RSS

PHÂN TÍCH CÁC PHONG TRÀO VĂN NGHỆ TRANH ĐẤU TẠI MIỀN NAM TỪ 1965 ĐẾN 1969: PHONG TRÀO DÂN CA

02 Dec

PHONG TRÀO DÂN CA

Lê Trương
Năm 1966 dân ca bộc phát thành một phong trào. Bỗng nhiên giới thanh niên đô thị hướng về dân ca, sưu tầm dân ca, đem dân ca vào tập thể như đem một luồng gió mới. Tất cả những buổi văn nghệ cũng như những sinh hoạt khác đều có dân ca. Ai không biết một câu quan họ Bắc Ninh hay một điệu lý miền Nam là có thể bị chê ngay là xa cách đời sống dân tộc, không biết gì về dân tộc.
Trong những bài dân ca thịnh hành, chúng ta có thể kể đến: Lý ngựa ô, Lý con sáo, Xe chỉ luồn kim, Hát hội trăng rằm, Cây trúc xinh, Qua cầu gió bay v.v…Thanh niên đô thị đua nhau hát những bài đó, tiếng ca của họ là tiếng ca Việt Nam thuần tuý, không thể nhầm lẫn với nhạc Pháp, nhạc Mỹ hay nhạc Việt lai căng. Ngoài dân ca, còn có dân nhạc và dân vũ. Họ rất thích thú và hãnh diện khi được nghe dân nhạc Việt Nam, điển hình là buổi trình diễn dân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba tại trường Đại học Khoa học.

Phong trào học đàn Đông phương phát triển mạnh mẽ: phái nữ chơi đàn Tranh, đàn Tỳ bà càng ngày càng nhiều, cây Độc huyền cầm (Đàn Bầu) của Việt Nam được đề cao. Dân vũ xuất hiện rất nhiều trong sinh hoạt văn nghệ, điển hình là những màn vũ Lúa thơm đồng xanh diễn tả sinh hoạt cấy cày của nông thôn Việt Nam,màn Tiếng trống hào hùng diễn tả hình ảnh Việt Nam vùng dậy chống xâm lăng. Dân ca, dân vũ, dân nhạc trở thành một loại văn nghệ thời trang quyến rủ.

Phong trào Dân ca đã lớn lên rất mạnh, mang nhiều ý nghĩa đặc biệt. Muốn giải thích sự hiện diện của phong trào này, chúng ta cần phải dựa trên những yếu tố lịch sử xảy ra hồi bấy giờ. Chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng đời sống tại các đô thị hoàn toàn bị xáo trộn kể từ khi quân đội ngoại quốc hiện diện trên đất nước ta, trong đó có sự xáo trộn về sinh hoạt văn nghệ. Nhiều sản phẩm lai căng được đẻ ra khiến cho những người có ý thức dân tộc thấy khó chịu đến khổ sở. Họ nhìn đó là những đứa con hoang, con lai phản ảnh một tình trạng mất gốc nô lệ. Họ phản ứng lại bằng cách dùng văn nghệ thuần tuý Việt Nam. Thứ vũ khí sẵn có của dân tộc có thể đem ra dùng ngay được trong hoàn cảnh này chính là Dân ca. Đó là lý do của sự có mặt của phong trào Dân ca.

Trong khi tay họ chưa có cái gì để chống đỡ thì Dân ca cổ điển vẫn là một thứ vũ khí cần thiết, quá cần thiết. Thực sự những bài dân ca mà quần chúng đô thị hát không liên quan gì đến đời sống hiện tại của họ, không phải là hơi thở của con người trong không gian, thời gian này. Các bài Lý con sáo, Lý ngựa ô, Hát hội trăng rầm, Qua cầu gió bay, Mẹ Việt Nam…chỉ phản ảnh sinh hoạt của dân Việt trong một hoàn cảnh đã qua. Chúng thành những câu chuyện đời xưa, rất xưa nói về tình yêu trai gái trên một cổ xe ngựa hay trên một dòng sông nhỏ chảy qua làng hay bên chiếc cầu tre, trong một buổi hội hè, hay nói về những bà mẹ Việt Nam lam lủ một đời sau lũy tre xanh. Đó dĩ nhiên là một loại nhạc dân tộc, nhưng chắc chắn không phải là dân tộc hiện tại.

(Lý con sáo):http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XnO7DqVuXp

(Lý ngựa ô): http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=4Zgx3PnTFf

(Hát hội trăng rằm): http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=VuHgzhocbM

(Qua cầu gió bay): http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=P67Z4finww

Những bài ca đó gắn liền với một xã hội đã qua, cách đây hàng chục năm, hàng trăm năm. Những bài ca này không có gì thay đổi, trong khi đó dân tộc đã thay đổi rất nhiều. Dân tộc ta đã chuyển mình đứng lên giải phóng khỏi chế độ phong kiến thực dân. Từ trong lũy tre xanh, trong hải cảng đóng kín, dân tộc đã vươn dài cánh tay cách mạng ra khắp năm châu. Do đó những nhân vật điển hình trong giai đoạn lịch sử này không thể là những nhân vật trong những bài dân ca cổ điển trên mà là những bà mẹ Việt Nam mới, những thiếu nữ mới, những thanh niên mới, những thiếu nhi mới, những lời ca tiếng hát mới. Tất cả đều mới để phù hợp với cuộc chiến tranh giành độc lập, tự do, gương mẫu là một dân tộc tiền phong giải thực. Loại dân ca cổ điển kia không phản ảnh được thực tại của quần chúng mà chỉ giúp quần chúng trong phản ứng đầu tiên nhằm đề kháng những ảnh hưởng văn hóa ngoại lai. Hết giai đoạn đó, quần chúng không dùng dân ca cổ điển nữa và bước vào giai đoạn văn nghệ mới, tức là phong trào Sử ca, Kháng chiến ca.
Điều đáng ghi nhận là sau khi quần chúng tiến bộ chấm dứt giai đoạn dân ca cổ điển để tiến tới một giai đoạn ca hát tranh đấu mới thì chính quyền Việt Mỹ lại tung ra chiêu bài dân tộc bằng loại dân ca trên nhằm đánh lạc hướng tranh đấu của thanh niên sinh viên. Họ lại nâng đỡ, khuyến khích việc “Về Nguồn” đáng được tôn trọng của người Việt bằng cách cổ võ loại dân ca: Cây trúc xinh, Xe chỉ luồn kim, Lý ngựa ô, Lý con sáo,…bằng cách phục hưng thời sĩ phu la cà trong những quán cô đầu để uống rượu, nghe Hát nói, Hát chèo, những chuyện Bích Câu kỳ ngộ, Trương Chi Mỵ nương v.v…

Người Mỹ đứng bên cạnh người Việt để hát dân ca, kháng chiến ca, làm như họ yêu mến tiếng hát dân tộc Việt Nam, họ cũng đồng tâm chống thực dân như dân tộc Việt Nam. Đó là hình ảnh của Phạm Duy và anh chàng Steve Addiss đã một thời khuấy loạn trước mắt quần chúng cách đây không lâu. Trong cuộc chiến tranh giải thực, chúng ta có một hình ảnh một bà mẹ tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam, đó là Bà mẹ Gio Linh:

Mẹ già cuốc đất trồng khoai,
Nuôi con đánh giặc đêm ngày,
Cho dù áo rách sờn vai,
Cơm ăn bát vơi bát đầy.
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=KsA_Of2n1Q

Trong cuộc chiến tranh hiện nay, hình ảnh bà mẹ Việt Nam tiêu biểu chắc chắn không phải là hình ảnh một bà mẹ trong một khúc ca âm hưởng dân ca như sau:

Đôi má tươi hồng, má tươi hồng, với bàn tay trắng,
Nhỏ người vai lẳn, vú căng tròn, tròn lưng ong,
Mẹ nằm phơi gió trăng.
Ôi! Mẹ Việt Nam!
Nghiêng mắt xanh, chải tóc mây ngàn,
Mẹ Việt Nam!
Bên bờ đại dương
Mẹ duỗi chân dài chờ mưa tuôn…
(Mẹ xinh đẹp trong Trường ca Mẹ Việt Nam)

Ngay cả tại Sài gòn cũng không thể có hình ảnh một bà mẹ Việt Nam “nằm phơi gió trăng, duỗi chân dài chờ mưa tuôn” như vậy trong lòng quần chúng được.

Có chăng là hình ảnh của Quách thị Trang:

Em ngã xuống rồi cho cuộc đấu tranh,
Em ngã xuống rồi khi tóc còn xanh.

Có chăng là hình ảnh của Nhất Chi Mai:

Lửa bốc lên cao mắt người cháy đỏ,
Lửa tràn bốn phía co quắp chân tay?:
Phan thị Mai?! Phan thị Mai?!
Cả tấm hình hài.

Phân tách như vậy chúng ta có dịp thấy thế nào là một bài ca dân tộc, thế nào là một bài ca rất có vẻ dân tộc, từ âm thanh đến nội dung, nhưng trong một hoàn cảnh nào đấy thì chỉ là một thứ chất độc nguy hại cho dân tộc. Chúng ta lại có dịp thấy thêm rằng việc khảo cứu, sưu tầm dân ca là công việc của người nghiên cứu văn hóa, tìm những mạch sống của dân tộc để nuôi dưỡng dân tộc mỗi khi cần đến. Trong khi đó, việc phục sinh một giai đoạn dân ca nào đây là việc của người làm chính trị. Sự xuất hiện của nó phản ảnh một đường lối chính trị, do đó chúng ta có thể lấy nó để hiểu được đường lối chính trị, hay ngược lại lấy chính trị để giải thích sự hiện diện của nó. Như vậy chúng ta thấu hiểu một cách dễ dàng tại sao chính quyền Việt Mỹ nâng đở loại dân ca lỗi thời trên và tại sao quần chúng đi vào phong trào Sử Ca, Kháng Chiến Ca.

PHONG TRÀO SỬ CA, KHÁNG CHIẾN CA

Lê Trương
Trong một giai đoạn mà người ta không được nói thẳng cái cảm nghĩ hay thái độ của mình thì họ tìm cách nói gián tiếp, nhưng khi nghe thì ai cũng hiểu được ý muốn của họ. Đó là lý do xuất hiện của Phong trào Sử Ca, Kháng Chiến Ca.
Những bài sử ca như Khúc khải hoàn, Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang, Thăng Long hành khúc, Gò Đống Đa v.v… là những bài gián tiếp chống thực dân trước đây. Đó là những bài dành cho quần chúng đô thị trong cuộc tranh đấu khéo léo, tế nhị. Những bài Kháng chiến ca như Lên đàng, Du kích sông Thao, Tiếng hát sông Lô, An phú đông, Nhạc tuổi xanh, Đường về quê v.v…là những bài dành cho cuộc tranh đấu trực tiếp chống lại thực dân Pháp vừa qua. Cả hai loại nhạc này nay lại được sinh viên học sinh Sài gòn phục sinh thành một phong trào khá rầm rộ nhằm tạo một cuộc tranh đấu gián tiếp tại các đô thị. Chúng tôi gọi đó là phong trào Sử ca, Kháng chiến ca.

http://media.tuoitre.vn/Album.aspx?AlbumID=775

1. Đặc tính thứ nhất của phong trào là làm sống lại những trang sử oai hùng.
Giữa lúc chiến tranh khốc liệt và dai dẳng có thể làm cho nhiều người bi quan, tuyệt vọng về tương lai của đất nước thì vẫn còn rất nhiều người vẫn tin tưởng vào lịch sử, vào sức mạnh của dân tộc. Sử ca có tác dụng làm cho niềm tin trên vững vàng hơn. Niềm tin càng vững, tiếng hát lại càng mạnh với kẻ đã cố gắng dùng Sử ca để thổi một luồng gió dân tộc anh hùng vào các đô thị. Những bài ca này được kết lại thành những nhạc cảnh nên lại trở thành mới mẻ, lôi cuốn người thưởng thức.

Đại nhạc cảnh Việt Nam Gấm Vóc kể lại một huyền thoại hình thành giang sơn Việt Nam: Người Việt không muốn bị tiêu diệt nên đào đất đắp lên trụ đồng của Mã Viện; đất đào đi còn lại sông hồ, đất đắp nên thành núi, thành gò. Những bài Sử ca được dùng trong nhạc cảnh này là: Giòng sông Hát, Hồ Lãng Bạc, Du kích sông Thao, Chiều Yên Thế, Bạch Đằng giang, Gò Đống Đa, Tiếng sông Hương, Tiếng hát sông Lô, Cửu Long giang, Khúc Khải Hoàn.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=xLvnkPZaHr (Bạch Đằng giang)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=eDdgYoyvk0 (Du kích sông Thao)

Đại nhạc cảnh Xuân Việt Nam vẽ lại hai mùa xuân dân tộc: một mùa xuân thanh bình có hội chùa hái hoa, trẩy lộc và một mùa xuân chinh chiến có cuộc tiến công đại phá hai mươi vạn quân Thanh. Những bài ca được sử dụng trong đại nhạc cảnh này là: Chùa Hương, Xuân và Tuổi trẻ, Thúc quân, Thăng Long hành khúc v.v…

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-6Ndb_a959 (Xuân và Tuổi trẻ)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=MJd9WmSXFv (Thúc quân)

Nhạc kịch Sơn Tinh, Thủy Tinh thể hiện ý chí vô cùng vĩ đại của dân tộc: nước càng lên cao, núi càng cao hơn nữa, cũng như không có một sức mạnh nào có thể phá vỡ được những con đê Việt Nam.

2. Đặc tính thứ hai của phong trào là ngợi ca, tán dương các cuộc chiến đấu chống chế độ thực dân.

Sinh khí Kháng chiến ca còn bàng bạc trong lòng mọi người, Kháng chiến ca còn là hơi thở của người Việt hôm nay. Hễ nhạc trỗi lên là máu trong người cuồn cuộn chảy. Đại nhạc cảnh Hoàng Hoa Thám thể hiện ý chí sắt đá của dân Việt không hề lùi bước trước quân sài lang. Đại vũ Lúa thơm đồng xanh diễn tả sinh hoạt nông thôn phục vụ chiến tranh giải thực:

Lúa của anh thơm trên đồng xanh,
Lúa người nghèo nuôi dân cả nước,
Lúa một trăm năm nuôi anh kháng chiến,
Lúa còn đời đời đuổi giặc xâm lăng.

Hoạt cảnh Bà mẹ Gio Linh thể hiện một bà mẹ Việt Nam điển hình trong cuộc chiến tranh giải thực.

3. Đặc tính thứ ba của phong trào là thức tỉnh trí thức đứng dậy cứu nước.

Không có một giới nào trong xã hội lại bị chê bai mạt sát bằng giới trí thức. Hễ đất nước lâm nguy là bởi sĩ phu sa lầy trong quyền lợi nhất thời của cá nhân, trong hèn nhát, trong yếu đuối. Thảm trạng đó được mô tả rất nhiều trong văn chương.

Với hiện tình đất nước, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều vở kịch xuất hiện để công kích hay để thức tỉnh trí thức. Vở kịch Tiếng trống Hà hồi mô tả tâm trạng ray rứt, dằn vặt của giới trí thức Bắc hà trong những ngày giặc Thanh xâm chiếm nước ta. Cho đến khi họ dứt bỏ được mọi ràng buộc của tư tưởng, của gia đình để ra đi cứu nước thì tiếng trống Tây Sơn đã nổi lên thúc quân đánh tan xâm lăng. Vở kịch Hàm Tử Quan mô tả tâm trạng sĩ phu Bắc hà trong thời đất nước bị giặc Minh xâm chiếm. Người thì vì quyền lợi riêng tư, viện đạo quần thần mà phù Trần diệt Hồ, người thì cho rằng nhà Trần vì chiếc ngai vàng mà cấu kết với quân Minh rước voi về giày mả tổ cho nên họ nhất định theo Hồ quý Ly chiến đấu chống xâm lăng. Nhưng mấy ai thoát được vòng danh lợi, chọn con đường gian khổ mà đi, do đó Hàm Tử Quan trở thành một vết nhục trong Việt sử.

Chúng tôi nhận thấy không những người ta dùng Sử ca, Kháng chiến ca trên sân khấu mà ngay trong những sinh hoạt khác như trong những công tác xã hội, Hội thảo, Xuống đường tranh đấu, Đêm không ngủ v.v…Tiếng hát sông Lô, Du kích sông Thao, Lên đàng, Khúc Khải hoàn, Nhạc Tuổi xanh, Thanh niên ca, Đường về quê, An phú đông v.v… là những bài kháng chiến ca trên môi những người trẻ hiện đang bất mãn chế độ.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=mTPAlnPV1R (Khúc Khải hoàn)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=urtIJS3aK_ (Nhạc Tuổi xanh)

Sử ca, Kháng chiến ca trở thành một phong trào phản ảnh cảm nghĩ của quần chúng trước tình trạng hiện tại của đất nước. Do đó phong trào hàm chứa một ý nghĩa chính trị bất lợi cho chính quyền Việt Mỹ lúc bấy giờ. Cũng vì vậy, những nhà chính trị này lại khua đũa phù thủy triệt hạ phong trào bằng cách cũng ca ngợi những trang sử oai hùng bằng Sử ca và ngợi ca kháng chiến giải thực bằng Kháng chiến ca. Bài ca nào không thể hát được thì họ thay lời đổi nghĩa, phá cho hư thối đi, làm cụt hứng người nghe cho dù nghe lại nguyên bản. Ví dụ ở bài Tình Nước, câu cuối Nằm kề nhau chờ giặc đến, Lòng súng nao nao, đã bị đổi thành Nằm kề nhau chờ trăng lên, Lòng thấy nao nao. Trong bài Bà mẹ Gio Linh, chữ TÂY trong câu hát Nhà thì Tây đốt còn đâu, đã bị đổi thành NÓ.

Nhưng một hậu quả của hành động chính trị trên là sự hình thành của một phong trào Tranh đấu ca, tức là những bài ca nhắm thẳng vào chế độ mà tấn công, chớ không còn nói úp mở bóng gió gì nữa hết. Quần chúng lại tiến lên một bước nữa trong cuộc tranh đấu và nhờ hiện tượng này, chúng ta càng hiểu rõ chủ tâm của phong trào Sử ca, Kháng chiến ca vậy.

PHONG TRÀO TRANH ĐẤU CA

Lê Trương
Đêm 27.9.1968 là đêm hội thảo của Sinh viên Học sinh Sài gòn về chiến tranh Việt Nam. Trụ sở Sinh viên Sài gòn trở nên rộn rịp lạ thường. Họ tập trung đông đảo quanh ngọn lửa hồng. Lửa rực sáng và những người con yêu dân tộc bắt đầu thay phiên nhau bằng giọng nói đanh thép, hùng hồn tấn công những âm mưu chiến tranh diệt chủng và cơ cấu thối nát của chế độ. Những khẩu hiệu được bung ra trong những cánh tay rắn chắt. Sau đó tiếng hát trổi dậy. Họ hát Sử ca, Kháng chiến ca.
Nhưng cũng vào đêm hôm đó, một bài ca mới xuất hiện, một bài ca rất nhẹ nhàng nhưng nghe lại vô cùng chua chát, một bài ca làm rung động dư luận trong và ngoài nước với những lời như sau:

Ôi, những viên đạn đồng, thật tươi thật đỏ hồng,
Các nước bạn đồng minh tặng cho dân Việt mình.
Dân Việt cần cơm áo, bạn đồng minh hiếu thảo,
Tăng viện trợ thật cao, những viên đạn đỏ hồng.
Ôi, nhân danh Hoà Bình, ta, nước bạn đồng minh,
Xin ủng hộ hai miền những viên đạn văn minh.
(Viên đạn đồng – Miên Đức Thắng)

 Link: 
http://cafevannghe.wordpress.com/2010/01/29/ca-nh%E1%BA%A1c-si-mien-d%E1%BB%A9c-th%E1%BA%AFng/

Cũng trong đêm hôm đó, một bài ca mới khác nữa xuất hiện, một bài ca hát nghe xôn xao rộn ràng trong lòng người như ta đã từng nghe những ca khúc Lên đàng, An Phú Đông, một bài ca vừa mang sức sống của dân tộc hôm nay, vừa âm hưởng nhạc cách mạng giải thực:
Ngày nao loa vang, dân xóm thôn cũng vừa lên đường,
Đời không yên vui nên rừng hoang cũng quen người rồi.
(Hát cho dân tôi nghe – Tôn Thất Lập)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dQVZcF8A55

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=RgmQaaseOc

Chúng tôi muốn lấy đêm hội thảo đó làm đêm khởi đầu cho phong trào Tranh đấu ca của thanh niên, sinh viên, học sinh Sài gòn. Chúng tôi cũng muốn chứng minh là kể từ năm 1968 có một nền văn nghệ tranh đấu mang sắc thái đặc biệt do quần chúng đô thị dựng lên, đóng góp xứng đáng vào gia tài văn nghệ cách mạng của dân tộc ta.

Phong trào Tranh đấu ca có những đặc tính sau:

1. Đặc tính thứ nhất là chống chiến tranh do ngoại bang gây ra.
Thực chất của cuộc chiến tranh Việt Nam dần dần được mọi người thấy rõ. Việt Nam chỉ là một trận đại chiến thu hẹp lại. Người ta đã nhân danh cho Việt Nam đủ điều, nhưng thật sự Việt Nam chỉ là một chiến trường tiêu thụ võ khí và giải quyết những tranh chấp tư tưởng, chủ nghĩa của các đại cường quốc. Kết quả của cuộc chiến tranh phi lý này là hàng triệu người đã chết một cách vô cùng oan uổng:

Con biết không con, hơn triệu người đã chết vì ai?
Xác của ai nằm ven ruộng lúa,
Xác của ai nằm trong rừng mía,
Xác của ai thịt rữa ròi bươi, nằm giữa đồi hoang, chim quạ từng đàn,
Xác của ai?
Xác của ai nằm trong vại nước,
Xác của ai nằm trong bụi mía,
Xác của ai nằm trong bụi trúc,
Xác của ai lòi hết ruột gan, nằm dưới trời sương, thân hình trần truồng,
Xác của ai?
Xác của ai nằm phơi ghềnh đá,
Xác của ai cong queo lạnh giá,
Xác của ai mà mất một chân, mà mất một tay mà cụt cả đầu,
Xác của ai?
Xác của ai nằm bên bụi dứa,
Xác của ai nằm phơi đồi núi,
Xác của ai mà cháy thành than, nằm giữa gạch vôi, không còn hình người,
Xác của ai?
**
Người biết hết hay không bao giờ muốn biết?
Nhân danh ai người đi giết người?
Nhân danh ai, nhân danh ai người đi giết người?
Người đã biết dân Việt Nam tôi
Bốn ngàn năm đấu tranh bền chí, từng dẫm nát quân thù xâm lăng,
Sao người vẫn cố quên hỡi người?

(Con đường trước mặt – Phạm Thế Mỹ)

Phong trào Da Vàng Ca mới chỉ mô tả thực trạng chiến tranh mà thôi, trong khi đó phong trào Tranh Đấu Ca tiến xa hơn một bước nữa. Họ nhìn thẳng vào mặt những thủ phạm chiến tranh, không than khóc mà anh dũng tố cáo?:

Ôi nhân danh hoà bình,

Ta, nước bạn đồng minh,

Xin ủng hộ hai miền

Những viên đạn văn minh.

2. Đặc tính thứ hai là kêu gọi anh em ngừng tay chém giết nhau.
Trong bài Phong trào Da Vàng Ca, chúng tôi có đề cập đến tâm trạng phủ nhận cảnh nồi da xáo thịt như sau?:

“?Giữa lúc những người Việt đang tham dự một cuộc chém giết nhau, gán cho nhau là tay sai của đế quốc này hay đế quốc nọ, thì chính trong thâm tâm họ, họ luôn luôn muốn phủ nhận cái cảnh nồi da xáo thịt đó. Họ đã từ bỏ con người của họ để mang những nhản hiệu cho mình, cho người anh em của mình để đánh nhau trên khắp các chiến trường. Thế nhưng, khi họ quên hết những nhản hiệu đó, khi họ xóa bỏ những chiếc mặt nạ mang cho nhau thì họ lại thấy gần gũi nhau, yêu thương nhau?:

Tôi có người yêu chết trận Plei-me,

Tôi có người yêu ở chiến khu D,

Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà nội,

Chết vội vàng dọc theo biên giới…

(Tình ca người mất trí – TCS)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=u4jpsbtMoM

Trịnh công Sơn & Khánh Ly 1966, Linkhttp://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_C%C3%B4ng_S%C6%A1n

Họ thấy những người chết trong cuộc chiến tranh khủng khiếp này là những người yêu, những người anh em của họ, cho dù những người này ở Plei-me, ở chiến khu D, ở ngoài Hà nội, ở Chu Prong, A Shau, hay bất cứ nơi nào trên giải đất Việt Nam thân yêu này…Tất cả là người yêu của họ. Yêu nhau là chấp nhận những đắng cay, ngọt bùi của nhau như câu ca dao?: “Gừng cay muối mặn, xin đừng bỏ nhau”. Làm sao có thể chấp nhận cái cảnh giết nhau, hận thù nhau được.?”

Nhưng đó mới chỉ là những rung cảm mơ hồ, chưa thể hiện một sức mạnh tranh đấu nào hết. Phong trào Tranh Đấu Ca muốn giải quyết thật sự vấn đề “nội chiến”. Nội chiến là một ảo tưởng, một chiêu bài của ngoại bang. Nếu ta rơi vào mê hồn trận của đấu tranh chủ nghĩa thì ảo tưởng nội chiến trở thành nội chiến thực sự. Anh em hãy ngưng tay lại kẻo lầm lẫn, sát hại nhau. Thay vì nói thẳng hãy ngừng tay thì những bài ca chua chát nói ngược lại?:

Ngủ đi con, ngủ đi con,
Rồi ngày mai khôn lớn,
Cầm súng với cầm gươm.
Ngủ đi con, ngủ đi con,
Rồi ngày mai khôn lớn,
Giết bạn bè anh em.

*

Hãy giết người đi con,
Giết người mà lên lon,
Hỡi anh hùng tuổi nhỏ.
Hãy giết người đi con,
Giết người mà lên lon,
Hỡi anh hùng tuổi nhỏ.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=etu3QUu6o8(Hởi Hồn Mẹ Việt Nam, nhạc Phạm Thế Mỹ, Miên Đức Thắng hát)

Không những họ kêu gọi anh em mà còn tích cực hơn nữa bằng cách tỏ thái độ không tham dự cuộc chiến?:

Người lính khe khẻ hát,
Mẹ ơi?! Ơi Mẹ ơi?!
Vì con không muốn giết
Bao anh em của mình,
Vì con không muốn giết
Nên con làm tù binh.

Trong những năm gần đây, hai chữ lính đánh thuê lại tái xuất hiện, như người ta đã gọi anh lính Bảo vệ, anh lính Việt binh đoàn ngày trước. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn chi phối, hoà hay chiến tùy thuộc quyền quyết định của ngoại bang. Người Việt sống lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách của ngoại bang, làm tôi mọi phục vụ cho chính sách này. Do đó họ không muốn hợp tác tích cực nữa. Thái độ đó thể hiện rõ ràng trong câu hát sau:

Người lính khe khẻ hát,
Dân ta biết bao nhọc nhằn,
Dân ta sống trong ngục tối,
Vì bọn người gian ác.
Con không tiếp tay lũ giặc,
Con không sống trong phù phiếm.

*

Người lính khe khẻ hát,
Mẹ ơi! Ơi Mẹ ơi!
Vì con không muốn kiếp lính đánh thuê tủi nhục,
Vì con không muốn giết
Giết người mà lên lon,
Vì con không muốn giết,
Nên con làm tù binh.

Sự lựa chọn ở tù, làm tù binh trong bài ca phản ảnh một cuộc chiến đấu tiêu cực của dân tộc. Làm tù binh ở đây có nghĩa là bó tay, nhắm mắt, bịt tai, giả ngu, giả điếc, giả câm, giả đui mù, què quặt, bại hoại, nhác nhớm, mệt mỏi, rù rờ, chậm chạp, trễ nãi, vô kỷ luật, vô trật tự, vô trách nhiệm v.v… Tất cả những tật xấu đó đã làm cho người Mỹ chê trách người Việt hết lời: gọi là GOOKS, thiếu văn minh, mọi rợ, đáng khinh bỉ, yếu đuối, bất lực, không tin tưởng được, cho nên họ phải chủ động trận giặc này, phải trực tiếp tham dự chiến tranh, phải đem nửa triệu quân văn minh tài giỏi vào, và họ đã bị sa lầy.

Cuộc nội chiến trở thành một cuộc chiến tranh Việt-Mỹ. Người Mỹ không những phải điên đầu vì những thằng người nhỏ bé Việt Nam ngoan cố, liều mạng, dám làm cái chuyện châu chấu đá xe, mà họ lại còn điên đầu hơn nữa vì phải đeo đẳng bên vai những thằng người chỉ biết hút thuốc, uống rượu và hát nghêu ngao:

Tôi có người yêu chết trận Pleime,
Tôi có người yêu ở chiến khu D,
Chết trận Đồng xoài, chết ngoài Hà nội,
Chết vội vàng dọc theo biên giới.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=u4jpsbtMoM

3. Đặc tính thứ ba là chống lại chính sách phá hoại kinh tế nông nghiệp Việt Nam và chính sách tập trung nông dân.
Người Việt Nam nhận thấy được một chính sách dã man của người ngoại quốc đối với đồng bào nông thôn miền Nam. Đó là chính sách thả bom, tàn phá ruộng vườn, nhà cửa để lùa nông dân vào các trại tập trung “để tránh nạn Việt cọng”. Người dân sống trong những trại này không còn là người nữa vì không còn quê hương mà chỉ là những người nô lệ da vàng ngồi yên xin áo xin cơm. Những trại tập trung này không khác gì những trại tập trung của Đức quốc xã và còn tệ hơn nữa là khác. NgườI dân sống ở vùng “tự do” mà chịu những cảnh đau lòng như vậy, cho nên tại các đô thị, những phong trào tranh đấu đã liên tục nổi dậy.

Trong lãnh vực văn nghệ, mặc dù người dân đô thị không sống trong sinh hoạt nông thôn, nhưng đâu đâu chúng ta cũng thấy những màn vũ cuốc cày, gặt lúa, giã gạo, đâu đâu cũng nghe họ ca hát những bài tưởng chừng như họ là nông dân vậy:

Trong bài Hát từ đồng hoang của Miên Đức Thắng, có những câu:

Đất ta ta xới, đất ta ta bồi,
Đất ta ta tới, đất ta ta ngồi,
Đất hoang ta phá, đất khô ta gầy,
Đất mang hoa thắm, tương lai ta đầy.

Trong bài Hãy giành lại ruộng vườn của Tôn Thất Lập, có đoạn?:

Anh em ơi?! Hãy giành lại ruộng vườn ta!
Hãy giành lại đồng bào ta!
Hãy giành giành lại đường đi!
Cho tiếng hát vang sông dài.

Vũ khúc Lúa thơm đồng xanh xây dựng trên những lời ca:

Lúa của anh thơm trên đồng xanh,
Lúa người nghèo nuôi dân cả nước,
Lúa một trăm năm nuôi anh kháng chiến,
Lúa còn đời đời đuổi giặc xâm lăng.
(Đồng lúa reo)

Nhạc kịch Sắc lụa Trữ La lại đề cập đến nền tiểu công nghệ tơ lụa Việt Nam bị kỹ nghệ Tây phương tiêu diệt v.v…

Nhạc sĩ Tôn thất Lập tham dự Đại hội sinh viên VN hải ngoại Paris 1974, Link:
http://vietbao.vn/Van-hoa/Nhac-si-Ton-That-Lap-Con-nguoi-chang-the-nao-tron-duoc-thoi-gian/70036074/181/

4. Đặc tính thứ tư là phản ảnh một sắc thái tranh đấu kỳ lạ của dân tộc Việt Nam.
Đó là Nhất Chi Mai tự thiêu để đòi Hoà Bình, Tự Do. Con người ở đây không tranh đấu bằng cách hủy diệt người khác mà chỉ đốt mình làm đuốccải hóa người khác:

Link: http://www.phatviet.com/pgvn/50nam/50n1522.htm#_ftnref1

Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi
Thịt da này dành cho thù hận,
Cho bạo cường, cho tham vọng của một lũ điên.

Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi
Quả tim này dành cho lửa hồng,
Cho hòa bình, cho con người còn chờ đấu tranh.

Ai có nghe, ai có nghe tiếng nói người Việt Nam
Chỉ mong hòa bình sau đêm tăm tối,
Chờ mong một ngày tay ấm trong tay.

Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi
Đă lâu rồi làm sao chờ đợi,
Sao còn ngồi, sao im lìm ngủ hoài các anh.

Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi
Còn thấy g?ì ngoài bom lửa đạn,
Anh chị này, sao vui mừng làm người cúi xin.

(Hãy sống giùm tôi – TCS)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=ag6-xLCBx8

Một Trường ca vẽ nên một Bức tranh phơi cảnh tượng một trận đấu kỳ diệu, một bên là bồ câu, một bên là ó biển:

Ó biển giương mười móng đen sân hận,
Bồ câu xoè đôi cánh trắng từ bi.
Lửa hồng đốt rụng vây kiềm tỏa,
Tôi vượt muôn trùng cánh tự do.
Lửa hồng hun từ lòng Hy Mã
Ánh sáng Phương Đông rạng thái bình.

Không có một sức mạnh nào chống lại được ngọn lửa Quảng Đức, Nhất Chi Mai. Đó là hiện thân của một nền văn minh cao cả nhất của nhân loại. Nền văn minh Tây phương đã hủy hoại con người, đã gieo rắc chiến tranh lên khắp địa cầu, kẻ thắng cũng như kẻ bại đều trở thành hư hỏng, sa đọa. Lửa Thiêng đã loé sáng đem lại cho người người một niềm tin mới. Niềm tin đó cũng được thể hiện trong những lời ca, tiếng hát thanh thoát nhưng hùng vĩ lạ thường:

Lửa thiêng! Lửa vươn cao ngất trời xanh,
Lửa đem ta tới bình minh.
Lửa thiêng! Lửa reo câu hát tự do,
Lửa reo tươi sáng đời tôi,
Lửa reo thế giới hòa vui.
Thế giới mai đây rạng ngời,
Yêu thương lửa ấm, trong tim ngàn đời.
Nhân dân nhớ mãi công ơn của Người,
Nơi nơi tiếng hát reo vui đời mới.
Thế giới mai đây hòa bình,
Em thơ mắt sáng môi hoa nụ cười.
Muôn năm thế giới, muôn năm Hòa Bình,
Cây sai quả phúc ngàn đời Lửa Thiêng!
(Lửa Thiêng – Phạm Thế Mỹ)

Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, Link:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Th%E1%BA%BF_M%E1%BB%B9

Tuy nhiên, những bài thơ, những bài nhạc trên mới chỉ là những rung cảm của con người vừa được cảm hóa. Nó âm hưởng phần nào sự huyền diệu, thanh cao của lời thơ, của âm thanh thầm lặng thoát ra từ ngọn lửa. Chính lửa mới là khúc nhạc đầy nhân loại tính, vô cùng vĩ đại, khởi đầu cho một kỷ nguyên mới vậy.

5. Đặc tính thứ năm là phản ảnh khí thế tranh đấu của quần chúng đô thị.
Thời thực dân Pháp, quần chúng đô thị chỉ tranh đấu bằng Sử Ca và ít có những bài tranh đấu ca trực tiếp tấn công chế độ. Quần chúng đô thị hôm nay tiến xa hơn nữa, không những họ dùng Sử Ca, Kháng chiến Ca mà còn sáng tác Tranh đấu Ca để nói lên tiếng nói của chính họ. Nhiều bài ca tranh đấu xuất hiện song song vớI những cuộc tranh đấu của quần chúng chống lại cơ cấu thối nát của chế độ và đề kháng áp lực ngoại bang:

Ngày nao loa vang dân xóm thôn cũng vừa lên đường,
Đời không yên vui nên rừng hoang cũng quen người rồi.
Giành lại dòng sông này cho lúa chín khắp đồng xanh,
Giành lại thành phố đó cho bàn tay nâng cao hòa bình.
(Hát cho dân tôi nghe – Tôn thất Lập)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dQVZcF8A55

Hai điểm son của phong trào này là Đại hợp xướng Con Đường Trước Mặt của đoàn Văn nghệ Sinh viên Vạn Hạnh và Đại hội Mừng Tết Quang Trung của Sinh viên Học sinh Sài gòn. Đại hợp xướng Trường ca Con Đường Trước Mặt là một hợp xướng vĩ đại chưa từng có trong sinh hoạt văn nghệ từ mấy mươi năm nay. Lời kể lại không thể tạo lại được cho người nghe một sự rung cảm lớn lao tràn đầy lồng ngực như khi được tham dự trình diễn. Một trăm người hát trên sân khấu là một trăm gương mặt biểu tình, hội thảo xuống đường với những đường nét rắn rỏi điển hình của thế hệ mới, với giọng ca nổ ra thành sóng gió trổi dậy giữa màu áo quần đỏ rực mặt trời thân yêu. Trong tiếng hát, trong ánh sáng kỳ diệu đó, người nghe bỗng dưng thấy mình được tái sinh trong Việt sử vàng son, trong con đường thênh thang vô cùng trước mặt.

Nhạc trong Con Đường Trước Mặt vừa mang âm hưởng dân ca cổ điển vừa mang âm hưởng nhạc cách mạng giải thực, cọng thêm âm thanh của tiếng hô hào trong những cuộc biểu tình. Sự tổng hợp của ba nguồn âm nhạc đó đã tạo nên sắc thái đặc biệt cho nền Văn nghệ mới này. Trường ca được chia làm ba phần. Phần thứ nhất mô tả thảm trạng chiến tranh do ngoại bang gây ra:

Người muốn biết hay không bao giờ muốn biết?
Nhân danh ai người đi giết người?
Người đi giết người?

Phần thứ hai của trường ca nhằm nhắc cho ngoại bang biết dân tộc Việt Nam là dân tộc bất khuất:

Người đã biết dân Việt Nam tôi
Bốn ngàn năm đấu tranh bền chí,
Từng dẫm nát quân thù xâm lăng,
Sao người vẫn cố quên hỡi người?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhắc cho anh em lịch sử oai hùng của dân tộc để vững niềm tin, noi gương tổ tiên tiến lên giành tự do hạnh phúc:

Dòng máu này của Quang Trung,
Dòng máu này của Trưng Vương,
Với ánh sáng lửa thiêng của Người sáng bước chân đi ngàn lối.
Mảnh đất này của quê ta,
Ruộng lúa này của dân ta,
Ta không muốn đời ta tối tăm lầm than bởi quân bạo tàn.

 

Phần thứ ba mô tả Việt Nam sáng tươi trong Hoà bình, Thống nhất, Tự do, Độc lập:

Ôi con đường Việt Nam
Ôi con đường Việt Nam
Hai mươi lăm triệu trái tim ta
Sống yên vui, yên vui một nhà.

Đại hội Mừng Tết Quang Trung do các đoàn thể Sinh viên Học sinh Sài gòn tổ chức đã lôi cuốn gần vạn người tham dự, trong một không khí vô cùng hào hứng, phấn khởi. Đại hộI đánh dấu một biến chuyển mới trong phong trào văn nghệ tranh đấu của quần chúng đô thị với những ưu điểm sau:

a. Đầu tiên là cải tiến khung cảnh trình diễn văn nghệ.

Sân khấu phải thật rộng, có thể chứa cả trăm diễn viên với các phông cảnh vĩ đại. Mở rộng rạp hát bằng cách trình diễn ở ngoài trời để có thể có hàng vạn người tham dự và nếu cần sẽ đốt lửa tranh đấu thành mít tinh, biểu tình. (Tiêu biểu là bài hát Dậy mà đi, phỏng thơ Tố Hữu- DB.)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=GAP1SyMOkT

b. Ưu điểm thứ hai là cải tiến quan niệm thưởng thức văn nghệ của quần chúng.

Văn nghệ tranh đấu khác xa vớivăn nghệ làm trò mua vui khán giả. Đó là những tiếng nói nhiệt tình nhất trong mọi tiếng nói có thể làm rung động tim người, làm cho họ hăng say đứng dậy tranh đấu. Như vậy, không thể để cho khán giả và người trình diễn cách biệt nhau được. Không có ai trình diễn cho ai coi hết, mà tất cả đều phải tham dự cuộc trình diễn.

Hình: http://chimviet.free.fr/lichsu/letruong/phongtraonhac/phongtrao66_69/Image16.jpg
Đêm văn nghệ Sinh viên Vạn Hạnh

Những diễn viên trên sân khấu chỉ là những người bắt giọng cho tất cả hát diễn theo. Sân khấu ở đây không phải là tiếng đối nghịch với tiếng cuộc đời. Trái lại, sân khấu ở đây chính là cuộc đời thật sự. Mọi người sống trong những điều ước mơ mà không cần phải che đậy, đóng trò, đóng kịch gì hết. Khán giả trong Đại hội Mừng Tết Quang Trung là loại khán giả chúng tôi vừa mới trình bày. Họ rước đuốc, họ diễn hành, họ hát theo những người trên sân khấu. Họ hô khẩu hiệu phát huy tinh thần Quang Trung. Đứng trên sân khấu nhìn về phía khán giả thì chúng ta có thể thấy ở đó cũng là sân khấu, một sân khấu vĩ đại, hết sức vĩ đại, trong đó cả vạn diễn viên kết thành một bài ca lớn như câu thơ:

Đêm liên hoan, đầu người nhấp nhô như sóng biển ngang tàng“.

c. Ưu điểm thứ ba của đại hội là cải tiến quan niệm trình diễn.

Những hình thức đơn ca, song ca trong sinh hoạt văn nghệ miền Nam từ trước đến nay chỉ phản ảnh chủ nghĩa cá nhân lan tràn trong xã hội. Văn nghệ tranh đấu không thể đi theo con đường đó được. Văn nghệ tranh đấu phải thể hiện sức mạnh tranh đấu của quần chúng. Do đó, không những nội dung văn nghệ tiến bộ mà ngay cả hình ảnh những đại vũ khúc, âm thanh trống chiêng mới có thể đáp ứng nhu cầu văn nghệ của khán giả lớn lao như vậy. Đại hội đã thực hiện quan niệm trình diễn này, không những không có những màn cá nhân bé nhỏ nhược tiểu, mà có những màn to lớn đáng ghi nhận:

Đại vũ khúc Đường Độc Lập do đoàn Văn nghệ Sinh viên Học sinh Sài gòn thực hiện với tiếng trống chiêng, nhạc Ải Chi Lăng, gươm giáo sáng chóa, y phục vàng đỏ màu đất nước. Ba mươi diễn viên chia làm năm toán kết lại thành một vũ khúc hào hùng gợi hình ảnh chiến công anh dũng của dân tộc ta trong cuộc tranh đấu chống xâm lăng, giành độc lập để kết nên Khúc Khải Hoàn: Việt Nam mến yêu.

Đường Độc Lập và Tiếng Trống Hào Hùng là hai vũ khúc khích động mạnh mẽ khí thế dân tộc được trình diễn nhiều nơi và được tán thưởng nhiệt liệt. Đại vũ khúc Lúa Thơm Đồng Xanh do ban Văn nghệ sinh viên Luật Khoa thực hiện với y phục nông dân Việt Nam. Hai mươi bốn diễn viên trai gái diễn tả sinh hoạt canh tác ruộng đồng, đi cuốc, đi cày, gieo mạ, gặt lúa, sàng sẫy, liên hoan trong những ngày mùa. Bài phụ họa là một sáng tác mới mang tên Đồng Lúa Reo trong đó có những câu:

Lúa của anh thơm trên đồng xanh,
Lúa người nghèo nuôi dân cả nước,
Lúa một trăm năm nuôi anh kháng chiến,
Lúa còn đời đời đuổi giặc xâm lăng.
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=d7xe1Dwr0g

 

6. Đặc tính thứ sáu là nhạc Hòa bình xuất hiện.Hai mươi năm chờ từng phút giây,
Hôm nay tiếng Hoà Bình đã thấy,
Trên môi người, trên môi ta, trên môi em,
Trên môi những ngườI Việt nghèo khốn.
Hai mươi năm chờ đợi đã lâu,
Nay sức sống tràn về mạch máu,
Nuôi tim mẹ, nuôi tim cha, nuôi tim nhau,
Nuôi đất nước Việt giàu.
(Đồng dao hoà bình – Trịnh Công Sơn)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=k8Du8aiRWF

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=e_dKicCnCJ

Nhạc Hoà bình xuất hiện trong khi chưa có Hoà bình, trong khi chiến tranh vẫn còn gia tăng thì không phải là nhạc Hòa bình mà là nhạc Đòi Hoà bình, nhạc tranh đấu cho Hòa bình. Phong trào sáng tác nhạc Hoà bình đã chuyển mình lớn dậy trong những ngày gần đây. Hoà bình trở thành hai chữ đẹp nhất, quyến rũ nhất trong giai đoạn này, cho nên bài ca nào nói về Hoà bình đều được mọi người yêu thích:

Đường ta đi thênh thang từng bước, bước, bước,
Chim bồ câu bay trên nẻo đường xa xa.
Đường ta đi thênh thang từng bước, bước, bước,
Chuông chùa ngân nga trên nẻo đường quê ta.
Đường ta đi diều bay cuối xóm,
Đường ta đi trẻ thơ hát cười,
Đường ta đi người yêu đất mới,
Đường ta đi chim hót reo vui.
(Con đường trước mặt – Phạm Thế Mỹ)

Không biết bao nhiêu bài ca Hoà bình xuất hiện. Việt Nam hát nhạc Hòa bình, thế giới bây giờ cũng cất cao tiếng hát Hòa bình cho Việt Nam, phải chăng nhạc Hòa bình là giai đoạn chót của cuộc tranh đấu quá to lớn của dân tộc ta và của lương tâm thế giới?

(Xem thêm: Phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe, Link:http://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_H%C3%A1t_cho_%C4%91%E1%BB%93ng_b%C3%A0o_t%C3%B4i_nghe

http://www.baomoi.com/Info/Hat-cho-dong-bao-toi-nghe-nhung-loi-ca-vang-vong-Ky-2-Di-san-cua-mot-thoi/71/4150485.epi
)

TẠM KẾT LUẬN:Điều chúng ta có thể thấy rõ là quần chúng trong những phong trào văn nghệ tranh đấu là quần chúng không bằng lòng với hoàn cảnh hiện tại và tích cực tranh đấu chống lại những gì mà họ cho là nguy hại cho dân tộc. Câu hỏi căn bản mà phong trào DA VÀNG CA đặt ra tức là vấn đề “gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc dân ta” nay đã được phong trào văn nghệ tranh đấu trả lời. Khác với những phong trào trước, quần chúng trong phong trào văn nghệ tranh đấu không than khóc, không tuyệt vọng, trái lại họ can đảm tích cực đứng dậy nhìn thẳng vào những bàn tay đặt gông cùm, xiềng xích lên đầu lên cổ họ và họ cố bứt mạnh những bàn tay đó ra.

Một điều đáng ghi nhận nữa là: dĩ nhiên, cách mạng sẽ phải bùng nỗ để chấm dứt một giai đoạn sa đọa của nền văn minh Tây phương cũng như Cách mạng Tháng Tám đã chấm dứt chế độ Thực dân. Nhưng giai đoạn này hết cũng là lúc một giai đoạn sa đọa mới xuất hiện. Con người ở đây không muốn như vậy và họ đã cất cao tiếng hát Đông phương, tiếng hát khởi từ Hy Mã Lạp Sơn, bốc lên thành ngọn lửa thiêng Quảng Đức, Nhất Chi Mai, phục sinh một nền văn minh cao cả nhất của nhân loại đã bị chôn sâu hàng ngàn năm tuyết phủ. (Lời kêu gọi Nối vòng tay lớn đã được cất lên – DB. Link: http://www.youtube.com/watch?v=1zEJ1G5tGRs)

LÊ TRƯƠNG (1970)
(Hội Sinh viên sáng tác Sài Gòn /1970)
Bản điện tử: Đông Ba (bổ sung tháng 7-2011)
 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Mười Hai 2, 2011 in Chiến tranh Việt Nam, Văn nghệ, Xã hội

 

One response to “PHÂN TÍCH CÁC PHONG TRÀO VĂN NGHỆ TRANH ĐẤU TẠI MIỀN NAM TỪ 1965 ĐẾN 1969: PHONG TRÀO DÂN CA

  1. loanphuong

    Tháng Mười Hai 2, 2011 at 5:18 chiều

    The Religious Beginnings of an Unholy War

    The Shocking Story of the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam War

    By Avro Manhattan

    Avro Manhattan (1914-1990).

    Avro Manhattan was the world’s foremost authority on Roman Catholicism in politics. A resident of London, during World War II he operated a radio station called “Radio Freedom” broadcasting to occupied Europe.

    He was the author of over 20 books including the best-seller The Vatican in World Politics, twice Book-of-the-Month and going through 57 editions. He was a Great Briton who risked his life daily to expose some of the darkest secrets of the Papacy. His books were #1 on the Forbidden Index for the past 50 years!!

    More About the Author:

    With an immense collection of facts, photos, names and dates, Manhattan proves that the Vietnam War began as a religious conflict. He shows how America was manipulated into supporting Catholic oppression in Vietnam supposedly to fight communism.

    Manhattan explains:

    How religious pamphlets and radio broadcasts convinced one million Catholics to leave North Vietnam and live under Catholic rule in the South, overwhelming the Buddhists.

    How brutal persecution of Vietnamese Buddhists led to rioting and suicides by fire in the streets.

    Why the reports of what was really happening, written by American military and civil advisers, failed to reach the U.S. President.

    Why the project backfired, and as U.S. soldiers continued to die, the Vatican made a secret deal with Ho Chi Minh.

    Source: http://www.reformation.org/vietnam.html

     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: