏi của ông/bà vô đấy làm người đọc sẽ hiểu lầm nó là của tôi.

Dẫu sao thì tôi cũng phần nào làm thuận lòng ông/bà. Tôi sẽ theo thứ tự những dấu hỏi của Francis Dương từ trên xuống theo các phần tôi viết:

“Nhìn vào lch s truyn giáo và điu hành nhân s ca Vatican La mã xưa nay  khp nơi và ti VN. Tôi có thkhng đnh thng thng rng tinh thn “bao dung” được mang đến cho tt c mi người là chuyn rt d rơi vào tình cnh “lông rùa sng th“. “(?)”

Nếu là một người am tường tối thiểu về lịch sử truyền giáo nơi đạo giáo của mình là Thiên Chúa giáo La mã; lịch sử các cuộc thánh chiến giết người; lịch sử những phiên toà hình án, gọi là “xử dị giáo” (xử trị những tôn giáo khác lạ); lịch sử xúi giục liên quân Pháp và Tây Ban Nha xâm lăng VN; lịch sử hành hạ những nhà khoa học khi họ nói ngược lại với điều mà Kinh Thánh đã nói sai; “không thể chấp nhận” hay “nghe theo lời một ông vua không cùng đạo” với mình v.v… kèm theo mấy điều mà tôi đã viết tiếp theo đấy, thì không để phải đưa ra mấy dấu hỏi (?) chất vấn dư thừa quá cỡ như vậy để làm gì.

Khắp đó đây, trên nhiều hình thức, nhiều người đã từng trích đi lập lại những lời kêu than như thế này của giám mục Anh giáo ở Nam Phi, người đã chiếm khôi nguyên Nobel vì Hòa Bình năm 1984 là Desmond TuTu thì thiết nghĩ không cần thiết phải thắc mắc, nghi ngờ và chất vấn như Francis Dương. Đây, lời than của vị giám mục Anh giáo:

Khi người Da Trng đến thì chúng tôi có đt đai và h có cun Thánh Kinh.

Chúng tôi nhm mt cúi đu cu nguyn theo s ch dn ca h.

Khi chúng tôi m mt, ngng đu lên thì chúng tôi có cun Thánh Kinh.

Còn người Da Trng thì có đt đai ca chúng tôi“. (3).

Cái đó y chang tâm trạng vong nô của một số người Việt Nam trước đây; và mãi cho tới giờ nầy, nếu có ai còn “tự hào” rằng mình “được làm thần dân của thành Rome”, hay phải làm theo “đức vâng lời” từ một quốc gia, một giáo triều nằm ngoài lãnh thổ VN chứ còn gì nữa?

Cho nên, tôi rất nghi ngờ về lòng “khoan dung” đích thực. Xin hãy đọc tiếp một đoạn thế này:

“Công báo Phi Luật Tân ngày 1.10.1858 đã công bố một bức thư gởi từ Đà Nẵng của một người Tây Ban Nha vào hàng quan trọng nhất trong cuộc viễn chinh Liên minh, trong đó chúng ta có thể chú ý đến đoạn này: “Ngài biết rằng cuộc viễn chinh Nam Kỳ đối với Tây Ban Nha là một vấn đề thuần túy Gia Tô… một chiến dịch thực hiện với mục đích duy nhất (của Hoàng hậu chúng ta) là bảo đảm do tôn giáo và đời sống các nhà truyền giáo nhiệt thành …”.

Còn Tòa Đại Sứ Tây Ban Nha tại Paris đã viết trong thư ngày 4.11.1862: “Trong lúc thực hiện cuộc viễn chinh này, chính phủ của Hoàng thượng có hai mục đích chính. Muốn góp phần vào việc truyền bá văn minh và ánh sáng Phúc Âm ở Nam Kỳ, đồng thời họ cũng lấy làm vui sướng được góp phần hành động với chính phủ đế chế”. (4).

“Năm 1961 – 1962, khi nhng cán b đa phương đến nhà ép gia đình ông dượng ca tôi phi đi Dinh Đin, nếu không chu “ci đo” sang “Công Giáo”. Khi đó cán b đã lưu ý cho cô, dượng tôi biết: “ông bà nên nh đo Công Giáo hin nay được xem là “đo ca công chúng” mà tng thng và c gia đình ca tng thng đang theo và đang sùn (g m đó nghe!”. “(?)”

Như trên, đấy là một thực tế trong những chuyện ở thân nhân và họ hàng nhà tôi. Nó đã xảy ra như thế nào dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Giờ đây, khi có dịp phù hợp thì tôi nhắc lại.

“Linh mc Trn Tam Tnh trong “Thp Giá và Lưỡi Gươm” đã phi khách quan, t lên án là nó đã phân r dân tc ra thành “đôi ng quê mình chia hai li” gia đôi bên lương giáo, k t khi Thiên Chúa giáo La mã du nhp VN. “(?)”

Tôi nghĩ không cần thiết phải lạc hậu đến độ nghi ngờ về tình huống như đoạn trên, kể từ những năm 1532, 1533 dưới thời vua Lê Trang Tôn, niên hiệu Nguyên Hòa nhà hậu Lê đến giờ.

Ngay trước năm 1975, tại VN, có những Thị trấn, lũ trẻ nít, không biết ai đã dạy cho chúng, khi một đám thì khởi sự trước, châm chọc: “A Di Đà Phật cọp giật thầy chùa”. Một đám khác phản pháo: “Amen xách cà mèn đi xin thịt chó”. Thề rồi, chúng thi nhau vây binh bố trận, chia phe lấy đất đá mà chọi, làm cho người lớn trong xóm phải túa ra can thiệp.

Cho nên, nhắc lại lịch sử, nêu những chuyện đã xảy ra là nhằm ý thức để tránh xa những vết xe đã đổ. Francis Dương chớ có đem chuyện CS vào Cần Vương hay phong trào Văn Thân là chuyện chạy làng lố bịch.

“Dưới thtng thng Ngô Đình Dim, có sĩ quan là con chiên (…) yêu cu nguyên th quc gia chun thun đ ông ta thành lp “đi quân Công Giáo”. “(?)”

Đây này, giữa thế kỷ trước, ông Nguyễn Văn Chức đã muốn “Công Giáo” được thành lập đội “Thập Tự Quân” tại VN để độc quyền chống cộng như văn thư lịch sử sau đây:

“Lá Thư Lch S ca Mt Người Vit Nam Đc L

“SAIGON, ngày 25 tháng 2 năm 1955.

“Kính gi c Ngô Đình Dim, Th Tướng Chính Ph Vit Nam.

“Thưa Th Tướng,

“Tình hình Vit Nam trong my tháng gn đây tht là hết sc khó khăn và phc tp. Tương lai t quc nói chung và tương lai Công Giáo Vit Nam nói riêng, tht đáng quan ngi. Càng đáng quan ngi hơn khi c Thế gii t do và Thế gii Công Giáo đang nhit thành giúp đ chúng ta c gng, n lc vượt qua mi khó khăn, tr ngi, đ tích cc chun b ch ngày chiến thng Vit Minh Cng Sn.

“Nhng thí nghim và nhng vic làm ca Chính Ph không phi là không có kết qu, nhưng vn còn nhiu cheo leo và khó khănto ln khác luôn luôn tìm cơ hi phá hoi. Tình trng y bt buc Chính Ph phi có mt hu thun to ln, vng chc, trung thành, có t chc mnh m và có hành đng thiết thc.

“Trong tinh thy, CN LAO NHÂN V CÁCH MNG ĐNG đã c gng rt nhiu nhưng tiếc rng mt Đng Chính tr thun túy trong tình thế này vn chưa được tt c nhng người Công Giáo Vit Nam hâm m. Người ta e rng: trong tình trng y, CLNVCM ch có th là mt đoàn th có b rng mà thiếu b sâu.

“Trung thành vi giáo lý, người Công Giáo Vit Nam trong lúc này, đòi hi mt đoàn th hoàn toàn Công Giáo, có tính cht tôn giáo. Cuc di cư ca đng bào Công giáo Bc Vit phi là mt cuc chun b tinh thn và đo đc, mt cuc rèn luyn can trường và đc TIN đ ri còn chiến đu vi Cng Sn (vì c.s. còn tn công).

“Vì vy, chúng tôi nghĩ cn phi gp đưa ra trong lúc này mt đoàn th tm gi là THP-T-QUÂN HÒA-BÌNH đ va thúc đy mi hot đng Công giáo đang cn thiết trong giai đon này và ph ha vi hot đng ca CLNVCM.” – (Cn Lao Nhân V Cách Mng).

– (…)

“Thưa Th Tướng,

“Kính xin Th Tướng vui lòng khng nhn nhng tâm tình m ho tn tâm ca tôi cùng nhng ý nghĩ trung thành luôn luôn cu Chúa và Đc M xung ơn thiêng liêng cho Th Tướng trong công cuc lãnh đo Quc gia Vit Nam chiến thng Cng Sn vô luân, vô thn.

                                                                                                              Trng kính,

                                                                                                              (ký tên)

                                                                                                              NGUYN -VĂN -CHC”

“Đa ch:

NGUYN -VĂN- CHC

Nhà Ông Mười

Ph Bng 

Đường làng s 19, Phú Nhun

GIA-ĐNH“(5)

Xin chào ông/bà Francis Dương.

Tháng 7 năm 2011.

Trần Quang Diệu

—————

(1) Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ, trang 68.

(2) Sđd, tr 86.

(3) Đến Bờ Ảo Vọng, Lê Trọng Văn, 1996, USA, tr 92.

(4) Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam, Cao Huy Thuần. Bản dịch và Hương Quê in năm 1988, USA, tr 93.

(5) Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, 1954-1963. Nguyễn Mạnh Quang, USA, 1998. Phụ Bản, tr 527, 528, 529.


TÂN ÂM BINH B H “NƯỚC ĐI NGU”


From: Francis Duong (francis_duong@hotmail.com)
To:

Gi Đám Tân Âm Binh B H “Nước Đi Ngu” đc mà chơi cui tun:

 

TÂN VĂN THÂN Thế K 21
 
Thời nay cộng đẻ Tân Văn Thân
Một Nhóm vừa ngông lại vừa đần
Làm trò khỉ bắt chước Tự Đức
Tên “Vua Thơ
 Thn” * vô lương tâm
 
Hắn dùng gươ
m giáo vc du sôi
Chém ngang hông nhét đầu vào nồi
Luộc giáo dân như
 luc gà vt
Người bị dìm sông để nước trôi
 
Chẳng may trong số một Giám Mục

Tây Ban Nha cũng b kh nhc

Nghe tin Hoàng Hu Eugénie

Bèn tâu chng** đưa quân sang đc

 

Annam thua nhượng bin nhượng đt

T t Trung Bc Nam mt tt

Thế có phi vì thng vua kh

Đu trâu ích k ch biết Pht

 

Nay Nhóm Trn Chung Ngc rp khuôn
Bọn Văn Thân xư
a gi Cn Vương***

Dùng bút thay gươm****dit Công Giáo

Đúng, Tân Văn Thân Cn Cng***** ác ôn

Ghi chú:  *  T Đc tp trung thì gi làm thơ loi “thơ thn”, t ca “Kiến Vàng”

                 **  Hoàng Đế Napoléon Đ III
                 ***  Văn Thân Cần Vươ
ng /phù vua
                 ****   Nhóm Giao Điếm
                 *****  Tân Văn Thân Cần Cộng / phù cộng

LCH S TÁI DIN HAY HN MA T ĐC & VĂN THÂN
 
Thuở còn học trò khi nghe ngưòi ta nói “Lịch sử tái diễn hay lịch sử lặp lại” thì tôi nửa tin nửa không.  Nhưng, khi lên đại học, thấy Tướng Dương Văn Minh, ngày 31 tháng 10 năm 1963 còn đứng cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong lúc tiếp một Đô Đốc Hải Quân Hoa Kỳ mà hôm sau 1/11/63 lại cầm đầu nhóm phản tướng đảo chánh và hôm sau nữa 2/11/63 lại cho tên sát nhân Nguyễn Văn Nhung tà loọc dùng dao găm đâm nát ngực bụng lưng 2 anh em Nhà Hậu Ngô trên chiếc xe Tank!  Như thế Dương Văn Minh có khác chi Đỗ Thích đã giết Vua Đinh Tiên Hoàng, người có công dẹp loạn 12 Sứ Quân!

Mấy tuần trước tôi có đưa lên NET chuyện Vua Tự Đức ra lệnh giết hàng giáo phẩm và con chiên “Đạo Gia-tô” bằng cách chém cổ, chém đứt làm hai người, hoặc trói tay cùng cột đá vào quanh cổ ném xuống sông biển, do đó Việt Nam bị Pháp đem quân qua thanh toán.  Sự thể xảy ra như thế, lịch sử đã kể lại đúng phong phóc.  Sau nầy, Hồ Sĩ Tảo đã lén rập vợ Nguyễn Sinh Sắc khi tên nầy đang trốn triều đình vì đã đánh chết kẻ bầy tôi vô cớ, đẻ ra đứa con rơi Hồ Chí Minh.  Mới nghe tên ai cũng tưởng ngon lànhsáng trí, minh mà !  Nhưng, thật ra chữ “minh” có 2 nghĩa: sáng và u tối.  Các bạn về Miền Tây xem rừng “U Minh” thì biết tôi không nói sai.  Hồ theo CS Liên Sô và Tàu lại lần nữa, chủ trương diệt tận gốc, chẳng những”Đạo Gia-Tô”mà còn cả các tôn giáo khác như là Hòa Hảo, Cao Đài!  Tại Miền Nam thì có tên lính Khố Xanh, sống lâu lên lão làng, may được Cụ Nguyễn Ngọc Thơ giới thiệu với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên Cụ Diệm hết sức ưu ái, cho lên chức vùn vụt, cho thống lãnh binh đội tinh nhuệ, dẹp loạn Bình Xuyên, lại tha cho tội lấy mấy thùng phuy vàng bạc châu báu tịch thu được của Bảy Viễn đem về làm của riêng, đồng thời Cụ không tin và xé bỏ báo cáo của cơ quan tình báo Phủ Tổng Thống rằng Dương Văn Minh làm nội tuyến.  Bằng chứng là chứa chấp em ruột tên Dương Văn Nht, Đi Tá tình báo Bc Vit có thi gian  trong Dinh Dương Văn Minh, y ht như chú Bin Laden  ti 1 bit th gn B Ch Huy quân s bên Pakistan vy!  Thế mà hắn nỡ tâm giết thầy phản bạn: giết chủ rồi cuối cùng đầu hàng giặc Bắc cộng vô điều kiện để cho hàng triệu quân nhân bạn hữu cùng đồng bào, người đi tù nhục nhã, lầm than đói khổ, người mục xương, kẻ vượt ngục bị đâm bị bắn, kẻ vượt biên làm mồi cá xơi cùng hàng triệu đồng bào mất nhà mất đất, của cải vàng bạc bị tịch thu dịp “đánh tư sản mại bản” do tên thiến heo Đỗ Mười chỉ đạo…Và, kết qua thế nào các bạn đã rõ.  Thế có phải Việt Nam ta có 2 tên U MINH không ? Lịch sử đã tái diễn không? 

Hôm trước có ai đó đăng bài Trần Chung Ngọc nói trước quên sau như người mất trí là Nhật Bản nhờ tàn sát không còn một móng giáo sĩ cũng như tín đ “Đo Ca-tô” mà nước Nht tr nên cường thnh thay vì là Nht đã 2 ln tr nên phú cường nh vào s tiếp tay và hin din ca Hoa Kỳ.  Đọc lịch sử mà không hiểu gì hết thì hệt như con vẹt mới phát biểu quái đãn như vậy.  Nhận xét sai nên hành động TCN cũng thuộc loại cực kỳ U MINH.  Hắn “cố vấn” cho CSVN, lặp lại chính sách tên vua “thơ thẩn” (mượn lời kiến vàng) Tự Đức ngu muội nhất định phải hủy diệt tất cả các tôn giáo đặc biệt là Công Giáo để đất nước vươn lên vì theo hắn, khoa học tới nay chưa tìm thy Thượng Đế  đâu c.  Vy là lch s cũng lp li.  Trn Chung Ngc đóng vai Vua “T ĐC”, còn thành phn nhóm Giao Đim trong đó đc bit Nguyn Mnh Quang, Lê Dn Bàn, Trn Tiên Long, Trn Quang Diu, Nguyn Hu Ba, Phm Ba Hoa (chích chòe ?), Hoàng Thc An, Phm Hoàng Vương, Charlie Nguyn (đã v hp mt vi Voltaire và Diêm Vương 5,6 năm ri) và by cc ké Bo Quc Kiếm…thì đóng vai Văn Thân, chuyên “ct tùng xéo” tín đ Công Giáo/TCG mà chúng cho là theo gót thc dân phn quc!!!

Mỗi một đóng góp tốt cho đất nước thì dân chúng được nhờ và sử sách ghi nhớ công ơn,

Một đóng góp sai quấy thì có khi mất cả nước và khiến dân chúng lầm than, sử sách sẽ ghi tội ác,

Hồ Chí Minh theo Tàu, Nga ”đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào…” bây giờ Thằng Tàu nó cuỗm hết biên giới rừng đầu nguồn, Tây Nguyên, lưỡi bò lưỡi chó nó sẽ liếm hết Hoàng-Trường Sa thì liệu có còn ai giúp ngoài Hoa Kỳ, một nước có Đạo TCG (Tin Lành, Công Giáo) trên dưới 80%, có Hiến Pháp và Tiền Tệ dựa trên đạo lý, “IN GOD WE TRUST” .

CSVN ơi đng nghe bn ngu ngc c vn “bà láp.”  Các lãnh đạo ta cần khiêm nhu như Ông Tổng Thống con AQUINO, ông nói, “Nước Philippines chúng tôi yếu lắm không chống nổi Tàu Phù.  Hoa Kỳ đồng minh hãy giúp chúng tôi…” mặc dầu trước đây Philippines đã có lần đã sai quấy yêu cầu Hoa Kỳ đi chỗ khác chơi!

Xin ý kiến bạn đọc,

Francis Dương

——————————————————————————————————————

Kính thưa toàn thể các vị thức giả,

Trần Quang Diệu

 

Nhìn vào lịch sử truyền giáo và điều hành nhân sự của Vatican La mã xưa nay ở khắp nơi và tại VN. Tôi có thể khẳng định thẳng thừng rằng tinh thần “bao dung” được mang đến cho tất cả mọi người là chuyện rất dễ rơi vào tình cảnh “lông rùa sừng thỏ”(?) 

Ông Ts Hồng Lĩnh, thay vì phản biện đúng sai, ông ấy đã đe dọa tôi là “phát súng đầu tiên sẽ nhắm vào ông trước khi nhắm vào giặc”.

Trong lịch sử vong quốc của Việt Nam, “cố đạo” người Pháp đã từng đề nghị với quan toàn quyền của họ là thủ tiêu các sĩ phu Việt Nam.

Đe dọa mang những ai không phục tùng ra mà “chém trước mặt ta” (“Đó là lời Chúa” hay do đám gian hùng sau này bịa đặt ra để xâm lăng lãnh thổ và hành hạ tinh thần những dân tộc khác? Làm cho Chúa Jesus phải bị hàm oan về một “lời dạy” như thế?).

Năm 1961 – 1962, khi những cán bộ địa phương đến nhà ép gia đình ông dượng của tôi phải đi Dinh Điền, nếu không chịu “cải đạo” sang “Công Giáo”. Khi đó cán bộ đã lưu ý cho cô, dượng tôi biết: “ông bà nên nhớ đạo Công Giáo hiện nay được xem là “đạo của công chúng” mà tổng thống và cả gia đình của tổng thống đang theo và đang sùng mộ đó nghe!”(?)

 

Linh mục Trần Tam Tỉnh trong “Thập Giá và Lưỡi Gươm” đã phải khách quan, tự lên án là nó đã phân rẽ dân tộc ra thành “đôi ngả quê mình chia hai lối” giữa đôi bên lương giáo, kể từ khi Thiên Chúa giáo La mã du nhập VN (?)

Âm mưu đào tạo Hoàng Tử Cảnh khi Nguyễn Vương giao cho Bá Đa Lộc làm con tin để cầu viện quân Pháp của ông giám mục giúp cho để giành lại ngai vàng với nhà Tây Sơn; Âm mưu lật đổ vua Tự Đức; Âm mưu đưa kẻ xà bơ Tạ Văn Phụng (như tôi đã từng trích nêu) lên làm vua để dễ bề hoành hành theo ý muốn của họ đối với đất nước và dân tộc nầy – VN. Vậy mà có người còn cứ muốn khỏa lấp chuyện “Cảm Ơn Thực Dân Pháp”, rồi đèo theo là “cảm ơn Vua Gia Long, cảm ơn Hoàng tử Cảnh” về chuyện cầu viện quân binh, vũ khí của Pháp mà ông giám mục đã mớm ý cho. Muốn nêu điều đó thì, nên nhớ, sau vua Gia Long, con và cháu nội, cháu cố của Gia Long là các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã phải trừng trị những kẻ phản loạn và; Hàm Nghi sau này đã luôn miệng chửi giặc (mặc dù khi nhà vua đã bị bắt); những kháng chiến quân yêu nước cũng đã nảy sinh, hô hào như nghĩa “dậy mà đi hỡi đồng bào ơi” như phong trào “Bình Tây Sát Tả” là bởi những lý do gì?…

Khẳng định khác trong kiến nhãn, trong ý thức của tôi là: Bất cứ một người Việt Nam nào từ nay trở đi, cho đến lúc nào, khi ý thức được rằng mình cần phải có một tinh thần độc lập để “thờ phượng Chúa”, không trở thành “thần dân của thành Rome” hay của bất cứ thành nào, quốc gia nào; không thể tuân theo “đức vâng lời” gì cho dù những “đức vâng lời” đó nó có hấp dẫn ra sao khi phải đổi lấy một chiều dài vong quốc như từ những phát pháo đầu tiên (1858) cho đến những người Pháp sau cùng bắt buộc phải rời khỏi đất nước chúng tôi (VN) vào năm 1956 thì đó mới đích thực là người Việt Nam đúng nghĩa.

Dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm, có sĩ quan là con chiên (…) yêu cầu nguyên thủ quốc gia chuẩn thuận để ông ta thành lập “đội quân Công Giáo”(?) May là tổng thống còn ngại quốc dân sẽ thấy nó lố bịch, nếu không … thì đừng có hòng tinh thần “bao dung” được thể hiện đến hầu hết giữa những người Việt Nam đều là con cháu của các vua Hùng với nhau.

Tôi ước mơ (dễ như chơi rằng nó sẽ cũng chỉ là ước mơ) những cái gì lỗi thời, lố bịch, quá đáng, kênh kiệu đến nỗi vô duyên về việc có một “ông kẹ” đầy quyền năng can dự vào toàn bộ đời sống của một con người, một dân tộc để rồi buộc mọi người phải như mình, nếu không, sẽ bị khi dễ là “những dân mọi rợ”,… những quan niệm hợm hĩnh như thế phải được dẹp bỏ, phải được chấm dứt vĩnh viễn để mới có thể kết nối tinh thần bằng những mảnh hồn “bao dung” lên xứ mẹ.

Ngày 7.7.2011

Trần Quang Diệu

Source: http://kbchaingoai.wordpress.com

Commen:

To: ………………………..
From: qtran@ec.rr.com
Date: Thu, 7 Jul 2011 21:03:30 -0400
Subject: [ChinhNghiaViet] “ÔNG TRỜI” KHÔNG QUEN BIẾT “THƯỢNG ĐẾ” / TÌMHIỂU: BAO DUNG HAY BUNG DAO ?

Kính thưa quí đọc giả,

Tôi nhận thấy một số quí vị chỉ lo biết bảo vệ tôn giáo mà bất chấp đã vi phạm những giá trị luân lý và đạo đức, những thứ mà tôn giáo của quí vị lúc nào cũng cỗ vũ. Lại thêm một lần nữa, ông Francis Dương đã chứng minh lời nhận định của tôi quả không sai: “Chẳng lẽ chúng ta chỉ biết lo bảo vệ tôn giáo bằng những thủ đoạn dơ bẩn như nhục mạ, vu khống, hay chụp mũ Cộng sản thôi sao?” Một vấn đề tôn giáo và xã hội đã bị ông Francis Dương đánh tráo để đổi sang vấn đề tố Cộng.

Vậy nay xin gửi quí vị bài “ÔNG TRỜI” KHÔNG QUEN BIẾT “THƯỢNG ĐẾ” của Gs. Trần Chung Ngọc để hiểu tại sao ông Francis Dương vẫn còn ấm ức về một vấn đề không liên quan gì tới đề tài trong chuỗi điện thư này.

Trần Tiên Long

http://giaodiemonline.com/images/noidungthang8_01.jpg

“ÔNG TRỜI” KHÔNG QUEN BIẾT “THƯỢNG ĐẾ”

Trần Chung Ngọc

LTS: Là một trong những tác giả người Việt Nam viết táo bạo về những điều cấm kỵ của các tín đồ đạo Chúa (như đem Chúa và các vị thánh mà giáo hội Công Giáo đã tôn thờ ra làm đối tượng nghiên cứu, như phân tích thánh kinh theo như thánh kinh nói, vân vân…), Giáo sư Trần Chung Ngọc thường phải chịu đựng rất nhiều phản ứng theo nhiều cách thể hiện khác nhau, phẩm chất khác nhau và biên độ khác nhau từ các giai tầng trong xã hội, nhất là từ cộng đồng Thiên Chúa Giáo người Việt. Ông xem như không biết đến những việc đó ngoại trừ một vài trường hợp.

Bằng vốn liếng của một nhà giảng và dạy khoa học, khi ông nghiền ngẫm quyển «thánh kinh» của đạo Chúa, phản ảnh nó trên những cách ứng xử của những tín đồ tin Chúa, nhiều lúc ông quá thất vọng và chỉ còn cách diễn tả đối tượng một cách nôm na cái tình trạng «trống vắng» chứng cớ, vắng mặt lý luận, và thiếu thốn thông tin. «Ngu si» (ignorance) là một trong những từ mà ông buộc miệng trong những trường hợp như thế.

Mới đây, có câu hỏi của Francis Dương đã được gửi đến nhiều diễn đàn trong đó có địa chỉ tòa soạn Sách Hiếm. Tòa soạn chuyển thư của Francis Dương cho ông Trần Chung Ngọc để thông tin mà thôi, không nghĩ ông để ý, không ngờ cụ Trần Chung Ngọc lại mất công bỏ chút thì giờ để trả lời.

Người Á châu chúng tôi có thể rất thoải mái nói bừa: «Ông trời là cái quái gì?» Người ta cứ «kêu trời như bọng» mỗi lần tức giận, cầu trời chứng giám cho tình bằng hữu, hay cám ơn trời khi làm ăn khấm khá, hoặc mắng «trời không có mắt», «con tạo trớ trêu» mà chẳng hề quan tâm ông trời da trắng hay da nâu như thế nào cả. Vui thì «bái thiên địa», buồn thì «ông trời ăn ở bất công». Cũng chưa từng có người nào phải «bảo vệ» ông Trời, hay phải đánh nhau, chửi nhau chỉ vì thấy người khác không «nể» ông Trời cả. Và chúng ta có thể kêu trời bất cứ khi nào thích, không như bên đạo Chúa “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ” vì sẽ phạm “tội chết” (Leviticus 24:16)

Lạ thật, nếu ông Chúa Ba ngôi của các ngài cũng giống như ông trời chịu chơi của người Á châu chúng tôi, thì tại sao người Việt đạo Chúa lại cứ khẩn trương và kèn cựa về sự hiện hữu hay không hiện hữu của ông trời chết tiệt đó chứ? Vậy chắc chắn các tín đồ Thiên Chúa Giáo người Việt còn mặc cảm lo sợ ông Thượng Đế còn thua kém ông Trời của chúng tôi, ít nhất là về đức độ!

Trước đây đã có vài bài viết về ông trời của người Á đông khác với ông Thượng Đế của đạo Chúa như:

– Quan niệm “Ông Trời” của người Việt của cụ Charlie Nguyễn,

– Nhân Chuyện Khám Phá Có Jehovah Trong Ca Dao Việt của Thiên Lôi

– Nhân đọc “Ông Trời trong thi ca Việt-Nam” (Sơn Dã Bần Phu)

Riêng cụ Trần Chung Ngọc sẽ có câu chuyện để gửi tặng các bạn đọc một vài phút giải trí, chắc chắn sẽ đem lại một ngày vui.

* *

*

Tôi vừa nhận được từ Tòa Soạn Sách Hiếm bài “Ôn Cố Tri Tân” của Francis Dương trong đó có đưa ra một thách đố cho tôi và Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang như sau: “NHỮNG NGƯỜI NHƯ CỤ TRẦN CHUNG NGỌC, NGUYỄN MẠNH QUANG, NHÓM GIAO ĐIỂM ONLINE….CÒN DÁM TẶNG CÁC NHÀ BÁC HỌC KHOA HỌC GIA CÁC THỜI ĐẠI CÓ TÊN SAU ĐÂY LÀ NGU NGỐC HỦ LẬU KHÔNG ? VÌ HỌ ĐỀU TIN CÓ ÔNG TRỜI HAY ĐẤNG CHÍ TÔN VÔ HÌNH QUẢN CAI VŨ TRỤ”,

Nay tôi có vài lời để khai sáng cho cháu Francis Dương vì chính câu hỏi trên có thể xếp vào loại ngu si rồi.. Đọc bài “Ôn Cố Tri Tân” tôi cảm thấy tội nghiệp cho cháu Francis Dương vì cháu viết mà không hiểu mình viết cái gì. Rõ ràng cháu là một tín đồ Công giáo, dùng tài liệu của Giáo hội, trong đó có nhiều phần bịa đặt sai sự thực, không nêu rõ xuất xứ, nên phần lớn là vô giá trị. Cháu chỉ nhắc lại như con vẹt những gì Giáo hội tuyên truyền mà không nhận ra những sai trái trong đó. Mục đích của bài “Ôn Cố Tri Tân” của cháu là để “chứng minh” rằng có nhiều khoa học gia nổi tiếng và danh nhân, vĩ nhân, tin có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” cho nên, tất nhiên, “Đấng Chí Tôn” này phải hiện hữu. Đây vốn là mánh mưu của Công giáo, luôn luôn vơ vào mình những gì có thể dùng để đánh bóng giáo lý của Giáo hội, bất kể phải ngụy tạo, hoặc che dấu sự thật trong những điều Giáo hội đưa ra. Điều này tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.

Một điều cần phải làm sáng tỏ, đó là trong danh sách Francis Dương nêu trong bài, không có một người nào tin ở “ông Trời” vì một lẽ rất đơn giản là quan niệm về Ông Trời rất xa lạ đối với các xã hội Tây phương và tất nhiên rất xa lạ đối với họ. Ngoài ra, điều mà Francis Dương không biết, là cái tin về một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia hay danh nhân hay vĩ nhân mà Francis Dương nêu trong bài, ngày nay còn lại bao nhiêu giá trị?

Để mở đầu, câu trả lời hay nhất cho Francis Dương là của Richard Lederer, nhà ngữ học Mỹ:

Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] đều tin vào Thiên Chúa, và giáo hội [Công giáo] thống trị. Thời đại đó được gọi là Thời Đại Tăm Tối. [There once was a time when all people believe in God and the Church ruled. This time was called the Dark Ages.]

Thời đại này cũng còn được biết là “Thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức” [The ages of barbarous and intellectual darkness]

E rằng cháu Francis Dương không nắm được ý trong câu trên, tôi xin khai sáng thêm một chút.

Trước hết, tôi cũng như Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, và trong nhóm Giao Điểm chưa có ai lên tiếng “tặng” các khoa học gia có tên tuổi là ngu ngốc, hủ lậu, chỉ vì họ tin có “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” alias “Gót” [God] của Ki Tô Giáo cả. Họ có những bộ óc sáng suốt, có nhiều sáng kiến, và có nhiều công trình khoa học để đời cho nhân loại, nhưng về lãnh vực tín ngưỡng tôn giáo thì họ vẫn rất có thể bị liệt vào loại ngu si vô trí, nghĩa là không thể nhìn tôn giáo của họ như thực nó là như vậy (to see it as it really is: như thực tri kiến). Lý do, tôn giáo không phải là lãnh vực nghiên cứu của họ cho nên họ không đủ thông tin để phán đoán về bản chất và thực chất của tôn giáo. Như vậy mọi người chúng ta đều có thể nói là “ngu si vô trí” ở một phương diện hay lãnh vực nào đó. Nhưng thực ra chẳng có ai biết là họ tin như thế nào. Trái lại, có nhiều bằng chứng chứng tỏ họ chẳng mấy tin vì những công trình khoa học của họ đã dứt khoát bác bỏ Thượng đế của Ki Tô Giáo như được viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo. Tôi không tin rằng những bộ óc sáng suốt của họ lại có thể tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ”, mà khuôn mặt của Đấng Chí Tôn này thường thấy rõ trong các cuộc Thánh Chiến, các Tòa Hình Án xử dị giáo, hay những vụ thiêu sống phù thủy. Ngày nay chúng ta cũng thấy rõ khuôn mặt của Đấng Chí Tôn trong Tsunami ở Thái Lan, bão Katrina ở New Orleans, và gần đây, trận động đất ở Haiti, khoan kể đến những em bé sơ sinh khuyết tật nằm đầy trong các nhà thương, bệnh AIDS tàn phá ở Phi Châu v…v…, một khuôn mặt mà không có mấy người có đầu óc còn có thể tin vào đó.

Nếu có một CEO nào quản lý một công ty mà để xảy ra những tệ hại trong công ty, thì CEO đó sẽ bị cho về vườn làm 7 nghề. Nếu có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” nào mà để xảy ra những chiến tranh, thiên tai bệnh tật cho nhân loại thì Đấng đó phải cho nghỉ vĩnh viễn không lương, nghĩa là tín đồ tin thờ Đấng đó không cần phải tiếp tục đóng tiền cho nhà thờ để cho mấy tên buôn thần bán thánh tiếp tục nuôi dưỡng sự mê tín, hay làm bậy, thí dụ như trên 5000 linh mục, hay “Chúa thứ hai”, can tội loạn dâm và ấu dâm, và Giáo hội đã dùng tiền của tín đồ, lên tới hơn 2 tỷ đô-la, để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai”.

Francis Dương có hiểu được điều này không?

Bây giờ, tôi xin đi vào phần trả lời sự thách đố của Francis Dương. Vấn đề là, sinh ra ở Âu Châu, cái nôi của Công giáo và từ thế kỷ 17, một phần Tin Lành, tất nhiên hầu hết mọi người đều có đạo, cha truyền con nối theo truyền thống gia đình và xã hội. Nhưng có đạo là một chuyện mà tin là có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai vũ trụ” , alias Thượng đế của Ki Tô Giáo, lại là chuyện khác. Có một thời, không tin cũng phải làm bộ tin, vì không tin có thể mất mạng như chơi. Lịch sử Âu Châu dưới quyền thống trị của Công giáo đã chứng tỏ như vậy. Nhưng niềm tin này đã được khảo sát, phán xét, và đánh giá cẩn thận qua các thời đại, và ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những tác phẩm như “The God Delusion” của Richard Dawkins, “God Is Not Great” của Christopher Hitchens, “The Dark Side of God” của Douglas Lockhart, “The Impossibility of God” Edited by Michael Martin and Ricki Monnier, “Critiques of God” Edited by Peter A. Angeles, “God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, chỉ kể vài cuốn điển hình. Cũng như khi xưa, con người cho rằng sấm sét là những cơn thịnh nộ của Gót, rất sợ Gót và quỳ xuống van vái Gót, nhưng ngày nay sấm sét chỉ có thể làm cho chó mèo cúp tai chạy, chứ còn con người như cụ Trần thì thản nhiên ngồi trước bàn máy điện toán viết bài chống Gót và Ki Tô Giáo. Đây là sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

Chúng ta hãy đọc chơi một đoạn trong cuốn “God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, trang 9:

http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi01.jpgHoặc là chỉ có một “gót”, hay nhiều “gót”, hay chẳng có “gót” nào. Hoặc là có cái gọi là linh hồn của con người hoặc là không có, và, nếu có, linh hồn đó có thể hoặc không có thể sống sót sau khi thân thể đã chết. Hoặc là Giê-su Ki Tô, nếu ông ta có thực, là con hoặc không phải con của Gót (của Ki Tô Giáo) . Hoặc Mohammed, nếu ông ta có thực, là tiên tri hoặc không phải là tiên tri của Gót.

Rằng những giáo lý cốt yếu của nhiều tôn giáo chính trên thế giới – đặc biệt là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo – là vấn đề hoặc đúng hoặc sai tự nó là một sự kiện mà về nó không có một số lượng ngụy biện nào hay sự bào chữa đặc biệt nào có thể đi tới. Bất hạnh thay cho những tôn giáo này, những bằng chứng tích lũy trong ít nhất là nửa thiên niên kỷ qua (500 năm) đã thừa nhận là những giáo lý này sai. [1]

Judith Hayes cũng đặt câu hỏi: “Chúng ta tin ở Gót, nhưng mà là Gót nào?” [In God we trust, but which one?] Francis Dương có thể trả lời câu hỏi này không?

Có một điều mà Francis Dương cần phải hiểu: đó là tín ngưỡng tôn giáo và khoa học là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, với hai cách nhìn thế giới khác nhau. Tôn giáo, điển hình là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, hay Hồi Giáo, không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào ngoài những cuốn sách hiện hữu trên thế giới mà họ gọi là thánh thư, nhưng mỗi cuốn thánh thư đều có nhiều điểm khác nhau, tuy chúng có một điểm chung, đó là mọi hiện tượng trên thế giới đều là tác phẩm của Gót, và cho rằng Gót là chủ tể của nhân loại, quản cai vũ trụ, nghĩa là trách nhiệm về mọi sự xảy ra trong vũ trụ. Còn khoa học thì thu thập tích lũy hàng núi bằng chứng chứng tỏ rằng vai trò của Gót không cần thiết trong việc giải thích những hiện tượng thiên nhiên. Thí dụ, khi anh phát biểu là có một “Đấng Chí Tôn Vô Hình Quản Cai Vũ Trụ” thì đó là bày tỏ một niềm tin chứ không phải là khẳng định bản chất của một thực thể. Trong khoa học, chúng ta không cần đến Gót để giải thích là tại sao khi ta ném một viên đá lên trời thì quỹ đạo của hòn đá là một hình parabol và cuối cùng hòn đá lại rơi xuống mặt đất.

Có một điều mà Francis Dương không nghĩ tới là khi nêu lên những công trình khoa học của một số khoa học gia mà Francis Dương cho rằng họ tin là có Thượng đế, tất nhiên là Thượng đế của Ki Tô Giáo, thí dụ như Nicolas Copernicus, Isaac Newton, Johannes Kepler, Galileo Galilei Jean Baptiste Lamarck, George LeMaitre v…v… [nhưng quên mất Giordano Bruno, Charles Darwin, hay Alexander VI, Hitler v…v…], Francis Dương lại không biết rằng chính những công trình khoa học của những người này đã phá sập nền thần học của Ki Tô Giáo, nghĩa là bộ môn dùng trò chơi ngôn ngữ để chứng minh là có Thượng đế. Một Giordano Bruno, bị Giáo hội thiêu sống chỉ vì tin chắc rằng ngoài thế giới của chúng ta còn có nhiều thế giới khác. Chẳng có lẽ ông ta lại tin ở một Thượng đế ngu đần đến độ cho rằng thế giới của chúng ta là duy nhất do chính ông Thượng đế đó sáng tạo ra như được viết trong Thánh Kinh. Một Galilei có đầy đủ bằng chứng là trái đất quay xung quanh mặt trời chẳng lẽ lại tin ở một Thượng đế ngu xuẩn đến độ cho rằng trái đất phẳng, dẹt, có bốn góc, đứng yên, và mặt trời quay xung quanh trái đất như được viết trong Thánh Kinh. Charles Darwin cũng là người Công Giáo, nhưng thuyết Tiến Hóa của ông ta, và những bằng chứng khoa học về vũ trụ học, đã làm cho thuyết Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài của Ki Tô Giáo trở thành ngớ ngẩn, khôi hài và hoàn toàn vô giá trị. Vậy thì những khoa học gia này có những công trình vinh danh khoa học hay vinh danh Thượng đế. Francis Dương hãy trả lời câu hỏi này.

Mặt khác, Jean Baptiste Lamarck chỉ có một số tư tưởng về Tiến Hóa, còn Charles Darwin mới chính là người lập thuyết Tiến Hóa một cách khoa học. Thật ra thì, nhiều tư tưởng về tiến hóa đã có trước Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa Thư (800 B.C.E) của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và sau được phát triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch. Ở Tây phương, chúng ta có thể kể Thales, Anaximander (học trò của Thales), Xenophanes, Anaxagoras, Empedocles, Aristotle, Lucretius. Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E = Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da Vinci (1452-1519), Carolus Linnaeus (1707-1778), Georges Louis Leclearc, Comte de Buffon (1707-1788), Erasmus Darwin (1731-1802), Jean Baptiste de Lamark (1774-1829), đó là chỉ kể những tên chính.

George LeMaitre cũng không phải là tác giả của thuyết Big Bang như Francis Dương viết. Lemaitre dùng những phương trình tương đối của Einstein để tính ngược tới một thời điểm mà vũ trụ được thu gọn trong một trái cầu lớn hơn mặt trời khoảng 30 lần mà ông ta gọi là “nguyên tử đầu tiên” (primeval atom), còn được biết dưới danh từ “trứng vũ trụ” (cosmic egg). Theo Lemaitre thì, vì những lý do không rõ, trái trứng vũ trụ này nổ bùng tạo thành vũ trụ của chúng ta ngày nay. Nhưng các phương trình của Einstein lại cho phép các khoa học gia đi ngược thời gian xa hơn nữa, tới một thời điểm mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh từ khoa học gọi là “dị điểm” (singularity), một thời điểm vào khoảng 0.0001 (một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ (10-4 sec.) sau khi dị điểm bùng nổ, khi đó nhiệt độ của dị điểm là khoảng 1,000,000,000,000 (một ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), nhiệt độ tuyệt đối K cao hơn nhiệt độ bách phân C là 273.16 độ, do đó 0 độ K tương đương với -273.16 độ bách phân C, và tỷ trọng của dị điểm là 100,000,000,000,000 (một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối. Để có môt ý niệm về các con số trên, nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ vào khoảng 6000 độ, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối. Đây mới là thuyết Big Bang.

Để chứng minh thêm là Francis Dương viết mà không hiểu mình viết cái gì, tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình:

1. Francis Dương đưa tên nhà toán học Pháp Pierre Simon de Laplace vào danh sách những khoa học gia nổi tiếng mà Francis Dương cho rằng ông ta tin vào Thượng đế của Ki Tô Giáo. Nhưng Francis Dương không biết, hoặc biết mà cố tình không nhắc, đến một giai thoại về Laplace như sau:

Hoàng đế Napoléon Bonaparte, sau khi đọc cuốn “Cơ Học về Các Thiên Thể” (Celestial Mechanics), cuốn sách giải thích vũ trụ thuần túy theo những nguyên nhân tự nhiên, nhận xét rằng trong cuốn sách đó Laplace không đả động gì đến Gót cả. Laplace đã trả lời như sau: “Thưa Ngài, tôi không cần đến cái giả thuyết đó” [ Sire, I have no need to that hypothesis]. Trong khoa học, giả thuyết có ý nghĩa như thế nào, mọi người đều biết.

Laplace cũng còn phát biểu: Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. [The telescope sweeps the skies without finding god.]

2. Francis Dương cũng đưa tên Blaise Pascal vào danh sách những người tin có Thượng đế và nêu lên lý luận “đánh cuộc của Pascal” (Pascal’s Wager) như sau mà Francis Dương cho là một danh ngôn mà tới nay, ai cũng thấy hữu lý: “Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài; nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả” [thiếu câu sau: nếu không tin là có Ngài. [If God does not exist, one will lose nothing by believing in him (wrong), while if he does exist, one will lose everything by not believing (wrong again)]. Francis Dương không nhận ra một đống sai lầm trong câu trên và không biết rằng câu trên phát xuất từ một sự mê tín chứ không phải là khẳng định về một thực thể. Chúng ta phải hiểu câu trên như sau: nếu tin vào Thượng đế và Thượng đế có thật thì sẽ được lên thiên đường sau khi chết, còn nếu không tin mà Thượng đế có thật thì sẽ bị đày đọa xuống hỏa ngục sau khi chết. Đó là một câu đánh cuộc vào một điều mình không biết hoặc chưa tin (là “Thương đế”), vì nếu đã biết hoặc đã tin thì còn đánh cuộc làm gì !

Thứ nhất, hàng tỷ người trên thế gian không tin có Thượng đế của Ki Tô Giáo nhưng vẫn có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, lành mạnh, đầu óc tỉnh táo không mê mẩn vì một cái bánh vẽ trên trời (điều này chứng tỏ là chẳng làm gì có Thượng đế và cũng chẳng ai cần đến Thượng đế.) Ngay cả theo lý thuyết thần học của Ki Tô Giáo, trong trường hợp hoang tưởng là những người không tin sẽ phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục sau khi chết thì cũng không thể nói là họ đã “mất tất cả”. Giáo hoàng John Paul II đã chính thức phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường hay hỏa ngục của Ki Tô Giáo, điều này đã ném các Pascal’s Wager vào “đống những đồ phế thải”. Cho nên những người hi vọng ở một đời sau hạnh phúc trên thiên đường mới là những người “mất tất cả” vì hi vọng đó không bao giờ có thể thành đạt.

Thứ nhì câu của Pascal cũng có thể áp dụng cho Do Thái Giáo hay Hồi Giáo hay Ấn Độ giáo. Hồi giáo có thể nói, tin vào Allah và nếu Allah không có thật thì cũng chẳng mất mát gì. Nếu không tin và Allah có thật thì sẽ mất tất cả. Đối với Hồi Giáo thì tất cả các tín đồ Ki Tô Giáo đều phải xuống hỏa ngục của Hồi Giáo nếu Allah có thật. Đối với nhiều tông phái Ấn Độ giáo cũng vậy, tất cả tín đồ Ki Tô giáo đều thành ma quỷ hết nếu các vị thần linh của họ có thật.

Thứ ba, sự kiện là, dù muốn dù không, đời sống của chúng ta trên trái đất là đời sống duy nhất mà chúng ta sẽ trải qua. Nếu chúng ta hi sinh đời sống này cho một Thượng đế giả tưởng thì có thể nói là chúng ta sẽ mất tất cả. Đây chính là vong thân.

Sau cùng, tôi muốn khai sáng cho Francis Dương về đoạn kết của ông ta. Francis Dương viết về “Vô Thần”:

Người vô thần là người không ý thức, bác bỏ, phủ nhận niềm tin vào Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Thượng Đế, Thiên Chúa, Jehovah, Allah… vì hoặc là họ cho rằng không có bằng chứng hiễn nhiên, rõ ràng, hay họ dựa vào các triết thuyết, xã hội học, lịch sử, và thiên nhiên…

Vậy con người nên theo Cộng Sản, tôn thờ Karl Marx, Lenin, Mao, Hồ, hay Ông Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Chí Tôn, Thiên Chúa, Jehovah, Allah để khi lìa dương thế còn có hy vọng một đời sau hạnh phúc, và khi còn sống còn có chút lương tâm yêu thương tổ tiên cha mẹ anh chị em bà con xóm giềng cùng đồng loại. Ngược lại nếu trong xã hội loài người không ai còn tin vào sự hiện hữu của ÔNG TRỜI, ĐẤNG CHÍ TÔN vô hình chủ tể muôn loài muôn vật thì con người sẽ ăn thịt con người, cướp bóc khắp mọi nơi, mạnh được yếu thua như súc vật.

Đọc câu nầy, về mặt phương pháp luận, ta đã thấy Francis Dương bị kẹt vào thế nhị nguyên đối đãi: Không Thiên Chúa thì chỉ là Cọng sản, không Cọng sản thì chỉ phải là Thiên Chúa, chứ không còn chọn lựa nào khác ! Vậy trước khi có Cọng sản thì sao ? Đây là cái loại đầu óc bị cầm tù và bị nhồi sọ bởi ông Giáo hoàng Pio XI từ hơn 70 năm trước để chống Cọng mà mở mang nước Chúa ở Bùi Chu Phát Diệm, nay còn đọng lại mà Linh mục Trần Tam Tĩnh đã nói đến trong tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm: “Ở một số địa bàn Công giáo tiêm nhiễm nội dung chống Cộng của thông điệp Divini Redemptoris của Piô XI, nên người ta phải sống trong một thứ hoang mang, thời gian để lại những hậu quả rất nghiệm trọng. Một vài lãnh tụ Công giáo đã vạch ra một đường lối xử thế, mà nhiều người rồi đây đã thấy là xảo quyệt gian manh”.

Sau đây là một bài học nhỏ cho Francis Dương về “Vô Thấn” và “Hữu Thần”.

http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi02.jpgĐoạn trên của Francis Dương là luận điệu cố hữu của Công giáo, kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản. Tại sao Công giáo lại chống Cộng một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy? Thật là dễ hiểu, vì lý thuyết của Marx đã vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả là đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn. Hiện tượng này thật là rõ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà còn ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Học giả Công giáo Joseph L. Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition, Prometheus Books, New York, 1994): “Căn nguyên sự thù ghét của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là giáo hội ý thức được rằng Cộng Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.” [2]

Francis Dương có biết là:

Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (nghĩa là sống như là “vô thần”) [3]

Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì Benedict XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau:

“Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa. [4]

Cũng theo tin hãng Reuters ở Rome thì Giáo hoàng Benedict XVI đã phải đau lòng mà chấp nhận một sự thực: “Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu nữa. Những Giáo Hội gọi là ‘truyền thống’ xem ra như đang chết dần.” [5]

Những sự kiện trên chứng tỏ rằng niềm tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia mà Francis Dương nêu lên để quảng cáo cho “Đấng Chí Tôn..” ngày nay chẳng còn mấy giá trị. Nó chỉ còn giá trị đối với “đám quần chúng tín đồ ngu si, và những linh mục xảo quyệt” [Robert G. Ingersoll, in 1870: The people are stupid, and the priests are cunning].

Hơn một thế kỷ sau, S.T. Joshi cũng đưa ra một nhận định tương tự: “Câu hỏi chính không phải là tại sao tôn giáo (tác giả muốn nói đến Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Ki Tô Giáo) không chết đi mà là tại sao nó còn tiếp tục tồn tại trước hàng núi những bằng chứng trái ngược [với những gì các tôn giáo trên rao truyền]. Đối với tôi, câu trả lời có thể thâu tóm trong một câu thẳng thắn: quần chúng tín đồ thì ngu si” [6]

Thật ra, theo định nghĩa thì, Vô thần chỉ có nghĩa là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa [Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God]. Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là chống Thiên Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích. Nói cho đúng ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra.

Đối với giới “Chống Cộng Cho Chúa” [CCCC] thì hai chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản” trong những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước. Điều này chứng tỏ là những người Chống Cộng Cho Chúa chẳng hiểu gì về vô thần hay Cộng sản. Họ chỉ lập lại như những con vẹt những luận điệu chống Cộng của Công Giáo sau chiêu bài “vô thần” làm như “vô thần” là có tội với Thiên Chúa, là vô đạo đức của Thiên Chúa v…v…

Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế [Communism is a socio-economic political system] trong khi Vô Thần là một lập trường đối với các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là Ki Tô Giáo [Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western religion], và Vô Thần đã có từ trên 2000 năm nay, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời cách đây trên 100 năm.

Vì không hiểu rõ chủ trương vô thần của Marx cũng như bản chất của vô thần cho nên ngày nay vẫn còn có những người cuồng tín đần độn, kể cả những người gọi là trí thức Công Giáo, và cả một số trí thức Phật Giáo thiếu trí tuệ, vẫn tiếp tục kết hợp Cộng sản với Vô Thần, làm như Vô Thần là một trọng tội xấu xa cần phải diệt trừ. Họ không đủ kiến thức để hiểu rằng, khi họ kết hợp Cộng Sản với Vô Thần là họ đang thực sự tôn vinh Cộng Sản.

Thật vậy, như Voltaire đã nhận định: “Vô Thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” [Atheism is the vice of a few intelligent people] và trên thực tế, Vô Thần là kết quả tiến bộ trí thức của con người, như Frank E. Tate đã tuyên bố như sau:

“Suốt cuộc đời tôi, tôi đã tiến bộ từ một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là một người vô thần. Tôi dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự là một sự tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý đã lỗi thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.

Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh kinh Do Thái-Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu, dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và sự an sinh của những người nào không bày tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được trình bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được” [7]

Những người Công Giáo thường bị tẩy não, nhồi sọ từ nhỏ là những người không tin vào Thiên Chúa của họ là “vô thần” (trong đó có cả Phật giáo và Không giáo “ma quỷ” của Alexandre de Rhodes nữa), và vô thần có nghĩa là vô đạo đức của Ki Tô Giáo, và do đó có thể làm tất cả những điều ác vì không còn sợ Thiên Chúa của họ như Francis Dương viết ở trên. Nhưng nếu chúng ta đọc lịch sử giới hữu thần và so với giới vô thần, chúng ta sẽ thấy rằng đạo đức của giới hữu thần thực sự thua xa đạo đức của giới vô thần. Lịch sử Ki Tô Giáo đã chứng tỏ như vậy. Tại sao? Bởi vì Ki Tô Giáo tin vào cuốn Thánh Kinh của họ, và trong Thánh Kinh, những điều luân lý đạo đức chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những phần vô đạo đức, phi luân.

Sự thực là, hững người vô thần nổi tiếng từ xưa tới nay đều là những bậc thông thái, có đạo đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô đạo đức như một số giáo hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Công giáo như lịch sử đã chứng minh. Và trong những xã hội Ki Tô Giáo “hữu thần”, tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của, loạn luân, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, ma túy v..v.. đã vượt trội những xã hội “vô thần”. Thí dụ:

Mỹ là một nước “hữu thần” hạng nhì (sau Phi Luật Tân) trong thế giới ngày nay, vì theo Francis Dương thì có 51.3 % theo Tin Lành và 23.9 % theo Công giáo, số người tin vào sự “thiết kế thông minh” của một ông Thiên Chúa để tạo nên nước Mỹ làm dân của Thiên Chúa (God’s people). Nhưng những tội ác như linh mục loạn dâm, đĩ điếm, cần sa, ma túy, gian manh lừa đảo, giết người, băng đảng xã hội đen v..v.. đều chiếm giải quán quân trên thế giới. Nói có sách, mách có chứng: sau đây là vài con số thống kê của Mỹ:

– Thống kê năm 2000: 14 triệu người tuổi từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).

– Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491 vụ hiếp dâm. Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của bộ Tư Pháp)

– Trên 1 triệu gái mãi dâm hành nghề trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), phòng tẩm quất (massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên. Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến mãi dâm.

– 14.000.000 người nghiện rượu.

– Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù. Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.

– Ở Trung Quốc [xứ vô thần] thì cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ [xứ hữu thần] là 686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.

– 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi đến ly dị.

– Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính luyến ái.

– Tới nay đã có hơn 5000 linh mục Công Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ, chưa kể số Mục sư Tin Lành..

Có thể những người thờ thần, hay thờ Chúa cũng vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm nghĩ gì? Tôi xin mượn vài tư tưởng của Robert G. Ingersoll. Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ. Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển. Những tư tưởng của ông đều có trong các thư viện lớn và trên Internet. Tượng đài tưởng niệm ghi công ông khai phóng đầu óc giới trẻ được xây ở Peoria, bang Illinois. Ingersoll phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần. Tôi chỉ xin nêu ra vài tư tưởng trong đó:

“Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là thiên nhiên – và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại, thì những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đã xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người tôi. Những bức tường của cái nhà tù của tôi [Ki Tô Giáo] đã sụp đổ, ngục tù tăm tối đã được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn song, gông cùm đã trở thành cát bụi. Tôi không còn là một tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà Mucsu.net: Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là người hầu việc Chúa v..v.. ) Tôi đã tự do:

– tự do suy tư, phát biểu tư tưởng

– tự do sống theo ý tưởng của tôi

– tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác quan của tôi

– tự do tìm hiểu

– tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và
mọi truyền thuyết man rợ của quá khứ

– tự do thoát khỏi những giáo hoàng và linh mục

– tự do thoát khỏi những sai lầm được thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh

– tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự đau đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)

– tự do thoát khỏi những ma, quỉ và thiên chúa.” [8]

http://giaodiemonline.com/2010/01/images/ongtroi03.jpgĐể khai sáng cho Francis Dương biết ai là những người “vô thần”, không tin vào cái gọi là “Ô ng Trời” hay “Đấng Chí Tôn Vô Hình quản cai Vũ Trụ” của Francia Dương, tôi xin liệt kê tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi trên thế giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600 nhân vật (lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of Disbelief: Famous People With The Courage To Doubt của James A. Haught, (Prometheus Books, 1996), những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn thể của những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C. Chúng ta nên để ý là trong danh sách này có những tên mà Francis Dương cho vào danh sách những người “hữu thần” nhưng không hề ghi xuất xứ, những tên có gạch dưới:

Lord Acton – John Adams – Ethan Allen – Steve Allen – Aristotle – Isaac Asimov – Sir Francis Bacon – Honoré de Balzac – Charles Baudelaire – Simone de Beauvoir – Ludwig van Beethoven – Hector Berlioz – Georges Bizet – Charles Bradlaugh – Johannes Brahms – Benjamin Britten – Giordano Bruno – Pearl Buck – Albert Camus – Andrew Carnegie – Marcus Tullius Cicero – Auguste Comte – Confucius – Nicolaus Copernicus – Clarence Darrow – Charles Darwin – Claude Debussy – Daniel Defoe – Demosthenes – Charles Dickens – Denis Diderot – Diogenes – Alexandre Dumas – Will Durant – Thomas Edison – Albert Einstein – George Eliot – Albert Ellis – Empedocles – Euripides – William Faulkner – Richard P. Feynman – Gustave Flaubert – Antony Flew – George William Foote – Anatole France – Benjamin Franklin – Sigmund Freud – Galileli Galileo – Indira Gandhi – Mohandas Gandhi – Giuseppe Garibaldi – Edward Gibbon – André Gide – Johann Wolfang von Geothe – Thomas Hardy – Stephen Hawking – Joseph Haydn – George W. F. Hegel – Martin Heidegger – Fred Hoyle – Victor Hugo – David Hume – Aldous Huxley – Robert G. Ingersoll – Thomas Jefferson – James Joyce – Franz Kafka – Immanuel Kant – Johannes Kepler – Jean de la Bruyère – Pierre Simon de Laplace – William E. H. Lecky – Abraham Lincoln – John Locke – James Madison – Karl Marx – Jules Massenet – Somerset Maugham – Guy de Maupassant – Henry Louis Mencken – Michel de Montaigne – Baron de Montesquieu – Wolfang Amadeus Mozart – Jawaharlal Nehru – Friedrich Nietzsche – Madalyn Murray O’Hair – Thomas Paine – Pablo Picasso – Max Planck – Marcel Proust – Jules Renard – Eleanor Roosevelt – Theodore Roosevelt – Jean-Jacques Rousseau – Carl Sagan – George Sand – George Santayana – Jean Paul Sartre – Arthur Schlesinger – William Shakespeare – Adam Smith – Socrates – Baruch Spinoza – Richard Strauss – Leo Tolstoy – Mark Twain – Voltaire – George Washington – Daniel Webster – H. G. Wells – Zeno – Émile Zola.

Danh sách nầy được tác giả James A. Haught chọn lựa theo tiêu chuẫn là “những người thông minh, có học, có khuynh hướng phê phán [những hiện tượng] siêu nhiên và những điều gọi là sự thật được hiễn lộ của tôn giáo. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi tìm thấy [trong danh sách nầy] tên tuổi một số lớn những người hoài nghi và vô tín ngưỡng trong số những nhà phát minh, khoa học gia, nhà văn, nhà cải cách xã hội và những nhân vật làm đổi thay thế giới trọng đại của chúng ta – những người thường được gọi là vĩ nhân. Sự tiến bộ của văn minh Tây phương đã phần nào là một câu chuyện về chiến thắng từ từ những áp bức của tôn giáo, và những người nghi ngờ kiệt xuất nầy là những vị đàn ông cũng như phụ nữ đã không cầu nguyện, đã không quỳ trước các bàn thờ, đã không hành hương, và đã không đọc kinh nguyện. Cuốn sách nầy là một cuốn sách trích dẫn tổng hợp những lời phát biểu của các “vĩ nhân” cả Đông lẫn Tây, từ cổ đại cho đến hiện đại…” [9]

Trần Chung Ngọc

[Source: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN89.php – 1/2010]

[1] Either there is a god, multiple gods, or none. Either there is such a thing called the human soul or there isn’t, and, if there is, it either can or cannot survive the death of the body. Either Jesus Christ, if he existed, was the son of God or he wasn’t. Either Mohammed, if he existed, was God’sprophet or he wasn’t.

That the essential doctrines of many of the world’s major religions – especially Christianity, Judaism, and Islam – are matters of truth or falsity is itself a fact around which no amount of sophistry or special pleading can get. Unfortunately for them, evidence has been steady accumulated for at least the last half-millenium to suggest that these doctrine are false.

[2] The root of the (Catholic) Church’s antipathy toward Communism is its realization that Communism is, in effect, a rival religion.

[3] At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.

[4] ROME (Reuters, July 27, 2005) – Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesday.

[5] It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ,” he told a meeting of clergy in the Italian Alps.

“The so-called traditional churches look like they are dying,” he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.

[6] S.T. Joshi, God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong, Prometheus Books, New York, 2003, p. 12: The dominant question thus becomes not why religion has not died away but why it continues to persist in the face of monumental evidence to the contrary. To my mind, the answer can be summed up in one straightforward sentence: People are stupid.

[7] During my lifetime I have progressed from being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist. I use the word “progress” because I believe it to be true progress to go from blind acceptance of an outdated illogical mythology to doubt and finally to denial and disbelief…

The myth itself – the Judeo-Christian Bible – is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted disregard for the lives and well-being of all peoples who do not profess a blind belief in the precepts presented in such impossible and contradictory terms.

[8] When I became convinced that the Universe is natural – that all the ghosts and gods are myths, there entered into my brain, into my soul, into every drop of my blood, the sense, the feeling, the joy of freedom. The walls of my prison crumbled and fell, the dungeon was flooded with light and all the bolts, and bars, and manacles became dust. I was no longer a servant, a serf, or a slave…I was free

– free to think, to express my thoughts

– free to live to my own ideal

– free to use all my faculties, all my senses

– free to investigate

– free to reject all ignorant and cruel creeds, all the “inspired” books that savages have produced, and all the barbarous legends of the past

– free from popes and priests

– free from sanctified mistakes and holy lies

– free from the fear of eternal pain

– free from devils, ghosts and gods

[9] Intelligent, educated people tend to be critical of the supernatural and the so-called revealed truths of religion. So it is hardly surprising to find a great number of skeptics and unbelievers among our major inventors, scientists, writers, social reformers, and other world changers – people usually termed great. The advance of Western civilization has been partly a story of the gradual victory over religious oppression, and these brilliant doubters were men and women who didn’t pray, didn’t kneel at altars, didn’t make pilgrimages, and didn’t recite creeds.

2,000 years of Disbelief is a book of quotes that brings together the words of the “greats” of both East and West, from antiquity to the present. Included in this stirring collection are such renowned skeptics as Epicurus, Voltaire, Arthur Schopenhauer, Mark Twain, and Bertrand Russell. But also represented are many whose skepticism is not so well known, and who are for this reason regarded by churchmen and others as conventional believers. Notable among these are many U.S. presidents. Thus we learn, for example, that George Washington had no belief in Christianity and that Abraham Lincoln never joined a church. 2,000 Years of Disbelief is an anthology not only of outstanding philosophers, scientists, and poets, but also of figures in the arts and entertainment as well as prominent scholars and politicians.

Arranged chronologically for ease of reference, with each chapter devoted to a particular figure or period, this witty, insightful collection reveals the extent to which the most renowned people in all areas expressed, both publicly and privately, their courage to doubt, often in the face of great personal risk. A delight to read as well a a valuable sourcebook, 2,000 Years of Disbelief provides a powerful weapon against religious conformists, dogmatists, and others who would roll back the clock on the teaching of evolution and who are working to tear down the wall of separation between church and state. Others included in this outstanding collection are: Omar Khayyam, William Shakespeare, Thomas Hobbes, Benjamin Franklin, Mary Wollstonecraft, Charles Darwin, Elizabeth Cady Stanton, Thomas Edison, Albert Einstein, W. E. B. Du Bois, Ayn Rand, Langston Hughes, Steve Allen, Elie Wiesel, Gloria Steinem, Albert Gore, and many others.

[ Source: http://www.ebscobooks.com/books/ProductDetails.asp?CatalogID=59093 ]

http://kbchaingoai.wordpress.com

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: