RSS

Lếu láo? (Lữ Giang & Huỳnh Bất Hoặc)

07 Mar

Huỳnh Bất Hoặc

Bài Ánh Đuốc Quảng Đức của Hoàng Nguyên Nhuận vừa xuất hiện thì bị Tú Gàn-Lữ Giang “dàn chào” ngay bằng một điện thư gửi về cho web Giao Điểm khiến người phụ trách điên đầu phải giao cho Chuyển Luân đỡ đòn. Điện thư ấy viết:

Kính anh,

Tôi rất ngạc nhiên, đã 43 năm rồi, vụ Phật giáo năm 1963 vẫn được tiếp tục tường thuật một cách lếu láo như thế, mặc dầu vụ đó đã được Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra và “Tòa Án Cách Mạng” đưa ra xét xử rồi!

Chỉ cần đọc bản phúc trình của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc, bản cáo trạng vụ án Đặng Sĩ, lời khai của các nhân chứng… cũng đã có thể thấy nó hoàn toàn khác hẵn những gì đã được lưu truyền trong 43 năm qua. Đọc tài liệu của Mỹ tiết lộ về vụ thiêu Thầy Quảng Đức mới thấy ngao ngán! Có khi nào anh đọc bản văn Dụ số 10 chưa? Tôi không hiểu tại sao các anh lại có thể diễn giải như thế được!

Điều sai lầm lớn nhất của nhóm Phật giáo đấu tranh là cố tình gán ghép vụ Phật giáo năm 1963 với Công Giáo để kích động Phật tử, đưa đến những hậu quả mà họ không lường được.

Cứ tiếp tục vọng ngữ đi, lời Đức Phật dạy chắc chắn sẽ ứng nghiệm.

Kính chào anh.

Lữ Giang

Vu Vạ Cá Nhân Chứ Không Đấu Lý Hay Tranh Luận

Chuyển Luân đã lịch sự hồi âm cho Tú Gàn biết, muốn tranh luận hay phản bác quanh bài Ánh Đuốc Quảng Đức thì xin cứ viết và gửi bài tới Chuyển Luân. Thay vì đáp lễ, Lữ Giang đã yên lặng và đưa Tú Gàn ra trận với bài Luật Nhân Quả Của Nhà Phật trên Saigon Nhỏ ngày 20/5/05, không phải tranh luận về bài Ánh Đuốc Quảng Đức của HNN nhưng là để tố khổ kẻ đứng sau lưng HNN là Hoàng văn Giàu. Khoan nói đến chuyện những điều Tú Gàn nói về HVG đúng hay sai, đúng chỗ nào, sai chỗ nào. Chỉ nguyên chuyện Lữ Giang phải điều động Tú Gàn ra trận không phải để đấu lý với HNN mà là để đối chọi với HVG cũng đủ thấy bản chất và đường hướng tranh luận của của Lữ Giang.

Và tố khổ HVG chuyện này chuyện khác để kết luận hắn lếu láo như vậy nên bài viết của hắn cũng lếu láo! Không nói chuyện, không tranh luận, không đấu lý mà tố khổ theo kiểu: Ồ! Hơi đâu tranh luận với thằng cha HNN làm chi! HNN là HVG đó, mà HVG là thằng cha có hắc lào nơi chỗ kín ấy mà! Có hắc lào nơi chỗ kín là lếu láo rồi, có hắc lào nơi chỗ kín là viết gì cũng là hắc lào nơi chỗ kín cả, và có hắc lào nơi chỗ kín là Phật giáo dzổm, là do Cộng Sản VN bày ra để đánh phá GHCGVN.

Không biết có phải Lữ Giang muốn dẫn dụ HNN sập vào cái bẫy nói xấu cá nhân để khỏi tranh luận và ăn miếng trả miếng rằng: Ồ hơi đâu để ý Tú Gàn, thằng cha thối mồm ấy mà không? Thối mồm thì nói gì ra cũng thối cả? HNN cũng như HVG chắc không đến nổi hồ đồ để sa vào cái bẫy ấy.

Tiếp tay với Lữ Giang là Mathew Trần cũng nhào vào để: “lật mặt nạ bọn Giao Điểm – một tổ chức Phật giáo dzỗm được Cộng Sản VN xây dựng để đánh phá GHCGVN cũng như GHPGVNTN.” Điều này làm người ta nhớ mấy bửa trước đây, Tú Gàn Lữ Giang cơm không lành canh không ngọt sao đó với Mathew Trần, nhưng thay vì tranh luận đúng sai hơn thiệt với Mathew Trần thì Lữ Giang lại hăm hở lột trần ông này ra cho thiên hạ biết Mathew Trần là ai với những lời lẽ nặng nề, không đẹp, không lịch sự mà cũng chẳng xứng hợp chút nào. Cùng hội cùng thuyền với nhau mà còn thế thì với người ngoài, dĩ nhiên là Lữ Giang sẽ tranh luận bằng bùn dơ, tro trấu và búa tạ thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Bệnh cả vú lấp liệm em, nhìn lổ khóa, lôi đời tư cá nhân ra để nói xấu thay vì đấu lý, tranh luận nghiêm túc đã trở thành một cố tật, một tâm bệnh của những kẻ đuối lý. Mấy ai không thấy lợm giọng buồn nôn trước hành động hạ nhục cá nhân bằng cách đem hình ảnh Saddam Hussein mặc quần lót hay bị đè cổ ra khám chí rận để lấp liếm cái thế bí mất chính nghĩa ở Iraq? Mấy ai không thấy lợm giọng buồn nôn trước hành động hạ nhục cá nhân bằng cách đem Thầy Nhất Hạnh “cột” với Sư bà Chơn Không như Võ văn Ái và Tú Gàn cùng bằng hữu đã làm để bôi bẩn chuyến về Việt Nam của Làng Mai, bằng cách nói xa nói gần Thầy Nhất Hạnh có vợ và có con nữa! Lữ Giang và cả Võ văn Ái có dám thề là không hề nghĩ như thế, không hề nói như thế, và nếu có nghe như thế thì cũng đã không toa rập cách này hay cách khác với lời đồn đại vu vạ đó không? Có dám đem hỏa ngục hay địa ngục A Tỳ ra mà thề không?

Những Chiến Binh Nhật Trốn Đầu Hàng

Ông Tú Gàn, ông Lữ Giang, ông Mathew Trần là ai, cũng như ông Lâm Lễ Trinh, ông Nguyễn gia Kiểng, ông Nguyễn xuân Vinh, ông Lê xuân Khoa, ông Cao thế Rung, ông Nguyễn văn Chức, ông Nguyễn văn Canh, ông Nguyễn bá Long là ai, mọi người đã rõ.

Ở hải ngoại, những ai có chút ưu tư với thời cuộc đã chua cay thất vọng vì đã cầu mong thiết lập những nhịp cầu trao đổi đối thoại với người đồng bào đồng hương về chuyện đất nước quê hương đều rõ họ là ai. Họ là những người mà Vũ khắc Khoan từng gọi là những kẻ không chịu chết. Họ là những tấm lòng trung trinh không khác gì những chiến binh Nhật ngày Nhật thua trận đầu hàng năm 1945 nên đã không trình diện mà vẫn lẫn quất trong rừng già Philippines hay Indonesia ngày ngày mài gươm chùi súng đợi lệnh Thiên Hoàng tổng tấn công thực hiện mộng Đại Đông Á.

Cho nên, bốn mươi năm rồi mà hàng năm vẫn họp nhau tưởng niệm phục hồi Ngô chí sĩ, mơ ngày tái lập một chế độ Diệm-không-Diệm.

Sau khi Trung Quốc xua quân tràn qua Lạng Sơn, họ đã nín thở mong chờ Chủ Tịch Đặng Tiểu Bình ra lệnh cho quân viễn chinh thẳng xuống Hà Nội.

Sau khi Gorbachev lùi bước ở Đông Đức, ở Poland và Moscow, họ đã nín thở cầu nguyện TT Reagan và GH John Paul 2 tiến thêm bước nữa làm phép lạ giải thể luôn chế độ đương hành ở Việt Nam.

Sau khi TT Bush lật đổ chế độ Saddam Hussein, họ đã cầu ngày cầu đêm cho TT Bush tiến thêm bước nữa trên lộ đồ Baghdad trước Hà Nội sau và hạ lệnh dập nát Bắc Bộ Phủ.

Ba mươi năm rồi, nói lui nói tới, họ chỉ có thể nghĩ như thế, nói như thế. Ba mươi năm rồi họ cứ lơ mơ lắp bắp như những kẻ bị quỷ ám.

Cây Muốn Lặng Mà Gió Không Ngừng?

Lữ Giang bảo “Tôi rất ngạc nhiên, đã 43 năm rồi…” Đã 43 năm rồi! Đúng thế, nhưng có thật một số người như Lữ Giang đã muốn quên thật hay chưa? Hay họ vẫn loay hoay làm ba việc cùng một lúc.

Thứ nhất, chạy tội làm mất Miền Nam, thứ hai đổ thừa trách nhiệm ấy cho những thành phần thứ ba quá khích, những kẻ bị Cộng Sản dựt dây thao túng, những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ, những kẻ tham quyền cố vị tranh dành địa vị rồi đem Miền Nam dâng cho Cộng Sản và thứ ba, đón gió thời cuộc để sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm ngoại quốc có thể giao phó cho lần nữa, bất kể ngoại nhân đó là đỏ, xanh, trắng, vàng…

Trừ họ ra, tất cả đều có tội làm mất Miền Nam, đúng ra là tội làm cho Mỹ phải thua trận ở Miền Nam. Họ tưởng không ai còn nhớ rằng họ là những kẻ trước sau vẫn đấm ngực lâm râm “Thà mất nước không thà mất Chúa” và khi chuyện đó xảy ra thật thì lại nhất quyết đòi Tổ Quốc [phải] Ăn Năn chứ họ không có lỗi gì cả như anh em ông Nguyễn gia Hiến-Nguyễn gia Kiểng vẫn đòi.

Chạy ra đến nước ngoài, họ lại lấy lòng chính quyền những nước tạm dung bằng cách tỏ ra mình chống Cộng Sản còn hơn cả TT Ngô đình Diệm, TT Johnson, TT Nixon, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Đại sứ Bunker, Tướng Westmoreland.

Họ nhân danh “chính nghĩa quốc gia”, nhân danh “đoàn kết quốc gia chống Cộng Sản”, nhân danh phục quốc, đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền để chạy tội, để trục lợi, và hiếp đáp bịt mồm bịt miệng những kẻ không thỏa hiệp với họ. Họ lũng đoạn các hội đoàn, thao túng các hoạt động thông tin văn hóa như sách vở, văn nghệ, báo chí, đài phát thanh, truyền hình. Tệ trạng này đã đặt người Việt hải ngoại vào thế dở khóc dở cười với tình cảnh thường được nói đến một cách bi hài: Trốn Việt Cộng lại gặp Việt Dũng.

Nơi nào có đất là có ruồi, nơi nào có hội đoàn là có họ. Cứ nhìn vào bất cứ một bảng liệt kê số hội đoàn, số hoạt động truyền thông, văn hóa, văn nghệ của người Việt hải ngoại để thấy mức độ thao túng của họ trầm trọng và trắng trợn như thế nào. Ai không nghe họ, không theo họ là kẻ thù của họ. Trong nước thì Thiện Minh, Trí Quang và các “ông sư” Ấn Quang, ngoài nước thì Trần Trường, Mãn Giác, Nhất Hạnh, Dương văn Minh, Nguyễn cao Kỳ và Phạm Duy… Đó là những nạn nhân điển hình của họ. Người chót, và hi vọng là cuối cùng, là Phạm Duy.

Họ phải tạm thời chịu im khi bị Phạm Duy chưởi cho là “bọn chó đói”. Dĩ nhiên không phải vì Phạm Duy to mồm hơn họ, nhưng là vì Phạm Duy biết tẫy của họ, biết nhiều điều không mấy đẹp của họ và họ muốn nói thì Phạm Duy sẽ nói ra cho mà nghe.

Bốn mươi ba năm rồi, có bao giờ Tú Gàn – Lữ Giang băn khoăn tự hỏi hành động chạy tội và trục lợi đó có lỗi điều răn về đức công bằng, về bác ái và điều răn cấm nói dối hay cấm làm chứng dối không?

Một Lời Tiên Đoán U Ám

Lữ Giang Tú Gàn bảo: Điều sai lầm lớn nhất của nhóm Phật giáo đấu tranh là cố tình gán ghép vụ Phật giáo năm 1963 với Công Giáo để kích động Phật tử, đưa đến những hậu quả mà họ không lường được.

Thử hỏi Lữ Giang có tìm được trong núi tài liệu sách vở báo chí tiếng Việt cũng như ngoại ngữ, có một người nào tự nhận là Phật tử đã vơ đũa cả nắm rằng “vụ Phật giáo năm 63” là trách nhiệm của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam [GHCGVN]? Nhưng chắc chắn Lữ Giang có thể tìm ra cả trăm, cả ngàn tài liệu cho rằng trách nhiệm đó là trách nhiệm của TGM Ngô đình Thục, và của những người em của ông đang thao túng chế độ từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Lời than thở và tiên đoán u ám của Linh Mục Renou là một.

Câu nói nguyên văn của LM Jean Renou là: ” The man [Diem] is mad! He is undoing all we have accomplished in a hundred and fifty years! There was no ill-will between Catholics and Buddhists when he came into power. Now unless we can get him out quickly, we Catholics will suffer when he is gone, though we are not to blame for his action.” Xin để nguyên văn cho Lữ Giang và các nhà trí thức khoa bảng đồng đạo đọc và tự hiểu lấy vì dịch ra có thể sai ý. Và đọc rồi thì Lữ Giang và bằng hữu có bảo rằng LM Renou nói như thế cũng là “cố tình gán ghép vụ Phật giáo năm 1963 với Công Giáo để kích động Phật tử, đưa đến những hậu quả mà họ không lường được.” không?

Lại nữa, không chỉ LM Renou mà bao nhiêu người Công giáo khác cũng đã đau khổ và âm thầm tự tách mình ra khỏi TGM Ngô đình Thục và chống lại chính sách bất công kỳ thị Phật giáo của anh em nhà Ngô. LM Lê Quang Oánh và khối giải sĩ đồng tâm cùng đại diện các đoàn thể khác ở Đà Lạt là một bằng chứng.

LM Renou không nói câu ấy khi vụ Phật Đản 63 xảy ra, mà trước đó và đã được Hillaire du Berrier ghi lại trong quyển Background to Betrayal, [Western Islands, Ma, 1965, 292 tr.] Hillaire du Berrier cũng chẳng phải xa lạ gì với gia đình Ngô đình Diệm, bởi chính du Berrier năm 1955 từng được Ngô đình Luyện tuyển mộ vào một toán đặc biệt sang Washington để giải độc chống lại khuyến cáo của Đại Sứ Mỹ ờ Sàigòn là Lawton Collins là Mỹ không nên giúp cho Ngô đình Diệm nắm quyền ở Miền Nam.

Lời than thở của LM Renou kể cũng đủ trực tiếp trả lời cho Lữ Giang, và nếu chưa đủ thì xin đọc thêm những lời giải thích gián tiếp của Hillaire du Berrier như sau. Du Berrier kể rằng sau khi chiến thắng quá vẻ vang trong cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại, anh em Ngô đình Diệm đã tức điên lên vì phải nín thở chờ đến ba tuần lễ Vatican mới chịu ban phép lành cho chiến thắng đó. Điều này làm anh em nhà Ngô bất mãn với Vatican và tìm cách trút giận lên đầu đoàn công cán ủy viên của Vatican ở Việt Nam là các linh mục thừa sai ngoại quốc. Ngô đình Diệm đòi hỏi các linh mục thừa sai này phải tuyên thệ trung thành với Diệm. Các linh mục thừa sai chối từ liền bị chụp mũ là thân Cộng. Diệm cũng cho lập hồ sơ để bắt nhốt Giám Mục Sieltz của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại về tội xâm phạm an ninh quốc gia. Vatican phải trực tiếp can thiệp nhà tu này mới khỏi bị tù và tống xuất.

Chưa hết, Ngô đình Diệm lại đòi Vatican phải phong anh mình là Ngô đình Thục lên Hồng Y. Tờ France-Soir ngày 26/11/56 viết: Điều ngược đời là thái độ của Vatican đã trở thành cái bóng đen trên chính trường của Diệm. Vatican vừa trao chức Giám Mục Saigon, không phải cho ứng viên của Diệm đưa ra là anh mình, GM Thục, mà là cho một tu sĩ vô danh tên Hiền. Đây là một đòn nặng cho Diệm vì GM Hiền, thường được gọi là Simon Hiền Hòa, vốn nổi tiếng là người không mấy nhiệt thành với anh em Diệm.

GM Thục tức tối lấy máy bay sang Vatican đòi Tòa Thánh rút lại quyết định phong chức GM Hiền, trong khi ở nhà Diệm cũng phản ứng. Sắc chỉ của Giáo Hoàng phong chức cho GM Hiền đã bị bưu điện giữ lại, triện niêm phong bị cặy bể và sắc chỉ bị làm bản sao.

Tờ France-Soir cũng cho biết Vatican đã không lùi bước và chính quyền Diệm phản ứng bằng cách cấm báo chí và đài phát thanh loan tin bổ nhiệm GM Hiền cho đến khi các linh mục địa phương loan tin ấy trong lúc làm lễ và GM Hiền đe dọa dứt phép thông công những ai chống lại lệnh Tòa Thánh.

Trong khi đó, Công giáo Mỹ cũng phản ứng. Nhất là từ nội bộ các cha Dòng Tên trong tổ chức mệnh danh là Nghị Hội Công Giáo Quốc Gia về An Sinh – The National Catholic Welfare Conference – LM Patrick O’Connor, đại diện của tổ chức này ở Sàigòn đã hai lần tố cáo Diệm rắp tâm can thiệp vào sinh hoạt nội bộ của Nhà Thờ và làm áp lực Tòa Thánh phải dành chức GM Saigon cho anh mình. Lời tố cáo của LM O’Connor được lặp lại hai lần, lần đầu trên đài phát thanh ngày 29/11 và lần thứ hai qua thông cáo báo chí ngày 5/12/55. LM O’Connor cũng lặp lại những lời tố cáo tương tự trong một bài viết trên tờ America, cơ quan ngôn luận của Hội số ngày 10/12/1955 nhan đề Giáo Hội-Quốc Gia ở Việt Nam. [ Hillaire du Berrier, sđd. tr. 126-129]

Lỗi Đức Công Bằng?

Có bao giờ Lữ Giang tự hỏi ngày 1/11/63 trong lúc vận mạng của anh em Diệm Nhu đang lâm nguy, tại sao Khâm Mạng Tòa Thánh hay Đại Sứ Vatican ở Sàigòn không hề can thiệp với Mỹ hay đề nghị cho anh em Diệm vào tị nạn trong tòa Đại Sứ Vatican?

Tại sao khi anh em Diệm thọ nạn rồi Khâm Mạng Tòa Thánh đã không có một lời chỉ trích hay trách móc Mỹ hay các Tướng Lãnh 1/11 đã nặng tay với anh em Diệm, và cả với Ngô đình Cẩn sau này nữa? Tại sao GHGCVN và Toà Thánh Vatican không hề có một lễ mồ đúng nghi thức cho anh em Diệm?

Tại sao Vatican đã cứng rắn dứt phép thông công TGM Ngô đình Thục và chỉ giải tội cho ông khi ông gần chết? Không biết cảnh giác của LM Renou cũng như đoạn sử mà Hillaire du Berrier ghi lại với đầy đủ bằng chứng đó có đủ giúp Lữ Giang trả lời những câu hỏi đó không? Cũng như những điều Hillaire du Berrier kể lại đó đã đủ cho Lữ Giang và bằng hữu thấy rằng chiêu bài và động lực tôn giáo mà anh em Ngô đình Diệm đã dựa vào đó để đàn áp Phật giáo quả đã làm hại cho tôn giáo mình đến như thế nào chưa?

Lý đáng, nếu công bằng thì Lữ Giang phải cám ơn cái mà Lữ Giang gọi là “nhóm Phật giáo đấu tranh” đã chỉ quy tội cho TGM Ngô đình Thục chứ không vơ đũa cả nắm mà tố cáo GHCGVN trong vụ Phật giáo năm 1963.

The Buddhist leaders, it must be said to their honor, behaved almost everywhere with great moderation and good sense, stating frequently that the fight was not with the Church and the Catholics but only with the Diem regime, and they invited the Buddhists to collaborate with the Catholics for the good of the country.

Lữ Giang có biết ai nói câu đó không? Người nói câu đó là Piero Gheddo, tác giả quyển The Cross and the Bo-Tree – Catholics & Buddhists in Vietnam, Sheed and Ward, NY, 1970, tr.197. Piero Gheddo là người Italia, chịu chức Linh Mục năm 1953 sau khi tốt nghiệp Giáo Hoàng Học Viện Ngoại Vụ ở Milan, tiếp tục học vấn đại học ở Rome và Đức, và từng là chủ bút tờ Osservatore Romano, cơ quan thông tin chính thức của Tòa Thánh trong thời kỳ Công Đồng Vatican 2. Piero Gheddo cũng là người đã chân thành kêu gọi nguyên văn rằng: The Catholics of Vietnam must abandon their ritualistic and sterile anti-Communism and commit themselves to those social and economic reforms which the Communists rightly call for. LM Gheddo cũng là người đã nghĩ rằng chỉ có một cách cứu vãn Miền Nam là các phe nhóm Miền Nam phải thực sự đoàn kết để thành hình một chính quyền liên hiệp “kể cả với Mặt Trận và Việt Cộng.”

Cho nên, để khỏi lỗi đức công bằng thì Lữ Giang – và cả GHCGVN – phải nhận trách nhiệm là đã để cho anh em TGM Ngô đình Thục gây ra một thảm họa như vậy không chỉ cho Phật giáo mà cho cả GHCGVN như lời LM Renou cảnh báo.

Chắc hẳn Lữ Giang không quên rằng Đức Thánh Cha đã nhân danh Hội Thánh để thú tội và xin lỗi cả nhân loại, nhưng chính thức GHCGVN, cũng như riêng một số tín hữu được xem là có đầu óc, tước vị, trách nhiệm chưa hề thú tội và xin lỗi dân tộc Việt Nam. Không những chưa, mà còn quyết một quyết hai là “tổ quốc [phải] ăn năn” vì Văn Thân Cần Vương đã chủ trương Bình Tây, Sát Tả.

Lữ Giang nói đến “những hậu quả …không lường được”. Một tháng sau khi vụ Đài Phát Thanh Huế bùng nổ, LM Nguyễn Phương cho ấn hành quyển 82 Năm Việt Sử [1802-1884], Đại Học Sư Phạm Huế xuất bản, trong đó có một phụ đính tựa đề Mấy Tài Liệu Về Phong Tục Á Đông do tác giả dịch và giới thiệu theo nguyên văn: Báo Osservatore Romano, cơ quan ngôn luận Tòa Thánh ngày 2 tháng 7, 1936 đã viết một bài bình luận giá trị đề là “Nhu Cầu Mới, Đường Lối Mới”. Nhu cầu mới đường lối mới đó có câu nguyên văn như sau: …”Ai cũng biết lời Thánh Gregorius đại danh chỉ giáo cho Thánh Augustinus, tông đồ Anh quốc, dặn rằng đừng phái chùa miếu chỉ phá tượng thần thôi rồi đem Thánh giá thay vào” [sđd, tr.221-222]

LM Nguyễn Phương gọi kẻ đưa ra chính sách đó là “đại thánh”. Không biết nguyên văn tiếng Italia là gì mà tác giả Nguyễn Phương đã dịch thành “chùa miếu” vốn chỉ có ở Á Đông cũng như riêng Việt Nam?

82 Năm Việt Sử của Nguyễn Phương xuất hiện khi những vết máu thịt ở khuôn viên Đài Phát Thanh Huế chưa xóa nhòa! Chính sách đối với chùa miếu đó có khác với hành động của mấy ông Hồi giáo cực đoan Taliban ở Afghanistan khi họ trầm trầy trầm trật hết dùng đại pháo đến cốt mìn quyết dựt cho sập cái tượng Phật cổ vùng Bamyan khiến cho cả thế giới phải kêu trời không?

Có bao giờ Lữ Giang nghĩ rằng, nếu cuộc cách mạng 1/11/63 mà một cuộc cách mạng do những người như Nguyễn Phương, Lữ Giang và bằng hữu xuống đường phát khởi, nếu TT Ngô đình Diệm là một Phật Tử và TGM Ngô đình Thục là một Tăng Thống, thì những gì sẽ xảy ra cho các chùa miếu và Phật tử sau ngày 1/11/63 không? Đáng tiếc là hình như Lữ Giang không những đã không nghĩ như vậy mà còn viết sách viết báo hô hào thánh chiến nữa.

Có bao giờ Lữ Giang đọc đoạn tiểu sử sau đây về Ôn Mật Hiển của Chùa TrúcLâm đã được các học trò của ôn in lại không? Đoạn đó nguyên văn thế này: Ngài cung đã từng giúp cho Thượng Thơ Ngô đình Diệm ẩn náu tại Tổ Đình Từ Hiếu trong lúc đang bị chính phủ bảo hộ truy lùng. Và cũng chính Ngài đã dẫn cho vị Thượng Thư này thoát ra khỏi tỉnh Thừa Thiên để về Đà Nẵng cải trang với tư thế một tu sĩ Phật giáo. [Điều Ngự Tử Tín Nghĩa – Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế, Từ Đàm Hải Ngoại tái bản 1993, Texas 1993, tr.197]

Có bao giờ Lữ Giang tự thấy mình đã quá đáng khi lấy hai chữ THÁNH CHIẾN để đặt cho cuốn sách của mình không?

Frère Ferdinand Đặng văn Toán, giáo sư Đại Học Huế thập niên 60 hình như vẫn còn sống trong một viện dưỡng lão ở Pháp, Lữ Giang cứ hỏi ngài có phải chiều 2/11/63 ngài đã đạp xe đạp lên làng Phủ Cam thăm một người học trò của ngài vừa mới ở tù ra hồi trưa và yêu cầu người học trò của ngài hứa với ngài làm gì thì làm chứ đừng dọn nhà đi khỏi làng Phủ Cam không? Có phải trong lúc Frère Ferdinand đang nói chuyện với học trò của ngài thì LM Nguyễn văn Lập cũng đi xe gắn máy đến và cũng có lời yêu cầu tương tự không? Lữ Giang cứ hỏi Frère Ferdinand sau đó ai đã gặp Tỉnh Trưởng Trung Tá Trần văn Mô và yêu cầu cho mấy chiếc xe tăng án ngữ ở cầu Kho Rèn, cầu Phủ Cam và trước lầu ông Gérard trên đường lên Từ Đàm để làm nút chận những kẻ manh động muốn xâm nhập gây rối trong làng Phủ Cam không?

Và Lữ Giang có nhớ làng Phủ Cam là làng nào không? Đó là làng của gia đình Ngô Tổng Thống và phần mộ cụ cố Ngô đình Khả đó. Lữ Giang cứ hỏi Frère Ferdinand hay những người trong làng đi rồi nói đến chuyện ai thích “thánh chiến”, ai chưa quên, ai còn nhớ chuyện gì…

Thưa Cha, Cho Con Lạy Cha ạ!

Tầm chương trích cú là chuyện chẳng đạng đừng thôi, bởi lệ thuộc vào sách vở quá thì thà đừng có sách vở là hơn như lời Khổng Tử cảnh cáo. Nhưng Lữ Giang thích dựa vào tài liệu nên ở đây phải buộc lòng cố ghi một số tài liệu với ngày tháng đầy đủ, một số trích dẫn nguyên văn cho Lữ Giang và thân hữu tha hồ tra cứu.

Có sách vở và cũng có lý trí nữa, có đức tin và cũng có trí tuệ nữa. Có khi sách vở và đức tin chỉ là những viên thuốc giảm đau, những liều thuốc an thần ru ngủ lý trí và trí tuệ, khi lý trí và trí tuệ phát hiện ra những mâu thuẩn giữa sách vở, đức tin với thực tế, với công tâm, với lương tri. Có lẽ cũng vì những mâu thuẩn đó mà tín ngưỡng về MỘT THẦN LINH DUY NHẤT đã vở ra trăm mảnh. Do Thái giáo, Hồi giáo, Chính Thống giáo, Coptic, Tin Lành, Anh giáo. Tất cả đều tin vào một Chúa, đều đọc một Thánh Kinh.

Phải chi Lữ Giang và các bằng hữu chịu khó quay về làm hòa với anh em độc thần của mình trước khi nghĩ đến chuyện giảng Phật pháp cho đám “kẻ ngoại”, trước khi “cầu cho những kẻ thờ lạy Bụt Thần, tin mê Hồi giáo”, trước khi chụp mũ kẻ khác là Cộng Sản vô thần. Một bản tin do LM Đặng thế Dũng viết vừa được phổ biến trên Radio Veritas Asia, Philippines ngày 19/5/05 loan báo là tân GH Benedict XVI vừa lên tiếng tố cáo Cộng Sản vô thần. Phật giáo cũng từng bị cố GH John Paul 2 tố cáo là vô thần. Một trong những hệ luận của những lời tố cáo này là gì?

Cộng Sản=vô thần

Cộng Sản=chống CG

Phật giáo=vô thần

Phật giáo=Cộng Sản

Phật giáo=chống CG

Đó là kết luận của Mathew Trần và các thân hữu, trong đó có Lữ Giang. Kết luận như đinh đóng cột bất chấp thực tế. Nhưng đáng tiếc là họ không nói tại sao hơn 70 năm sống trong chế độ Cộng Sản vô thần, Chính Thống giáo ở Nga không những không bị triệt tiêu mà còn tăng trưởng? Và đó cũng là trường hợp của Công giáo ở Hungary, ở Czech và Slovakia, Tin Lành và Công giáo ở Đông Đức, Chính Thống giáo ở Bulgaria và Romainia, đó cũng là trường hợp Công giáo ở Trung Quốc và Việt Nam.

Đến bao giờ thì Lữ Giang và bằng hữu mới thấy rằng Cộng Sản vô thần Yugoslavia của Tito đã không hề triệt Chính Thống giáo, Hồi giáo và Công giáo mà chính những người dân nước này đã giết nhau tới nơi tới chốn khi chế độ Cộng Sản đã sụp đổ hoàn toàn trên vùng đất này.

Phật giáo hay Cộng Sản vô thần nào đã gây ra thánh chiến ở Rwanda mà chỉ trong mấy tháng đã có gần 800 ngàn người Công giáo chết về tay người đồng đạo? Phật giáo hay Cộng Sản vô thần nào đã gây ra thánh chiến ở Bắc Ireland mà cho đến nay người Công giáo La Mã và Công giáo London hay Anh giáo vẫn tiếp tục coi nhau như kẻ thù?

Nghe Lữ Giang nói: “Đọc tài liệu của Mỹ tiết lộ về vụ thiêu Thầy Quảng Đức mới thấy ngao ngán!” và “Chỉ cần đọc bản phúc trình của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc, bản cáo trạng vụ án Đặng Sĩ, lời khai của các nhân chứng… cũng đã có thể thấy…” người ta có thể bụm miệng cười và hỏi lại: Bác Lữ Giang ơi, bác cứ nơm nớp tin vào tài liệu Mỹ nói về Thầy Quảng Đức rồi bác ngao ngán, thế cả núi tài liệu Mỹ nói về Ngô Tổng Thống, và TGM Ngô đình Thục thì bác có ngao ngán không?

Có thì giờ, mong bác chỉ đọc một quyển thôi, ví dụ quyển Diem’s Final Failure – Prelude to America’s War in Vietnam [University Press of Kansas, 2002, 298 tt.] của Philip E. Catton chẳng hạn. Chắc hẳn Catton không phải là kẻ trốn lính để khỏi sang Việt Nam, không biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, và có lẽ cũng không nhìn thấy Ngô đình Diệm lúc sinh thời nữa, Catton viết quyển này gần 40 năm sau khi Phật giáo 63. Đọc rồi, Lữ Giang hẳn sẽ cẩn thận hơn khi dành hai chữ “lếu láo” cho những người không chịu ca tụng công đức Ngô chí sĩ và Đức Tổng theo cái tập quán ‘Thưa Cha, cho con lạy Cha ạ!’

Nghe Lữ Giang bảo “Chỉ cần đọc bản phúc trình của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc, bản cáo trạng vụ án Đặng Sĩ, lời khai của các nhân chứng… cũng đã có thể thấy…” người ta sẽ không mĩm cười muốn hỏi lại: Bác Lữ Giang ơi, bác chịu khó tin tưởng vào tài liệu sách vở như thế thì bác đã đọc Da Vinci Code của Dan Brown chưa?

Quyển này đang nổi tiếng hơn cả Thánh Kinh nữa đấy. Bác chưa đọc quả là một điều thiếu sót. Ngoại trừ trường hợp bác nghe lệnh Tòa Thánh mis à l’index quyển này và không dám mó tay vào vì sợ xuống hỏa ngục. Còn nếu bác có gan đọc rồi, liệu bác chấp nhận kết luận của Brown không? Nếu Bác không đấu lý được với Brown thì bác có dựa vào câu: Tòa Thánh đã nói thế, Cha đã nói thế, để trốn chạy Brown không? Nếu tự mình bác không đấu ký nổi với Brown thì bác có bỏ đạo để theo Hồi giáo, Phật giáo hay Ấn giáo không? Và nếu không thì tại sao không? Phải chăng bác không đấu lý nổi với Brown mà cũng không bỏ đạo chỉ vì Tòa Thánh đã nói thế, Cha đã nói thế?

Trên đã thưa, và xin nhắc lại. Có sách vở và cũng có lý trí nữa, có đức tin và cũng có trí tuệ nữa. Có khi sách vở và đức tin chỉ là những viên thuốc giảm đau, những liều thuốc an thần ru ngủ lý trí và trí tuệ, khi lý trí và trí tuệ phát hiện ra những mâu thuẩn giữa sách vở, đức tin với thực tế, với công tâm, với lương tri.

Lữ Giang và bằng hữu hình như đã ghiền thuốc an thần, thuốc giảm đau nặng quá rồi nên không thiết suy luận, trăn trở, đối thoại nữa. Họ chỉ nhận là chân lý những gì do các đấng bề trên truyền xuống qua khẩu lệnh hay qua những lời quanh co vòng vo tam quốc gọi là Thần Học, một khoa học dạy cho người ta né tránh sự thật, né tránh những tra vấn của lý trí, của công tâm.

Họ quên rằng nếu lời bề trên hay thần học mà đúng thì trái đất đã đứng yên một chỗ từ năm 1632 cho đến khi Tòa Thánh đã công khai tạ lỗi với vong hồn Galileo! Nói thế khác, ngót 370 năm, trái đất không những không quay quanh mặt trời mà trái đất còn là trung tâm của vũ trụ chỉ vì đức Thánh Cha, đức Cha, hay Cha nhà thờ nói như thế.

Có bao giờ Lữ Giang và thân hữu ý thức được rằng triều đình Vaticn đã thực sự ứng xử với mình đúng như người chăn cừu đối xử với những con cừu, nghĩa là tắt đi rì đứng, bảo gì nghe nấy không?

Giáo Hoàng bày ra Kinh Kính Mừng, biến chuyện Đức Mẹ đồng trinh, lên trời cả hồn lẫn xác thành một tín điều phúc cho những người không thấy mà tin! Lữ Giang và bằng hữu cứ như vậy mà tụng và đem cả nước Việt Nam dâng cho Đức Mẹ.

Nhưng mới đây, Vatican và Anh giáo đã ký một thỏa hiệp minh định Bà Maria mẹ Đức Ky-tô không có quyền cứu chuộc ai cả! Lữ Giang và đồng hương Công giáo biết rõ là Anh giáo cũng như các giáo phái Tin Lành không thờ, không phong thánh Đức Mẹ, không cho Đức Mẹ làm phép lạ.

Bây giờ để lấy lòng Anh giáo và Tin Lành, Tòa Thánh đã thẳng tay truất hết những quyền lực thiêng liêng mà bao đời Giáo Hoàng đã tưởng tượng ra rồi gán cho Bà Maria. Tòa Thánh có thông báo rộng rải cho Lữ Giang và thân hữu biết để rút Kinh Kính Mừng khỏi các khóa lễ hằng ngày chưa? Nếu chưa thì Lữ Giang chịu khó đọc tờ The Sydney Morning Herald ngày 13/6/2005 thì biết việc nói đi nói lại của các

Cha nhà thờ!

Gánh nặng của “Cha nói như thế” đã khiến cho những người như Lữ Giang trở thành vụng về quờ quạng trong khi tranh luận hay đấu lý, chỉ vì họ được dạy rằng con người chỉ là cục đất sét, không là cái thá gì cả, phải có người hà hơi vào mới thành chuyện. Thượng đế hà hơi vào thì nên tốt, Satan hà hơi vào thì nên xấu. Cho nên cái gì Cha nhà thờ nói là tốt tuyệt đối, chân lý tuyệt đối, và cái gì không hợp với cái tốt tuyệt đối đó, dĩ nhiên sẽ được coi là xấu tuyệt đối. Ví dụ như người Cộng Sản xấu không phải là người xấu, mà là Quỷ Đỏ, mà là Satan. Họ không tin một người có thể tự mình tốt, nên họ cũng không tin một người tự mình xấu. Phải có cái gì đứng lấp ló ở sau, phải có Satan, phải có Quỷ Đỏ. Đó chính là căn bản tranh luận của Lữ Giang, Mathew Trần và bằng hữu đồng đạo. Đó là lý do tại sao họ phải đem HVG ra để đấu lý với HNN. Đó là lý do tại sao họ phải lột áo quần Saddam Hussein để trên người chỉ còn cái xì-líp. Đó là lý do tại sao Tú Gàn phải nặng lời với cá nhân Mathew Trần thay vì minh nhiên tranh luận.

Phê Bình Và Tự Phê

Người Phật tử, đúng ra là những người cố theo bước đức Phật, có thể có nhiều điều khác Lữ Giang và các đồng hữu.

Nhưng điều khác chắc chắn là người Phật tử nhìn mặt trăng chứ không nhìn ngón tay, dù đó là ngón tay của đức Phật. Làm như vậy không phải vì đó là “một tổ chức Phật giáo dzỗm được Cộng SảnVN xây dựng để đánh phá GHCGVN cũng như GHPhật giáoVNTN.” như Mathew Trần và thân hữu nhận định.

Người Phật tử không thể đối thoại, không thể tranh luận với người ngoại đạo, nếu chính họ không biết và không dám nhận những điều sai trái trong khi sống đạo của mình và đồng đạo.

Cảnh tỉnh và phê phán những hành động và quyết định sai trái của các bậc trưởng thượng là một cách bảo vệ tiềm năng hoạt động và phục vụ của tôn giáo mình. Như Lữ Giang đã cảnh tỉnh và phê phán quý LM Nguyễn văn Lý, Giải, Lợi và đồng bạn. Lữ Giang đánh các LM này vì họ ngất ngơ manh động theo đám Ngô thị Hiền, Đoan Trang và đồng bạn làm hỏng kế hoạch xúi dục cho một số tăng sĩ nhân danh GHPGVNTN quấy động để hướng mũi dùi kiểm soát của chính quyền về phía Phật giáo hầu họ có thể rãnh tay chui sâu trèo cao, tránh ăn năn tội với lịch sử, mua chuộc hủ hóa cán bộ kích động vụ Tây Nguyên để dùng tay chính quyền triệt hạ Tin Lành, vuốt ve ngoại giao với chính quyền để mở đường cho Giáo Hoàng đến Việt Nam để hồi sinh tham vọng tự trị Bùi Phát với trung tâm mới là thánh địa La Vang, dần dần biến La Vang thành một Gdansk để chuẩn bị cho một cuộc vùng dậy kiểu Poland.

Nhóm LM Lý đã phá hỏng kế hoạch đó, nên bị GHCGVN hy sinh và Lữ Giang quật cho nhừ xương mặc dù LM Lý đã ăn năn tội bằng một Tâm Thư kêu gọi GHCGVN phải ly khai với Vatican để biến thành giáo hội tự trị và yêu Chúa là yêu Xã Hội chủ nghĩa.

Thoạt đầu lúc vụ LM Lý mới xảy ra, Nguyễn bá Long đã phong cho HT Huyền Quang tổng chỉ huy mặt trận đối kháng quốc nội và HT Tâm Châu, Tổng chỉ huy mặt trận hải ngoại. Những tài liệu này còn nằm sờ sờ trong tạp chí Khai Thác Thị Trường của Nguyễn bá Long, chủ tịch Hiến Chương Roma 89, con đẻ của Đức Ông Trần văn Hoài. Có bao giờ Lữ Giang, Mathew Trần và đồng bạn nghĩ rằng đó là một hành động lếu láo không?

Trong khi Nguyễn bá Long đã biến quý ngài Huyền Quang, Tâm Châu thành hai con chốt sang sông thì đồng bạn của họ ở trong nước dậm dật dụ hoặc HT Quảng Độ ký thông cáo chung “ma” với Hồng Y Phạm đình Tụng, hợp tung với bộ máy tuyên truyền quốc ngoại của họ khua chiêng đánh mõ là đang vận động giải Nobel Hòa Bình cho HT Quảng Độ và dàn dựng Thượng Tọa Tuệ Sĩ thành Tiêu Sơn Tráng Sĩ tay cầm bút viết Giấc Mơ Trường Sơn, tay cầm súng phục quốc và chờ lảnh giải Nobel văn chương.

Chiến dịch này được sự tiếp tay tích cực của Võ văn Ái đang cần công tác để tái tục đơn xin tiền trợ cấp định kỳ của Mỹ. Võ văn Ái và Ỷ Lan đã quyến rũ được một số Dân Biểu Nghị Sĩ cơ hội chủ nghĩa sẵn sàng đẩy quý ngài đến chỗ chết miễn giúp họ kiếm phiếu trong kỳ tranh cử sắp tới.

Một số Thầy “thống nhất” ở ngoài lơ mơ tiếng Tây tiếng U, các ngài ở nhà thì cứ như ếch ngồi đáy giếng về chuyện thế sự, nên trăm vạn sự đều trông cậy vào Võ văn Ái và Ỷ Lan, đều giao khoán cho một vài cậu ấm cố vấn chính trị cỡ Nguyễn trọng Nho, Trần quang Thuận, Bùi ngọc Đường, Lê công Đa, Cao chánh Hựu và đám này lại trông cậy bộ máy tuyên truyền ngoại đạo đang làm mọi cách để biến quý ngài thành thánh tử đạo, đang làm hết cách để biến Phật giáo Thống Nhất thành kẻ thù không đội trời chung của chính quyền. Và họ đã thành công.

Bằng chứng là thứ nhất, cả ba ngài Huyền Quang, Quảng Độ và Tuệ Sĩ kẻ nại cớ nhập thất, người viện lý do dịch kinh để trốn không dám gặp ngài Nhất Hạnh về nước như một cái phao cứu họ đang chìm xuồng, bao năm nay loay hoay trong cái thế chiếu bí vô tích sự.

Thứ hai, đọc bản báo cáo ngày 5/4/05 của Huỳnh hữu Chiến, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục An Ninh – Bộ Công An đánh giá tình hình an ninh trật tự thì rõ. GHPGVNTN đã được điểm mặt là mối nguy đứng đầu sổ, thứ đến là Phật giáo Hòa Hảo. Công giáo? không! Tin Lành? không! Pháp Luân Công? không! Vô Thượng Sư Thanh Hải? không! Ngay cả tham nhũng và hối mại quyền thế là những kẻ thù tối độc của dân tộc cũng không được nhắc đến. Nói thế khác, GHPhật giáoVNTN đã được xem như nguy hiểm cho an ninh trật tự xã hội hơn là tham nhũng và hối mại quyền thế, trong khi những tố cáo của những tên cò mồi hay những thành phần có ác cảm với Việt Nam về chuyện vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm tự do dân chủ đã không hề ghi nhận một ta thán oán than hay tố cáo nào của Công giáo.

Nói lên những điều đó, cảnh giác những điều đó không phải là “đánh phá” GHPhật giáoVNTN hay GHCGVN như Lữ Giang, Mathew Trần bảo. Nói lên những điều đó là bảo vệ Phật giáo, đúng ra là bảo vệ tiền năng tu học và hoạt động Phật sự của người Phật tử mà các Thầy là người chịu trách nhiệm trực tiếp.

Nói lên những điều đó là gián tiếp nhắc nhở những đồng bào ngoại đạo như Lữ Giang, Mathew Trần, Ngô thị Hiền, Đoan Trang và hàng ngàn tên ma tên quỷ khác đang rấp ranh biến một số Phật tử vô tâm thành những đứa trẻ bốc phân gà, những kẻ ngất ngơ cầm dù cầm lọng hầu thiên hạ.

Đào Huyệt Chôn Lãnh Tụ Anh Minh

Mười hai thánh tông đồ mà hôm nay Lữ Giang đang cúc cung thờ phượng đều là những kẻ đã phản Đức Ky-Tô, và có người còn phản đến ba lần. Và nếu thánh cũng có khi sai thì con người cũng thế, ngay cả người lãnh đạo anh minh.

Từ khi Ngô đình Diệm về nước cho đến 1963, những người như Lữ Giang và đồng hữu có một lời nào phê bình, cảnh tỉnh, can gián, nhắc nhở lãnh tụ anh minh của mình như tôi nhắc nhở một số Thầy “thống nhất” không? Nếu không thì hôm nay, thay vì bênh anh em nhà Ngô, Lữ Giang nên thống tâm ăn năn tội, cái tội đã không làm trọn thiên chức của một kẻ sĩ, cái tội đã vô tình hay hữu ý đào huyệt chôn lãnh tụ anh minh bằng một lòng tin mù quáng tuyệt đối, của mình là nhất, của thiên hạ là đồ bỏ.

Có lẽ nghĩ như vậy nên Lữ Giang mới nghĩ rằng HVG đi dự khóa huấn luyện Nhân Vị ở Suối Lồ Ồ mùa hạ 1963 do Ngô đình Nhu chủ xướng là một âm mưu tư lợi.

Phải chi Lữ Giang đọc tuần báo Lập Trường Huế ngày trước hay bài của Cao Huy Thuần trên Diễn Đàn mấy năm trước đây về chuyện này thì hai chữ LẾU LÁO mà Lữ Giang dùng hẳn sẽ không như nắm tro bụi bay ngược lại kẻ đứng đầu gió?

Còn điều gì quên chưa nói với Lữ Giang nữa không?

Huỳnh Bất Hoặc

Source : http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=5662:leu-lao&catid=2:khaocuu&Itemid=4

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 7, 2012 in Uncategorized

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: