RSS

About

Cưỡng bách tư tưởng của trẻ sơ sinh là tội ác.

Ngăn chận hôn nhân khác giáo phái là tội ác.

Con người phải được tự do tư tưởng, tự do lựa chọn hạnh phúc.

 

8 responses to “About

  1. pacsua

    Tháng Mười Hai 18, 2011 at 4:04 sáng

    agree với chủ blog,hi vọng dc kết bạn

     
  2. tranbot

    Tháng Mười Hai 25, 2011 at 4:41 chiều

    Đúng!

     
  3. Trung

    Tháng Một 19, 2012 at 7:32 sáng

    Chủ blog nói con người có tự do tư tưởng, thế mà là kiểm duyệt bài viết của đọc giả. Hành động của bạn chẳng khác gì chống dối những tư tưởng trái chiều của bạn. Đề nghị bạn không xóa bài viết của người khác có ý kiến trái chiều với bạn, và dừng kiểm duyệt bài viết của người khác. Internet là nơi tự do ngôn luận. Cám ơn

     
  4. loanphuong

    Tháng Một 19, 2012 at 11:37 sáng

    Mình loại bỏ những lời lẽ biện minh cho tội ác. Mình phải duyệt để các bạn thần giáo cảm nhận tư tưởng của độc thần giáo của bạn nó bức bối tư tưởng người khác thế nào. Bạn nghĩ giáo lý ”độc thần” của bạn luôn luôn đúng và không bao giờ bạn nghe lời người khác nói. Mình thử không để cho bạn lập luận trái ngược những gì mình post. Bạn cảm thấy sao?

     
  5. loanphuong

    Tháng Một 19, 2012 at 11:53 sáng

    Phật giáo – Ki tô giáo đối chiếu qua những nhận định điển hình của một số danh nhân trí thức thế giới 26 Tháng 6 Trần Chung Ngọc sưu tầm Lời Nói Đầu: Đây là bản “đối chiếu” giữa thực chất của Phật Giáo và Ki Tô Giáo chứ không phải để “so sánh” vì về căn bản tín ngưỡng tôn giáo, chúng ta không có cách nào có thể so sánh Phật Giáo với Ki Tô Giáo được. Lý do rất đơn giản, vì Phật Giáo là tôn giáo của trí tuệ , mà trí tuệ thì không thể tách rời “Lý Trí” [Reason]. Đại Học Vạn Hạnh trước đây có “motto”: ‘Duy Tuệ Thị Nghiệp’. Còn Ki Tô Giáo thì ai cũng biết đó là tôn giáo của “Đức Tin” [Faith]. Vậy thì trước hết chúng ta cần phải biết định nghĩa của Đức Tin và của Lý Trí. Theo H. L. Mencken thì “Đức tin có thể định nghĩa ngắn gọn như là một niềm tin phi lý vào những gì không chắc chắn xảy ra (Faith may be defined briefly as an illogical belief in the occurrence of the improbable.) Còn theo Tự Điển thì “Đức Tin là sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực” [Faith is the firm belief in something for which there is no proof] Trong tự điển có 2 định nghĩa của Lý Trí: “khả năng có những tư tưởng hợp lý, suy lý hoặc phân biệt” (The capacity of rational thought, inderence, or discrimination), và “suy xét đúng, phán đoán hợp lý” (Good judgment, sound sense). Vì vậy, trong cuốn “The Final Superstition”, Joseph L. Dalaiden, một học giả Công Giáo, đã để nguyên một chương để thảo luận về “Lý Trí đối với Đức Tin” và đưa ra kết luận: “Lý Trí đối với Đức Tin: con đường đi tới hiểu biết, con đường đi tới mê tín” [Reason versus Faith: A Path to Knowledge, a Path to Superstition.] Như vậy, trước đây khi Giáo hoàng John Paul II gửi một thông tri cho các giám mục của ông ta về đề tài “Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí” (The relationship between faith and reason) thì thật ra ông ta chỉ viết bậy. Nhưng dù ông ta có viết bậy thì đám con chiên của ông ta vẫn ca tụng “đức thánh cha” của họ như thường, vì đó là truyền thống “quên mình trong vâng phục”, tuyệt đối thi hành “đức vâng lời” cao quý nhất của Công giáo. Nếu chúng ta không thể so sánh về căn bản tín ngưỡng của Phật Giáo và Ki Tô Giáo thì chúng ta có thể đối chiếu được một số phương diện nào của hai tôn giáo trên không? Một câu hỏi của một độc giả Giao Điểm đã giúp tôi giải quyết vấn đề. Trong cuốn “Đức Tin Công Giáo: Một Khảo Luận Trong Ánh Sáng Của Khoa Học Và Lý Trí”, tôi đã sưu tầm và đưa ra những nhận định của 75 danh nhân, trí thức Âu Mỹ về God của Ki Tô Giáo và Ki Tô Giáo [Xin đọc: http://sachhiem.net/TCNtg/TCN22.php%5D. Có độc giả đặt vấn đề với tôi: “Thế thì các danh nhân trí thức Âu Mỹ nghĩ gì về Đức Phật và Phật Giáo?” Tôi nghĩ đây là một câu hỏi hay, cần thiết nghiên cứu để đối chiếu với những nhận định về Ki Tô Giáo, và có thể coi như là tiêu chuẩn để đối chiếu thực chất của hai tôn giáo.. Từ trước tới nay, tôi không nghĩ ra điều này, vì tôi không có ý định quảng cáo Phật Giáo nên tôi đã không quan tâm mấy xem các danh nhân trí thức Âu Mỹ nghĩ gì về Đức Phật và Phật Giáo, tuy tôi đã đọc khá nhiều sách của các tác giả Tây phương viết về Đức Phật và Phật Giáo. Tại sao? Vì tôi tin rằng, hữu xạ tự nhiên hương, và tôi cũng tin rằng: “đã là chánh Pháp thì dù không có ai theo cũng vẫn là chánh Pháp, và đã là tà pháp thì dù có cả tỉ người theo cũng vẫn là tà pháp.” David Mills, trong cuốn “Atheist Universe”, có trích dẫn câu nói của Bertrand Russell, 2 giải Nobel: “Nếu 50 triệu người tin vào một chuyện lừa phỉnh, thì chuyện đó vẫn là chuyện lừa phỉnh” [If 50 million people believe a foolish thing, it is still a foolish thing] (Tuy nhiên, Jack Huberman, tác giả cuốn “The Quotable Atheist”, cho rằng câu nói này chính là của Anatole France, một đại văn hào Pháp, khi nói về các tín đồ Công giáo trong thời đại của ông ta, trong cuốn “La Révolte des Anges”. TCN). Việt Nam có hai tôn giáo có nhiều tín đồ nhất là Phật Giáo và Công Giáo. Công Giáo chiếm, tối đa vào khoảng 7% dân số. Còn Phật Giáo thì chúng ta thực sự không biết rõ tỷ lệ là bao nhiêu, vì không phải chỉ có những người quy y Tam Bảo mới kể là theo Phật Giáo. Tôi có rất nhiều bà con thân thuộc và bạn bè rất ít khi hay chẳng bao giờ đi Chùa, và cũng chẳng quy y Tam Bảo, nhưng nhà nào cũng có tượng Phật, hay ảnh Phật, và kinh sách Phật v..v.. Ngay trong gia đình tôi, chỉ có mình tôi là đã quy y Tam Bảo, còn tiện nội cũng không quy y, nhưng cũng thường đi Chùa lễ Phật và đọc kinh sách Phật Giáo. Cho nên, tôi nghĩ người theo đạo Phật, dưới hình thức này hay hình thức khác, tất nhiên phải là tuyệt đại đa số. Lịch sử đã viết rằng: “Thiên hạ Lý Trần bán vi Tăng” [Trong những triều đại Lý, Trần một nửa bàn dân thiên hạ sống như các vị Tăng Phật Giáo]. Còn tuyệt đại đa số người dân khi đó sống không ít thì nhiều đều có ảnh hưởng của Phật Giáo. Đây cũng là những triều đại mà xã hội hiền hòa nhất trong lịch sử Việt Nam Vậy tôi nghĩ ngày nay người dân Việt Nam cũng nên biết rõ về bản chất của hai tôn giáo chính ở Việt Nam như trên. Đây là điều rất cần thiết trong thời đại ngày nay. Trong 14 Điều Phật Dạy thì điều thứ 13 nói rằng: “Khiếm khuyết nhất của đời người là kém hiểu biết.” Vì kém hiểu biết nên chúng ta thường đi lạc đường, tin vào những điều không thể tin được, đắm mình trong ma đạo, và từ đó đã có những hành động phi dân tộc, phản tổ quốc.. Muốn đối chiếu hai tôn giáo, chúng ta không thể lấy vài câu lạc lõng giống nhau trong kinh điển của mỗi tôn giáo để so sánh và cho là có sự tương đồng, mà phải nghiên cứu về mọi khía cạnh của mỗi tôn giáo, ít ra là về Tư Cách Giáo Chủ, Giáo Lý, Lịch sử truyền đạo, Giáo Lý đã được áp dụng như thế nào, các tín đồ tôn giáo đó đã đóng góp được gì cho nhân loại v..v… Đây là một công việc vừa có tính hàn lâm vừa rất trí thức mà giới học giả và trí thức Âu Mỹ đã làm từ mấy trăm năm nay rồi. Tuy nhiên rất có thể khi đưa ra những sự thực về tôn giáo, chúng ta có thể bị ngộ nhận, thậm chí có khi bị lên án sai lầm, là chống tôn giáo hay phê bình chỉ trích tôn giáo. Thật vậy, có nhiều người đưa ra luận cứ là tôn giáo nào cũng dạy cho con người có đạo đức, làm lành tránh ác, bản chất đều giống nhau, do đó không nên phê bình chỉ trích tôn giáo. Điều này thường là luận điệu chống đỡ của những tôn giáo bị nhân loại phê bình, chỉ trích những khía cạnh tiêu cực của tôn giáo đó mà vô phương biện cãi bằng lý luận. Bertrand Russell cũng đã đưa ra nhận định: “Người ta thường nói tấn công tôn giáo là điều rất sai lầm vì tôn giáo làm cho con người đạo đức. Người ta nói với tôi như vậy; (nhưng) tôi không nhận thấy như vậy..” [One is often told that it is a very wrong thing to attack religion, because religion makes men virtuous. So I am told; I have not noticed it..]. Thật vậy, luận cứ trên không đứng vững vì “dạy con người làm lành tránh ác” là sự phát triển của tri thức con người và chung cho dân gian chứ không chỉ nằm trong tôn giáo. Chẳng có cha mẹ nào, dù họ là người vô thần hay vô tôn giáo lại dạy con cái “làm ác tránh lành”. Đạo Khổng thực sự không phải là một tôn giáo, nhưng Đức Khổng Tử đã dạy con người một số những tiêu chuẩn đạo đức trong xã hội mà cả thế giới ngày nay đều tán thán. Mặt khác, Bertrand Russell nói như trên vì ông ta đã biết rõ lịch sử Công giáo dạy “làm lành tránh ác” như thế nào, hiển nhiên không phải là “Ki Tô Giáo làm cho con người đạo đức..” mà trái lại. Thật vậy, chúng ta không thể cứ nhắm mắt tin bừa vào những lời khoa trương trống rỗng như “Thiên Chúa lòng lành” mà phải tìm hiểu xem trong cuốn Kinh Thánh, Thiên Chúa đã “lòng lành” như thế nào? Cũng vậy, chúng ta không thể nào tin vào những lời tự khoa trương của giáo dân như “sống đạo, tốt đời” mà phải tìm hiểu xem trong giòng lịch sử, giáo dân đã “sống đạo, tốt đời” như thế nào. Tất cả những công cuộc tìm hiểu này đều nằm trong lãnh vực học thuật để mở mang đầu óc của người dân bình thường không có cơ hội và/hoặc khả năng tìm hiểu. Giúp cho họ hiểu biết đúng là một món quà vô giá mà chúng ta có thể tặng cho họ. Tuy Phật Giáo có trước Ki Tô Giáo cả 5, 6 trăm năm, nhưng thế giới Tây Phương mới chỉ thật sự biết đến Phật Giáo từ vài thế kỷ nay. Cho nên chúng ta không hi vọng có những nhận định về Đức Phật và Phật Giáo trong suốt chiều dài lịch sử của Phật Giáo tương tự như Ki Tô Giáo. Năm 1994, Stephen Batchelor xuất bản cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), nội dung viết về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương. Cuốn sách được giới thiệu như sau: Từ thời đại đế Alexandre, các vua chúa và giáo hoàng Tây phương đã mong mỏi kiếm được quyền lực bằng cách chinh phục Á Châu. Qua nhiều thời kỳ họ đã phái từng đợt sứ giả và các nhà truyền giáo tới Á Châu để tiếp xúc với những người “ngoại đạo”, nhưng tâm thức hẹp hòi của người Tây phương [về tôn giáo] đã làm cho những người này chẳng biết được bao nhiêu về Phật Giáo. Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tâm linh có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây phương.” (Since the time of Alexander the Great, European kings and popes longed for the power to be gained through the conquest of Asia. They sent periodic streams of envoys and missionaries to establish contact with the “infidels,” but the European’s narrow-mindedness prevented them from learning much at all about Buddhism. Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West.) Vì thế, nếu chúng ta trích dẫn nhận định về Phật Giáo của những người thuộc các loại sứ giả và thừa sai trên thì chúng ta không thể nào có một hình ảnh đúng về Phật Giáo. Mặt khác, nếu kể đến những nhận định về Đức Phật và Phật Giáo của những Tăng Ni trí thức Phật Giáo thì nhiều không đếm xuể và không tránh khỏi lời phê bình là đã trích dẫn theo thiên kiến. Vì vậy để công việc sưu tầm được vô tư, như về Ki Tô Giáo tôi chỉ đưa ra những nhận định của một số danh nhân trí thức Âu Mỹ, thì đối với Phật Giáo, tôi cũng chỉ đưa ra nhận định của một số danh nhân trí thức trên thế giới, phần lớn là Âu Mỹ, trong thời cận đại, vì lý do như trên đã nói, Tây phương mới biết đến Phật Giáo gần đây. Chúng ta nên để ý là nhận định về God và Ki Tô Giáo đều là của các bậc thức giả Âu Mỹ trong những xã hội Ki Tô chứ không phải của những người thuộc các tôn giáo khác trong đó có Phật Giáo. Nay, sau một thời gian sưu tầm, tôi đã thêm vào phần nhận định về God [của Ki Tô Giáo] và Ki Tô Giáo một số tác giả khác, và đồng thời cũng xin trình bày thêm những nhận định của một số danh nhân trí thức Âu Mỹ về Phật Giáo, lẽ dĩ nhiên còn nhiều thiếu sót về cả hai phía. Tôi cho rằng, đây là tiêu chuẩn có giá trị nhất để đối chiếu thực chất của hai tôn giáo: Ki Tô Giáo và Phật Giáo, vì các bậc trí thức nổi danh trên thế giới thường có trình độ hiểu biết cao, làm việc trong tinh thần khoa học với đầu óc sáng suốt hơn quần chúng thông thường nhiều, và có địa vị trong xã hội cũng như trên thế giới mà họ phải trân trọng. Họ thường không đánh giá một tôn giáo qua vài câu lạc lõng trong Kinh điển của tôn giáo đó, mà qua, như trên đã nói: Tư Cách Giáo Chủ, Giáo Lý, Lịch sử truyền đạo, Giáo Lý đã được áp dụng như thế nào, các tín đồ tôn giáo đó đã đóng góp được gì cho nhân loại v..v… Xuyên qua một số nhận định điển hình này, chúng ta cũng có thể thấy rõ sự khác biệt giữa God [của Ki Tô Giáo] và Đức Phật, giữa Ki Tô Giáo và Phật Giáo. Khác biệt như thế nào. Xin mời quý độc giả hãy đọc những nhận định của một số danh nhân trí thức trên thế giới về God [của Ki Tô Giáo] và Ki Tô Giáo, cũng như về Đức Phật và Phật Giáo, và tự đánh giá lấy thực chất của mỗi tôn giáo. Trong số những danh nhân trí thức liệt kê, có một số đã đưa ra những nhận định về cả hai tôn giáo: Ki Tô Giáo và Phật Giáo. Để đối chiếu, tôi xin ghi lại những nhận định của họ về Ki Tô Giáo song song với những ghi nhận về Phật Giáo trong phần những nhận định về Phật Giáo. * * * Công cuộc sưu tầm này gồm 2 phần: Phần I là những nhận định của 100 danh nhân trí thức Âu Mỹ về God (của Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, Anh giáo và Chính thống giáo) và Ki Tô Giáo (Công giáo và Tin Lành), và Phần II là nhận định của 100 danh nhân trí thức trên thế giới về Đức Phật và Phật Giáo. Như thông lệ, chổ nào có thể được, tôi cũng xin chua thêm câu nguyên ngữ bằng tiếng nước ngoài để bạn đọc có thể trích dẫn trực tiếp. Tôi hi vọng kết quả sưu tầm này được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, và nhất là các bậc lãnh đạo và trí thức trong Phật Giáo và Ki Tô Giáo cũng nên đọc để mà biết đến giá trị thực sự của tôn giáo mình. Tôi cũng hi vọng bản so sánh đối chiếu này sẽ được dán trên cánh cửa của mọi nhà thờ cũng như mọi Chùa trên đất nước Việt Nam. * PHẦN I: NHẬN ĐỊNH CỦA MỘT TRĂM DANH NHÂN TRÍ THỨC ÂU MỸ VỀ “GOD” VÀ KI-TÔ GIÁO? Trần Chung Ngọc Sưu Tầm Victor Hugo: Một Địa Ngục Thông Minh Thì Tốt Hơn Là Một Thiên Đường Ngu Xuẩn [Victor Hugo: “An intelligent hell would be better than a stupid paradise.”] Lloyd Graham: “Chúa Ki Tô cầu nguyện (Chúa Cha): “Cha hãy tha thứ cho họ vì họ không biết là họ đang làm gì”… Nếu cái tên Ki Tô không biết gì về siêu hình học này (Giê-su) mà có chút kiến thức nào về luật nhân quả, thì lời cầu nguyện của hắn phải đọc ngược lại – “Con người, hãy tha thứ cho Thượng đế, vì hắn không biết là hắn đã làm gì.” Tất cả cuộc sống đều chứng tỏ cái sự kiện thê thảm này, cho nên vấn đề không phải là Thượng đế có tha thứ cho tội lỗi của con người hay không, mà là con người có thể tha thứ cho sự độc ác của Thượng đế hay không? (Christ prayed: “Father forgive them for they know not what they do.”… Had this metaphysically ignorant Christ possessed any knowledge of Causation, his prayer would read in reverse – “Man, forgive God, for he knows not what he does.” All life attests this tragic fact, so the question is not, will God forgive man for his sins? but can man forgive God for his cruelty? ) * Theo tự điển The American Heritage Dictinonary của Mỹ thì định nghĩa của Tôn Giáo là: “Niềm tin và sự kính ngưỡng vào một quyền năng siêu nhiên được biết như là một đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ” (Religion = Belief in and reverence for a supernatural power recongnized as the creator and governor of the universe). Trong những phần trích dẫn sau đây, danh từ “tôn giáo” chỉ những tôn giáo độc thần như Ki Tô Giáo, và danh từ “thần” (God) thường để chỉ vị “thần của người Do Thái trở thành thần của Ki Tô Giáo” mà người Ki Tô Giáo thường gọi là “Thượng đế” hay “Thiên Chúa”. Những từ này không áp dụng cho Phật Giáo, Lão Giáo hay Khổng Giáo. Mặt khác, chúng ta cũng nên biết, God của Ki Tô Giáo chính là God của Do Thái Giáo trước khi Ki Tô Giáo ra đời, và cũng là God của Hồi Giáo, sau khi Ki Tô Giáo ra đời. 1. Simonides (556-468 TTL = Trước Thường Lịch), Thi sĩ Hi Lạp: * Càng suy nghĩ về chủ đề Thiên Chúa, tôi càng thấy nó trở nên tối tăm. (The more I consider the subject of God, the more obscure it becomes.) 2. Empedocles (495-435 TTL), Triết gia Hi Lạp: * Không có Thiên Chúa nào làm ra thế giới, cũng chẳng có người nào làm ra; thế giới từ xưa vẫn luôn luôn như vậy. (None of the gods has formed the world, nor has any man; it has always been.) 3. Aristotle (384-322 TTL), Triết Gia Hi Lạp: * Con người tạo ra Thiên Chúa theo hình ảnh của chính con người, không chỉ theo hình dạng của con người mà còn theo lối sống của con người. (Men creates gods after their own image, not only with regard to their form but with regard to their mode of life.) 4. Demosthenes (384-322 TTL), Nhà hùng biện thành Athenes: * Chúng ta tin bất cứ cái gì chúng ta muốn tin. (We believe whatever we want to believe.) 5. Epicurus (341-270 TTL), Triết Gia Hi Lạp: * Hoặc Thiên Chúa muốn hủy bỏ sự ác, và không thể; Hoặc Thiên Chúa có thể hủy bỏ nhưng không muốn.. Nếu Thiên Chúa muốn, nhưng không thể làm được, Thiên Chúa bất lực. Nếu Thiên Chúa có thể, nhưng không muốn, Thiên Chúa thật là xấu xa.. Nếu Thiên Chúa không thể và cũng không muốn, Thiên Chúa vừa bất lực vừa xấu xa. Nhưng nếu (như họ thường nói) Thiên Chúa có thể hủy bỏ sự ác và Thiên Chúa thật sự muốn như vậy, Tại sao trên cõi đời này lại có sự ác? (Either god wants to abolish evil, and cannot; Or he can, but does not want to; If he wants to, but cannot, he is impotent. If he can, but does not want to, he is wicked.. If he neither can, nor wants to, He is both powerless and wicked. But if (as they say) god can abolish evil, And god really wants to do it, Why is there evil in the world?) 6. Lucretius (99-55 TTL), Triết Gia La Mã: * Mọi tôn giáo đều tuyệt vời đối với người dốt nát, có ích đối với chính trị gia, và lố bịch đối với triết gia. (All religions are equally sublime to the ignorant, useful to the politician, and ridiculous to the philosopher.) 7. Statius (~45-96 TL = Thường Lịch), Thi sĩ La Mã: * Chính là sự sợ hãi trong thế giới đã tạo ra các Thiên Chúa . (It was fear in the world that created the gods.) 8. Tacitus (55-120 TL), Sử gia La Mã: * Ki Tô Giáo là một sự mê tín có tính truyền nhiễm. (Như bệnh dịch hạch. TCN) (Christianity is a pestolent superstition.) 9. Michel de Montaigne (1533-1592), Văn sĩ Pháp: * Không có gì được tin chắc bằng những điều mà chúng ta biết ít nhất. (Nothing is so firmly believed as what we least know); * Những người có trình độ hiểu biết đơn giản, ít đầu óc tìm tòi và ít học vấn là những tín đồ Ki Tô tốt (Men with simple understanding, little inquisitive and little instructed make good Christians.) 10. Sir Francis Bacon (1561-1626), Khoa học gia và triết gia Anh: * Người tin thuyết Chúa Ba Ngôi tin rằng một trinh nữ chính là mẹ của một đứa con đã tạo ra bà ta. (The trinitarian believes a virgin to be the mother of a son who is her maker.) 11. Ferdinand Magellan (1480-1521), Nhà hàng hải Bồ Đào Nha: * Giáo hội bảo rằng trái đất thì phẳng dẹt, nhưng tôi biết rằng nó hình cầu, vì tôi đã nhìn thấy bóng nó trên mặt trăng, và tôi tin vào một cái bóng hơn là tin vào giáo hội. (The church says the earth is flat, but I know that it is round, for I have seen the shadow on the moon, and I have more faith in a shadow than in the church) 12. Thomas Hobbes (1588-1679), Tư tưởng Gia Anh: * Thần học là vương quốc của sự tối tăm (Theology is the kingdom of darkness); * Tôn giáo giống như những viên thuốc mà người ta phải nuốt chửng cả viên. (Religions are like pills, which must be swallowed whole without chewing). 13. Baron de Montesquieu (1689-1755), Viện sĩ Hàn Lâm Viện Pháp: * Không có vương quốc nào phải chịu đựng nhiều nội chiến như là vương quốc của Chúa Ki-Tô (No kingdom has ever suffered as many civil wars as the kingdom of Christ); * Nếu các hình tam giác mà tạo ra một Thiên Chúa thì chúng sẽ làm cho ông ta có ba cạnh (If triangles made a god, they would give him three sides); * Lịch sử có đầy những cuộc chiến tranh tôn giáo; nhưng, chúng ta phải nhận xét cẩn thận, không phải vì có nhiều tôn giáo mà có nhiều chiến tranh, mà vì tinh thần không khoan nhượng trong một tôn giáo (Công giáo) nghĩ rằng mình có quyền thống trị (History is full of religious wars; but, we must take care to observe, it was not the multiplicity of religions that produce these wars, it was the intolerating spirit which animated that one which thought she had the power of governing). 14. Voltaire (1694-1778), Văn hào, Triết gia .. Pháp: * Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); * Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm; * Những tín đồ Ki-Tô là những người bất khoan dung nhất (Christians have been the most intolerant of all men); * Hãy nghiền nát cái đồ ô nhục- Ki Tô Giáo (Écrasez l’infâme! [crush the infamous thing – Christianity]; * Vô thần là thói xấu của một số nhỏ những người thông minh (Atheism is the vice of a few intelligent people); * Thần Ki-Tô luôn luôn ở phía những tiểu đoàn mạnh nhất (God is always on the side of the heaviest battalions); * Tai họa giáng vào thế giới qua tội lỗi của Adam. Nếu cái tên ngu đần ấy không phạm tội, chúng ta đã có thể không bị làm khổ bởi bệnh đậu mùa, bệnh ghẻ, hoặc môn thần học, hoặc đức tin duy nhất có thể cứu rỗi chúng ta (Evil came into the world through the sin of Adam. If that idiot had not sinned, we should not have been afflicted with the smallpox, nor the itch, nor theology, nor the faith which alone can save us.); * Lời của Thần Ki Tô là lời của các linh mục; sự vinh quang của Thần Ki Tô là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Thần Ki Tô là ý của các linh mục; xúc phạm Thiên Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Thiên Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.) 15. David Hume (1711-1776), Triết gia Tô Cách Lan: * Những tín đồ Ca-Tô là một hệ phái trí thức? Trong mọi tôn giáo, tôn giáo vô lý và vô nghĩa nhất là tôn giáo mà trong đó những người hiến thân cho Chúa ăn thịt Chúa mình sau khi đã tạo ra ông ấy (The Roman Catholics are a very learned sect?..Of all religions, the most absurd and nonsensical is that whose votaries (người hiến thân cho Chúa) eat, after having created, their deity). 16. Denis Diderot (1713-1784), Khoa học Gia Pháp: * Ki-Tô giáo dạy chúng ta phỏng theo một vị Thần độc ác, ngấm ngầm, ghen tuông, và không thể nguôi trong những cơn phẫn nộ của ông ta (The Christian religion teaches us to imitate a God that is cruel, insidious, jealous, and implacable in his wrath); * Sự cuồng tín chỉ cách sự man rợ có một bước (Fanaticism is just one step away from barbarism); * Hãy xét cái hình ảnh mà người ta vẽ cho chúng ta về Đấng Tối Cao, người có đầu óc ngay thẳng nhất phải ước rằng hắn ta đừng có hiện hữu (Considering the picture that is drawn for us of the Supreme Being, the most righteous soul must be tempted to wish that he did not exist). 17. Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: * Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của giới giáo sĩ thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.); * Những tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ, Người đại diện của Chúa Ki Tô (Giáo hoàng John XXIII, 1414) chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp đồng giống, và loạn luân (The most serious charges were suppressed; the Vicar of Christ (Pope John XXIII, 1414) was accused only of piracy, murder, rape, sodomy, and incest.) 18. Pierre Bayle (1647-1706), Triết gia Pháp: * Về những vấn đề tôn giáo, rất dễ lừa dối một người, nhưng rất khó mà giải hoặc hắn (In matters of religion, it is very easy to deceive a man, and very hard to undeceive him); * Không có quốc gia nào hiếu chiến như là những quốc gia theo Ki Tô Giáo (No nations are more warlike than those which profess Christianity) 19. Samuel Butler (1612-1680), Thi sĩ Anh: * Chúa Ki-Tô chỉ bị đóng đinh trên thập giá một lần, và trong vài tiếng đồng hồ. Hãy nghĩ tới hàng ngàn người bị hắn đóng đinh trên thập giá một cách thầm lặng từ khi đó (Christ was only crucified once, and for a few hours. Think of thousands he has been crucifying in a quiet way ever since). 20. Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia Anh: * Trong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới giáo sĩ là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.) 21. Frederik the Great (1712-1786), Vua nước Phổ: * Mọi nhà thần học đều giống nhau.. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền trên tâm thức con người. Do đó, họ khủng bố mọi người chúng ta đã dám táo bạo phanh phui sự thật (Theologians are all alike .. Their aim is always to wield despotic authority over men’s consciences. They therefore persecute all of us who have the temerity to unveil the truth.) 22. Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan: * Người nào đọc lịch sử giới giáo sĩ không đọc gì khác ngoài sự gian xảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churhmen.) 23. Claude Adrien Helvétius (1715-1771), Triết gia Pháp: * Một người tin rằng hắn ăn thịt Chúa của hắn, chúng ta không bảo là hắn điên; một người nói rằng hắn là Chúa Giê-su Ki Tô, chúng ta bảo rằng hắn điên,. (A man who believes that he eats his God we do not call mad; a man who says he is Jesus Christ, we call mad.) 24. Baron d’Holbach (1723-1789), Triết gia Pháp: * Nếu sự không hiểu thiên nhiên đã sinh ra những thần, thì sự hiểu biết về thiên nhiên sẽ đi đến chỗ dẹp bỏ những thần này. (If the ignorance of nature gave birth to the gods, knowledge of nature is destined to destroy them.) 25. Benjamin Franklin (1706-1790), Khoa học gia Mỹ: * Cách nhìn mọi sự việc bằng đức tin là nhắm con mắt của lý trí. (The way to see by faith is to shut the eye of reason). 26. Immanuel Kant (1724-1804), Triết gia Đức: * Cái chết của tín lý là sự ra đời của đạo đức; Lý trí không bao giờ có thể chứng minh sự hiện hữu của Thần KiTô (The death of dogma is the birth of morality; Reason can never prove the existence of God.) 27. John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh: * Đạo Ca-Tô Rô-Ma có ít tính chất tôn giáo hơn là sự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Chist himself.) 28. Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh: * Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world). 29. Thomas Paine (1737-1809), triết gia Anh, tác giả cuốn sách nổi tiếng Thời Đại Của Lý Trí: * Cuốn Tân Ước dạy chúng ta những gí? Tin rằng Đấng Toàn Năng phạm tội lăng nhăng với một người đàn bà đã có chồng; và tin vào cái chuyện lăng nhăng này gọi là đức tin. (What is the New Testament teaches us? To believe that the Almighty committed debauchery with a woman engaged to be maried; and the belief of this debaucery is called faith; * Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion); * Tin vào một Thiên Chúa độc ác làm cho con người thành độc ác (Belief in a cruel god makes a cruel man.); * Một thầy giáo giỏi có ích hơn là 100 linh mục (One good school master is of more use than a hundred priests.) 30. Ethan Allen (1738-1789), Nhà cách mạng Mỹ: * Giáo lý Chúa Ba Ngôi là vô căn cứ, và có khuynh hướng đưa đến mê tín và thờ hình tượng (The doctrine of the Trinity is destitute of foundation, and tend manifestly to superstition and idolatry.) * “Trong những nơi ở thế giới mà sự hiểu biết và khoa học đã thắng thế, thì không còn phép lạ nữa; nhưng ở những nơi còn man rợ và ngu dốt, phép lạ vẫn còn thịnh hành.” (In those parts of the world where learning and science have prevailed, miracles have ceased; but in those parts of it as are barbarous and ignorant, miracles are still vogue.) 31. Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng Thống Mỹ: * Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty). * Thần Ki-Tô là một nhân vật có những tính cực kỳ độc ác, bất khoan dung, đồng bóng , và bất công. (The God is a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious, and unjust); * Đã tới 50, 60 năm từ ngày tôi đọc cuốn Khải Huyền, và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại mê sảng của một kẻ cuồng điên (It has been 50 and 60 years since I read the Apocalypse, and I then considered it merely the ravings of a maniac). 32. James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ: * Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét. Hoa trái của Ki Tô giáo là gì? Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới giáo sĩ, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ, sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial. What has been its fruits? More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.) 33. Napoleon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp: * Hiệp hội Giêsu là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác (The Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others); * Kiến thức và lịch sử là những kẻ thù của tôn giáo (Knowledge and history are the enemies of religion); * Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood) 34. Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức: * Bạn có thể ghi nhận là đức tin và kiến thức thì liên hệ với nhau như là hai cán cân; khi cán cân bên này lên thì cán cân kia xuống (You may observe that faith and knowledge are related as the scales of a balance; when the one goes up, the other goes down); * Những hoa trái của Ki Tô giáo là chiến tranh tôn giáo, những cuộc tàn sát, những cuộc chiến tranh thập giá, những tòa án xử dị giáo, sự tiêu diệt các thổ dân Mỹ, và đưa những nô lệ Phi Châu vào thay thế (The fruits of Christianity were religious wars, butcheries, crusades, inquisitions, extermination of the natives in America, and the introduction of African slaves in their place); * Ca-Tô giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được. Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it. The priest are the brokers for it); * Mọi tín lý, bất kể là vô lý tới đâu, khi cấy vào con người từ nhỏ, chắc chắn là ở trong đó suốt đời (Any dogma, no matter how extravagantly absurd, inculcated in childhood, is sure to retain its hold for life.) 35. Percy Bysshe Shelley (1792-1822), Thi sĩ Anh: * Ki Tô giáo thật sự cũng phạm phải nhiều điều độc ác như Do Thái giáo, và còn hơn Do Thái giáo về mức tan hoang mà nó gây nên. 11 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con bị giết trong những chiến tranh, bị sát hại trong khi đang ngủ, thiêu sống trong những ngày hội hè công cộng, đầu độc, tra tấn, ám sát, và cướp bóc trong tinh thần của Tôn Giáo hòa bình, và cho sự vinh quang của vị Thần nhân từ nhất. Cái tên của Thần Ki Tô đã làm hàng rào Thánh bao quanh mọi tội ác (Christianity indeed has equaled Judaism in atrocities, and exceeded it in the extent of its desolation. 11 million of men, women, and children have been killed in battle, butchered in their sleep, burned to death at public festivals of sacrifice, poisoned, tortured, assassinated, and pillaged in the spirit of the Religion of Peace, and for the glory of the most merciful God.; The name of God has fenced about all crime with holiness.) * Ki Tô giáo chất đầy trái đất với quỷ, hỏa ngục với con người, và thiên đường với những nô le䍊 (Christianity peoples earth with demons, hell with men, and heaven with slaves.) 36. John Stuart Mill (1806-1873), Triết gia Anh: * Giáo hội bất khoan dung nhất trong mọi giáo hội: giáo hội Ca-Tô Rô-ma (The most intolerant of churches, the Roman Catholic Church.) 37. Abraham Lincoln (1809-1865), Tổng Thống Mỹ: * Cả hai (Ca Tô và Tin Lành) đều đọc cùng một cuốn thánh kinh, cầu nguyện cùng một Thiên Chúa, và người này viện đến sự giúp đỡ của Thiên Chúa để chống người kia (Both read the same Bible, and pray to the same God; and each invokes His aid against the other.) 38. Charles Darwin (1809-1882), Khoa học gia Anh, nhà lập thuyết Tiến Hóa: * Khoa học và chúa KiTô chẳng có liên hệ gì với nhau. Tôi không tin đã có một sự mạc khải nào (Science and Christ have nothing to do with each other. I do not believe that any revelation has ever been made). 39. Charles Dickens (1812-1870), Văn hào Anh: * Tôi tin rằng sự phổ biến đạo Ca-Tô là phương cách khủng khiếp nhất của sự thoái hóa chính trị và xã hội còn sót lại trên thế giới. Những nhà truyền giáo là những kẻ quấy rầy hạng nhất, và làm cho mọi nơi mà họ tới trở thành tệ hơn (I believe the dissemination of Catholicity to be the most horrible means of political and social degradation left in the world. Missionaries are perfect nuisances, and leave every place worse than they found it.) 40. Thomas Henry Huxley (1825-1895), Khoa học gia Anh: * Tín điều về sự không thể sai lầm của Thánh kinh cũng chẳng hiển nhiên hơn tín điều về không sự sai lầm của các giáo hoàng (The dogma of infallibility of the Bible is no more self-evident than is that of the infallibility of the popes.) * Từ một nô lệ của chế độ giáo hoàng [người Công giáo], người trí thức đã trở thành nông nô của Thánh kinh (người Tin lành) From being a slave of the papacy, the intellect was to become the serf of the Bible.) * Hệ thống giáo sĩ là kẻ thù sống chết của khoa học. Thuyết tiến hóa loại bỏ thuyết sáng tạo và mọi sự can thiệp của Thần Ki Tô (The ecclesiastical system is the deadly enemy of science. Evolution excludes creation and all other kinds of supernatural interventions.) * Hoài nghi là bổn phận cao nhất và đức tin mù quáng là tội không thể tha thứ được (Skepticism is the highest duty and blind faith the one unpardonable sin.) 41. Leo Tolstoy (1828-1910) văn hào Nga: * Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô) là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) * Đúng vậy, tôi không chấp nhận một thuyết không hiểu được là thuyết Ba Ngôi, và huyền thoại về sự sa ngã của con người, vì chúng vô lý trong thời đại của chúng ta. (It is true, I deny an incomprehensible Trinity, and the fable regarding the fall of man, which is absurd in our day.) * Đúng vậy, tôi không chấp nhận cái chuyện có tính cách xúc phạm về một Thiên Chúa sinh ra từ một trinh nữ đề chuộc tội cho nhân loại (It is true, I deny the sacrilegious story of a God born of a virgin to redeem the race.) 42. Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ: * Tôi muốn gì cho ngày giáng sinh? Tôi bắt giáo hoàng phải vứt đi cái mũ ba tầng của ông ta, cởi bỏ bộ quần áo thiêng liêng của ông ta, và thừa nhận rằng ông ta không hành động cho Thần Ki Tô – không phải là không thể sai lầm – mà chỉ là một người Ý thông thường. Tôi bắt tất cả những hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục thừa nhận rằng họ chẳng biết gì về thần học, về thiên đường hay hỏa ngục, về số phận tương lai của nhân loại, về quỷ hay hồn ma, về các thần hay thiên thần. Tôi muốn toàn thể thế giới không còn bất công, không còn mê tín (What I want for Christmas? I would have the pope throw away his tiara, take off his sacred vestments, and admit that he is not acting for god – is not infallible – but is just an ordinary Italian. I would have all the cardinals, archbishops, bishops, priests admit that they know nothing about theology, nothing about hell or heaven, nothing about the destiny of the human race, nothing about devils and ghosts, gods or angels. I would like to see the whole world free – free from injustice – free from superstition). * Một thầy giáo giỏi có giá trị hơn 1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.) * Trong nhiều thế kỷ, cây thập giá và lưỡi gươm là đồng minh của nhau. Cùng với nhau, chúng tấn công nhân quyền. Chúng chống đỡ cho nhau (For many centuries, the sword and the cross were allies. Together they attacked the rights of man. They defended each other.) * Nếu Ki Tô giáo chỉ ngu đần và phản khoa học, nếu Thần của Ki Tô giáo chỉ dốt nát và có lòng tốt, nếu Ki Tô giáo hứa hẹn cho các tín đồ một sự hỉ lạc vĩnh hằng, và nếu các tín đồ thực hành hạnh tha thứ mà Ki Tô Giáo răn dạy, thì tôi là người chẳng đụng gì đến tín ngưỡng của họ. Nhưng Ki Tô giáo còn có một mặt khác. Tôn giáo này không chỉ ngu đần mà còn lắt léo, không chỉ phản khoa học mà còn vô nhân tính. Thần của tôn giáo này không chỉ dốt nát mà còn ác độc. Tôn giáo này không chỉ hứa hẹn cho tín đồ một phần thưởng vĩnh hằng mà còn khẳng định rằng hầu hết mọi người (tín đồ hay không. TCN) đều bị giam cầm trong những tòa hình ngục của Thần và sẽ bị vĩnh viễn đau đớn. Đó là sự man rợ của Ki Tô Giáo. (If Christianity were only stupid and unscientific, if its god were ignorant and kind, if it promised eternal joy to believers, and if the believers practiced the forgiveness they teach, for one I should let the faith alone. But there is another side to Christianity. It is not only stupid, but malicious. It is not only unscientific, but it is heartless. Its god is not only ignorant, but infinitely cruel. It not only promises the faithful an eternal reward, but declares that nearly all of the children of men, imprisoned in the dungeons of god will suffer eternal pain. This is the savagery of Christianity.) 43. Mark Twain (1835-1910), Văn hào Mỹ: * Đức tin là tin vào cái mà chúng ta biết nó không như vậy (Faith is believing what you know ain’t so). * Không phải là những phần trong thánh kinh mà tôi không hiểu làm tôi bực mình, mà là những phần mà tôi hiểu (It ain’t those parts of the Bible that I can’t understand that bother me, it is the parts that I do understand.) 44. John Burroughs (1837-1921), Văn hào Mỹ: * Khoa học đã đóng góp cho sự phát triển của nền văn minh Tây phương trong 100 năm nhiều hơn là sự đóng góp của Ki Tô Giáo trong 1800 năm. (Science has done more for the development of Western civilization in 100 years than Christianity in 1800 years.) * Nền văn minh của chúng ta không được xây dựng trên Ki Tô Giáo mà là trên lý trí và khoa học (Our civilization is not founded upon Christianity; it is founded upon reason and science.) * Những người hoài nghi và những người không tin (God của Ki Tô giáo) không bao giờ có thể giết nhau như những tín đồ Ki Tô đã giết nhau (Skeptics and disbelievers could never slaughter each other as the Christians have.) 45. Friedrich Nietzche (1844-1900), Triết gia Đức: * Thiên Chúa đã chết (Có đâu để mà chết? TCN) God is dead. * Chúng ta không nên đi đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành (One should not go to church if one wants to breathe pure air.) * Điều nào đúng: con người là một trong những sai lầm của God, hay God là một trong những sai lầm của con người. (Which is it: is man one of God’s blunders, or is God one of man’s blunders?) 46. Pierre Laplace (1749-1827), Khoa học gia Pháp: * Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. (The telescope sweeps the skies without finding god.) 47. Sir James Paget (1814-1899), Y sĩ Anh: * Nơi công cộng cũng như trong tư gia, tôi không biết một cuốn sách nào mà lại là nguồn gốc của cách xử sự hung ác và tàn bạo như là cuốn thánh kinh (I know of no book which has been a source of brutality and sadistic conduct, both public and private, that can compare with the Bible.) 48. Thomas Carlyle (1795-1881), Văn hào Anh: * Thiên Chúa chẳng làm gì cả. Một người có giáo dục, lương thiện, không thể nào còn tin vào Ki-Tô giáo của lịch sử. (God does nothing. It is not possible that educated, honest men can even profess much longer to belief in historical Christianity.) 49. Alexandre Dumas (1802-1870), Văn hào Pháp: * Trong khi Tín đồ Ca-Tô và Tin Lành thiêu sống và giết lẫn nhau, (nhưng họ lại) có thể cộng tác để nô lệ hóa những ngưới anh em da đen của họ (Catholics and Protestants, while engaging in burning and murdering each other, could cooperate in enslaving their black brethen.) 50. Oliver Wendell Holmes, Sr. (1809-1894), Học giả Mỹ: * Người mà luôn luôn lo lắng rằng linh hồn mình sẽ bị đầy đọa thường là có một linh hồn vô dụng (The man who is always worrying about whether or not his souls would be damned generally has a soul that isn’t worth a damn.) * Sự thật là cả hệ thống tín ngưỡng dựa trên chuyện sa ngã của con người đó đã dần biến mất đi trong đầu óc hiểu biết của con người đã được khai sáng. (The truth is that the whole system of beliefs which comes in with the story of the fall of man is gently falling out of enlightened human intelligence.) 51. Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: * Khi anh bảo tôi rằng Thiên Chúa của anh đã tạo ra anh theo hình ảnh của ông ấy, tôi trả lời rằng hắn ta phải thật là xấu xa (When you tell me that your deity made you in his own image, I reply that he must have been very ugly.) * Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo – và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster – and an extinguisher: the parson.) . 52. Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: * Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên ông linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.) * Phải chăng khoa học đã thoái lui? Không phải! Chính Ca-Tô giáo đã luôn luôn phải thoái lui trước khoa học, và sẽ còn bị bắt buộc phải thoái lui (Has science ever retreated? No! It is Catholicism which has always retreated before her, and will always be forced to retreat.) 53. Mikhail A. Bakunin (1814-1876), Văn hào Nga: * Ki Tô giáo là sự từ bỏ hoàn toàn lẽ thường và lý trí (Christianity is the complete negation of common sense and sound reason.) * Thần học là khoa học về sự nói láo của thần thánh (Theology is the science of the divine lie.) 54. Ludwig Feuerbach (1804-1872), Triết gia Đức: * Bất cứ khi nào mà đạo đức được đặt căn bản trên thần học, quyền của con người tuỳ thuộc vào thần quyền, thì những sự vô đạo đức, bất công, ô nhục nhất có thể được biện minh và thiết lập (Whenever morality is based on theology, whenever right is made dependent on divine authority, the most immoral, unjust, infamous things can be justified and established.) 55. William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia A祉 Nhĩ Lan: * Hầu hết Âu châu, trong nhiều thế kỷ, đã bị ngập máu, máu đổ do sự chủ mưu trực tiếp hoặc với sự hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong giới giáo sĩ (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorities). * Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Ca-Tô hay Tin Lành, đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.) 56. August Bebel (1840-1913), Nhà xã hội Đức: * Ki Tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh. Nó buộc nhân loại trong xiềng xích. (Christianity is the enemy of liberty and of civilization. It has kept mankind in chains.) 57. Giuseppe Garibaldi (1807-1882), Nhà lãnh đạo Ý (Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Ca-Tô, chỉ còn lại Vatican ngày nay): * Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý. (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.) * Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.) * Giáo hội Ca-Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.) 58. Elbert Hubbard (1856-1915), Văn hào Mỹ: * Thiên đường: Chỗ giải trí-nghỉ dưỡng trong trí tưởng tượng của người Ki-tô. (Heaven: The Coney Island of the Christian imagination.) * Thần Ki Tô: John Doe (1 tên đặt cho một nhân vật mà không ai biết là ai) của triết lý và tôn giáo (God: The John Doe of philisophy and religion.) * Thần học là một sự toan tính giải thích một chủ đề bởi những người không hiểu chủ đề đó (Theology is an attempt to explain a subject by men who do not understand it). 59. Sigmund Freud (1856-1939), Nhà Phân tâm học: * Tôn giáo giống như là chứng bệnh suy nhược thần kinh của trẻ con (Religion is comparable to a childhood neurosis.) * Giáo hội Ca-Tô là đối thủ của mọi tự do tư tưởng (The Catholic Church so far has been the implacable enemy of all freedom of thought.) 60. George Bernard Shaw (1856-1950), Nhà viết kịch Anh: * Không phải là không tin thì nguy hiểm cho xã hội của chúng ta, mà chính là sự tin (It is not disbelief that is dangerous to our society, it is belief.) * Đối với tín đồ Ca-Tô, chỉ có hai quốc gia, thiên đường và hỏa ngục; chỉ có hai trạng thái của con người, cứu rỗi hay bị đày đọa (For the Catholic, there are but two countries, heaven and hell; but two conditions of men, salvation and damnation.) 61. George Santayana (1863-1952), Triết gia Mỹ: * Đối với Shakespeare, về vấn đề tôn giáo, sự chọn lựa nằm ở hoặc Ki Tô giáo hoặc không tin gì. Ông ta đã chọn không tin gì (For Shakespeare, in the matter of religion, the choice lay between Christianity and nothing. He chose nothing.) * Ki Tô giáo đàn áp tôn giáo, tra tấn và thiêu sống con người. Như một con chó săn, tôn giáo này đánh hơi và truy lùng kẻ lạc đạo. Tôn giáo này gây nên những cuộc chiến tranh, và nuôi dưỡng thù hận và tham vọng. Tôn giáo này thánh hóa sự tận diệt và sự chuyên chế (Christianity persecuted, tortured, and burned. Like a hound it tracked the very scent of heresy. It kindles wars, and nursed furious hatred and ambitions. It sanctified extermination and tyranny..) 62. Bertrand Russell (1872-1970), Triết gia, Nhà Toán học Anh, tác giả cuốn Why I Am Not A Christian: * Quan điểm của tôi về tôn giáo [Ki Tô Giáo] giống như quan điểm của Lucretius. Tôi coi nó như là một bệnh chứng xuất phát từ sự sợ hãi và là nguồn gốc của sự khổ sở không thể kể được của loài người (My own view on religion is that of Lucretius. I regard it as a disease born of fear and as a source of untold misery to the human race.) * Nếu tôi nhớ không lầm, không có một lời nào trong các Phúc Âm ca tụng sự thông minh (So far as I can remember, there is not one word in the gospels in praise of intelligence.) * Đàn áp tôn giáo được sử dụng trong thần học chứ không ở trong số học (Persecution is used in theology, not in arithmetic.) 63. Albert Einstein (1879-1955), Khoa học Gia Do Thái, Thuyết Tương Đối: * Tôi không thể quan niệm một Thần Ki Tô thưởng phạt tạo vật của chính mình (I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures) 64. H. L. Mencken (1880-1956), Văn hào Mỹ: * Nói một cách đại cương, tôi tin rằng tôn giáo là một sự nguyền rủa đối với nhân loại (I believe that religion, generally speaking, has been a curse to mankind.) * Đức tin có thể định nghĩa ngắn gọn như là một niềm tin phi lý vào những gì không chắc chắn xảy ra (Faith may be defined briefly as an illogical belief in the occurrence of the improbable.) * Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt chúng vào những lời không đáng để biết (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.) * Tổng giám mục: một chức sắc Ki Tô cao chức hơn chức của Chúa Ki Tô (Archbishop: A Christian ecclesiastic of a rank superior to that attained by Christ.) 65. Alfred North Whitehead (1861-1947), Toán gia và Triết gia Mỹ: * Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race).. 66. Theodore Dreiser (1871-1945), Văn hào Mỹ: * Mọi hình thức của tôn giáo tín điều phải dẹp bỏ. Thế giới đã tồn tại mà không cần đến nó trong quá khứ và có thể cũng như vậy trong tương lai (All forms of dogmatic religion should go. The world did without them in the past and can do so again.) 67. Arthur Koestler (1905-1983), Triết gia Anh: * Tại Jerusalem, cái bộ mặt giận dữ của thần Gia-vê ấp ủ những phiến đá nóng, những phiến đá đã chứng kiến những cuộc thánh sát, cưỡng hiếp, và cướp bóc nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Dân cư ở đây bị đầu độc bởi tôn giáo (In Jerusalem..the angry face of Yahweh is brooding over the hot rocks which have seen more holy murder, rape and plunder than any other place on earth. Its inhabitants are poisoned by religion.) 68. Edgar Lee Masters (1869-1950), Thi sĩ Mỹ: * Nhiều cuốn sách đã được viết ra để chứng tỏ Ki Tô giáo đã làm suy yếu thế giới, rằng tôn giáo này đã gạt ra ngoài sự khai sáng và trí tuệ của Hellas để nhường chỗ cho một giáo lý mê tín và ngu xuẩn (Many books have been written to show that Christianity has emasculated the world, that it shoved aside the enlightenment and wisdom of Hellas for a doctrine of superstition and ignorance.) 69. George Moore (1852-1933), Tiểu thuyết gia Ái Nhĩ Lan: * Thiên đường có thể để cho giáo dân, nhưng thế giới này chắc chắn là để cho các linh mục (Heaven may be for the laity, but this world is certainly for the clergy.) 70. H. G. Wells (1866-1946), Tiểu thuyết gia Anh: * Cái thứ xấu ác nhất trong thế giới ngày nay là Giáo hội Ca-Tô Rô-ma (The most evil thing in the world today is the Roman Catholic Church.) 71. Culbert Olson, Thống đốc bang California, 1938-1943: * Tôi không hiểu làm sao mà người nào đọc thánh kinh mà lại có thể tin rằng đó là lời của Thần Ki-Tô, hoặc tin đó không phải là chuyện man rợ của một dân tộc man rợ (I don’t see how anybody can read the Bible and believe it’s the word of God, or believe that it is anything but a barbarous story of a barbaric people.) 72. Preserved Smith (1880-1941), Sử gia Mỹ: * Không còn nghi ngờ gì nữa, cuốn thánh kinh là khối cản trở trên con đường tiến bộ, khoa học, xã hội và ngay cả đạo đức. Nó được viện dẫn để chống Copernicus (Thuyết trái đất quay xung quanh mặt trời. TCN) cũng như là chống Darwin (Thuyết Tiến Hóa. TCN) (There can be no doubt that the Bible became a stumbling -block in the path of progress, scientific, social and even moral. It was quoted against Copernicus as it was against Darwin.) 73. Isaac Asimov (1920-1992), Khoa học gia Mỹ: * Đối với tôi, Thiên Chúa có lẽ là một sản phẩm tùy tiện của tâm trí con người; Tôi chắc chắn không tin vào những huyền thoại, vào thiên đường và hỏa ngục, vào Thiên Chúa và Thiên Thần, Sa-Tăng và quỉ (It seems to me that God is a convenient invention of the human mind; I certainly don’t believe in the mythologies of our society, in heaven and hell, in God and angels, in Satan and demons..) 74. Steve Allen (1921 – ), Mỹ, tác giả 43 cuốn sách đủ loại: * Rất hiếm có một trang sách nào trong cuốn thánh kinh mà trong đó một người có đầu óc cởi mở không nhận thấy một sự mâu thuẫn, một chuyện lịch sử bất khả hữu, một sai lầm hiển nhiên, một sự kiện lịch sử không thể nào xảy ra (There is scarcely a page of the Bible on which an open mind does not perceive a contradiction, an unlikely history, an obvious error, an historical impossibility..); * Một người vô thần không ghét Thần Ki Tô, hắn chỉ không thể tin được là một Thần có thể hiện hữu. (An atheist does not hate God; he simply is one who is unable to believce that a God exist); * Cuốn thánh kinh đã được dùng để khuyến khích niềm tin vào sự mê tín thô thiển nhất và làm ngăn cản sự dạy những chân lý khoa học (The Bible has been used to encourage belief in the grossest superstition and to discourage the free teaching of scientific truths); * Chỉ sau khi tôi đọc cuốn thánh kinh từ đầu đến cuối tôi mới nhận ra rằng Thần Ki Tô trong đó thật sự là một bạo chúa thích trả thù, ác như quỷ, còn ác hơn sự khát máu điên rồ, sự dã man, sự tàn phá của những con người như Hitler, Stalin, Pol Pot, hoặc bất cứ kẻ sát nhân tập thể nào trong lịch sử cổ xưa hoặc hiện đại (It was only when I finally undertook to read the Bible through from beginning to end that I perceived that its depiction of the Lord God was actually that of a monstrous, vengeful tyrant, far exceeding in bloodthirstiness and insane savagery the depredations of Hitler, Stalin, Pol Pot, or any mass murderer of ancient or modern history.) 75. Carl Sagan, Khoa học gia Mỹ: * Nếu các bạn muốn cứu con mình khỏi bị bệnh bại liệt, bạn có thể cầu Chúa hoặc mang nó đi chích ngừa.. Hãy chọn khoa học (If you want to save your child from polio, you can pray or you can inoculate.. Choose science) 76. Albert Schweitzer, Bác sĩ, triết gia người Pháp: * Không có gì tiêu cực hơn là kết quả nghiên cứu phê bình về đời sống của Giê-su. Giê-su ở Nazareth xuất hiện trước công chúng như là Vị Cứu Tinh [của dân tộc Do Thái], thuyết giáo về Vương Quốc của Thiên Chúa, thiết lập Thiên Đường trên trái đất, và chết đi như là sự hiến dâng cuối cùng, không từng bao giờ hiện hữu. (There is nothing more negative than the result of the critical study of the life of Jesus. The Jesus of Nazareth who came forward publicly as the Messiah, who preached the Kingdom of God, who founded the Kingdom of Heaven upon earth, and die to give his work its final consecration, never had any existence.) 77. Richard Feynman , Vật Lý Gia Mỹ, Giải Nobel: * Thiên Chúa được phát minh ra để giải thích những điều khó hiểu. Thiên Chúa luôn luôn được phát minh ra để giải thích những điều chúng ta không hiểu. Nay, khi sau cùng chúng ta khám phá ra rằng một cái gì đó vận hành như thế nào, chúng ta có những định luật mà chúng ta tước khỏi từ Thiên Chúa, chúng ta không còn cần đến ông ta nữa. (God was invented to explain mystery. God is always invented to explain those things that you do not understand. Now, when you finally dicover how something works, you get some laws which you are taking away from God; you don’t need him anymore.) 78. A. A. Milne, tác giả Winnie The Pooh: * Hơn bất cứ cuốn sách nào khác, cuốn Cựu Ước phải chịu trách nhiệm vì làm cho nhiều người trở thành vô thần, vô ngộ, và không tin – muốn gọi họ thế nào cũng được. (The Old Testament is responsible for more atheism, agnoticism, disbelief – call it what you will – than any book ever written.) 79. Gore Vidal, Văn Gia: * Tôi coi chủ nghĩa độc thần là tai họa to lớn nhất đã giáng xuống đầu nhân loại. Tôi không nhìn thấy cái gì tốt ở Do Thái Giáo, Ki tô Giáo hay Hồi Giáo – có những người tốt, đúng vậy, nhưng tôn giáo nào mà đặt căn bản trên một thần duy nhất điên cuồng, ác độc, thì tôn giáo đó không có ích gì cho nhân loại như, thí dụ, đạo Khổng, không phải là một tôn giáo mà là một hệ thống đạo đức và giáo dục. (I regard monotheism as the greatest disater ever befall the human race. I see no good in Judaism, Christianity or Isl
     
  6. loanphuong

    Tháng Một 19, 2012 at 11:55 sáng

     
  7. loanphuong

    Tháng Một 19, 2012 at 12:01 chiều

    Huyền Thoại và Tội Ác Lời giới thiệu của tác giả Dominic Nguyễn Chấn (Charlie Nguyễn) Công Giáo La Mã là một đặc sản văn hóa phi nhân tính (inhuman) của Tây Phương, bắt nguồn sâu xa từ cái nôi tối cổ của nền văn minh du mục Ả Rập là Babylon. Người truyền đạo Công giáo La Mã vốn là kẻ ăn xin tên là Chair Duck. Những huyền thoại làm đảo lộn lịch sử thế giới và gieo tai họa khủng khiếp cho cả loài người như những huyền thoại về Vườn Địa Đàng (Garden of Eden) huyền thoại con người được Thượng Đế tạo ra từ đất sét (clay), huyền thoại về Chúa Cứu Thế Ki Tô (Christos / Messiah / Savior) đều xuất phát từ Babylon. Thậm chí phần lớn những nghi lễ tại các nhà thờ Công Giáo ngày nay như các giám mục khi làm lễ thường đội nón hình đầu cá (fish-head mitre), Bánh Thánh hình tròn (round-shaped Host), Mặt Nhật để dâng Mình Thánh Chúa mạ vàng (Gilded Montrance) trông giống như mặt trời tỏa ánh sáng (sunburst design), ảnh tượng Đức Mẹ bế Chúa Cứu Thế hài đồng v.v… Tất cả đều là những sản phẩm văn hóa du mục của Babylon, đặc biệt là đạo thờ thần Mặt Trời, mà những Tổ Phụ Sáng Lập đã tiếp thu gần như trọn vẹn để lập ra đạo Công Giáo La Mã như ta thấy hiện nay. Trong thế giới sơ khai có rất nhiều dân tộc thờ Thần Cá. Người Babylon tin Chúa Cứu Thế là Cá. Trong Kinh Thánh cổ Talmud của đạo Do Thái, danh từ Chúa Cứu Thế (Messiah) còn được gọi là DAG có nghĩa là cá . Các dân tộc Bắc Âu từ thuở xa xưa thờ thần Cá Frigga và họ kiêng thịt chỉ ăn cá vào ngày thứ sáu. Từ đó, danh từ trong Anh ngữ của dân Anglo-Saxon (gốc Bắc Âu) mới có chữ Friday là ngày Thứ Sáu. Trong Đạo Hindu của Ấn Độ thì Thượng đế Vishnu là vị thần nửa người nửa cá (half fish – half man). Người Hy Lạp đặt ra tên JESUS bằng cách ghép chữ đầu của tiếng ICHTBUS, nghĩa là Cá (Fish) và các chữ đầu của cụm từ EOU UIOS SOTER, nghĩa là Con của Đức Chúa Trời (Son of God) để tạo thành tên IESOUS (hàm ý JESUS là Thần Cá Cứu Thế Con của Thượng Đế). Điều này cho thấy ngay tên của JESUS cũng là một sản phẩm thần thoạị có nguồn gốc tôn giáo của thời kỳ bán khai của nhân loại. Nguời Anh và Pháp phiên âm danh từ Hy Lạp IESOUS thành JESUS. (Xin đọc Deceptions and Myths of the Bible – Lloyd M. Graham p. 326- 327 ). Người Hoa phiên âm JESUS thành GIA-TÔ. Trong sách Kinh Nguyện Toàn Niên của hai giáo phận Hà Nội và Bùi Chu có Kinh Cầu Hồn Hán tự có câu : “Thần Chúa Gia Tô thục tội thi ân chi đại”, có nghĩa là: Chúa Giêxu chuộc tội và ban ơn rất lớn. Đặc biệt nhất là nghi lễ “Rước Mình Thánh Chúa”, một nghi lễ thiêng liêng và quan trọng số một của đạo Công Giáo, chính là nghi lễ rập khuôn đúng theo tục lệ man rợ của người Babylon thời xưa làm lễ tế thần bằng cách bắt những cô gái trinh hoặc những trẻ thơ trong đám những người nô lệ cô thế để làm vật hy sinh. Các nạn nhân vô tội bị nướng chín như heo quay để tế thần. Sau đó các tu sĩ và giáo dân đạo thờ thần Baal vui vẻ chia nhau ăn thịt nạn nhân trong tiếng trống và phèng la inh ỏi. Do đó, ngôn ngữ Tây phương phát sinh ra danh từ CANNI-BAL để gọi những tu sĩ của đạo thờ thần Baal (priests of Baal), tức thần Molech, cha của Chúa Cứu Thế Tammuz (Tammuz, the Savior), mà dân Babylon tôn thờ cách đây khoảng mười ngàn năm. Cũng như tại các nhà thờ Công Giáo ngày nay, các linh mục làm lễ MISA , có nghĩa là Bữa Tiệc tế thần Jehovah (Đức Chúa Cha) bằng thân xác của Đức Chúa Con (Jesus). Sau khi Chúa Cha ăn thịt Chúa Con xong thì đến phiên các cha cố và giáo dân cùng chia nhau ăn bánh thánh và uống ruợu nho mà họ gọi là “Rước Lễ” hoặc chịu “Phép Mình Thánh Chúa” (Corpus Christi). Giáo lý Công Giáo buộc mọi tín đồ phải tin rằng lúc rước lễ là lúc họ đang ăn thịt thật và uống máu thật của Jesus đã chết thối cách đây gần hai ngàn năm! Đó là nghi lễ tôn giáo trọng đại của những người tự hào là “văn minh” đang sống trong một nước “mọi rợ”phương Đông là nước Việt nam !. Nhờ phúc đức của ông bà tổ tiên nhân hậu để lại nên dân tộc Việt Nam chỉ có khoảng 8% dân số hồ hởi phấn khởi chạy theo nền văn minh khoái khẩu món thịt người (Cannibal). Số còn lại 92% dân số Việt Nam may mắn đều là dân “mọi rợ” (theo nghĩa “mọi rợ” của sách kinh Công Giáo dưới cặp mắt cú vọ của các cố đạo thừa sai cũng như dưới cặp mắt mơ huyền của các cố đạo bản xứ mất gốc.) Theo sử gia Hislop thì cái ý nghĩ quái đản về sự ăn thịt Chúa của người Công Giáo là học đòi tục lệ của tà giáo mọi rợ ăn thịt người. Các tu sĩ tà giáo bị buộc phải ăn thịt của mỗi người bị hy sinh một chút. Vì vậy danh từ “Canah-Baal” có nghĩa là tu sĩ đạo thờ Thiên Chúa Baal. Danh từ này trở thành căn ngữ cho tiếng Anh “Cannibal” có nghĩa là kẻ ăn thịt đồng loại. (The idea of eating the flesh of God was of cannibalistic inception. Since heathen priests ate a portion of all sacrifices, in case of human sacrifices, priests of Baal were required to eat human flesh. Thus Cannah-Baal, that is priests of Baal, has provided the basis for our modern word Cannibal that means the person who eats the flesh of other human beings. – The Two Babylon by Hislop. p.232). Sử gia trứ danh Duran, người Pháp, với những bộ sử lớn lao của ông đã được dịch ra rất nhìều thứ tiếng trên thế giới đã viết : “Niềm tin về sự biến thể của bánh và ruợu thành máu và thịt của Chúa Jesus trong nghi lễ Công Giáo La Mã là một trong những nghi lễ cổ xưa nhất của những tôn giáo thời ăn lông ở lỗ” (The belief in transubstantiation as practiced in the Roman Catholic Church is one of the oldest ceremonies of primitive religion. – The Story of Civilization : The Reformation, p. 749). Những chuyện hết sức kinh dị dã man khiến không ai ngờ có thể có trong đạo Công Giáo mà nhiều người đã lầm tưởng là đạo của người văn minh. Càng tìm hiểu về đạo Công Giáo, mọi người đều sẽ phải sửng sốt để nhận ra rằng Công Giáo La Mã thực sự chỉ là đạo của những linh hồn bán khai. Tôi thiết nghĩ những người Công Giáo Việt Nam hải ngoại có trình độ Anh ngữ cao nên tìm đọc cuốn sách nghiên cứu rất công phu của Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow (Ralph Woodroow Evangelistic Association P.O. Box 124 Riverside CA 92502 ) là tác phẩm BABYLON MYSTERY RELIGION – ANCIENT AND MODERN, xuất bản lần đầu năm 1966 và tái bản năm 1990 với 350.000 ấn bản. Danh từ “Tôn giáo của Huyền thoại Babylon” chính là tên gọi của hội này áp dụng cho Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roman Catholic Church). Trong Lời Giới Thiệu của Tiến sĩ Alberto Rivera, cựu linh mục Dòng Tên, nhân dịp nhà xuất bản Chic Publications ở California cho ra mắt tác phẩm The Secret History of The Jesuits được dịch ra từ tác phẩm nguyên bản tiếng Pháp của linh mục Dòng Tên Edmond Paris năm 1975, TS Rivera đã viết:”Các tổ phụ sáng lập đạo Công Giáo đã tuân thủ hầu như nguyên vẹn hệ thống tôn giáo cổ của Babylon, pha trộn thêm vào đó là khoa thần học Do Thái Giáo và khoa triết lý của Hy Lạp. Tất cả những thứ đó đã dọn đường cho sự hình thành guồng máy Công Giáo La Mã. Quyền lực của Giáo Hoàng và của các định chế Công Giáo không những chỉ phá hoại sinh mạng thể xác con người như các tu sĩ dòng Đa Minh đã làm qua hệ thống Tòa án Dị giáo, mà còn len lỏi xâm nhập vào mọi lãnh vực của đời sống nhân loại. . . . bằng cách áp đặt các chế độ độc tài và làm suy yếu các nền dân chủ như nền dân chủ của Hoa Kỳ. Hỡi những người Công Giáo (Hoa Kỳ và Canada), tôi viết vì sự cứu rỗi của các người.” (The Early Fathers observed most of the ancient Babylonian system plus Jewish theology and Greek philosophy. They paved the way for the Roman Catholic machine that was to come into existence. . . The power of pope and the Roman Catholic institution, not by just destroying the physical life of the people as the Dominican priests were doing through the Inquisition, but by infiltration and penetration into every sector of life . . , by setting up dictatorships and weakening democracies such as the USA…. Yours, for the Savation of the Roman Catholic people. Dr. Alberto Rivera, Ex-Jesuit Priest. – The Secret History of the Jesuits – Dr. Rivera’s Introduction). Sử gia Hoa Kỳ Lloyd M. Graham đã bỏ công nghiên cứu rất công phu những tội ác của Công Giáo La Mã. Truớc hết là tội lừa bịp và mê hoặc dân chúng bằng những huyền thoại của Babylon và Syria. Ông tố cáo tội ăn cắp trắng trợn của tà giáo ác ôn này ngay trên trang bìa tác phẩm trứ danh của ông : Deceptions and Myths of The Bible (484 trang, A Citadel Press Book, 1991) : ” Kinh Thánh chẳng phải là Lời Chúa mà là những thứ ăn cắp của ngoại giáo . Huyền thoại Vườn Địa Đàng với Adam Evà ăn cắp từ kho Babylon. Các huyền thoại như Trận Đại Hồng Thủy, tàu No-e, Isaac, Salomon, Samson và thậm chí ngay cả tên thánh Mai-sen cũng đều là đồ ăn cắp từ thần thoại của Syria.” (..The Bible is not the word of God but a steal from pagan sources. Its Eden, including Adam and Eve, were taken from the Babylonian account, its Flood and Deluge …its Ark and Ararat their equivalents in a score of of Deluge myths, even the names of Noah’s sonsare copies, so also were Isaac’s sacrifice, Salomon’s judgement and Samson ‘s pillar act. Moses is fashioned after the Syrian Mises.) Công Giáo La Mã là tên sát nhân vô địch trong lịch sử nhân loại. Từ ngày bạo chúa La Mã Constantine sáng lập ra nó năm 325 đến nay nó đã giết hại trên hai trăm triệu người ( Wars, tyrany and oppression of Christian nations since the days of Constantine have caused the death of more than 200.000.000 people – p.463) . Về phương diện văn minh và văn hóa, Công Giáo La Mã đi tới đâu là hủy diệt toàn bộ nền văn minh, văn hóa của người ta đến đó. Nó đã hủy diệt không còn dấu tích các nền văn hóa của các dân tộc Da Đỏ ở châu Mỹ LaTinh. Vào thế kỷ 5 nó đã tiêu hủy nền văn minh vô cùng quý giá của Hy Lạp, tổng giám mục Chrysotom khoe : “Mọi dấu vết của nền triết học và văn chương của thế giới cổ đã bị xóa sạch khỏi mặt đất”. ( By the fifth century the destructionof the ancient world has vanished from the face of the earth – p. 281). Công Giáo là tên thủ phạm đã làm cho nền văn minh nhân loại bị thụt lùi 15 thế kỷ. “Trong 15 thế kỷ đó dân Công Giáo không biết trái đất tròn. Trái lại, dân Hy Lạp từ thế kỷ 6 TCN đã được Pythagore dạy rằng trái đất chẳng những tròn mà còn quay quanh mặt trời. Vào thế kỷ 3 TCN Aristarchus đã phác họa lý thuyết về Thái Dương Hệ tương tự như phát minh vĩ đại của Copernicus thế kỷ 19. Cũng vào thế kỷ 3 TCN , Erathostine đã đo được chu vi của trái đất.” (This resulted in fifteen hundred years of darkness, in which the Christian people did not know the earth is round. And yet as the sixth century B, C., Pythagoras taught that the earth was not only round but going around the sun. In third century B.C., Aristarchus outlined the true heliocentric theory developed as a great discovery nineteenth century later by Copenicus. In the third century B. C. Erathostene measured the circumsference of the earth – p. 448) Giáo lý Công Giáo dạy rằng : “Máu của Jesus đã rửa sạch tội lỗi của thế gian . Thử hỏi kẻ nào là thủ phạm đã cuốn sạch sự thiện lành của thế giới này? Đó là tà đạo Công Giáo chẳng những lấy sự ngu dốt để xây dựng giáo hội mà còn dùng đến cả những thủ đoạn bất lương, sự ác độc và phương tiện chíến tranh nữa” (According to their teaching: The blood of Christ washed away the sins of the world. What it actually washed away the sanity of the world ? it takes more than ignorance to found a religion, it takes dishonesty, cruelty and war as well -p.447) “Người Công Giáo tin rằng “thánh” Phê Rô và các giáo hoàng đứng đầu Hội Thánh có quyền buộc hay tha tội cho mọi người trên thế gian. Chẵng lẽ những bậc thánh hiền có trước Jesus như Pythagoras, Plato, Socrates và Đức Phật Thích Ca cũng cần phải tùy thuộc vào cái quyền buộc tội hay tha tội đó của gã Do Thái đánh cá ngu dốt hay sao?” (Catholics are indeed credulous but they cannot be so credulous as to believe that pre-Christian sages like Pythagoras, Plato, Socsates and Buddha require this ignorant Jewish fisherman to bind and loose their souls. – p. 438) “Bất cứ ai tin rằng bánh và ruợu nho có thể biến thể thành thịt và máu thật của Jesus để gọi là “Bánh Hằng Sống” bởi mấy câu nói lảm nhảm của một thằng cố đạo ngu dốt thì hãy thử cho một chút arsenic vào bánh và ruợu đó xem Mình Thánh Chúa có thành một liều thuốc độc giết người không ?. Cái lề thói ngu ngốc của tín đồ Công Giáo ăn thịt uống máu Jesus với hy vọng sẽ hấp thụ được những đức tính giống như Jesus là cái tỳ vết nghi lễ mọi rợ của những kẻ chuyên ăn thịt sống mê tín tin tưởng rằng cứ ăn thịt uống máu của ai thì sẽ có những đặc tính tốt của người đó như sức mạnh , lòng can đảm v.v…” (Anyone who think that ordinary bread and wine are actually transustantiated into the flesh and blood of Christ by the numbled words of an ignorant priest should put a little arsenic in them first. He will finnd then that the flesh and blood of Christ are deadly poison. The ignoraant Christian custom of eating and drinking commonplace bread and wine in the hope of gaining some Christlike virtue is but a relic of the savage rite of omophagia – the eating and dringking another person’ s flesh and blood to acquire his qualities , strength, courage and so on. – 335). Công Giáo La Mã không phải là một tôn giáo mà là một Đế Quốc. Phải gọi nó là Đế Quốc Công Giáo vì nó chiếm toàn Âu Châu và Bắc Phi làm lãnh thổ của nó và đế quốc Công Giáo chẳng khởi đầu từ Jesus mà thật sự khởi đầu từ tên Bạo Chúa La Mã Constantine. Người Công Giáo coi Constantine là “người của Chúa” vì y ngưỡng mộ cây thập ác với khẩu hiệu ” Dưới dấu hiệu Thánh Giá ta sẽ chinh phục thế giới” .Tên bạo chúa này đã chiếm toàn Âu Châu cho Công Giáo do Jesus dạy y làm như vậy hay sao ?. Sử gia Gibbon viết chí lý như sau : “Công Giáo La Mã dùng bạo lực để bảo vệ đế quốc do nó thủ đắc bằng sự lừa dối “( p. 454). Người Công Giáo Ái nhĩ Lan ngày nay đang chiến đấu chống Anh quốc để dành độc lập quốc gia và để bảo vệ niềm tin Công Giáo, nhưng họ quên rằng chính Giáo hoàng Adrian IV đã bán đứng đất nước Ái nhĩ Lan cho Anh Quốc vào thế kỷ 12. Ngày nay văn khố Vatican còn lưu trữ bức thư của GH Adrian IV gửi vua Anh Henry II như sau : “Không còn nghi ngờ gì nữa, như Ngài đã biết, Ái Nhĩ Lan và các đảo của nó đều đã thuộc Giáo Hội La Mã vì dân chúng đã tiếp nhận đức tin Công Giáo. Nếu Ngài muốn chiếm đảo quốc này để khai thác, áp đặt luật pháp và bắt mọi người phải nộp thuế cho Tòa Thánh, tôi (giáo hoàng) sẵn sàng chuyển nhượng đảo quốc đó cho Ngài”. (It is not doubted and you know it, that Ireland and all its islands which have recieved the Faith belong to the Church of Rome. If you wish to enter that Island to drive vice of it , to cause law to be obeyed and Saint Peter’s pence to be paid by every house, it will please us to assign it to you. -page 470). Mấy chục năm sau, vào cuối thế kỷ 12, Giáo Hoàng Innocent III xúi giục vua Pháp tấn công Anh quốc vì ở Anh có phong trào chống Công Giáo có thể gây nguy hại đến “quyền lợi thiêng liêng” (the divine right) của Tòa Thánh. (p. 469). Giáo Sử Công Giáo là Huyết Lệ Sử của nhân loại. Đoàn quân Thập Tự của Công Giáo La Mã tàn bạo dã man không thể tưởng tượng nổi. Trong cuộc thánh chiến với Hồi giáo tại Jerusalem nó đã giết hại sáu chục ngàn trẻ em. Bọn chúng nhân danh Chúa Ki Tô phạm những tội ác làm rợn tóc gáy của mọi người. Xin hãy nghe Thập Tự Quân viết thư về gia đình để khoe thành tích tội ác của chúng : “Ở nhà có biết chúng tôi đối xử với kẻ thù của chúng ta như thế nào ở Jerusalem không? Ở cổng thành Solomon và tại Đền Thánh Chúa, đoàn kỵ binh của chúng tôi phải lội qua những vũng máu của địch lên tới đầu gối của đoàn ngựa”. (If you would know how we treated our ennemies at Jerusalem know that in the portico of Salomon and in the Temple, our men rode through the unclean blood of the Saracenes which came up to the knees of our horses. – 462) Giáo Hội Công Giáo La Mã chẳng những là một tổ chức tội ác vô tiền khoáng hậu với qui mô rộng lớn khắp thế giới mà nó còn là một trung tâm sản xuất đồ giả lớn nhất thế giới để thu lợi. Đồ giả phổ biến nhất của Tòa Thánh là các “Thánh Tích” (relics). Chúng lấy răng chó con hay răng súc vật đem bán và nói đó là những chiếc răng sữa của Chúa Jesus, lấy mảnh da loài vật để làm giả miếng da cắt được từ lỗ rốn của Ngôi Hai Thiên Chúa hoặc là miếng da cắt từ đầu chim của Ngài khi cha mẹ đưa Ngài đến Đền Thánh chịu phép cắt bì (The Circumcision). Chúa chỉ chịu phép cắt bì một lần duy nhất nhưng Tòa Thánh có tới ba miếng da quy đầu của Ngài. Chúa cũng chỉ bị đóng đinh trên thập giá một lần duy nhất với một cây thập giá duy nhất làm bằng hai khúc gỗ và ba cái đinh, nhưng tổng số gỗ và đinh mà Vatican đem bán làm bằng cớ về “Ơn Cứu Chuộc thiêng liêng vô cùng của Chúa nếu thâu gom lại có thể đóng được một chiếc tàu lớn để vượt Thái Bình Dương.” Đại úy trưởng toán hành hình Jesus trên đồi Golgotha tên là Longinus, cũng là một tín đồ bí mật của Jesus, đã không đập gẫy chân Jesus như y đã đập gẫy chân hai kẻ bị đóng đinh cùng một lượt với Jesus. Nhờ vậy Jesus đã thoát chết vì được cứu sống sau đó. Đại úy Longinus cũng chỉ quệt nhẹ vào cạnh sườn Jesus để che mắt bọn lính dưới quyền nên chỉ tạo cho Jesus một vết trầy nhẹ mà thôi. Tiếng Hy Lạp trong bản chính Kinh Thánh Tân Ước là NYSSEIN, có nghĩa là vết trầy nhẹ (a light scratch). Vào thế kỷ 5, Jerôme dịch “kinh thánh” từ nguyên bản Hy Lạp sang tiếng La Tinh. Tên lưu manh Jerôme đã dịch NYSSEIN thành APERIRE, có nghĩa là “vết thương mở toang” (opened wound) làm người đoc tưởng lầm vết trầy nhẹ trên cạnh sườn Jesus là một “coup de grâce”. (Những não bộ đậu hũ của Hội Đồng Giám Mục và của giới trí thức Công Giáo Việt Nam đều tin rằng Nyssein là “Nhát Đâm Dứt Điểm” ? ? ! !). Đây là một trong những thủ đoạn lừa dối trắng trợn lớn nhất trong lịch sử nhân loại được Vatican dùng làm nền tảng cho giáo lý Cứu Chuộc Dỏm của Jesus. Bản dịch Kinh Thánh lừa dối của Jerôme được gọi là Vulgate (Kinh Thánh Phổ Thông) là bản văn Kinh Thánh chính thức của Giáo Hội Công Giáo. Toàn bộ giáo lý của cái gọi là “Đạo Thánh Đức Chúa Trời” hoàn toàn đặt trên căn bản dối trá bịp bợm 100% trong âm mưu vô cùng hiểm độc của tập đoàn không lương thiện quốc tế là Giáo Hội Công Giáo La Mã, họ là kẻ thù nguy hiểm số một của dân tộc Việt Nam và của cả loài người chúng ta! Longinus chỉ giả vờ “đâm” Jesus bằng một cái giáo duy nhất, nhưng Vatican có tới ba cái giáo thánh tích và cả ba thánh tích này đều được Tòa Thánh xác nhận là thứ thiệt của một cái giáo của Longinus! (…Enough nail and wood from the cross to build a ship of the line. There are three relics of one spear with it captain Longinus pierced Jesus’side. – page 471 Deception and Myth / Xin đọc thêm “The Side Wound and the Miracle Drink” trong tác phẩm để đời “The Jesus Conspiracy – The Turin Shroud & The Truth about the Resurrection” của Holger Kersten & Elma R. Gruber, Reprinted in USA by Element, pages 249 – 265). Vì tội ác và tính lươn lẹo siêu quần bạt chúng của Giáo Hội Công Giáo vượt quá sức chịu đựng của những người Ki Tô Giáo nên từ đó có nhiều quốc gia Ki Tô đã chống lại Tòa Thánh để lập thành những giáo hội riêng biệt nhằm mục đích tự giải thoát giáo hội và quốc gia của họ thoát vòng kìm kẹp ngạo ngược của quỷ sứ ở Vatican. Một trong những Phong Trào Chống Đối lớn nhất là cái mà người Việt Nam chúng ta sai lầm gọi là đạo TIN LÀNH. Thực sự trên thế giới này chưa từng có một tôn giáo nào tự xưng tên là đạo Tin Lành (Religion of Good News ? ! ). Tự điển Anh ngữ chỉ có một chữ PROTESTANTISM mà thôi. Danh từ này có nghĩa đơn giản là “Phong Trào Chống Đối Giáo Hội Công Giáo La Mã”, Công Giáo gọi họ là Đạo Thệ Phản, chứ chẳng bao giờ có cái nghĩa quái đản là đạo Tin Lành[*]. Các giáo phái Tin Lành cũng thuộc hệ thống Ki Tô Giáo. “Good News” là danh từ được dịch từ tiếng Hy Lạp “Gospel” tức Sách Phúc Âm- thực chất là Bad News, very very bad! So với Công Giáo là Chúa Sơn Lâm thì Tin Lành là quan đại thần Linh Cẩu . Xin đề nghị đồng bào chúng ta nên vứt bỏ danh từ “Tin Lành” vì dùng danh từ này để dịch chữ tiếng Anh “Protestanism” là hoàn toàn sai lầm và vô tình nhục mạ ngôn ngữ Việt Nam. Phong trào Protestanism do tu sĩ Công Giáo Luther sáng lập, nhưng trước đó nhiều thế kỷ đã có rất nhiều phong trào nổi lên chống Giáo hội Công Giáo. Hầu hết các phong trào đó đều đã bị Vatican dập tắt trong biển máu. Sử gia Mỹ Lloyd M. Graham viết: “Không phải chỉ đợi đến thời Luther mới có phong trào Protestanism mà trước đó nhiều thế kỷ đã từng có nhiều phong trào như vậy nổi lên chống lại các tội ác và sự thối nát của Công Giáo La Mã. Thằng quỷ Phêrô làm tổn thương và lăng nhục Âu Châu… Chúng ta không bao giờ quên biết bao nhiêu triệu người đã bị tàn sát bởi những Tòa Án Dị Giáo, nhưng cũng đừng quên rằng những tội ác đó vẫn tồn tại vì Vatican tái xác nhận trong thế kỷ của chúng ta dưới triều đại GH Leo XIII : “Hình phạt tử hình là những biện pháp rất cần thiết và hữu hiệu giúp cho Giáo Hội đạt được những mục tiêu của mình để chống lại các cuộc bạo loạn chống Giáo Hội hoặc các mưu toan phá vỡ sự thống nhất của hệ thống tu sĩ Công Giáo”. (Protestanism sprang not from Luther exclusively but from centuries of protestation against the crime and corruption of the Catholic Church, SATAN PETER had outraged all Europe. . . . And let us not forget the known millions the Holy Inquisition destroyed. A thing of the past, you say, yes, but not the authority, it still exists and was reaffirmed in our own century, under Leo XIII: “The death sentence is a necessary and efficacious for the Church to attain its end when rebels act against it and disturbers of the ecclesastic unity” – p. 468). Công Giáo La Mã là một “giáo hội” tham lam quyền lực và tiền của vật chất vô đáy. Tội ác của nó cao ngất trời xanh như Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng tội ác quan trọng hơn cả là nó cứ muốn dìm nhân loại phải chìm sâu mãi trong bóng tối của sự ngu dốt. Điều mà mọi người cần nhất là sự hiểu biết, kiến thức khoa học và quyền năng chế ngự thiên nhiên do kiến thức mang lại. Nhưng rõ ràng đó là những thứ mà giáo hội Công Giáo chống đối, vì nó biết rõ rằng : SỰ NGU DỐT LÀ MẸ CỦA LÒNG SÙNG ĐẠO VÀ SỰ ỦNG HỘ GIÁO HỘI CỦA NÓ (Ignorance is the mother of devotion and the supporter of the Church. – p.458). Sử sách của văn minh nhân lọai viết về sự ác độc man rợ của tà đạo Công Giáo La Mã đầy ngập cả thư viện Hoa Kỳ khiến chúng ta phát ngộp không thể kể ra cho xiết được . Vì vậy tôi chỉ xin trích ra một số những nhận định tiêu biểu như trên mà thôi. Tôi ước mong giới trí thức Việt Nam nên chọn lựa để dịch sang Việt ngữ một số những tác phẩm giá trị để cứu đồng bào ta khỏi sa vào bóng tối nguy hiểm của tà đạo Công Giáo. Tà đạo này là một thứ ung nhọt nưng mủ từ lâu trên thân xác Mẹ Việt Nam của chúng ta. Gặp khi lạ gió trở trời, cái ung nhọt Công Giáo La Mã lại một phen hành hạ thân xác Mẹ Việt Nam bằng những cơn co giật đau đớn khiến nhiều phen suýt phải vong mạng. Thiết tưởng nay đã đến lúc toàn dân Việt Nam hãy rán chịu đau một lần mà tìm mọi cách hợp lý trị dứt cái ung nhọt mưng mủ này để các thế hệ tương lai thoát khỏi những tai ách truyền thống của nó . Hơn nữa, lòng từ bi bao dung của dân tộc đối với những kẻ vô minh ác đức và sức chịu đựng của đồng bào trước những tội ác tày trời của nó cũng chỉ có giới hạn. Trong những thế kỷ trước, người Á Đông đã coi Công Giáo là một thứ cỏ dại và họ đã dùng bạo lực để tiêu diệt nó, Cùng một cách nhìn đó về đạo Công Giáo nhưng người Nhật đã thành công, còn ở Việt Nam thì việc dùng bạo lực diệt đạo lại thất bại. Tạp chí National Geographic Vol.182, No. 5 ra ngày 18 – 11- 1992 có bài “Portugal’s sea road to the East” p. 56- 93, cho biết : Vào năm 1638, tại Nagasaki (Nhật Bản) có khoảng 100,000 giáo dân Công Giáo làm nội ứng cho quân Bồ Đào Nha tấn công xâm chiếm Nhật Bản . Triều đình Nhật cử tướng Iemitsu sang đại quân tới Nagazaki để “Bình Tây Sát Tả”. Kết quả là bọn xâm lược Bồ Đào Nha bị đánh bật khỏi lãnh thổ Nhật Bản. Tất cả cha cố thừa sai bị bắt đều bị đóng đinh vào thập giá với những chiếc áo dòng của loài quạ, chứ chúng không bị lột trần truồng nhục nhã như Chúa của họ trên đồi Golgotha. Còn đạo quân thứ năm của địch là tập đoàn giáo dân Công Giáo ở Nagasaki đã bị diệt gọn 37.000 người. Một số giáo dân sống sót nhẩy lên tàu Bồ Đào Nha trốn sang Hội An Việt Nam. Sau biến cố quyết liệt này, nước Nhật sạch bóng thù trong giặc ngoài và tiến lên địa vị siêu cường kinh tế văn hóa như ngày nay khiến cho cả thế giới phải kính phục. Cũng cùng một hoàn cảnh và cùng một cách nhìn về đạo Công Giáo như người Nhật, các vua quan Việt Nam đã thất bại trong việc cấm đạo, có lẽ vì bản chất của người Việt Nam vừa quá hiền lành vừa chịu ảnh hưởng của Tam Giáo Đồng Nguyên và chính quyền thời đó lại thiếu cương quyết. Một phần lý do đưa đến thất bại là sự sai lầm của Gia Long đã quá tin dùng Bá Đa Lộc và một đoàn tùy tùng đông đảo của y nên đã tạo cơ hội cho tà đạo Tây dương này có đủ điều kiện bắt rễ sâu vào đất nước ta. Linh mục Phan Phát Huồn, tác giả cuốn Việt Nam Giáo Sử, nơi trang 20, đã tự hào viết về sự sống còn của Công Giáo Việt Nam như sau :”Máu đã nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quý làm cho đất phì nhiêu tốt tươi. Lấy võ lực đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng những người Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc thêm”. Đúng vậy, tà đạo Công Giáo cũng như cỏ dại, nếu chúng ta lấy gậy để đập cỏ dại thì cỏ dại chẳng những không chết mà chỉ làm cho bông cỏ dại văng xa tứ tung và ngày càng lan rộng ra thêm. Cũng như chúng ta lấy súng đại bác bắn vào bóng tối cũng không thể nào xua đuổi được nó. Chỉ có ánh sáng của sự hiểu biết mới xua đuổi được bóng tối Công Giáo La Mã một cách hoàn toàn và vĩnh viễn ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Nếu ta học bài học giáo sử của Phan Phát Huồn mà lấy máu tử đạo để nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quý thì chỉ làm cho đất nước thêm ô nhiễm mà thôi!. Dưới con mắt của các sử gia và học giả Tây phương thì Công Giáo La Mã là tôn giáo thứ hai của các huyền thoại man rợ thuộc một giáo hội suy tàn (a fallen Chruch) của Babylon . Vậy chúng ta cần nên biết Babylon ở đâu và nó đã làm những chuyện gì ghê gớm vậy ?. Sau đây là vài nét sơ lược về lịch sử của cái xứ Ả Rập – Do Thái độc đáo này: Toàn vùng Babylon đã bị chôn vùi dưới những lớp cát sa mạc sau một trận đại hồng thủy gây ra do sự đổi dòng đột ngột của con sông Euphrate vào thế kỷ 4 TCN. Do đó, trong gần 23 thế kỷ, nhân loại đã không biết Babylon là thủy tổ của các tôn giáo xây dựng giáo lý trên các huyền thoại của Babylon gồm có Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo và Hồi giáo, gọi chung là Độc Thần Giáo (Monotheism/One-God Religions). Các đạo Độc Thần còn được gọi là Thiên Chúa Giáo vì tất cả đều thờ chung Một Thiên Chúa được mô tả trong Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái (God of the Bible). Các đạo Độc Thần đều có chung một ông tổ là nhân vật thần thoại Abraham, cho nên các đạo này còn được gọi là các đạo của Abraham (Abrahamic Religions). Từ khi lập quốc Do Thái, cháu nội của Abraham là Jacob đã đặt tên cho tân quốc gia Do Thái là Isra-El để vinh danh Thiên Chúa El (Elohim) của họ và họ đã tôn thờ vị Thiên Chúa này qua biểu tượng một con bò đực bằng vàng (the gold molten Bull). Jacob tuyên bố đã được gặp mặt đối mặt với vị Thiên Chúa có hình tượng con bò này (Because I have seen El face to face – Gennessis 32 : 30- 31 ). Khoảng năm 1250 TCN, Thánh Maisen (Moses) lập ra đạo Do Thái và đổi tên Thiên Chúa El thành Jehovah, theo nguyên ngữ Hebrew JEHOVAH có nghĩa là “Thiên Chúa Của Các Tổ Phụ” (God of Fathers). Như vậy, Thiên Chúa Jehovah của Mai-sen cũng chính là Thiên Chúa El của cha con Abraham, chỉ khác một điều là Đạo Do Thái sau này không còn dùng tượng bò làm tượng Chúa nữa mà thôi. Thiên Chúa Jehovah sau này trở thành Đức Chúa Cha, tức Ngôi Thứ Nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi theo giáo lý của Đạo Ki Tô (Christian God = Trinity God) và Thiên Chúa Jehovah cũng là Thiên Chúa Allah của đạo Hồi. Nói tóm lại, các đạo thờ Thiên Chúa đều cùng một nguồn gốc từ đạo thờ Thần Bò El của Abraham mà ra. Bà Karen Amstrong, nguyên nữ tu Công Giáo, tốt nghiệp Đại học Oxford, hiện là giáo sư Đại học Leo Baek Anh Quốc, tác giả cuốn sách bán chạy nhất (best seller) A History of God, 460 trang, The NY Times xuất bản 1993. Tác giả đã trình bày hết sức rõ ràng đầy đủ về toàn hệ thống các đạo thờ Chúa và đây là tài liệu tham khảo chính yếu để viết về những vấn đề liên quan đến Độc Thần Giáo trong tập sách này. Tuy các đạo Độc Thần đều phát sinh từ một nguồn gốc ở Babylon, có chung một tổ phụ lập đạo Abraham và thờ cùng một Chúa được mô tả trong kinh thánh Cựu ước Do Thái (God of the Bible) nhưng họ luôn luôn coi nhau như những kẻ thù không đội trời chung!.Qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã không biết nguồn gốc sâu xa nguyên thủy của các đạo thờ Chúa là từ vùng Babylon. Phải đợi đến cuối thế kỷ 19, do những sự tình cờ, các nhà khảo cổ thế giới đã phát giác đầy đủ bằng chứng cho những sự thật lịch sử này nhờ những di vật khai quật được từ vùng sa mạc cách thủ đô Baghdad của Iraq 60 dặm về phía Nam và kéo dài đến vịnh Ba Tư. Đó chính là vị trí của Babylon 24 thế kỷ trở về trước. Sau hơn một thế kỷ làm việc miệt mài nghiên cứu các di vật, đến nay, các nhà khảo cổ quốc tế hầu như đã giải mã toàn bộ những bí mật về Babylon. Những bằng chứng khách quan thu thập được từ những khám phá dầy công của ngành khảo cổ đã soi sáng cho nhân loại thấy rõ thực chất giả tạo bịp bợm của các đạo Độc Thần nói chung và của Ki Tô Giáo nói riêng. Người ta thường hiểu sai: văn minh Tây Phương là văn minh Ki Tô giáo (Christian civilization). Nhưng ngày nay, những kiến thức về lịch sử khách quan cũng như các kiến thức khoa học đang đẩy lùi Ki Tô Giáo ra khỏi biên giới các nước phương Tây, chẳng khác nào ánh sáng xua đuổi bóng tối. Dưới con mắt của giới trí thức Tây Phương, Công Giáo La Mã được coi là dòng chính của Ki Tô Giáo (Roman Catholic Church is the main line of Christianity) hiện đang mau chóng biến thành một thứ rác rưởi ghê tởm trong đời sống của người Âu Mỹ. Đây là một sự thực đang diễn ra trước mắt mọi người, nhưng điều đáng buồn là đa số “trí thức” Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại không khác gì những con đà điểu chỉ biết chúi đầu xuống cát để không phải nhìn thấy sự thật phũ phàng. Nhưng dù cố tình chạy trốn họ cũng không thể tránh khỏi phải đối dịên với sự thật. Thảm trạng suy thoái của Công Giáo Bắc Mỹ hiện đang ở trong tình trạng báo động đỏ, đến nỗi linh nục tiến sĩ Andrew Greenley và nữ tu tiến sĩ Mary Durkin đã hợp tác với nhau viết sách “Làm Thế Nào Để Cứu Giáo Hội Công Giáo ?” (How To Save The Catholic Church), 258 trang, Viking Penguin Inc. Canada 1984) . Tiến sĩ thần học nổi tiếng trong giới Công Giáo Mỹ David Tracy đuợc hai tác giả mời viết bài Tựa cho cuốn sách này đã phải than rằng : “Đời sống Công Giáo dường như đang bốc hơi với tốc độ chóng mặt”. (Catholic life seemed to evaporate with dizzying rapidity). Trong chương đầu sách, hai tác giả tu hành của giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ đã viết với giọng văn đau khổ: “Chỉ một thời gian ngắn sau khi khai mạc Công Đồng Vatican II trong năm 1962, Giáo hoàng Gioan XXIII nói với một du khách rằng ngài chỉ có ý hé mở cánh cửa sổ cho có chút gió mát thổi vào giáo hội. Tại nước Mỹ, chút gió mát của giáo hoàng đã biến thành một trận cuồng phong. Chỉ một sớm một chiều, cả thập niên 1960 là thời đại đảo điên trong đời sống Hoa kỳ” (Shortly after the beginning of the Second Vatican Council in 1962, Pope John XXIII told a visitor that he intended to open the window and fresh air to blow through the Roman Catholic Church. In the US, the papal breeze turned into a TORNADO. Then, almost overnight, the 1960s were a turbulent time in American life – pages 3 – 4). “Cửa sổ một khi đã mở không đóng lại được nữa. Thông điệp của GH Paul VI về việc kiểm soát sinh đẻ (Humanae Vitae) đã đập nát sự hồ hởi trong giáo hội sau Công Đồng Vatican II. Ngày nay, chín phần mười Công Giáo Mỹ không chấp nhận cái thông điệp đó” (The window once opened could not be closed. Pope Paul VI ‘s encyclical on birth control shattered the euphoria that had flourished after Vatican II. Today nine out of ten American Catholics do not accept it – Page 6). “Giáo Hội Công Giáo Mỹ đã trở thành Giáo hội Công Giáo tự trị” (American Catholic Church became a Do-It-Yourself Catholicism. page 8). “Trong thập niên 1960, một nửa tổng số Công Giáo Mỹ là đám dân di dân vừa nghèo vừa thường xuyên thất học” (By 1960s, half the American Catholics were poor and frequently uneducated immigrants. page 11) . Riêng trong năm 1984 có một triệu rưỡi phụ nữ Mỹ bỏ đạo. Các tác giả dự đoán số linh mục Mỹ sẽ giảm quá nửa vào năm 2000 và sẽ vĩnh viễn không được bổ khuyết (p. 11- 15). Trình độ trí thức của người Mỹ da trắng càng lên cao bao nhiêu thì Giáo hội Công Giáo Mỹ càng suy tàn bấy nhiêu. Điều đó thật dễ hiểu vì họ đã nhận thức được bản chất của Công Giáo La Mã chỉ là một thứ cặn bã của nền văn hóa du mục máu lửa xuất phát từ Babylon. Sách Khải Huyền của Saint John, tức sách cuối cùng của bộ Thánh Kinh Tân Ước Ki Tô giáo, đã gọi Babylon là một giáo hội suy tàn (a fallen church) và ví nó như một mụ đàn bà lăng loàn, một con điếm thối (a defiled woman, a harlot). Sách Thánh kinh Khải Huyền đã in bằng những dòng chữ hoa lớn (in big capital letters) câu sau đây : “MYSTERY BABYLON THE GREAT, THE MOTHER OF HARLOTS AND ABOMINATIONS OF THE EARTH” (Revelation 17 : 1- 6). Xin tạm dịch : “Giáo hội huyền thoại Babylon vĩ đại là mẹ của các con điếm thối và của mọi chuyện khủng khiếp trên trái đất”. Cái cặn bã văn hóa gốc Ả rập – Do thái là Công Giáo La Mã đang dần dần được chuyển từ khối dân Mỹ da trắng sang các bãi rác tinh thần là những cộng đồng di dân Công Giáo gốc Mễ, Philippines và Việt nam. Hiện nay tại nhiều nhà thờ Công Giáo Mỹ người ta thấy rất ít giáo dân da trắng đi xem lễ ở nhà thờ của họ mà chỉ thấy toàn giáo dân gốc Việt và Mễ như ruồi lấp kín hết mọi hang hố xó xỉnh nhà thờ Mỹ!. Hang đá “Đức Mẹ Sầu Bi” ở Port Land thuộc tiểu bang Oregon đã bị Công Giáo Mỹ bỏ phế từ lâu. Vậy mà sau 1975, giáo dân Công Giáo Việt Nam tỵ nạn đã biến cái hang đá khỉ ho này thành một Trung Tâm Hành Hương náo nhiệt gần như hang đá Lộ Đức (Lourdes) ở Pháp. Hàng năm, Công Giáo Việt Nam hải ngoại tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu qui tụ tới mấy chục ngàn người hành hương đổ về hang đá “Đức Mẹ Sầu Bi” ở Port Land. Báo chí Mỹ gọi là “Annual Trip to Grotto” là điều người Mỹ văn minh trước đây đã không làm nổi. Những kẻ lãnh đạo chóp bu của Giáo hội Công Giáo đã nhận thức được thực tế phũ phàng là họ đã hết thời làm ăn ở khu vực các nước Âu Mỹ văn minh đã được hấp thụ một nền giáo dục khai sáng trí tuệ. Cho nên Đức Thánh Cha John Paul II mới hạ cố ban hành Tông Thư “Ecclesia In Asia” (Đại Hội tại Á Châu) hoạch định một chuơng trình truyền giáo lớn lao tại Á Châu trong thế kỷ mới. Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu đựơc chỉ thị họp mặt tại Samphran Thái Lan từ ngày 3 đến 13 tháng 1 năm 2000 để học tập về Tông Huấn của Sếp Lớn. Những điểm quan trọng trong kế hoạch của Sếp Lớn là giáo hội phải vuốt ve người nghèo và giới trẻ. Đặc biệt là phải dịu dàng vuốt ve phụ nữ chứ không được thô bạo chà đạp quyền lợi của họ theo truyền thống như xưa. Giáo hội phải hòa nhập vào khung cảnh sống của dân tộc bản xứ (như rắn lục hòa mình vào màu xanh cây cỏ trên đồng ruộng Việt Nam – chú thích của Ch. Ng.) và quan trọng nhất là phải cư xử như Giáo Hội đã trở thành bạn đường đồng cảm với người dân Á Châu. (Xin đọc các bài từ trang 23 đến 29 báo Dấn Thân bộ III số 35 tháng 3 & 4 – 2000 của Cơ Quan Nghiên Cứu Học Tập Thông Tin thuộc Phong Trào Giáo Dân Houston. P.O. Box 66449 Houston, TX 77266- 6449). Dù môi trường hoạt động và phương cách truyền giáo có nhiều thay đổi trong hoàn cảnh thế giới hiện nay, Vatican vẫn giữ nguyên bản chất cố hữu của nó là một Con Bạch Tuộc của Chủ Nghĩa Đế Quốc Tinh Thần (Spiritual Imperialism). Giới trí thức Tây phương mỉa mai gọi nó là Con Bạch Tuộc Của Đức Chúa Trời (Octopus Dei). Biệt danh này mang nhiều ý nghĩa : Đầu não của con bạch tuộc Công Giáo quốc tế vẫn là Vatican, mỗi một tổ chức giáo hội ở mỗi quốc gia là một cái vòi của nó. Mỗi một Hội đồng Giám mục của các giáo hội địa phương là một bộ tham mưu của đạo quân thứ năm nằm vùng thường trực trong lòng các quốc gia sở tại và luôn luôn ở trong tình trạng ứng chiến đợi lệnh từ trung ương Vatican. Theo thông lệ, cứ năm năm một lần, các giám mục trên toàn thế giới phải luân phiên nhau về chầu Tòa Thánh để báo cáo mọi chuyện, kể cả các bí mật quốc gia. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là ban tham mưu Đạo Quân Thứ Năm của địch đang nằm vùng ứng chiến trong lòng dân tộc Việt Nam. Tác phẩm The Next Pope 186 trang, Harper-Collins Publishers xuất bản, là một trong những cuốn sách chính trị bán chạy nhất trong năm 1995 tại Mỹ (One of the year ‘s political blockbusters). Tác giả Peter Hebblethwait là ký giả chuyên nghiệp về tòa thánh La Mã cho biết: “Thế giới ngày nay vẫn để tâm theo dõi xem ai sẽ là Giáo hoàng kế vị Jean Paul II. Không có một cuộc bầu cử nào được thế giới quan tâm cho bằng cuộc bầu cử Giáo hoàng ở Vatican!.Bởi lẽ đằng sau những bức tường Vatican, lịch sử nhân loại đang được hình thành” (behind those walls, history is being made). Nhận xét về Công Giáo Việt Nam và Cuba, tác giả viết: “Có sáu hồng y trong các nước cộng sản hoặc cựu cộng sản sẽ lái Hội Đồng Hồng Y về phe hữu. Paul Joseph Phạm Đình Tụng, tổng giáo phận Hà Nội và Jaime Luca Ortega Y Alamino, tổng giáo phận Havana, Cuba, có triển vọng sẽ lãnh đạo giải thể chế độ của họ” (There are six from Communist or ex-Communist countries who will swing the college to the right. Paul Joseph Phạm đình Tụng, archbishop of Hanoi and Jaime Luca Ortega y Alamino, archbishop of Havana Cuba, will be expected to preside over the disintegration of their regimes. Page 178 ). Công Giáo Việt Nam luôn luôn hành động tuân theo răm rắp mọi chỉ thị của Vatican. Cho nên dù cho Việt Nam ở dưới chế độ Cộng sản hay không Cộng sản là điều thực sự Công Giáo không quan tâm. Vấn đề chính yếu là mọi chính quyền ở Việt Nam có cùng phe và phục vụ quyền lợi của Vatican hay không mà thôi. Trong bất cứ một hoàn cảnh lịch sử nào, bản chất của giáo hội Công Giáo Việt Nam luôn luôn là một quốc gia riêng biệt nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Bề ngoài người Công Giáo là người Việt Nam, nhưng xin đồng bào chớ nhìn vào ngoại hình của họ mà lầm to. Linh hồn Công Giáo Việt Nam đã được bán đứt cho quỷ sứ đế quốc La Mã từ lâu rồi. Các sách kinh Công Giáo đã biến mỗi một người Công Giáo Việt Nam sùng đạo thành một tên Việt gian chân chính[*]. (Đó là lời Chúa). Tuy nhiên, cái hình ảnh của con bạch tuộc cũng bao hàm một ý nghĩa khác rất có lợi ích cho dân tộc Việt Nam: Một khi cái đầu não Vatican của con bạch tuộc bị người ta đập chết thì tất cả các cái vòi của nó trên khắp thế giới sẽ bị mất đầu và dù không bị đập cũng tự nhiên phải chết theo đồng loạt. Lúc đó, vấn đề cáo chung của các tổ chức Giáo hội Công Giáo địa phương không cần phải đặt ra. Điều đó không có nghĩa là hiểm họa Công Giáo đã chấm dứt. Vấn đề là phải giải quyết cái di sản của nó còn để lại ở phía sau. Đó là cái tập thể tín đồ mê muội mà xã hội có trách vụ phải giáo dục để giải cứu họ thoát khỏi nanh vuốt của cái Giáo hội đã lừa bịp họ bấy lâu. Sự giáo dục nhằm mục đích giúp họ từ bỏ cái mặc cảm là một đàn súc vật dưới sự cai quản của ngoại nhân (một đàn chiên cùng một chủ chăn) để họ nhận thức được nhân phẩm cao quí của mình ngõ hầu tự khôi phục bản thân thành những người đứng thẳng (Homo-Erectus) theo đúng nghĩa của nó. Sự giáo dục vẫn phải được tiếp tục cho đến khi nào họ từ bỏ được cái thói tật bệnh hoạn thích ăn thịt đồng loại (sick cannibalism) – mặc dù chỉ là tưởng tượng nhưng thực chất vẫn là một đám mọi ăn thịt người – để họ có thể hội nhập trở lại vào xã hội của những người có tâm hồn và tinh thần bình thường (normal) như tuyệt đại đa số đồng bào chúng ta. Nữ học giả Công Giáo Mỹ Joanne H. Meehl, tác giả cuốn “The Recovering Catholic – Personal Journeys of Women Who Left The Church” , 300 trang, Prometheus Books New York xuất bản năm 1995, đã viết trong bài tựa như sau : “Là một người viết sách có nghĩa là tôi đã phải đọc nhiều sách. Sự tò mò của tôi về niềm tin Công Giáo đã dẫn tôi đến những kệ sách thư viện và các cơ quan cung cấp dữ kiện. Tôi đã không để mình phải cô đơn, nên tôi đã đăng những lời rao của tôi trên nhiều sách báo khác nhau, từ những tạp chí phát hành cả nước cho đến những tờ báo địa phương, để khảo sát về phụ nữ thuộc mọi lứa tuổi. Tất cả những người trả lời tôi đều là những người bày tỏ sự tức giận của họ đối với giáo hội Công Giáo”. (Being a writer means that I am a reader. My curiosity about the Catholic faith sent me to the library shelves and data services. I couldn’t be alone, so I placed advertisements in various publications, national magazines and local papers, to survey women of all ages who were angry to the Catholic chuch to respond). Tác giả đã dành một chương dài từ trang 116 đến 132 duới nhan đề “Refusing To Be A Cow” kêu gọi phụ nữ Công Giáo Mỹ bỏ đạo. Theo bà, tín đồ Công Giáo là những con bò và bỏ đạo Công Giáo có nghĩa là từ bỏ kiếp sống của loài bò ! Vatican là chúa sơn lâm già nua lão luyện trong đời sống rừng rú tinh thần, nhưng nó không phải là con thú dữ duy nhất trong cõi sơn lâm trên đời này. Bên cạnh chúa sơn lâm Vatican còn có nhiều loại chó rừng ác độc hoặc linh cẩu nham hiểm (hyenas) cũng đang ráo riết cạnh tranh nghề nghiệp với nó trên mọi lục địa. Sau khi nước Nga mở cửa tự do năm 1991, lập tức có ngay 232 tấn sách Kinh Thánh Tin Lành bằng Nga ngữ đã rời cảng Texas xâm nhập quốc gia cựu Cộng sản này. Trong thập niên 1980, riêng giáo phái Baptist cũng có 3000 nhân viên truyền giáo hoạt động trong 94 quốc gia. Tổ chức International Youth For A Mission hiện có 2500 nhân viên truyền giáo dài hạn và 10.000 nhân viên truyền giáo ngắn hạn (long-term/short-term missionaries). Tổ chức Tin Lành “The Giant Campus Crusade” thành lập năm 1960 với trên một trăm nhân viên, hiện nay họ tuyên bố đã có nhiều ngàn nhân viên đang hoạt động trong trên 130 quốc gia. Thậm chí quốc hội Do Thái (The Israel Knesset) năm 1978 đã phải ban hành đạo luật ngăn cấm các phái đoàn truyền giáo (Anti-missionary Laws) . Kẻ nào truyền giáo tại Do Thái sẽ bị phạt $3.200 và 5 năm tù. Tại Nam Dương, các sở ngọai vụ chỉ cấp phép di trú cho các người truyền giáo trong thời hạn tối đa là 6 tháng. Tổ chức giảng đạo Tin Lành bằng truyền thanh và truyền hình đại qui mô trên bình diện toàn cầu CBN, do Pat Roberson cầm đầu, đưa ra khẩu hiệu : “Programs to Change the World”. Tổ chức này chú trọng đến Nhật và Trung quốc. Họ đã lập 700 câu lạc bộ Tin Lành tại Nhật và Pat Roberson gọi Trung quốc là “thị trường mênh mông của hàng hóa và các nhà truyền giáo Hoa kỳ” (Vast market for American products and preachers) . Tất cả mọi thủ đoạn và âm mưu của chủ nghĩa đế quốc Tin Lành đã được vạch trần qua tác phẩm Đại Hạ Giá Món Hàng Cứu Chuộc (Salvation For Sale – by Gerard Thomas Straub, an insider’s view of Pat Roberson’s ministry – Prometheus Book 1986). Tại Việt Nam, Tin Lành khó có thể cạnh tranh nổi với Công Giáo La Mã, ngoại trừ ở khu vực những dân tộc thiểu số miền Cao Nguyên Trung Phần. Nhưng dù Công Giáo hay Tin Lành thì cũng cùng một thứ văn hóa máu lửa Ki Tô Giáo mà thôi, tất cả đều đem lại cùng một hậu quả là làm phân tán đại khối dân tộc, phá nát truyền thống văn hóa nhân bản cao đẹp của nòi giống Lạc Việt và làm suy yếu tiềm lực quốc gia trong mọi nỗ lực dựng nước và giữ nước. Đứng trên lập trường thuần túy dân tộc, mọi người Việt Nam yêu nước, dù đang ở trong nước hay ở hải ngoại, không phân biệt xu hướng quốc gia hay cộng sản, tất cả đều cần phải cảnh giác trước thứ vũ khí văn hóa hiểm độc đội lốt tôn giáo của chủ nghĩa đế quốc tinh thần. Dân tộc Việt Nam đã đánh thắng nhiều loại thực dân đế quốc xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Nhưng đó chỉ là những chiến thắng chống lại các loại vũ khí gươm giáo súng đạn vật chất của địch. Lịch sử Việt Nam không thiếu gì những bài học đắng cay về sự thất trận khi địch dùng thứ vũ khí văn hóa hiểm độc đội lốt tôn giáo của đức Bác Ái để tạo lập những đoàn quân thứ năm hùng hậu làm nội ứng cho chúng. Đạo quân thứ năm hung hãn cuồng tín này là thành phần xung kích chủ lực làm phân tán tiềm năng dân tộc và là con bài chính yếu thực hiện thủ đoạn “chia để trị” của địch. Bài học thấm thía nhất có lẽ là vụ quân Pháp chiếm 6 tỉnh Bắc kỳ cuối thế kỷ 19. Bối cảnh lịch sử thời đó là nước Pháp rất suy yếu do mới thất trận ở Mexico và bị quân Đức của Bismarck chiếm đóng. Trong điều kiện tồi tệ như vậy tại chính quốc, thế mà đoàn quân xâm lược của Pháp tại Việt Nam chỉ vỏn vẹn có một tàu chiến cũ với 17 tên lính thủy cũng chiếm được 6 tỉnh Bắc Việt một cách dễ dàng. Đó là vì bên cạnh cái đám quân ít ỏi của thực dân Pháp còn có một lực lượng Việt gian hùng hậu gồm mấy trăm ngàn người Công Giáo tự nguyện làm nội ứng cho địch. Bọn chúng đã bán rẻ lương tâm giết hại đồng bào, phản bội tổ quốc. khiến cho kẻ thù của tổ quốc Việt Nam bất chiến tự nhiên thành! Tác hại nguy hiểm nhất của tà đạo Công Giáo La Mã là nó đã phá hư hoàn toàn cái não bộ của tập thể tín đồ, khiến cho mọi nhận thức của cổ chiên về các giá trị đạo đức đều bị đảo lộn đến mức làm mọi người phải ngạc nhiên. Đó là những nhận thức của họ về thiện và ác, thật và giả, văn minh và mọi rợ, yêu nước và bán nước v. v. . . Trước hết, người Công Giáo đã ngộ nhận giáo hội của họ là thánh thiện, vì vậy họ đã gọi nó là Hội Thánh, trong khi chính nó là tên vô địch sát nhân trong lịch sử loài người. Cái đạo bất nhân man rợ như vậy chỉ có thể được gọi là “Đạo Thánh Đức Chúa Trời” bởi những kẻ tối dạ thất học mà thôi. Cái núi tội ác cao ngất trời xanh đó đã hùng hồn xác minh cái bản chất của Công Giáo La Mã là Phi Nhân Tính (Inhumanity). Ngày nay, xã hội Tây Phương đã nhìn nhận rằng Phi Nhân Tính đồng nghĩa với Mọi Rợ (Inhumanity means Barbarism). Triết gia Thomas Bailey Aldrich đã ví nền văn minh Ki Tô giáo là cái áo lông cừu che đậy sự mọi rợ của nó ( Civilization is the lamb’s skin in which barbarism masquerades – Ponkapog Papers 1903). Vậy người Công Giáo vin vào đâu mà dám nói cái đạo vô địch sát nhân là đạo thánh? Vin vào đâu mà dám nhục mạ các dân tộc Đông phương là mọi rợ ? Phải chăng Công Giáo là đạo duy nhất thích ăn thịt uống máu người (qua lễ ăn Bánh Thánh) nên được coi là đạo duy nhất thánh thiện và duy nhất văn minh ? Suốt 50 năm (từ 904 đến 964), Giáo hội Công Giáo đã từng bị cai trị bởi hàng lô gái điếm trong vai trò làm vợ bé của các giáo hoàng. Lịch sử Âu Châu gọi thời kỳ này là “thời thống trị của những con điếm” (The rule of harlots). Năm 928, giáo hoàng Gioan X đã bị vợ là Theodora giết chết để đưa nhân tình của y thị lên thay lấy hiệu là Leo VI. Đúng một năm sau, giáo hoàng Leo VI bị vợ của cố giáo hoàng Sergius III là mụ điếm Marozia giết chết để đưa con ruột của thị lên kế vị lấy hiệu là Gioan XI. Năm 955, cháu nội của Marozia mới 18 tuổi lên ngôi giáo hoàng với tên hiệu là Gioan XII. Tên giáo hoàng này hoang dâm vô độ, y thường làm tình với gái điếm ngay ở tòa thánh Vatican. Giáo hoàng Innocent III (1198- 1216) là một tên sát nhân vượt trên tất cả các bạo chúa thời trung cổ ở Âu Châu. Y chính là kẻ đã phát minh ra Tòa Án Dị Giáo (Inquisition) chuyên việc dựng lên những dàn hỏa thiêu sống cả chục triệu người bất đồng ý kiến với Vatican trong suốt năm thế kỷ. Gần trọn thế kỷ 14, giáo đô Công Giáo bị dời về Avignon Pháp Quốc, tất cả các giáo hoàng đều bị phế lập hoàn toàn do ý thích của các vua Pháp chứ chẳng do một đoàn hồng y nào bầu lên cả ! Giáo hoàng nổi tiếng dâm loạn nhất trong thời kỳ này là Gioan XXIII (1410- 1415) hiếp dâm ba trăm nữ tu và có một cung viện (harem) chứa hai trăm cô gái. Y được giáo dân tặng cho biệt danh là “Quỷ Sa tăng nhập thể” (The Devil Incarnate). Sau 15 năm cai trị hội thánh, y bị truất phế và bị bôi tên ra khỏi danh sách các đấng đại diện Chúa Giêxu. Vì vậy, năm 1958 hồng y Angelo Giuseppe Roncalli được bầu làm giáo hoàng đã xử dụng lại danh hiệu Gioan XXIII như để gở gạc phần nào cái ô danh của giáo hoàng trước. Tội lỗi xấu xa của các giáo hoàng La Mã kể ra không xiết, vậy mà người Công Giáo Việt Nam vẫn cứ nhắm mắt tôn xưng bọn giáo hoàng hung ác dâm loạn này là các Đức Thánh Cha, là các Đấng Đại Dịên của Chúa Giê-Xu tại trần thế và là các Đấng Thánh hằng được ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng nên không thể sai lầm ! Những niềm tin quái gở như vậy chỉ có thể có nơi những người mất trí. Những người dân quê thất học tin vào những điều ngớ ngẩn ấy thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng trong thực tế ta thấy nhan nhản những kẻ mệnh danh là “trí thức Công Giáo” với bằng cấp và danh vị khoa bảng đầy mình mà cũng tin xằng bậy như vậy. Cho nên Tây Phương có câu: “Kẻ ngu có học ngu hơn kẻ ngu thất học”. Kẻ ngu thất học là đại đa số giáo dân Công Giáo. Nói lên điều này xin đừng vội kết án tôi cũng là người Công Gáo lại cố ý xử dụng từ ngữ hàm hồ bất xứng để nhục mạ cả một tập thể lớn trong cộng đồng dân tộc. Thực sự tôi chỉ là người chuyển ngữ ý kiến của những giới chức có thẩm quyền trong giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ nhận xét về giáo hội của họ mà thôi. Chẳng hạn như nữ học giả Joanne H. Meehl, trong cuốn sách nổi tiếng The Recovering Catholic (Người Công Giáo Tỉnh Ngộ) , đã viết : “Đạo Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển ở nơi những kẻ nghèo và ngu dốt ” ( Catholicism only thrives and grows among the poor and ignorant). Hai vị tiến sĩ đương kim tu hành tại chức Andrew Greenly và Mary Durkin nhận xét về thực trạng giáo hội Công Giáo Mỹ trong thập niên 1960, lúc đó chưa có những cộng đồng di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ, rằng : “Nửa số giáo dân Công Giáo Mỹ là những di dân nghèo và thường xuyên thất học” (Half the American Catholics are poor and frequently uneducated – How to save the Catholic Church . p.11) . Muốn cứu những người Công Giáo ra khỏi bóng tối tinh thần chỉ có một giải pháp nhân đạo nhất và hữu hiệu nhất là giáo dục họ. Nói cách khác là đem đến cho họ một ít vốn liếng của sự hiểu biết (understanding). Đất nước sở dĩ vẫn còn bị nhiễu loạn vì còn có nhiều người dân thiếu hiểu biết. Muốn thực hiện cuộc sống an bình trong xã hội điều cần thiết trước hết phải là nâng cao dân trí. Như Einstein đã nói: “Hòa bình chỉ có thể thực hiện bằng sự hiểu biết” (Peace can only be by understanding). Đây là một chân lý. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy không thể dùng bạo lực đàn áp, nhất là đối với tôn giáo, để duy trì hòa bình thật sự. Hòa bình thật sự chỉ có thể có được khi tuyệt đại đa số quần chúng hiểu rõ sự thật. Công Giáo La Mã thực sự không phải là một tôn giáo mà là một sản phẩm tội ác của những tên đại trí thức bất lương trong tổ chức Siêu Đại Bịp quốc tế. Chỉ có sự hiểu biết tận tường về bản chất dối trá vô cùng nham hiểm của Công Giáo La Mã mới có thể giải thoát những đồng bào bất hạnh chẳng may bị vướng vào cái thòng lọng của nó mà thôi. Nếu mọi nguời đều cố gắng tìm hiểu lịch sử và thực chất của Đạo Công Giáo thì tà đạo nguy hiểm này nhất định sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn trên Quê Hương Tổ Quốc chúng ta. Chỉ trong điều kiện này, dân tộc Việt nam mới có thể ngẩng mặt tiến lên cùng nhân loại trong Thiên Niên Kỷ Thứ Ba*. Đó là những lời tâm huyết của tôi xin được kính gửi đến cùng toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước và đó cũng là nội dung chính yếu của tất cả những bài tôi viết về Công Giáo La Mã trước đây cũng như hiện nay và sau nầy. Kính mời quý vị đọc các phần kế tiếp của cuốn sách nầy với những bằng chứng cụ thể, để hiểu rõ thêm cái tôn giáo phi nhân bản: Công Giáo La Mã và các giáo phái Tin Lành nói chung. Trân trọng kính chào toàn thể quí vị. Houston, ngày 21 tháng Tư năm 2001 Dominic Nguyễn Chấn (Charlie Nguyễn) http://hoatdongtuthien.org/f280/14234-huyen-thoai-va-toi-ac.html
     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: