RSS

Tìm Hiểu Vấn Nạn Linh Mục Loạn Dâm (Tiếp theo)

26 Sep

Trong Giáo Hội Công Giáo Thường Nhận Là “Duy Nhất”,
“Thánh Thiện”, Và “Tông Truyền”

Trần Chung Ngọc

II. Thuần hóa tín đồ bằng những tín lý độc tài, ngụy tạo.

Sau khi đưa ra một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời làm cho tín đồ mê hoặc về một cuộc sống đời đời trên một thiên đường mà giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận, Giáo hội bèn sử dụng mọi xảo thuật để nô lệ hóa đầu óc con người bằng những tín lý, tín điều ngụy tạo để tạo quyền lực cho giới chăn chiên. Bánh vẽ “cứu rỗi” có đó ở trên các tầng mây, nhưng tín đồ muốn được ơn cứu rỗi đó thì không thể tự mình hưởng ơn đó mà phải qua ngả các “bề trên”, nghĩa là phải tin tất cả những gì bề trên dạy, thường là những điều láo lếu nhưng những đầu óc thấp kém, cả tin nhắm mắt tin mà không cần hiểu. Một mặt, để nhốt tín đồ vào ngục tù trí thức, theo sách lược “ngu dân dễ trị”, Giáo hội cấm tín đồ tự đọc cuốn Kinh Thánh, sợ rằng họ sẽ nhận ra những điều sai trái về thần học cũng như về khoa học trong đó. Từ 1559, Giáo hội đã đưa ra danh sách những sách cấm tín đồ đọc, vi phạm “luật thánh” này sẽ bị vạ tuyệt thông. Theo Wikipedia thì đó là danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội Công giáo kiểm duyệt vì nguy hiểm đến chính Giáo hội và đức tin của các tín đồ [The Index Librorum Prohibitorum (“List of Prohibited Books” or “Index of Forbidden Books”) is a list of publications which the Catholic Church censored for being a danger to itself and the faith of its members.] Trong danh sách những cuốn sách cấm đọc, với 32 ấn bản trong hơn 400 năm, từ 1559 đến 1966, chúng ta có thể đếm được 6892 đầu sách cấm tín đồ đọc, và trong mỗi ấn bản đều chứa những luật của Giáo hội về vấn đề đọc sách, bán sách và kiểm duyệt sách. [The various editions also contain the rules of the Church relating to the reading, selling and censorship of books.] Vì mơ tưởng ở một cái bánh vẽ trên trời nên các tín đồ cứ nhắm mắt tuân theo những luật quái gở phi trí thức này. Bởi vậy chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy kiến thức của tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo các cấp quá thiếu sót, nghèo nàn, cho nên thường không đủ khả năng để đối thoại một cách nghiêm chỉnh, khoan nói đến chuyện thành công trong xã hội bên ngoài.

Giáo hội Công giáo giữ độc quyền diễn giải Kinh Thánh và hầu hết các tín đồ, kể cả các “bề trên”, cũng chỉ được biết đến những đoạn vụn vặt mà Giáo hội chọn lọc để mê hoặc tín đồ, và lẽ dĩ nhiên, diễn giải những đoạn chọn lọc trong Thánh Kinh theo ý giáo hội bất kể sự thật, và cũng lẽ dĩ nhiên tuyệt đại đa số tín đồ cũng chỉ biết về đạo của họ qua những lời diễn giảng một chiều này. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong những bài viết của một số Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục Việt Nam. Giáo lý nô lệ hóa tín đồ của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh. Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope’s Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Công giáo dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Công giáo (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

[A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God]

Giáo hội Công giáo đã viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho mình. Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh. Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh thì người ta đã khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một Thiên chúa toàn năng, toàn trí….

Thật vậy, về truyền thống giáo dục của Giáo hội Công Giáo do Thiên Chúa mạc khải, theo lời tự nhận của giáo hội, thì như thế nào? Chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập dòng Tên:

Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội [Công Giáo] quyết định như vậy [do sự mạc khải của Thiên Chúa].

[We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides].

Giáo hội luôn luôn cho rằng có Thánh Linh hướng dẫn trong mọi sự việc, cho nên quyết định trắng thành đen có thể cũng là sự mạc khải của một Thiên Chúa toàn năng toàn trí của Giáo hội Công Giáo.

Nhưng chúng ta phải công nhận là, làm cho tín đồ phải tin như trên, đi kèm với sách lược cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, cùng cấm đọc những tác phẩm, báo chí v..v.. mà giáo hội không cho phép để nhốt đầu óc của các tín đồ vào cái ngục tù tâm linh của giáo hội là sự thành công lớn nhất của Giáo hội Công giáo.

Để nhốt tín đồ vào vòng nô lệ, Giáo hội đặt nặng giáo điều về “Đức Vâng Lời”, nghĩa là tín đồ phải tuyệt đối vâng lời các bề trên, vì Giáo hội hù dọa tín đồ: không vâng lời “bề trên” thì sẽ bị “Chúa phán xét”, linh hồn không được “cứu rỗi”. Đây là giáo lý đã làm cho những tín đồ Công giáo thường là chỉ biết đến Nước Chúa, chứ không quan tâm đến đất nước của tổ tiên, ông bà.

Điều này rõ ràng hơn gì hết trong nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung, một tín đồ Công giáo, về Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam: Tòa Thánh có đánh r… cũng khen thơm”. Điều này đã nói lên sự thực về bản chất nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam và cùng lúc, sự thành công của Giáo hội hoàn vũ đối với tuyệt đại đa số người Công giáo Việt Nam, một sự thực khá đau lòng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam trước sự bất hạnh của 7% dân số theo đạo, nạn nhân của sách lược “ngu dân dễ trị’ của một định chế tôn giáo.

Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, trong một gia đình theo đạo từ thế kỷ 16, đã phải đau lòng mà viết rằng: “Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải gánh phần lớn trách nhiệm trong việc nhốt những con chiên của mình vào những chuồng tâm linh tăm tối”. Nhưng trách như vậy là Charlie Nguyễn đã lầm, vì đó là chính sách của Giáo hội Công Giáo, và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam chẳng qua chỉ gồm những thuộc hạ của Giáo hoàng và của tập đoàn chỉ đạo ở Vatican, và vì chính quyền lợi thế tục của họ mà họ phải duy trì chính sách này. Bởi vậy mà cho đến ngày nay mà tuyệt đại đa số tín đồ Công Giáo Việt Nam, kể cả một số trí thức Công Giáo, vẫn còn tin Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ, và vẫn có những ông Linh mục như Linh mục Vũ Đức ở Detroit rao giảng: “Linh Mục là Chúa thứ hai” (alter Christus) v..v.., trong khi đối với giới hiểu biết thì chẳng làm gì có Chúa thứ nhất, khoan nói đến trên 5000 “Chúa thứ hai” đã từng đi cưỡng bách tình dục các nữ tu và trẻ con, cùng ăn cắp tiền của nhà thờ như tuần báo Time, số ngày 26 tháng 2, 2007, mới phanh phui, và phạm đủ mọi thứ tội như lịch sử đã ghi rõ.

Về “Đức Vâng Lời” thì phải nói Công giáo Việt Nam tuân thủ vào hạng nhất. Gần đây khi phóng viên Thanh Trúc hỏi ý kiến của Giám mục Nguyễn Chí Linh về việc Giáo hoàng bổ nhiệm Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng Giám Mục phó tổng giáo phậnHà Nội thì được Giám mục Linh trả lời:

Nhưng đối với chúng tôi là giám mục, điều quan trọng nhất là dù Đức Giáo Hoàng có bổ nhiệm ai đi nữa thì chúng tôi cũng có nghĩa vụ phải duy trì tình hiệp thông trong giáo hội. Cho nêntôi nghĩ cần phân biệtdư luận, truyền thông và tinh thần. Chúng tôi quan tâm nhất tới vấn đề tinh thần. Truyền thống lâu đời của giáo hội Công giáo là tuân phục sự bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Trên hết mọi sự, đối với chúng tôi, ý kiến riêng phải nhường chỗ cho tinh thần vâng phục và tình hiệp thông.

Giám mục Linh không nhận thức được rằng, tinh thần vâng phục mù quáng chẳng qua chỉ là “tinh thần nô lệ”, và từ cái “tinh thần nô lệ” này, người Công giáo có thể làm tất cả những gì Vatican muốn, kể phản bội quốc gia như trong quá khứ. Mặt khác, một con người vô đạo đức như Giáo hoàng Benedict XVI thì vâng phục ông ta có nghĩa gì và có giá trị gì.

Để nắm giữ đầu óc tín đồ từ ngày sinh ra đời đến ngày chết, và để tạo quyền lực cho giới chăn chiên trước đàn con chiên thấp kém, Giáo hội Công Giáo còn dựng lên những màn ảo thuật gọi là “bí tích” [sacraments], những lễ tiết tín đồ bắt buộc phải tin hiệu năng huyền nhiệm của chúng theo như những lời “giáo hội dạy rằng”, dù giáo hội “bí đặc”, không làm sao giải thích được tại sao lại phải tin như vậy, vì bản chất những “bí tích” này thuộc loại mê tín dị đoan. Giáo hội dạy rằng mọi “bí tích” này là do Chúa Giê-su lập ra, và con chiên nghe đến Chúa là mất hết lý trí, chỉ việc nhắm mắt tin theo. Trong cuộc thảo luận sau khi trình chiếu cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus của đài Discovery, khi được hỏi ý kiến về những sự kiện khoa học khám phá ra trong phim, một ông linh mục đã thản nhiên trả lời: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không về khoa học” [Faith deals with mystery, not science]

Tôi đã phân tích thực chất các “bí tích” trong Công giáo qua những tài liệu của những bậc chăn chiên trong Công giáo: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/DuctinCG/DuctinCG03.php cho nên không cần phải nhắc lại ở đây nữa, mà chỉ nói về “Bí tích” then chốt trong Công giáo để nắm giữ đầu óc tín đồ là “bí tích” Truyền Chức Linh Mục. Đây là mánh mưu then chốt của Giáo hội để tạo quyền lực thần thánh cho một người học nghề Linh mục, đột nhiên biến một người học nghề linh mục trong vài năm thành một người có quyền thay Chúa, thực ra là hơn Chúa vì Chúa chưa từng bao giờ làm, để thực hiện những phép quỷ thuật trong 6 “bí tích” còn lại. Với quyền năng tự tạo này của giới chăn chiên như linh mục, giám mục v..v.. , giáo hội có thể dùng 6 bí tích kia: rửa tội, thêm sức, xưng tội, truyền thánh thể, hôn phối và xức dầu thánh, để ngự trị, kiểm soát, và mê hoặc tín đồ từ ngày sinh, bắt đầu bằng bí tích rửa tội, cho đến ngày chết, bằng bí tích xức dầu.. Tôi sẽ không đi vào chi tiết 6 bí tích này, bài nhận định về các bí tích của Công giáo đã được đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây. Vì bí tích “truyền chức linh mục” là bí tích then chốt để nắm giữ đầu óc tín đồ, cho nên, tôi xin được đi vào khá nhiều chi tiết về chủ đề này. Trước hết, chúng ta hãy đọc một đoạn trong Sách Giáo Lý Công Giáo (Katholischer Katechismus), bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên, nhà in Zieleks, Texas, xuất bản năm 1991, viết về nghi thức Truyền Chức Linh Mục như sau, trang 231:

 

“Khi phong chức linh mục, đức giám mục im lặng đặt tay trên đầu mỗi vị phụ tế và cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên họ. Các vị linh mục dự lễ cùng đặt tay trên đầu họ như vậy. Bấy giờ đức giám mục mới hát kinh tiền tụng để phong chức linh mục. Giám mục lại cho các vị đeo khăn vai quàng qua ngực và mặc áo lễ để chỉ dấu hiệu linh mục. Đoạn xức dầu thánh vào hai bàn tay và trao chén thánh đựng rượu nước, như dấu chỉ từ nay các vị có thể dâng thánh lễ. Đoạn giám mục cử hành thánh lễ cùng với các vị tân linh mục. Sau cùng, giám mục còn đặt tay lần nữa trên đầu các vị tân linh mục mà đọc rằng: “Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai thì họ được tha, cầm giữ ai thì họ bị cầm giữ”.

 

Đọc đoạn trên, nếu ngày nay còn có người nào tin tất cả những điều trong đó thì gõ vào đầu họ ta sẽ nghe được một tiếng vang lớn.

 

Thực chất của bí tích truyền chức linh mục ra sao? Không ai biết rõ hơn linh mục Joseph McCabe, một người đã hành nghề linh mục hơn 20 năm, khi ông viết:

 

“Bí tích”, lẽ dĩ nhiên, chỉ là một phần của hệ thống nâng cao giới linh mục, cho họ những lợi ích cá nhân to lớn trên đám tín đồ thông thường.

Nó đúng là như vậy trong bí tích “dòng thánh” hay là phong chức linh mục.. Nghi thức (truyền chức linh mục) chỉ là một tập hợp những hành động huyền bí với những lời cầu nguyện cổ lỗ có tính cách rối răm, mê hoặc và lạ lùng đối với khán giả bên ngoài. Người ta cho là nó có hiệu lực đến độ sau đó ông linh mục có thể có quyền ra lệnh cho quỷ đi đâu thì đi, tha tội, và biến mẩu bánh thành Chúa Ki-Tô. Đó là điều người láng giềng Công giáo của bạn tin thật như vậy. [12]

 

Tại sao một linh mục đã hành nghề trong nhiều năm lại có thể viết như vậy? Bởi vì ông ta là người có đầu óc, là người không thể bán rẻ lương tâm để truyền bá những điều chính mình không tin. Ông ta là một học giả rất nổi tiếng của Mỹ, đã nhận ra những điều hoang đường lừa dối đám tín đồ thấp kém trong các bí tích. Ông ta không còn tin vào hiệu lực của các bí tích, vì thật ra không có gì có thể dựa vào đó mà tin. Rõ ràng là những bí tích đã được bày đặt ra để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, và những quyền lực mà tín đồ Công giáo tin rằng nằm trong tay linh mục thật ra chỉ là những ngụy quyền tự tạo.

 

Cũng theo Linh mục Joseph McCabe thì 7 “bí tích” trong Công giáo là hệ thống tỉ mỉ nhất về ảo thuật mà xưa nay chưa hề có một tôn giáo văn minh nào phát minh ra được. Từ bí tích đầu cho đến bí tích cuối, chúng được thiết kế để tăng thêm quyền lực và uy tín của giới giáo sĩ.” [The most elaborate system of magic which any civilized religion ever invented. From first to last they are designed to enhance the power and prestige of the clergy.]

 

Thật vậy, tất cả chỉ là một mớ luận điệu thần học mê tín, huyễn hoặc, hoàn toàn không có một căn bản hay bằng chứng thuyết phục nào, của giáo hội phát minh ra và nhét vào đầu tín đồ từ khi còn nhỏ. Vì bị nhồi sọ từ nhỏ nên các tín đồ đặt tất cả những niềm tin của mình vào những lời có tính cách lừa dối của giới chăn chiên mà không hề nhận ra những sự vô lý và mâu thuẫn cùng cực trong những nghi thức lễ tiết được gọi là “bí tích” này.

 

Vì nắm trong tay quyền hành tuyệt đối đối với đám con chiên thấp kém ở dưới, nên trong lịch sử, giới linh mục đã gây tác hại nhiều cho nhân loại. Lẽ dĩ nhiên các tín đồ Công Giáo không hề biết đến những tác hại này, và vì được nhồi sọ từ nhỏ, họ luôn luôn tin tưởng Linh mục phải là người thay Chúa để dạy dỗ họ và cho họ lên thiên đường. Sau đây chúng ta hãy điểm qua vài nhận định và ngay cả những hành động để đối phó với giới linh mục để thấy rằng bản chất của tập đoàn linh mục là như thế nào..

 

Sự tác hại rõ rệt nhất của giới linh mục là ngay trong nước Pháp, được coi là Trưởng Nữ của Giáo hội Công giáo La Mã. Nếu không thì tại sao, trong cuộc Cách Mạng 1789, người dân Pháp đã chính thức đưa Lý Trí lên bàn thờ Chúa, đã tàn sát trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu và 47 Giám Mục, và đã dẹp mọi Trường Dòng, Trường Học Công Giáo, những Dòng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v.. [Xin đọc The Decline and Fall of The Roman Church của Linh mục Dòng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đã phục vụ trong Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII, trang 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries…”]

 

Và năm 1877, khi Giáo hội Công giáo vận động phục hồi quyền năng của giới Linh mục thì Thủ Tướng Pháp Léon Gambetta đã tuyên bố trong Hội Trường: “Giáo quyền Linh Mục: Đó là kẻ thù” [Le Cléricalisme: voilà l’ennemi!]. Ở Mễ Tây Cơ trước đây có luật cấm các Linh mục không được mặc áo chùng thâm ra đường và không được lập các trường học. Trong cuốn Freedom’s Foe – The Vatican, The Pioneer Press, London, Adrian Pigott, viết, trang 51: “Giáo sư đại học W. K. Clifford khuyến cáo: “Nếu có một bài học lịch sử nào cho chúng ta thì đó là – Hãy giữ con cái tránh xa ông Linh mục – nếu không hắn sẽ làm cho chúng thành những kẻ thù của Nhân Loại.” [If there is one lesson which History forces upon us, it is this – Keep your children away from the Priest – or he will make them the enemies of Mankind] và đưa ra vài nhận định về linh mục như sau, trang 52:

 

“Linh mục Công giáo La Mã chủ yếu là một điệp viên của Vatican, và bắt buộc phải chỉ đạo đàn chiên theo lệnh mà hắn ta nhận được từ những cố vấn chính trị của giáo hoàng. Hắn ta là cảnh sát của giáo hoàng – và cũng là người thu thuế của giáo hoàng…

Thật là sai lầm đối với chúng ta khi qui trách quá đáng cho chính các linh mục, vì nhiều người trong họ là những người đáng kính mà có thể trong thâm tâm không thích phải thi hành nhiều hoạt động mà Vatican ra lệnh. [Theo lệnh của Vatican, giới giáo sĩ ở Đức, Ý và Pháp phải đứng ra ca tụng Hitler, Mussolinilinh và Pétain (Pháp gian). Hông Y Tổng Giám Mục ở Florence (Ý) còn hôn Mussolini trước quần chúng.] Nhưng kỷ luật sắt có thừa của Công giáo đến độ ảnh hưởng của linh mục Công giáo La Mã trên đàn chiên thường đưa đến cảnh khốn khổ “kẻ mù dẫn dắt người mù”. Là người Anh, người Mỹ, Peru, Ba Lan hay Cuba, [Việt Nam nữa chứ] giám mục và linh mục Công giáo đã hoàn toàn lệ thuộc Vatican để thi hành những huấn thị của những người ở trong cái Phòng Kín ở La Mã – ngay cả khi những lệnh đó có hại cho chính quốc gia của họ hay xúc phạm đến lý trí của họ. [Phát biểu của Giám mục Nguyễn Chí Linh cho chúng ta thấy đúng như vậy]. Nói cách khác, họ như là nô lệ trong hệ thống chính trị của Vatican. Không lạ gì, Công Giáo La Mã thành công nhất ở trong những nước thuộc Châu Mỹ La-Tinh, nơi đây người dân cả tin và mê tín; trong khi ở những nước miền Bắc, dân chúng có đầu óc độc lập, Công giáo chỉ là thiểu số.” [13]

 

Những điều Adrian Pigott viết ở trên không phải là không có cơ sở nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu xa về Công giáo. Một trí thức Công giáo đạo gốc Việt Nam, Charlie Nguyễn, đã từng viết:

 

Bảy triệu tín đồ Công giáo tại quốc nội là đạo quân thứ năm bản địa dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng này do Vatican tuyển chọn và phong chức nên. Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay gồm toàn những cán bộ tuyệt đối trung thành với Vatican. Họ sẵn sàng phản bội tổ quốc Việt Nam vì tổ quốc thật của họ là “nước Chúa Vatican”!.

Như trên đã nói, giới linh mục dựa vào quyền năng thần thánh tự tạo của mình để làm phép quỷ thuật trong 6 bí tích của Công giáo, khai thác đầu óc yếu kém của tín đồ, và từ đó nắm giữ đầu óc tín đồ, chỉ đạo họ đi theo con đường “quên mình trong vâng phục” Vatican. Giáo hội Công giáo đã nhồi vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, rằng tất cả những gì giáo hội bày đặt ra và bắt tín đồ phải tin đều là thật, và đó là những “bí tích” hay “nhiệm tích”, nghĩa là những tích bí mật và màu nhiệm do Chúa đặt ra, cho nên tín đồ chỉ việc tin, không cần hiểu, dù rằng, hầu hết những tín lý và bí tích trong Công Giáo không có căn bản trong Thánh Kinh, và nhất là Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề, ngay khi một số đệ tử của ông còn sống, như được viết rõ trong Tân Ước, cho nên chuyện Giê-su bày đặt ra những bí tích chỉ là chuyện tiếu lâm thời đại..

 

Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang thì những cái gọi là “bí tích” hay “tín lý” (dogma) đó được tín đồ tin theo, không bàn cãi. Nhưng tiến hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho nên, với trình độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù quáng, vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. vào những “bí tích” trong Công Giáo không còn chỗ đứng nữa, ít ra là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội. Trong những xã hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm sút một cách rõ rệt. Điều này chứng tỏ những “bí tích” không còn hấp dẫn đối với những tín đồ có trình độ hiểu biết cao. Hiện tượng nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể phủ nhận. Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam cũng như trong những cộng đồng đông đảo người Việt di cư, trình độ dân trí còn thấp, cho nên tín đồ Công giáo vẫn còn đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào những cái gọi là “bí tích” mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra, nhưng thực ra chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới chăn chiên trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ và ngay cả trong những ốc đảo Công giáo ở Việt Nam, con người đã bắt đầu thức tỉnh, song song với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này. Người Công giáo Việt Nam cần phải biết rõ nhiều hơn nữa về chính tôn giáo của mình để có thể thấy rằng, lệ thuộc Vatican, dù là về tâm linh là chuyện phi lý, không có cơ sở trong Thánh Kinh, khoan kể như vậy là tự đặt mình ra khỏi cộng đồng dân tộc, vì Vatican, như một quốc gia, là một ngoại bang, và như một tôn giáo, đã có một lịch sử đẫm máu hàng triệu người vô tội và một lịch sử không mấy tốt đẹp khi truyền vào Việt Nam, biến các tín đồ Công giáo Việt Nam thành tập đoàn những kẻ phản bội quốc gia, và gây nên sự bất hòa giữa Lương và Giáo mà theo Linh Mục Lương Kim Định, xem ra không sao xóa sạch được. Ngày nay, người Công giáo Việt Nam có khuynh hướng trở về với Dân Tộc, ít nhất là theo sự tuyên truyền của Giáo hội Công giáo, nhưng nếu còn lệ thuộc Vatican, thì con đường này khó có thể thực hiện với thành tâm. Đây là một vấn nạn mà người Công giáo Việt Nam nên để tâm suy nghĩ kỹ.

 

Có cái gì có thể hoang đường và lố bịch hơn là một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời?? Nhưng trong thời Trung Cổ ở Âu Châu, thời đại của đức tin (The ages of faith), tuyệt đại đa số người dân thuộc lớp người ít học hoặc vô học, mù chữ, cho nên những luận điệu thần học hoang đường, lố bịch như vậy không thành vấn đề đối với họ, vì giáo hội hứa hẹn với họ một chỗ trên thiên đường, do đó họ có thể tin bất cứ điều gì. Nhưng bất hạnh thay, ngày nay có vẻ như vẫn còn có nhiều người, hầu hết ở trong những ốc đảo dân trí thấp kém nhất trong xã hội ở một số nước nghèo, nhỏ, kém phát triển, thực sự tin như vậy, và chẳng cần nói chúng ta cũng biết họ thuộc lớp người nào. Chắc quý độc giả không tin vì vượt ngoài sự tưởng tượng của con người trong thời đại ngày nay. Không hẳn vậy, một thí dụ điển hình là ở Việt Nam: trong một thư của 12 môn đồ của linh mục Nguyễn Hữu Trọng đệ lên Giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm Đình Tụng năm 1998, có nói đến một số vấn nạn trong nội bộ Công giáo Việt Nam trong đó chúng ta có thể đọc được đoạn điển hình sau đây:

 

“Các Giám Mục, Linh Mục của chúng ta thường làm ngược lời Chúa, tranh thủ quyền lực, tiền tài, cấu kết với các thế lực để mở mang nước Chúa, nên đã sa vào con đường sắc dục một cách bệnh hoạn, quấy rối tình dục bừa bãi, trẻ không tha, già không thương, làm cho Linh Mục sao nhãng việc truyền giáo và ham mê việc truyền giống.… Giáo phận Saigon có một số giáo xứ nổi tiếng về truyền thống có các linh mục truyền giống như Xóm Chiếu, Thị Nghè, Vườn Xoài, Tân Định… Hội đồng giáo xứ Tân Định biết rõ các LM bê bối của mình, nhưng không dám làm gì cả, sợ mang tiếng.

Các cha đẹp trai, “cơm Đức Chúa Trời ngon, con Đức Chúa Trời đẹp”, lắm tiền, nhiều quyền, no cơm ấm cật, không ai kiểm soát được…“tối làm tình sáng làm lễ”; “Khi Giáo dân trình lên Bề trên những yếu đuối của các Linh Mục thì thường được dạy bảo rằng: các con đừng nói hành các cha kẻo mắc tội với Chúa, đừng xét đoán các cha kẻo bị Chúa phán xét.” Nghe dạy như thế, nhiều giáo dân sợ hãi vô cùng, phải nhắm mắt làm ngơ trước những đồi bại của các Linh Mục ma giáo, khéo che đậy và nịnh bợ các Đấng Bề trên!”.

 

Đây là một tài liệu quý giá xuất phát từ nội bộ Công Giáo Việt Nam, đã được đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tuyển Tập 2, trang 154-171, Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo phát hành, Texas, 1998. Các “bề trên” ở Việt Nam vẫn còn luôn luôn đưa Chúa ra làm con ngoáo ộp để đe dọa tín đồ, nhốt các tín đồ thấp kém vào trong khuôn phép, và cũng cho thấy trình độ của giáo dân ra sao mà không dám nói đụng đến các cha vì sợ mắc tội với Chúa, bị Chúa phán xét không cho lên thiên đường. Quả thật là tội nghiệp. Nhưng ngày nay, nếu mang sắc lệnh trên đọc cho dân Mỹ nghe thì họ sẽ cười bể bụng, vì nguyên trên đất Mỹ đã có trên 5000 Linh mục bị truy tố ra tòa vì tội loạn dâm, một số nằm bóc lịch trong tù, và giáo hội Công giáo đã phải bỏ ra hơn 2 tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các cha..

 

Tin trên VietCatholic News (Thứ Bảy 31/05/2008 06:46) cho biết:

VATICAN (Zenit.org).- Văn kiện 50 trang do Tòa ThánhVatican phát hành khẳng định Đức vâng lời trong đời sống tu sĩ là một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, nhắm trở nên ý thức về ý định tình yêu của Người…

Một thông cáo do bộ phổ biến tường thuật: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu. […] Đức vâng lời Kitô hữu và tu sĩ, như vậy, không xuất hiện đơn giản như sự thực hiện những luật và những quyết định giáo hội hay tu sĩ, nhưng như động lượng của một cuộc hành trình trong sự tìm kiếm Chúa, tức là nghe Lời Người và trở nên ý thức đối với quyết định của Người về tình yêu—sự kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, vì tình yêu, đã vâng lời cho tới chết trên thập giá.

Chúa đã chết cách đây gần 2000 năm rồi, với bờ môi khép kín. Những lời mà Giáo hội cho là “Lời Chúa” chẳng qua chỉ là những lời của Giáo hội đưa ra và bảo đó là “Lời Chúa”. Đoạn văn trên cho thấy Chúa chỉ là cái bung xung để Giáo hội nấp sau đó, tự tạo quyền lực cho giới chăn chiên trong hệ thống quyền lực của Giáo hội: Giáo dân phải vâng lời Linh mục, Linh mục phải vâng lời Giám mục, Giám mục phải vâng lời Tổng Giám mục , và cứ thế vâng lời lên đến Giáo hoàng là người chủ chăn tuyệt đối, không thể sai lầm.

Thực chất “Đức vâng lời” hay “Quên mình trong vâng phục” nằm trong sách lược nhồi sọ chủ yếu của giáo hội để nhốt tín đồ vào trong một ngục tù tâm linh, suốt đời làm nô lệ cho các bề trên. Chúng ta nhớ rằng, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Giáo Rô-ma đã được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập dòng Tên, như sau:

 

Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thì thực sự là đen, [hoặc thấy là đen thì thực sự là trắng, vì Giáo hội Ca-Tô đen ngòm nhưng vẫn tự nhận là trắng. TCN] nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như vậy.

[John Dollison, Pope-Pourri, p. 174: Ignatius of Loyola: We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides.]

Chúng ta cũng nên nhớ, Công Giáo Rô-ma không phải là một tôn giáo thuần túy về đạo lý và tâm linh, mà là một định chế độc tài và có rất nhiều hoạt động thế tục trong xã hội như chính trị, giáo dục, kinh tài v..v.., và “đức vâng lời” của tín đồ không chỉ áp dụng trong phạm vi tín ngưỡng mà còn trong mọi quyết định của giáo hội trong mọi lãnh vực trong xã hội. Vụ cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội vừa qua cho chúng ta thấy rõ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã sử dụng “đức vâng lời” huy động giáo dân, kể cả trẻ con, vác búa, kìm, và xà beng đi cầu nguyện và phá sập cổng sắt Tòa Khâm Sứ, với những hành động sặc mùi xách động chính trị chứ không phải là thuần túy tôn giáo. Đó là sự nguy hại của “đức vâng lời” trong Công Giáo. Cũng vì cái “đức vâng lời” này mà khi xưa giáo dân đã vâng lời các giáo sĩ ngoại quốc và linh mục bản địa đi phá hủy, cướp bóc chùa chiền, cùng giúp thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, như vụ Linh Mục Trần Lục được giám mục Puginier ban phúc lành để dẫn 5000 giáo dân cùng với quân đội Pháp triệt hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng.

Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của mình. Điều này rõ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican:

Bản tiếng Việt: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu”

Bản tiếng Anh: “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức tìm kiếm Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa

[Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as “a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]

Nhưng Chúa đã chết cách đây gần 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào thì Chúa có biết gì không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa? Vậy ai giám khẳng định là “ý Chúa” là như thế nào? Mặt khác, giáo lý Công Giáo dạy rằng Chúa có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. cũng chỉ là người thường như chúng ta, có khi còn tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ý Chúa là như thế nào. Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ý Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn bịp bợm, dùng Chúa để mê hoặc đám tín đồ dốt nát mà thôi, vì có ai biết ý Chúa là như thế nào.

Nhưng tại sao ngày nay mà Vatican lại phải kêu gọi giáo dân phải tuân phục “đức vâng lời”. Điều này rất dễ hiểu. Bởi vì ngày nay trong thế giới Âu Mỹ chẳng còn mấy người còn vâng lời Vatican nữa, ngoại trừ đám dân ngu dốt tình nguyện làm nô lệ cho Vatican vì một cái bánh vẽ trên trời. Suy thoái ở Âu Mỹ, giáo hội dùng Chúa để mê hoặc đám dân ngu dốt ở những nước kém mở mang ở Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đã từ lâu, trong thế giới Tây phương có cụm từ “Catholic Cafeteria”, có nghĩa là: Ca-tô giáo là một tôn giáo trong đó có những món ăn tự chọn, ai thích ăn món nào thì chọn món đó. Tín đồ không còn nhắm mắt “vâng lời” bề trên nữa, mà làm theo ý mình, coi những điều “giáo hội dạy rằng…” như là không có. Vài con số thống kê sau đây trên Internet cho chúng ta biết thực trạng của vấn nạn này.

1. Về các cuộc hôn phối trong Công Giáo. Giáo hội thường dạy hôn phối là một bí tích của Chúa thành lập nên một khi đã kết thành vợ chồng thì không thể ly dị trừ trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của Tòa Thánh. Thực tế ra sao?

Những cuộc hôn phối Công Giáo từ 1965 giảm đi 1/3.

Hàng năm số hủy bỏ hay vô hiệu hóa bí tích hôn phối tăng từ 338 năm 1968 tới 50,000 năm

2002.

[Catholic Marriage. Catholic marriages have fallen in number by one-third since 1965.
The annual number of annulments has soared from 338 in 1968 to 50,000 in 2002. ]

 

2. Giáo hội dạy rằng đi lễ nhà thờ là một tín điều, không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là một tội trọng nhưng thực tế chúng ta đã biết ở Âu Châu, có nơi số tín đồ đi xem lễ ngày chủ nhật chỉ là khoảng 2%. Riêng ở nước Mỹ thì chúng ta có vài con số thống kê sau đây.

 

Năm 1958 có 74% tín đồ Ca-tô đi xem lễ ngày chủ nhật.

Năm 1965 còn có 65%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Fordham

Năm 1994, con số này tụt xuống 27%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Notre Dame.

Năm 2000, con số đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là 25%, theo đại học Fordham.

 

[Attendance at Mass.

In 1958, a Gallup Poll reported that 74% of Catholics then attended church on Sundays.
In 1965, it seems that 65% attended, according to a recent Fordham University study.
In 1994, it seems that 27% attended church, according to study by the University of Notre

Dame.
In 2000, the rate was 25%, according to the Fordham study.]

3. Về các bí tích và các giáo luật của Công Giáo Rô-ma:

70% tín đồ Công Giáo trong lớp tuổi từ 18 đến 44 tin rằng “bí tích ban thánh thê”, nghĩa là ăn bánh thánh, là một biểu tượng để nhớ lại Giê-su mà thôi [chứ không phải là ăn thịt uống máu Chúa như giáo dân Việt Nam thường tin]

90% giáo sư thường dân dạy về tôn giáo bác bỏ giáo điều của Giáo hội dạy về ngừa thai.

53% tin rằng một tín đồ Công giáo có thể phá thai và vẫn là một tín đồ Công giáo ngoan đạo.

65% tin rằng người Công giáo có thể ly dị và tái hôn.

75% tin rằng một tín đồ Công giáo ngoan đạo không cần phải đi xem lễ ngày chủ nhật.

[Indicative beliefs

70% of all Catholics in the age group 18 to 44 believe the Eucharist is a “symbolic reminder” of Jesus.
90% of lay religious teachers reject church teaching on contraception.
53% believe a Catholic can have an abortion and remain a good Catholic.
65% believe that Catholics may divorce and remarry.
75% believe one can be a good Catholic without attending mass on Sundays. ]

 

Để bảo vệ quyền năng tuyệt đối của linh mục đối với giáo dân, Công Đồng Trent còn tuyên bố: Ngay cả đối với những linh mục đang sống trong tội lỗi nghiêm trọng [mortal sins là những tội trọng mà sau khi chết linh hồn sẽ bị đọa đầy xuống hỏa ngục vĩnh hằng, theo giáo lý Công giáo], cũng vẫn có cùng nhiệm vụ tha tội như là các giáo sĩ của Chúa Ki-Tô.” (Even those priests who are living in mortal sin exercice the same function of forgiving sins as ministers of Christ.) Vì thế cho nên tới ngày nay, đặc biệt trên đất Mỹ, vẫn có những linh mục tối loạn dâm, ngày tha tội, hay theo tình hình ở Việt Nam ở trên, “tối làm tình sáng làm lễ”, và lẽ dĩ nhiên, vẫn có quyền tha tội cho các con chiên.

 

Qua những sắc lệnh và chính sách mê hoặc nhồi sọ của Giáo hội về một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, Giáo hội Công Giáo đã thành công dựng lên chức vụ linh mục như là một nhà độc tài trong cái gọi là “hội thánh”, ngự trị trên đám giáo dân thấp kém. Sự thành công này thực hiện được là nhờ giới linh mục đã cấy vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ những giáo lý phi thực tế như “Cha cũng như Chúa”, “Cha có quyền tha tội”, “Cha giữ chìa khóa thiên đường”, “Đụng đến Cha là bị Chúa phạt”, “hỏa ngục” v..v.. Thực tế cho cho chúng ta thấy rằng trong những ốc đảo Công Giáo dân trí còn thấp kém, giáo dân đã được đưa vào khuôn đúc phải hoàn toàn tuân phục ông linh mục. Linh mục kiểm soát và quyết định mọi việc cho giáo dân, từ việc đi lễ nhà thờ, học trường học nào, lập gia đình ra sao, nuôi nấng con cái như thế nào, đọc cái gì, và nếu tham dự chính trị thì phải theo sự chỉ đạo của linh mục. Tất cả những điều này đều liên hệ đến “bí tích” xưng tội, vì với “bí tích” này linh mục có thể biết rõ về nội tâm, những khao khát của tín đồ và gia đình họ. Thật vậy, một tín đồ Công giáo tỉnh ngộ, John Carrara, đã viết trong cuốn Romanism Under The Searchlight, trang 70, như sau:

 

Phòng xưng tội là là một hệ thống gián điệp – một hệ thống về chế độ nô lệ. Linh mục là một gián điệp trong mọi nhà. Nhiều tín đồ Công giáo bị “sốc” vì những câu hỏi đặt cho họ. Chúng ta hiểu ngay tại sao hầu hết các tín đồ Công giáo đều nhút nhát, sợ ông linh mục và tuyệt đối tuân phục những ý muốn của ông ta vì họ biết rằng, qua phòng xưng tội, ông linh mục đã nắm chắc những thói quen và đời sống của họ mà không có ai khác biết được.[14]

 

Nói tóm lại, với vai trò linh mục được giáo hội dựng lên, ảnh hưởng của linh mục trên giáo dân thật là to lớn, và những giáo dân thấp kém không có khả năng trí thức để đặt nghi vấn, đừng nói đến thay đổi. Ảnh hưởng này đặt nặng trên bờ vai của giáo dân từ ngày sinh cho đến ngày chết.

 

Một nữ nhân Công Giáo ở miền Nam Ái Nhĩ Lan (miền Công giáo) tỉnh ngộ đã viết:

 

“Những người nào chưa từng bị ở dưới cái ảnh hưởng này, mà từ nhỏ đã được cho phép tự do ngôn luận, tự do tri thức, và không thấy sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân, thì không thể, không bao giờ có thể hiểu được ảnh hưởng của các linh mục Công giáo La mã trên những giáo dân trong quốc gia của họ.” [15]

 

Đúng vậy, nếu không có loại ảnh hưởng này, thì ở Việt Nam, năm 1954, Lansdale không thể thành công kéo 700000 giáo dân Công Giáo miền Bắc đi theo Chúa và Đức Mẹ chạy trước, cha con kéo nhau chạy sau, di cư vào Nam để tránh Cộng Sản, và ở trong Nam, không thể có cảnh giáo dân Hố Nai, Gia Kiệm vác gậy gộc đi theo linh mục Hoàng Quỳnh làm loạn ở Saigon, hô to khẩu hiệu: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”.

 

Nhìn vào hệ thống quyền lực của Công Giáo, chúng ta không thấy Chúa Giê-su ở đâu. Ông ta bị đưa vào hậu trường, lẩn khuất đâu đó đàng sau ông linh mục, đàng sau Đức Mẹ, và đàng sau giáo hội. “Cha tha tội cho con” chứ không phải là “Chúa tha tội cho con”. Cha cho con ăn bánh thánh để hiệp thông với Chúa chứ con không thể đến thẳng với Chúa. Con muốn lên thiên đường thì cầu với Đức Mẹ chứ không cầu với Chúa, và tất nhiên phải qua ngả Vatican, vì thánh Phê-rô còn ngồi yên vị, nắm chắc trong tay cái chìa khóa thiên đường đen sì, ở trong thánh đường Phê-rô, Vatican.

 

Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng, sở dĩ Giáo hội Công giáo có thể làm tất cả những tội ác, các linh mục và cả nữ tu có thể loạn dâm đến mức độ như vậy, là vì tín đồ Công giáo bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời, một sản phẩm lừa dối của Giáo hội trước đám con chiên thấp kém, cả tin, cho nên mù quáng tuân hành “đức vâng lời” của Công giáo. Nhưng ngày nay, vấn nạn linh mục, và cả giám mục, loạn dâm đã nổ ra như bom trên khắp thế giới. Tín đồ trong thế giới Tây phương không còn mù quáng tin theo và vâng phục một Giáo hội mà họ cảm thấy ngượng ngùng và xấu hổ trước những chuyện đồi bại của giới chăn chiên mà từ trước tới nay họ thường coi như là những “Chúa thứ hai”. Công giáo đã phá sản, hiện nguyên hình là một tổ chức thế tục đồi bại nấp sau bộ mặt tôn giáo. Mặt mũi giáo hoàng và uy tín của Giáo hội đã nhem nhuốc trước thế giới. Người dân Tây phương đã nhận ra bộ mặt thật của Công giáo, đưa đến tình trạng suy thoái thê thảm của Công giáo trong phương trời Âu Mỹ. Than ôi! Biết đến bao giờ các tín đồ Công giáo Việt Nam mới có thể theo kịp người dân Tây phương để mà thoát xác con chiên, trở lại làm con người đúng nghĩa của con người, và can đảm từ bỏ hi vọng, thật ra chỉ là một ảo vọng, về một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời.

 

 

Tôi thành thực ước mong người Công Giáo cũng như Tin Lành Việt Nam hãy nhận thức được những sự thật bất khả phủ bác như sau:

1. Đọc Tân ước, chúng ta thấy Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề và hoang tưởng rằng ông ta sẽ trở lại trần trong vinh quang và trong một tương lai rất gần, ngay khi một số người theo ông ta vẫn còn sống. Do đó, Giê-su không hề có ý thành lập một giáo hội để truyền đạo của ông ta như Giáo hội Công giáo thường ngụy nhận như vậy. Đây là điểm đồng thuận của các học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo. Điều này cho thấy tất cả những giáo hội như Công giáo và Tin lành đều là các ngụy giáo hội, và các giáo hoàng của Công giáo chỉ là ngụy giáo hoàng, vai trò “đại diện của Chúa” (Vicard of Christ) chẳng qua chỉ là vai trò tự nhận để lừa dối đầu óc của những người đầu óc yếu kém, cả tin, và tất nhiên không thể có quyền thay Chúa để cho con chiên lên thiên đường, vì chính Chúa cũng không có khả năng như vậy.

2. Chương trình “cứu rỗi” của Giê-su, do sự hoang tưởng của Giê-su, chỉ để cứu người Do Thái, tuyệt đối không để cứu người Việt mà chắc chắn vào thời cách đây 2000 năm, Giê-su cũng như phần lớn các dân tộc trên hoàn cầu không hề biết người dân Việt là ai. Cho nên thực chất công cuộc cứu chuộc và cứu rỗi của Giê-su mà Giáo hội hứa hẹn với tín đồ chỉ là một cái bánh vẽ trên trời.

3. Một Thượng đế như được viết rõ trong Thánh Kinh với những thuộc tính như: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường thì có đáng để cho con người kính trọng và thờ phụng không? Cho nên con người không cần phải sợ hãi và hi vọng ở một sự tha tội của một Thượng đế ác ôn như vậy mà bản chất còn tàn bạo và độc ác hơn con người nhiều?

4. Những gì Giáo hội nói về ơn cứu rỗi của Giê-su cũng như vai trò “đồng công cứu chuộc” của Maria, mẹ của ông ta, chỉ là những luận điệu thần học ngụy tạo không hề có một căn bản nào trong Kinh Thánh và không thể có giá trị gì đối với những người không phải là dân Do Thái. Nếu chúng ta cứ tự giam mình trong sự lừa dối thần học của của Ki Tô Giáo thì thật ra chúng ta chỉ sống trong một niềm hi vọng hão huyền, không bao giờ có thể thành tựu

5. Các bậc lãnh đạo trong Công Giáo, từ Giáo hoàng trở xuống tới các Linh mục, đã từ bỏ niềm tin về “tội tổ tông” và về “thiên đường” và “hỏa ngục”, còn chúng ta thì sao, vẫn còn tin vào những bí tích bịp bợm như “rửa tội”, “xưng tội” và hi vọng vào một cuộc sống đời đời ở trên một thiên đường giả tưởng?

Người Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, có quyền không tin những gì tôi viết ở trên, những điều bất khả phủ bác, và tiếp tục tin vào cái huyền thoại “cứu rỗi” của Giê-su, một huyền thoại cổ xưa của người Do Thái được tóm tắt như sau theo nhận định của một người trên Internet:

Có một huyền thoại cổ lỗ sĩ về một Thiên Chúa làm tình với người mẹ trên thế gian của hắn để đẻ ra chính hắn [theo thuyết Ba Ngôi Thiên Chúa] để rồi lớn lên thì bị giết [nhưng không hẳn vậy], và sự hi sinh chẳng có giá trị gì đó bằng cách nào lại có nghĩa là mọi người khi chết sẽ lên thiên đường, nghĩa là, nếu họ tin vậy; bằng không thì họ sẽ phải xuống hỏa ngục và chịu khổ vĩnh viễn. [16]

Những đây chính lại là vấn nạn của một đức tin mù quáng.

 

Trần Chung Ngọc

 

Chú thích:


[12] Joseph McCabe, The Truth About The Catholic Church, p.70: The “sacrament” is, of course, merely a part of the system which raises a priestly caste, to their great advantage, above the common crowd. So it is with the sacrament of “holy orders” or the ordination of the clergy. The ritual is a maze, a stupendous collection of archaic prayers and mysic actions, to the onlooker. It is supposed to be so potent that henceforward the priest can order devils about, forgive sins, and turn bread into Christ. This your Catholic neighbor literally believes.

[13] The Romanist priest is primarily a Vatican agent, and is compelled to direct his flock in accordance with the commands which he receives from the Pope’s political advisers. He is the pope’s policeman – and also his tax collector as well…

It would be wrong of us to blame unduly the priests themselves, because many of them are worthy men who probably (in their heart of hearts), dislike having to carry out many of the actions which the Vatican ordains. [Under Vatican orders, the clergy in Germany, Italy and France had to come out with fulsome praises of Hitler, Mussolini and Pétain. The Cardinal Archbishop of Florence even kissed Mussolini in public] But the iron discipline abounding is such that the impact of the Romanist priest on his flock often amounts to the distressing one of “the blind leading the blind”. Whether he is English, American, Peruvian, Polish or Cuban, the Romanist bishop or priest has servilely to carry out orders which he receives from the Back Room Boys in Rome – even when the orders are detrimental to the interests of his own country or if they offend his own powers of Reason. In other words, he is a sort of slave in the Vatican political network. It is small wonder that Roman Catholicism flourishes chiefly in Latin countries with their credulous, superstitious people; while in northern countries, whose people are independently-minded, it is in a minority.

[14] Loraine Boettner, Ibid., p. 214: The confessional is a system of espionage – a system of slavery. The priest is the spy in every home. Many Catholics are shocked by the character of the question put to them…One can readily understand why most Catholics are timid and afraid of the priest and are obedient to the letter of his wishes because they know that through the confessional the priest has secured a knowledge of their habits and life that no one else knows anything about.

[15] Margaret Shepherd from South Ireland, My Life in the Convent, p. 46: You who have never been under this influence, who have from childhood been allowed freedom of speech, liberty of conscience, and who see no distinction between your clergy and laity, you cannot, you never will understand the influence that RC priests have over the laity of their own nationality

[16] There is this old myth about a god who has sex with his human mother to give birth to himself, who grows up to be killed (but not really), and this depreciated sacrifice somehow means everyone else gets to go to heaven when they die. If they believe it, that is; otherwise they go to hell and suffer for eternity.

http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN97_2.php

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Chín 26, 2011 in Uncategorized

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: